1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

tham luận cách làm văn nghị luận lớp 9

21 450 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 21
Dung lượng 180 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

3.Trong nội dung chương trình sách giáo khoa Ngữ văn 7- tập II, Ngữ văn 8- tập II và Ngữ văn 9- tập II, có đưa ra những bài học về cách thức tạo lập văn bản nghị luận, nhưngchưa đầy đủ c

Trang 1

PHÒNG GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO QUẢNG XƯƠNG

TRƯỜNG THCS QUẢNG TÂM

THAM LUẬN DẠY HỌC CÁCH LÀM BÀI VĂN NGHỊ LUẬN VĂN HỌC LỚP 9

THÁNG 3 NĂM 2012

Trang 3

A PHẦN MỞ ĐẦU

1 Văn bản nghị luận là một kiểu văn bản mà việc tạo lập là vô cùng khó đối với học

sinh THCS Nó không chỉ đòi hỏi phải có kiến thức chính xác sâu rộng, phong phú; nhữngsuy nghĩ, quan điểm đúng đắn về văn chương, về đời sống xã hội, mà đòi hỏi cả sự tư duylôgíc, chặt chẽ, với những cách lập luận sắc sảo, thấu tình đạt lí thì mới có thể hấp dẫnthuyết phục được người đọc người nghe

2 Dạng bài mà học sinh phải tạo lập thì nhiều, mỗi dạng lại có những yêu cầu cách

thức nghị luận khác nhau Nào là nghị luận văn chương, rồi nghị luận đời sống xã hội Trong

đó, riêng nghị luận văn chương lại có những dạng cụ thể hơn nữa, kiến thức lại phức tạphơn

3.Trong nội dung chương trình sách giáo khoa Ngữ văn 7- tập II, Ngữ văn 8- tập II và

Ngữ văn 9- tập II, có đưa ra những bài học về cách thức tạo lập văn bản nghị luận, nhưngchưa đầy đủ cụ thể hệ thống để đáp ứng được việc tạo lập các văn bản mà đề ra quá phongphú, đa dạng Thời lượng dành cho việc học tập thực hành các dạng bài nghị luận cũng làquá ít ỏi, không đầy đủ ở tất cả các dạng, nhất là ở lớp 9

Chương trình: Gồm có 14 tiết, hướng dẫn về về phép lập luận phân tích và tổng hợp,

cách làm bài nghị luận về sự việc hiện tượng đời sống; về một vấn đề tư tưởng đạo lí; về mộtbài thơ đoạn thơ và về một tác phậm truyện hoặc đoạn trích

So lượng kiến thức bài học tập làm văn với lượng thời gian hướng dẫn học trên lớp chohọc sinh lớp 9 như vậy là quá ít Mỗi dạng lớn chỉ được học chung chung trong ba bốn tiếthọc

- Sách giáo khoa không có những bài hướng dẫn cụ thể cho cách làm bài văn lập luậnnhư cảm nhận, phân tích, bình luận, chứng minh…hay cách làm các bài văn với đề mở, đề

có tính chất tổng hợp cho từng đối tượng nghị luận riêng Đặc biệt, không có bài hướng dẫn

cụ thể cách làm bài lập luận phân tích hay cảm nhận về từng đối tượng cụ thể như: về mộtnhân vật văn học, về toàn bộ tác phẩm (đoạn trích), về một phương diện yếu tố nội dung,nghệ thuật…của tác phẩm (đoạn trích); không có bài học hướng dẫn cách làm bài lập luậnbình luận hay giải thích, chứng minh về một vấn đề tư tưởng đạo lí, chỉ hướng dẫn chungtheo phương pháp bình luận;…

4 Học sinh hiện nay, đa số không ham muốn học tập môn Ngữ văn, nhất là ngại làm

những bài văn Thời gian các em chủ yếu đầu tư cho việc các môn thuộc khoa học tự nhiên

Có lẽ ngoài nguyên nhân khách quan từ xã hội, thì một phần cũng do làm văn quá khó, lạimất nhiều thời gian “Công thức” làm văn cho các em lại không được hình thành cụ thể Các

em không phân biệt rõ các thao tác nghị luận chính mà mình sử dụng Càng ngày, kĩ năngtạo lập văn bản của học sinh càng kém hơn, và rất hiếm có những bài văn nghị luận có đượcsức hấp dẫn, thuyết phục bởi cách lập luận rõ ràng, chính xác, đầy đủ và chặt chẽ từng luậnđiểm luận cứ…Bài viết của các em khi thì sai về yêu cầu thao tác nghị luận, khi lại khôngsát, không đúng với nội dung nghị luận của đề bài Ví dụ, đề bài yêu cầu cảm nhận các em

Trang 4

lại làm như một bài phân tích, thiếu cảm xúc, thái độ tình cảm; đề bài yêu cầu nghị luận vềmột nội dung của tác phẩm các em lại nghị luận về toàn bộ tác phẩm đó; các em khôngkhông phân biệt được viết như thế nào là bài bình giảng, viết như thế nào là bài phân tíchmột đoạn thơ bài thơ; hoặc khi nghị luận kết hợp giải quyết một ý kiến nào đó liên quan tớitác phẩm, các em lại quên mất việc giải quyết ý kiến đó (quên giải thích ý kiến, quên xoáyvào tác phẩm để làm rõ ý kiến) mà cứ sa vào nghị luận toàn bộ tác phẩm…

Nguyên nhân mấu chốt là học sinh thiếu kĩ năng hoặc còn non kém về kĩ năng làm bàivăn nghị luận

Vậy nên, việc nâng cao mở rộng, luyện tập thêm cho học sinh kĩ năng làm bài văn nghịluận là rất cần thiết

II Nội dung dạy học

1 Các phép lập luận trong văn nghị luận

* Giải thích:

- SGK Ngữ văn 7- tập II viết: Giải thích trong văn nghị luận là làm cho người đọc hiểu

rõ các tư tưởng, đạo lí, phẩm chất, quan hệ…cần được giải thích nhằm nâng cao nhận thức,trí tuệ, bồi dưỡng tư tưởng, tình cảm cho con người

Người ta giải thích bằng cách: nêu định nghĩa, kể ra các biểu hiện, so sánh, đối chiếuvới các hiện tượng khác, chỉ ra các mặt lợi hại, nguyên nhân, hậu quả, cách đề phòng hoặcnoi theo…của hiện tượng hoặc vấn đề được giải thích

* Chứng minh:

Trang 5

- SGK Ngữ văn 7- tập II viết: Chứng minh trong văn nghị luận là một phép lập luậndùng những lí lẽ, bằng chứng chân thực, đã được thừa nhận để chứng tỏ luận điểm mới (cầnđược chứng minh) là đáng tin cậy.

* Phân tích và tổng hợp:

- SGK Ngữ văn 9- tập II: Phân tích trong văn nghị luận là phép lập luận trình bày từng

bộ phận, phương diện của một vấn đề nhằm chỉ ra nội dung của sự vật hiện tượng Để phântích nội dung của sự vật, hiện tượng, ngêi ta cã thể sử dụng các biện pháp nêu giả thiết, sosánh, đối chiếu, …và cả phép lập luận giải thích, chứng minh Tổng hợp là phép lập luận rút

ra từ những điều đã phân tích Không có phân tích thì không có tổng hợp

* Bình giảng:

Giảng càng thông tuệ bao nhiêu, bình càng dễ thăng hoa bấy nhiêu Bởi thế trong hai thao tác này, giảng rất gần với phân tích Người nào hay lẫn với phân tích là do bình ít mà giảng nhiều.

* Cảm nhận: - Từ điển: Cảm nhận là nhận biết bằng cảm tính hoặc bằng giác quan.

- Trong văn nghị luận, cảm nhận là phép nghị luận vừa trình bày những nhận thức, hiểubiết, suy nghĩ về đối tượng bằng cảm tính hoặc bằng giác quan; vừa trình bày những cảnxúc, đánh giá về đối tượng ấy

Nghĩa là hiểu một cách nôm na rằng cảm nhận là phép lập luận có kết hợp giữa phân

tích và phát biểu cảm nghĩ (học ở lớp 7), nhưng việc phân tích ở đây không đòi hỏi phải chitiết cặn kẽ như khi làm bài lập luận phân tích

Cảm nhận xoáy vào những ấn tượng chủ quan của người viết” về đối tượng nghị luận,

vì vậy yêu cầu người viết phải biết lắng nghe, chắt lọc những cảm xúc, những rung động của chính mình để viết; Cảm nhận nghiêng về “cảm”, còn phân tích nghiêng về “hiểu” Nếu như phân tích tác động vào nhận thức, lí trí thì cảm nhận tác động vào cảm xúc, tâm hồn.

* Trình bày suy nghĩ, ý kiến:

Ý kiến là cách nhìn, cách nghĩ, cách đánh giá riêng của mỗi người về sự vật, sự việchay một vấn đề nào đó

Trang 6

- Trình bày suy nghĩ hay ý kiến trong bài văn nghị luận chính là phép nghị luận đưa ranhững hiểu biết, cách nhìn, cách nghĩ, cách đánh giá riêng của mình về đối tượng cần nghịluận.

Tóm lại, yêu cầu trình bày suy nghĩ hay nêu ý kiến cũng tương tự như yêu cầu bìnhluận về đối tượng vậy

- Phân tích là để làm rõ các đặc điểm về nội dung, hình thức cấu trúc, và các mối quan

hệ bên trong của sự vật hiện tượng và từ đó mà thấy được ý nghĩa của chúng

- Phân tích vừa là một thuật ngữ dùng để chỉ một phép lập luận trong một đoạn văn,một văn bản; vừa để chỉ một thao tác nghị luận chung Phân tích có thể kết hợp với nhữngthao tác nghị luận khác (chứng minh, giải thích, bình luận, bình giảng), những phương pháplập luận khác ( tương phản tương đồng, so sánh, đối chiếu, diễn dịch, tổng phân hợp….) đểlàm cho văn bản có sức thuyết phục, dễ hiểu…

Như vậy muốn làm tốt các dạng bài nghị luận cần nắm vững kĩ năng phân tích, vận dụngphân tích để luận điểm bài nghị luận đưa ra được rõ ràng, cụ thể,thuyết phục

- Một số lưu ý cho việc phân tích:

a Đối với một đoạn thơ, bài thơ: Phân tích là thường chia ra từng câu, từng đoạn để

xem xét nghệ thuật, nội dung Cũng có trường hợp phân tích theo từng phương diện nộidung của bài thơ, đoạn thơ

VD: Phân tích bài thơ “Đoàn thuyền đánh cá” (Huy Cận)

b Đối với một tác phẩm truyện hoặc đoạn trích: Phân tích lại thường chia ra hai

phương diện nội dung và nghệ thuật để xem xét Khi phân tích từng phương diện ấy lại cầnthiết xem xét kĩ sâu sắc ở từng nhân vật sự việc, từng đặc sắc nghệ thuật…Cũng có khi phântích theo bố cục, cuối cùng tổng hợp lại đặc sắc về nội dung và nghệ thuật

VD: Phân tích đoạn trích “Chiếc lược ngà” (Nguyễn Quang Sáng)

c Đối với một nhân vật:

+ Nếu là nhân vật trữ tình: chủ yếu phân tích theo từng biểu hiện của diễn biến tâm

trạng, cảm xúc ( diễn biến này được thể hiện rõ qua cách tổ chức bố cục)

VD:- Phân tích hình tượng con hổ trong bài thơ “Nhớ rừng” ( Thế Lữ)

Trang 7

- Tấm lòng của người cha trong bài thơ “Nói với con” ( Y Phương)

+ Nếu nhân vật trong tác phẩm tự sự, thì cần chia ra phân tích trên các phương diện

cơ bản sau: Thứ nhất là cuộc đời, số phận, hoàn cảnh công việc…; thứ hai là những đặcđiểm phẩm chất, tính cách Khi phân tích đặc điểm phẩm chất cũng nên xem xét ở từngphẩm chất tiêu biểu một sao cho sâu sắc, cụ thể…Lưu ý đối với những câu chuyện có cốttruyện tâm lí, nhân vật chủ yếu được xây dựng miêu tả về diễn biến tâm lí thì khi phân tích

có thể men theo các biểu hiện của tâm lí nhân vật đặt trong những hoàn cảnh, tình huống cụthể Và đề bài nhiều khi cũng yêu cầu cụ thể phân tích về diễn biến tâm trạng của nhân vật

VD1: Phân tích nhân vật Thuý Kiều trong đoạn trích “Chị em Thuý Kiều” (Nguyễn Du) VD2: Diễn biến tâm trạng ông Hai (Truyện ngắn “Làng”- Kim Lân) kể từ khi nghe tin làng chợ Dầu theo giặc.

+ Nếu nhân vật là đối tượng trữ tình: Có thể phân tích như phân tích một nhân vật tự

sự, có thể men theo mạch cảm xúc của bài thơ để phân tích

VD: Phân tích hình ảnh người bà trong bài thơ “Bếp lửa” (Bằng Việt)

d Đối với một phương diện của tác phẩm đoạn trích: Tuỳ theo nội dung đề yêu cầu

phân tích, mà chia tành từng yếu tố, từng biểu hiện nhỏ để xem xét, chứng minh, làm rõ

* Tổng hợp:

- Là quá trình ngược lại với phân tích, là phép rút ra những điểm chung, khái quát từnhững đặc điểm, phương diện riêng lẻ vừa phân tích

- Có phân tích thì mới có tổng hợp Nếu phân tích mà không tổng hợp thì sự phân tích

sẽ mất đi nhiều ý nghĩa Tổng hợp khái quát mà không dựa vào phân tích thì sẽ thiếu cơ sở,không thuyết phục Chỉ có thể rút ra những kết luận đúng khi dựa trên sự phân tích sâu sắc kĩcàng, xem xét sự vật hiện tượng một cách toàn diện, cụ thể…

- Tổng hợp thường diễn đạt bằng những câu cuối đoạn, những đoạn cuối bài và thường

có thể dùng các từ ngữ chuyển tiếp từ phân tích đến tổng hợp: Tóm lại, như vậy, rõ ràng, nóimột cách tổng quát,…

Trang 8

+ Tổng hợp sau khi phân tích một nhân vật là khái quát lại về cuộc đời, đặc điểm phẩmchất của nhân vật.

+ Tổng hợp sau khi phân tích một sự việc hiện tượng thì cần khái quát lại tất cả nhữngđiều đã phân tích một cách ngắn gọn (chú ý ở nguyên nhân, lợi hại)

VD: Phân tích cái hại của việc hút thuốc lá.

“Thuốc lá là một sản phẩm gây độc hại cho sức khoẻ con người Hút thuốc lá không những ảnh hưởng đến sức khoẻ mà còn làm sa sút, suy giảm về mọi mặt trong đời sống con người và xã hội.Hãy không hút thuốc lá và tuyên truyền để mọi người cùng loại bỏ thuốc lá Như thế là chúng ta đã tự bảo vệ mình và bảo vệ mọi người.”

- Thường sau khi tổng hợp người ta còn đưa ra những nhận xét đánh giá mang tính nâng cao, mở rộng về đối tượng phân tích

+ Phân tích đoạn thơ bài thơ, tác phẩm truyện đoạn trích: Thì có thể đánh giá về vị trí,

sự thành công của nó trong sự nghiệp sáng tác của tác giả hoặc trong một giai đoạn, một thời

kì văn học…

VD: Phân tích đoạn trích “ Kiều ở lầu Ngưng Bích”…

“Kiều ở lầu Ngững Bích” là một trong những đoạn thơ tả cảnh ngụ tình thành công nhất trong “Truyện Kiều” Đoạn thơ cho thấy cảnh ngộ đáng thương của Thuý Kiều trong những ngày đầu sau khi bán mình cho Tú Bà, Mã Giám Sinh, đồng thời ngợi ca tấm lòng thuỷ chung, hiếu thảo, vị tha của nàng Qua đoạn thơ, Nguyễn Du đã chứng tỏ tài năng văn chương xuất chúng của mình Và quan trọng nhất, giàu tính nhân văn nhất vẫn là tấm lòng nhân đạo cao

cả của nhà thơ dành cho những người bất hạnh.”

+ Phân tích về một nhân vật thì có thể đánh giá về sự điển hình tiêu biểu của nhân vậtcho một tầng lớp, giai cấp hay một thế hệ…Cũng có thể đánh giá về vai trò của nhân vật đốivới sự thành công của tác giả, tác phẩm

VD: Phân tích hình ảnh người bà trong bài thơ “Bếp lửa” (Bằng Việt)

“ Hiện lên qua dòng hồi tưởng, suy ngẫm của người cháu là hình ảnh người bà với cuộc đời và những phẩm chất tốt đẹp thật đáng ngợi ca, khâm phục Hình ảnh bà phải chăng là hình ảnh của quê hương đất nước Cháu nhớ bà, trân trọng, biết ơn bà cũng chính là biểu hiện

cụ thể của tình yêu gia đình, tình yêu mảnh đất nơi mình đã sinh ra và lớn lên Ai cũng có một tuổi thơ hạnh phúc bên bà, lớn lên từ chiếc nôi của gia đình và quê hương như thế Vì vậy, đọc bài thơ, ta như gặp lại người bà dấu yêu của mình, và được trở về với những ngày xưa tưởng như đã ngủ quên trong kí ức.”

3 Phân biệt phép nghị luận và phương pháp lập luận

a Phép nghị luận (cßn gäi lµ thao t¸c nghÞ luËn):

- Phép nghị luận có thể hiểu là phương pháp bàn và đánh giá cho rõ về một vấn đề nào

đó Như đã trình bày ở trên thì mỗi phép nghị luận có những yêu cầu khác nhau về mức độ,

Trang 9

tính chất của việc bàn luận đánh giá một vấn đề Chính phép nghị luận đã chi phối tới ngônngữ, nội dung của bài nghị luận.

- Phép nghị luận thường được thể hiện rõ ngay ở yêu cầu đề bài nghị luận Đó chính lànhững mệnh lệnh đề

b Phương pháp lập luận

- Lập luận là một trong ba yếu tố cơ bản của bài văn nghị luận SGK Ngữ Văn 7- tập 2,

trong bài “Đặc điểm của bài văn nghị luận” có viết: “Mỗi bài văn nghị luận đều phải có luận điểm, luận cứ và lập luận” “Lập luận là cách nêu luận cứ để dẫn đến luận điểm Lập luận phải chặt chẽ, hợp lí thì bài văn mới có tính thuyết phục.”

- Nếu phép nghị luận là yêu cầu chung cho tất cả những bài văn nghị luận có cùng mộtdạng, thì phương pháp lập luận lại yêu cầu cụ thể cho từng bài văn, cho từng đoạn văn, vàbài văn đoạn văn nào cũng có thể lựa chọn sử dụng linh hoạt những phương pháp lập luận

(mỗi bài văn, đoạn văn là trình bày một luận điểm) SGK Ngữ Văn 7- tập 2 viết ở bài “Bố cục và phương pháp lập luận trong bài văn nghị luận” như sau: “Để xác lập luận điểm trong từng phần và mối quan hệ giữa các phần ta có thể sử dụng các phương pháp lập luận khác nhau như suy luận nhân quả, suy luận tương đồng…” Nghĩa là, ta có rất nhiều cách

trình bày luận cứ để làm thuyết phục luận điểm Cụ thể:

+ Lập luận theo quan hệ nhân quả

+ Lập luận theo quan hệ tương đồng hoặc tương phản

+ Lập luận theo quan hệ tổng- phân- hợp

+ Lập luận quan hệ diễn dịch hay quy nạp

Như vậy, học sinh cần nắm vững các phÐp nghị luận và các phương pháp lập luận đểlàm được bài nghị luận đúng yêu cầu, chặt chẽ và thuyết phục

II KĨ NĂNG LÀM CÁC DẠNG BÀI VĂN NGHỊ LUẬN CỤ THỂ

II.1 Kĩ năng làm bài nghị luận về một bài thơ, đoạn thơ

1 Kĩ năng chung

- Đọc kĩ bài thơ, đoạn thơ để nắm được nội dung và nghệ thuật cơ bản

- Nắm được những thông tin xuất xứ: tác giả, hoàn cảnh ra đời bài thơ Đặc biệt phải

thấy được sự chi phối của phong cách nghệ thuật của tác giả và hoàn cảnh ra đời đến giá trịbài thơ, đoạn thơ

- Nghị luận về bài thơ, đoạn thơ thường phải bám vào các đặc điểm riêng của thơ ca

nhất là đặc trưng về nghệ thuật để khai thác làm rõ nội dung nghị luận Đó là thể thơ, là hìnhảnh, ngôn từ, giọng điệu, các biện pháp tu từ…Vì vậy, có thể đặt các câu hỏi sau để địnhhướng cho việc nghị luận

+ Nội dung chủ yếu của bài thơ, đoạn thơ là gì?

Trang 10

+ Có thể chia bố cục của bài thơ, đoạn thơ không?

+ Bài thơ, đoạn thơ sử dụng những từ ngữ nào hay, độc đáo? Giá trị biểu đạt là gì?

+ Biện pháp tu từ nào được sử dụng có hiệu quả và hiệu quả như thế nào?

+ Trong bài thơ, đoạn thơ có những hình ảnh nào cần phân tích? Phân tích ra sao?

+ Giọng điệu chủ đạo của bài thơ, đoạn thơ như thế nào?

+ Bài thơ, đoạn thơ gợi liên tưởng đến đoạn thơ, bài thơ nào?

+ …

- Tuỳ theo yêu cầu về thao tác nghị luận và đối tượng nghị luận cụ thể để có cách khai

thác, lập luận và diễn đạt phù hợp Khi làm bài có thể vận dụng phép so sánh đối chiếu vớinhững câu thơ, đoạn thơ khác của tác giả hoặc của tác giả khác Nếu là đề mở, cần vận dụnglinh hoạt các thao tác nghị luận phù hợp, có hiệu quả, nhất là thao tác giảng bình

2 Kĩ năng làm bài nghị luận về một đoạn thơ

- Khi nghị luận cần đặt đoạn thơ trong mạch cảm xúc chung của toàn bài để có những lí

giải phù hợp

- Sau khi phân tích, bình giá những khía cạnh nội dung và nghệ thuật, cần đánh giá vẻ

đẹp riêng của đoạn thơ đó và vai trò vị trí của đoạn thơ đối với cả bài Thậm chí từ một đoạnthơ, cần bước đầu thấy được phong cách nghệ thuật của tác giả

- Dàn bài :

a Mở bài:

+ Giới thiệu khái quát về tác giả (chỉ nên giới thiệu vị trí văn học của tác giả, không đisâu vào các phương diện khác)

+ Giới thiệu về bài thơ

+ Dẫn đoạn thơ cần nghị luận và nêu khái quát những ấn tượng chung về đoạn thơ đó( hoặc nên khái quát nội dung đoạn thơ)

b.Thân bài: Tiến hành nghị luận về các yếu tố nghệ thuật, các phương diện nội dung

của đoạn thơ Chú ý làm nổi bật và nhấn mạnh hơn ở những đặc sắc về nội dung và nghệthuật Mức độ phân tích, đánh giá, nhận xét, và bày tỏ cảm xúc, tình cảm của mình về đoạnthơ cần có sự điều chỉnh cho phù hợp với yêu cầu về thao tác nghị luận cơ bản của từng đềra

c Kết bài: Đánh giá vai trò ý nghĩa của đoạn thơ trong việc thể hiện chủ đề tư tưởng của toàn bài Nêu những cảm nghĩ, ấn tượng sâu đậm nhất về đoạn thơ.

VD : Cho đoạn thơ:

“ Vẫn còn bao nhiêu nắng

Ngày đăng: 30/10/2016, 11:03

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w