I/ Các loại hình nghị luận trong nhà trường: 1/ Nghị luận văn học: 2/ Nghị luận xã hội: II/ Các kiểu bài nghị luận cơ bản 1/ Nghị luận xã hội; 2/ Nghị luận văn học -Nghị luận về một b
Trang 1V n
Tuần:3 ( 29/8->3/9.11)
Tiết:03
NS:30/8 Nd :1/9
LẬP DÀN Ý BÀI VĂN NGHỊ LUẬN “ VÀO PHỦ CHÚA
TRỊNH”
Lê Hữu Trác
I Mức độ cần đạt:
- Giúp HS biết cách phân tích đề khi làm một bài văn nghị luận
- Biết cách phân biệt từng dạng đề để HS thấy được tầm quan trọng của bài văn nghị luận
II.Trọng tâm kiến thức, kĩ năng:
1 Về kiến thức: củng cố kiến thức về bài nghị luận
2 Về kĩ năng: rèn luyện kĩ năng về bài văn nghị luận
III Phương pháp:
- GV: Giáo án bám sát, các tài liệu tham khảo, các dung cụ dạy học
- HS: Ôn lại kiến thức về cách thức nghị luận, tập ghi, các dụng cụ học tập
IV Tiến trình lên lớp:
1/ Ổn định lớp:1’
2/ kiểm tra bài cũ:
3/ bài mới:
- GV cho HS tìm hiểu 2 loại văn NLXH
và NLVH
- GV cho VD minh họa một vài đề HS
làm quen
-HS theo dõi và tiếp nhận
-GV nêu đề bài và yêu cầu HS phân tích
đề
- HS quan sát và phân tích đề
- GV yêu cầu HS viết đoạn văn như đề
bài yêu cầu
-HS tiến hành viết đoạn văn như đề bài
yêu cầu
- GV lưu ý HS một số điều cần lưu ý khi
làm bài đối với đề này
- HS chú ý lắng nghe và ghi nhớ để làm
bài
I/ Các loại hình nghị luận trong nhà trường:
1/ Nghị luận văn học:
2/ Nghị luận xã hội:
II/ Các kiểu bài nghị luận cơ bản 1/ Nghị luận xã hội;
2/ Nghị luận văn học
-Nghị luận về một bài thơ, đoạn thơ
-Nghị luận về một tác phẩm, đoạn trích văn xuôi
Đề: Cảm nghĩ của anh (chị) về giá trị hiện thực sâu sắc của đoạn trích Vào phủ chúa Trịnh (Trích Thượng kinh kí sự- Lê Hữu Trác)
3.Phân tích đề:
- Đây là kiểu bài nghị luận văn học, phân tích một đoạn trích
- Nội dụng Giá trị hiện thực sâu sắc của đoạn trích “ Vào phử chúa Trịnh” :
+ Hiện thực về quang cảnh và caung cách sinh hoạt trong phủ chúa
+ Hiện thực về quyền uy tối thượng của vua chúa + Thao tác lập luận : Phân tích và phát biểu cảm nghĩ + Tư liệu: Đoạn trích “ Vào phủ chúa Trịnh” “ Lê Hữu Trác”
III/ Dàn ý :
1/ Mở bài :
-Giới thiệu về tác giả, tác phẩm trong đoạn trích được rút ra từ đoạn trích
-Dẫn nội dung luận đề vào + Nêu khái quát nội dung -Chuyển ý
* Hướng dẫn - Mở bài:
Trang 2-GV yêu cầu HS viết dàn ý theo gợi ý
của GV
( Viết vào giấy nháp)
+ Mở bài
+ Thân bài
+ Kết bài
?!HS cố gắng tìm dẫn chứng cho ý văn
đã nói đến
- GV yêu cầu HS nộp bài lên cho GV
chấm điểm (Khoảng 5 HS)
- HS nộp bài lên cho GV chấm điểm
- GV hướng dẫn cho HS dàn ý bài văn
- HS về tự hoàn chỉnh thành bài văn, tích
lũy kiến thức sau khi GV đã truyền đạt
- GV nhận xét bài làm và sửa lỗi cho
HS Chú ý nhận xét và sửa lỗi cho HS về
sự kết hợp các phương pháp
- HS chú ý lắng nghe và ghi nhớ
- Bức tranh chân thật, sinh động về cuộc sống xa hoa,đầy quyền uy nơi phủ chúa Trịnh và thái độ, tâm trạng của nhân vật “tôi” khi vào phủ chúa chữa bệnh cho Trịnh Cán
- Vẻ đẹp tâm hồn của lương y, nhà nho
=> Toàn bộ nội dung trên đã làm toát lên điểm sáng về bút pháp kí sự
2/ Thân bài :
- Nối đến sự cao sang quyền uy cùng cuộc sống hưởng thụ của vua chúa
+ Quang cảnh tráng lệ, tôn nghiêm lộng lẫy( dẫn chứng … đường vào khuôn viên vườn hoa….) + Cung cách sinh hoạt, nghi lễ, khuôn phép( Dẫn chứng cách đưa đón….)
- Thái độ tâm trạng và những suy nghĩ của nhân vật tôi
+ Dửng dưng trước những quyến rũ vật chất, không đồng tình trước cuộc sống quá no đủ, tiện nghi nhưng thiếu khí trời và quyền tự do
+ Lúc đầu, ý chữa bệnh để tránh sự trói buộc=> nhưng lại đưa ra cách chữa trị đúng theo luơng tâm của người thầy thuốc
-Vẻ đẹp tâm hồn, nhan cách của Lê Hữu Trác: một thầy thuốc giỏi, bản lĩnh, giàu kinh nghiệm, y đức cao, xem thường danh lợi, quyền quý, yêu tự do và nếp sống thanh đạm
- Tập trung quanh phần nghệ thuật và ý nghĩa văn bản + Tài quan sát, ghi chép, miêu tả …lối kể chuyện nhấp dẫn, chân thực, hài hước
+ Kết hợp văn xuôi và thơ làm tăng chất trữ tình cho tác phẩ, góp phần thể hiện một cách kín đáo với người viết
+ Đoạn trích phản ánh quyền lực to lớn của Trịnh Sâm, cuộc sống xa hoa , hưởng lạc và thái độ coi
thường danh dự, quyền quý của tác giả.
3/ Kết bài :
-Khẳng định lại nội dung vấn đề đã nghị luận -Bài học kinh nghiệm của bản thân
4/ Củng cố:2’
- Thế nào là nghị luận văn học
-Yêu cầu cơ bản khi lập dàn ý
5/ Dặn dò:3’
Hướng dẫn học và chuẩn bị bài mới
-Xem lại nội dung bài học, nắm kiến thức và kĩ năng làm văn
-Chuẩn bị: Luyện tập văn NL “Truyện An Dương Vương và Mị Châu Trọng Thủy”
Trang 3DÀN BÀI THAM KHẢO
Đề 1: Đoạn trích “ Vào phủ chúa Trịnh” ( Lê Hữu Trác)
( Nội dung bài chỉ có thể tham khảo để tích lũy tri thức riêng cho cá nhân – HS tự tư duy viết lại một bài văn của riêng cá nhân mình đúng theo đề yêu cầu)
Đoạn trích “ Vào phủ chúa Trịnh” vẽ lại một bức tranh sinh động về cuộc sống xa hoa quyền quý của chúa Trịnh Lê Hữu Trác sử dụng người trần thuật ngôi thứ nhất,trực tiếp, tiếp cận cung cách sinh hoạt xa hoa của chúa Trịnh Nhà văn quan sát tỉ mỉ, ghi chép trung thực, tả cảnh sinh động, thuật việc khéo léo
Mở đầu đoạn trích là một sự kiện cụ thể, chân thực Tính chất kí trong bút pháp của Lê Hữu Trác thể hiện rõ ở cách ghi tỉ mỉ sự việc, thời gian Nhà văn kết hợp biện pháp kể khách quan với nghệ thuật gợi không khí nhằm làm nổi bật hành động khẩn trương,gấp gáp của nhân vật: “ Mồng một tháng 2 Sáng tinh mơ, tôi nghe tiếng gõ cửa rất gấp Tôi chạy ra mở cửa Thì
ra một người đầy tớ quan Chánh đường….” ở đây “trong việc có người”, người gắn chặt với cảnh,với môi trường hoạt động cụ thể Câu văn của Lê Hữu Trác ngắn gọn, giàu thông tin, được viết ra một cách nhẹ nhàng, tự nhiên,không một chi tiết thừa Lời văn giản dị, chắc mà bay bổng, vừa “truyền cảm” vừa truyền nhận thức Người đọc có thể hình dung được rất rõ một cảnh huống đặc biệt đang xảy ra
Lần theo mạch tự sự, người đọc có cảm giác hồi hộp lo âu rồi bất ngờ nhận ra một con người gần gũi, quen thuộc như cảm nhận của nhân vật “ Tôi” trong tác phẩm này Trước mắt ta : hình ảnh nhân vật tôi đã dừng bước với tâm trạng ngạc nhiên, thoáng một chút thất vọng Nhịp
kể đột ngột chậm lại để ghi người, ghi việc rõ nét hơn, đầy đủ hơn Hai chữ “thì ra” vừa tạo ấn tượng về sự khám phá, vừa gọi ra được người thật,việc thật
Nhân vật “tôi” không hiện ra qua hình dáng cụ thể Trước hết anh ta xuất hiện qua giọng nói, qua cảm nhận về âm thanh, và rõ hơn ở hành động Nhân vật “tôi”” xuất hiện với tư cách một người trong cuộc, trực tiếp tham gia vào sự việc được miêu tả trần thuật Vì thế ngay từ đầu truyện người đọc đãcó cảm giác đây không phải câu chuyện hư cấu, mà chính là bức tranh cuộc sống đang hiện hữu
Khi kể việc, tả người Lê Hữu Trác không vay mượn những khuôn mẫu, chất liệu có
sẵn,tác giả hướng tới khai thác chất liệu đời thường, đời tư Chẳng hạn lời đối thoại của nhân vật người đầy tớ được thể hiện một cách tự nhiên, đúng với vị thế chức phận của hắn: “có thánh chỉ triệu cụ vào Quan truyền mệnh hiện đang ở nhà cụ lớn con,con vâng mệnh chạy đến đây báo tin…”
Lê Hữu Trác coi trọng việc kể lại có ngọn ngành Nhà văn ưa sắp xếp sự việc cho đầy đủ
Trang 4mạch lạc có đầu có cuối, nên dường như cứ một đoạn hay một câu nói về hành động của tên đầy tớ lại tiếp đoạn tự thuật về hành động, cảm nhận của Lê Hữu Trác “Nghe tiếng gõ cửa… tôi chạy ra…” , “người đầy tớ nói… tôi bèn” , “tên đầy tớ chạy…tôi bị xóc một mẻ,khổ không nói hết” Mạch văn chặt chẽ nhờ sự thể hiện thành công cái lô gíc nhân quả của sự kiện, hành
động Ban đầu ta tưởng như nhân vật “tôi” chủ động, nhưng càng đọc càng thấy nhân vật “tôi”
bị cuốn vào hết sự việc này đến sự việc khác
Mở đầu đoạn trích cấu trúc câu văn ngắn gọn Mỗi câu văn tương ứng với một tâm tình, một sự việc, hành động Người đọc vừa đồng cảm với nỗi vất vả và hành động bất đắc dĩ của nhân vật tôi vừa đồng tình với Lê Hữu Trác ở thái độ mỉa mai châm biếm sự lộng quyền ,tiếm lễ của chúa Trịnh Sâm lúc bấy giờ
Quang cảnh và cung cách sinh hoạt trong phủ chúa được ghi lại khá tỉ mỉ qua con mắt quan sát của một thầy thuốc lần đầu tiên bước chân vào thế giới mới lạ Không gian nghệ thuật của tác phẩm ngày càng được mở rộng hơn theo bước chân, và cách nhìn của nhân vật xưng “tôi” Bức tranh toàn cảnh về phủ chúa Trịnh không chỉ có bề rộng mà còn có chiều sâu, với một sức gợi mạnh mẽ
Theo nhân vật “tôi” quanh cảnh ở phủ chúa cực kì xa hoa, tráng lệ- không ở đâu sánh bằng: Khi vào phủ phải qua nhiều lần cửa với những hành lang quanh co nối tiếp nhau,ở mỗi cửa đều có vệ sĩ canh gác Khuôn viên phủ chúa rộng, có trạm dừng chân được kiến trúc thật kiểu cách, với cảnh trí thiên nhiên kì lạ Trong vườn, chim kêu ríu rít,danh hoa đua thắm,gió đưa thoang thoảng mùi hương Bên trong là những Đại đường, gác tía với kiệu son, võng điều
Đồ dùng của chúa được son son thiếp vàng, đồ dùng tiếp khách ăn uống cũng đều là mâm vàng, chén bạc, của ngon vật lạ… Đến nội cung của thế tử phải trải qua 6 lần trướng gấm Nơi ở của thế tử rất sang trọng,có sập thếp vàng, ghế rồng bày nệm ấm ,xung quanh lấp lánh, hương hoa ngào ngạt…
Lê Hữu Trác khéo kết hợp tả tập trung với điểm xuyết, chọn lọc được những chi tiết đắt, nói lên quyền uy tối thượng cùng nếp sống hưởng thụ cực kì xa xỉ của gia đình chúa Trịnh Sâm Giọng kể khách quan, trang nghiêm, đan xen với thái độ ngạc nhiên và hàm ý phê phán kín đáo chúa Trịnh Nhà văn khéo kết hợp giữa văn xuôi và thơ ca Bài thơ vịnh cảnh, tả việc của Lê Hữu Trác ý tứ sâu xa, lời thơ hóm hỉnh ,ẩn giấu một nụ cười châm biếm, mỉa mai
Lời nhận xét trong văn phẩm khá đa dạng: Trước tiên Lê Hữu Trác đánh giá khái quát vẻ đẹp Tiếp theo nhận xét về cảnh giàu sang Tiếp nữa nêu ấn tượng về cách bày trí, kiến trúc kiểu cách Nhà văn dừng lại bình giá tỉ mỉ,sắc sảo các đồ dùng xa hoa từ nhà Đại đường đến Gác tía Lời đánh giá nào của lê Hữu Trác cũng đích đáng,tinh tế và có chừng mực Nói tác phẩm giàu chất trữ tình vì thế
Trang 5Tác giả quan sát các công trình kiến trúc, cảnh trí thiên nhiên qua hình khối, dáng vẻ kích
cỡ, tả khuôn viên chủ yếu qua những ấn tượng về hương thơm âm thanh, kể về mức độ xuất hiện của thị vệ, quân sĩ để nhấn mạnh vẻ trang nghiêm của nơi đây Lê Hữu Trác đặc biệt ưa tả đường đi, lối vào phủ chúa Ta có cảm tưởng đằng sau mỗi cánh cửa là một bức tranh Đoạn trích gồm nhiều bức tranh với những mảnh màu tối sáng, nhạt đậm khác nhau, nối liền nhau Qua mấy lần cửa đầu tiên, trước mắt tác giả giống như một cảnh tiên huyền ảo, cây cối um tùm, hương hoa thơ mộng Đi tiếp, cảnh giàu sang của phủ chúa được bày ra chân thật,đầy đủ hơn Càng đi sâu vào trong, Lê Hữu Trác càng có dịp quan sát không gian nội thất, không gian cao rộng của lầu gác với các đồ nghi trượng sơn son thếp vàng, nhất là được biết cái phong vị của nhà đại gia
“Vào phủ chúa Trịnh” trở thành một quá trình tiếp cận sự thật đời sống xa hoa vương giả hơn là thăm bệnh,chữa bệnh Thăm bệnh, chữa bệnh cho thế tử Trịnh Cán tưởng chỉ như một cái cớ, một dịp may giúp người viết kí hoàn thiện bức tranh về cuộc sống thâm nghiêm, giàu sang đầy uy quyền
Lê Hữu Trác tổ chức điểm nhìn trần thuật linh hoạt Có đoạn sự việc được kể theo quan sát của nhân vật xưng tôi Có đoạn nhà văn để cho nhân vật quan truyền chỉ miêu tả,giới thiệu Người đọc có cảm tưởng không chỉ có Lê Hữu Trác dẫn ta vào phủ chúa để tự do quan sát ngắm nhìn mà cả những kẻ hầu cận chúa cũng đưa ta thâm nhập, khám phá sự thật ở “Đông cung” Những đoạn nhân vật tôi độc thoại toát lên cái nhìn sắc sảo và sự cảm nhận tinh tế Những đoạn
kể tả, cho thấy nhân vật tôi bao quát được một không gian rộng lớn, nắm bắt được thần thái, bản chất của sự vật hiện tượng Trong tư cách một người thầy thuốc quê mùa, nhân vật tôi luôn tỏ ra
là một người hoà nhã kính nhường, ham học hỏi y thuật của đồng nghiệp Sự đối lập về vị thế
so với các vị lương y của sáu cung hai viện,không khiến nhân vật tôi trở nên nhỏ bé, trái lại càng tôn cao hơn nhân cách và tài năng của nhân vật này Vẻ đông đúc của lương y nơi triều đình tự phơi bày hết sự thực ở phú chúa đang tồn tại một hệ thống quan lại bất tài, ăn bám Các nhà nho xưa ít khi nói về mình Nhưng trong đoạn trích này,tác giả đã không ngần ngại để cái “Tôi”đóng một vai trò quan trọng “Vào phủ chúa Trịnh” thể hiện trực tiếp cái tôi cá nhân người cầm bút Qua đoạn trích ta thấy tác giả Lê Hữu Trác là một thầy thuốc giàu kinh nghiệm Bên cạnh tài năng ông còn là một thầy thuốc có lương tâm và đức độ Lê Hữu Trác xem nghề thuốc vô cùng thiêng liêng cao quí,người làm thuốc phải nối tiếp lòng trung của cha ông
mình,phải luôn giữ đức cho trong, giữ lòng cho sạch Lê Hữu Trác yêu thích tự do, nếp sống thanh đạm Vượt lên trên những danh lợi tầm thường ông trở về hành đạo cứu đời với quan niệm : “Thiện tâm cốt ở cứu người Sơ tâm nào có mưu cầu chi đâu/ Biết vui, nghèo cũng hơn giàu/ Làm ơn nào phải mong cầu trả ơn”
Trang 6Tuần:4 ( 5/9/11- 1O/9/11)
Tiết:04
NS:2/9 Nd :10/9
LẬP DÀN Ý BÀI VĂN NGHỊ LUẬN “ TỰ TÌNH”
Hồ Xuân Hương
I Mức độ cần đạt:
- Giúp HS biết cách phân tích đề khi làm một bài văn nghị luận
- Biết cách phân biệt từng dạng đề để HS thấy được tầm quan trọng của bài văn nghị luận
II.Trọng tâm kiến thức, kĩ năng:
1 Về kiến thức: củng cố kiến thức về bài nghị luận
2 Về kĩ năng: rèn luyện kĩ năng về bài văn nghị luận
III Phương pháp:
- GV: Giáo án bám sát, các tài liệu tham khảo, các dung cụ dạy học
- HS: Ôn lại kiến thức về cách thức nghị luận, tập ghi, các dụng cụ học tập
IV Tiến trình lên lớp:
1/ Ổn định lớp:1’
2/ kiểm tra bài cũ:
3/ bài mới:
- GV hướng dẫn HS phân tích đề
- HS chú ý theo dõi phân tích đề
- HS thực hiện theo hướng dẫn của GV,
đọc thuộc lòng bài thơ
+ HS 1: Viết mở bài
+ HS 2 : thân bài
+ HS 3: kết bài
- Y/ C các HS còn lại lập dàn ý trên giấy
nháp
- HS ngồi bên dưới thực hiện theo yêu
cầu của GV
- Quan sát, theo dõi
- Y/C HS nộp dàn ý cho GV
- HS nộp dàn ý
- Gọi 3 HS khác nhận xét, bổ sung dàn
ý trên bảng
I.Tìm hiểu đề:
Đề: Tâm sự của Hồ Xuân Hương trong bài thơ
Tự Tình II.
II.Phân tích đề:
- Nghị luận văn học bình giảng một bài thơ trữ tình
- Nội dung: tâm sự của HXH trong bài tự tình II: + Nỗi cô đơn, số phân éo le ngang trái của người phụ nữ
+ Niềm khat khao hạnh phúc của người phụ nữ
- Thao tác lập luận: PT bình giảng
- Tư liệu: Bài thơ Tự Tình II của HXH
III.Dàn ý 1.Mở bài
- Giới thiệu tác giả HXH một thiên tài nhưng cuộc
đời nhiều bất hạnh
- Tự tình bộc lộ tâm tình
- Thơ HXH là thơ của phụ nữ viết về phụ nữ, trào phúng mà trữ tình, đậm chất dân gian từ đề tài cảm hứng đến ngôn ngữ,hình tượng
- Chuyển ý
2.Thân bài
- Triển khai theo bố cục bài thơ: đề, thực, luận , kết
- Bối cảnh không gian, thời gian và nỗi cô đơn trong đêm khuya vắng lặng với bao xót xa cay đắng
- Hình ảnh người phụ nữ cô đơn trong đêm khuya vắng lặng với bao xót xa, cay đắng
- Nỗi chán chường, đau đớn,ê chề
- Cảnh vật thiên nhiên qua sự cảm nhận của người mang tâm sự Đồng thời bộc lộ cá tính không cam
Trang 7- Nhận xét chung, chốt lại với một dàn ý
cụ thể , ghi bảng
- 3 HS khác nhận xét, bổ sung dàn ý
trên bảng
- HS theo dõi, ghi nhận
- HS tự kết lại kết bài
chịu như sự thử thách trước số phận HXH
-Khát vọng cháy bỏng hòa cùng nỗi lòng của người phụ nữ trong XHPK
- Tg sử dụng từ ngữ độc đáo, tả cảnh, đảo ngữ, tương phản vào trong câu thơ
=> Bản lĩnh HXH được thể hiên qua tâm trạng đầy
bi kịch của HXH Éo le, buồn tủi, cháy bỏng khát vọng sống hạnh phúc
3.Kết bài
- Nhận xét qua phần ý vừa triển khai
- Bài học kinh nghiệm
4/ Củng cố:2’
- Thế nào là nghị luận văn học
- Nhắc lại các bước phân tích đề ý văn trong bài
5/ Dặn dò:3’
Hướng dẫn học và chuẩn bị bài mới
-Xem lại nội dung bài học, nắm kiến thức và kĩ năng làm văn
-Chuẩn bị: Rèn luyện kĩ năng viết bài nghị luận hiện tượng đời sống
Trang 8DÀN BÀI THAM KHẢO (Đọc tham khảo HS tích lũy kiến thức cho cá nhân trong học tập) Đề2: Phân tích nhân vật trữ tình trong bài Tự Tình II của Hồ Xuân Hương
Tự tình 2”một trong chùm thơ 3 bài cùng tên của Hồ Xuân Hương, dù chưa rõ thời điểm sáng tác, nhưng người đọc có thể dễ dàng đoán được chúng đã được viết nên khi nhà thơ đang ở trong tâm trạng chua xót nhất, cay đắng nhất trước những éo le trên con đường tình duyên Ba bài thơ là 1 sự chuyển biến tâm lí rất lôgich mà cũng mang nặng 1 bi kịch của người phụ nữ gặp trắc trở trong hạnh phúc lứa đôi “Tự tình 1” là 1 khao khát mãnh liệt đến không chịu nổi của tác giả, giọng thơ mang đầy
vẻ thax thức, nhất quyết hok cam chịu 1 số phận hẩm hiu: “Tài tử văn nhân ai đó tá?/ Thân này đâu đã chịu già tom” Đến “Tự tình 2”, những đợi chờ, hi vọng dần bị thời gian tàn nhẫn làm cho chai sạn lạnh lùng, làm nguội đi trái tim đang bừng bừng khao khát của tác giả “Ngán nỗi xuân đi xuân lại lại/ Mảnh tình san sẻ tí con con ” Càng hi vọng bao nhiu thì càng thất vọng bấy nhiu, H2X dần trở nên ngao ngán, và mất niềm tin vào cuộc đời Và khi “Tự tình 3” được đặt bút, là khi tác giả đã chìm xuống tận cùng của hố sâu thất vọng , bà còn mong mỏi điều gì` nữa, mà buông xuôi, để mặc cho số phận đưa đẩy “Chiếc bánh buồn vì phận nổi nênh/ Giữa dòng ngao ngán nỗi lênh đênh” Ôi, còn đâu là con ng` mạnh mẽ, cá tính, bướng bỉnh, không chịu khuất phục điều gì?Thế mới biết số phận tàn nhẫn có thể làm lạnh lùng cả 1 tâm hồn cứng rắn nhất, mạnh mẽ nhất, biến nó thành thờ ơ, vô kảm Và đó quả thật
là 1 bi kịch, bi kịch của những ng` phụ nữ gặp éo le trong số phận cuộc đời “ Đêm khuya văng vẳng trống canh dồn/ Trơ cái hồng nhan với nước non”
Mở đầu bài thơ là một âm thanh khá âm vang và đầy hối hả: Trống canh dồn Nhưng, dù mãnh liệt đến mấy, tiếng trống cũng vẫn chỉ là âm thanh duy nhất trong đêm vắng, nếu hok có nó thì đêm khuya sẽ trở nên vô cùng vắng lặng Cái động đã đc sử dụng để tôn lên kái tĩnh, cái cô độc, trống trải của đêm khuya Nửa đêm là thời gian sum họp vợ chồng, là thời điểm của hạnh phúc lứa đôi Vậy mà lại có 1 ng` phục nữ tỉnh dậy vào đúng thời khắc thiêng liêng ấy, hay vì cả đêm ng` phụ nữ ấy đã không ngủ đc vì thiếu vắng 1 điều gì đó, vì tâm trạng đang mang nặng một nỗi niềm? Tiếng trống canh âm vang từ xa vọng lại như đang thúc giục thời gian qua mau, gọi đến 1 điều vô cùng đáng sợ đối với 1 người` đàn bà vẫn còn thân đơn gối chiếc: Tuổi già Tuổi già càng đến gần nghĩa là hi vọng càng tuột xa, mọi mong mỏi, khát khao càng trở nên vô vọng Tiếng trống dồn dập cứ xoáy vào tâm can tác giả, nó âm vang, trong tâm tưởng, âm vang trong suy nghĩ, không tài nào dứt ra được Dồn dập, hối hả, tiếng trống không chỉ bao trùm lên không gian mà còn lên cả thời gian nữa, và ta tự hỏi, đêy có thật là tiếng trống hiện hữu trong đời sống thực tại hay phải chăng đó là tiếng trống cất lên từ tấm lòng thổn thức của tác giả, tiếng trống ám ảnh về 1 bi kịch đang ngày đến gần hơn với bà “Trơ cái hồng nhan với nước non”_Khi thời gian cứ lướt qua càng lúc càng dồn dập, thì cũng là lúc “cái hồng nhan" ngày một “trơ” ra với đời “Hồng nhan” là một từ dùng để chỉ nhan sắc, chỉ gương mặt xinh đẹp của ng` phụ
nữ Đó là điều mà bất cứ người phụ nữ nào có đc cũng phải hết sức tự hào, hết sức coi trọng và nâng niu Nhưng từ “cái” gắn liền với “hồng nhan” như một hòn đá kéo nặng cả câu thơ xuống, khi đập tan bâo nhiêu niềm tự hào, bao nhiêu trân trọng mà biến “hồng nhan” trở thành một thứ đồ vật tầm thường hok hơn hok kém Hồng nhan để làm gì khi nửa đêm phải tỉnh giấc, trong cái trống trải lạnh lẽo đến đắng cay? Hồng nhan để làm gì khi nó đâu phải là vĩnh cửu mà sẽ nhanh chóng vỡ tan theo từng nhịp trống dồn? Tác giả ý thức được nhan sắc của mình nhưng cũng ý thức được những bất hạnh và chua xót mà mình đã, đang và sẽ phải nếm trải Và khi nỗi đau lên đến đỉnh điểm, người phụ nữ sẽ trở nên
“trơ” ra với “nước non”, với cuộc đời Từ “trơ” được đảo lên đầu câu nhằm nhấn mạnh sự vô kảm, lạnh lùng, thờ ơ trước những đớn đau đã trở nên quá quen thuộc Còn gì đau xót hơn khi những bất hạnh lại trở thành một điều gì đó rất thường tình, cứ đeo đẳng, bám lấy con người ta và thậm chí khiến người ta trở nên nhàm chán, mất hết cảm xúc và trở nên trơ ra như gỗ đá? Chưa hết, từ “trơ” trong câu thơ còn mang một nghĩa khác, một hàm ý cay đắng và chua xót không kém: Trơ trọi Tác giả nhận thấy mình không có gì cả, không có tình yêu, không có hạnh phúc, chỉ đơn độc, lẻ loi một mình trong cuộc
Trang 9đời này Từ “trơ” đặt ở đầu câu cộng với cách ngắt nhịp 1/3/3 đẩy từ “trơ” tách biệt một mình đã xoáy sâu, nhấn mạnh vào tâm trạng cay đắng, tủi hổ và bẽ bàng của bà Câu thơ như một lời đay nghiến, mai chính mình, có hồng nhan mà phải trơ ra như thế Thật đáng thương cho số phận của nhà thơ, đáng thương cho một kiếp người tài hoa mà bất hạnh Và cũng thật đáng thương cho những người phụ nữ đương thời bị đè nén, áp bức với những hủ tục phong kiến đến mức xơ xác, héo mòn cả một phận hồng nhan Nhưng, dù đáng thương, chua xót đến mức nào, chúng ta vẫn phải công nhận một “bản lĩnh Xuân Hương” rất đáng nể phục trong hai câu thơ, khi mà “trơ” không chỉ là một sự bẽ bàng hay vô kảm mà còn là thách thức “Trơ” kết hợp với “nước non” và “hồng nhan” đựoc xếp ngang tầm thiên nhiên vũ trụ đã cho ta thấy sự can đảm, dám đương đầu với những gì lớn lao nhất, khó khăn nhất của bà
Đó quả thật là một ý chí đáng nể phục, một bản lĩnh đáng ngưỡng mộ của HXH
“Chén rượu hương đưa say lại tỉnh, Vầng trăng bóng xê khuyết chưa tròn.”
Hai câu thơ vẽ lên một khung cảnh rất thật mà cũng chứa chan bao nỗi niềm của tác giả Một người phụ nữ mà phải ngồi uống rượu một mình trong đêm vắng thì quả là một sự bất hạnh Con người
ta chỉ uống rượu vì hai mục đích: Một là để sẻ chia và hai là để để quên sầu Sẻ chia là khi con ng` ta nhất định phải uống cùng bạn bè, đặc biệt là tri kỉ, để nói lên những nỗi lòng, tâm sự cho nhau nghe và nhận lại được sự cảm thông và thấu hiểu Chẳng thế mà Nguyễn Khuyến từng viết: “Rượu ngon không
có bạn hiền/Không mua không phải không tiền không mua”Còn khi muốn quên sầu, là lúc con ng` ta đang ở trong tâm trạng cay đắng nhất, khi xung quanh không có 1 ai để có thể chia sẻ nỗi niềm và ta chỉ còn biết tìm quên trong men rượu, một mình Nhưng liệu chén rượu có làm tan đi bao nỗi cô đơn, tủi nhục trong lòng, hay Hồ Xuân Hương uống rượu mà như uống bao giọt sầu giọt tủi, như nuốt từng giọt đắng giọt cay Chén rượu là chén sầu mà người uống chẳng thể đổ đi đươc mà chỉ có thể lặng lẽ,
âm thầm nuốt vào cổ họng, để đau khổ cũng chẳng mất đi đâu mà lại trở lại trong chính tâm trí mình
"Say lại tỉnh" Uống rượu có thể say, nhưng sau cơn say người ta sẽ lại tỉnh Tỉnh rồi, người ta mới nhận ra, hương rượu còn để lại vị đắng chát trên đầu lưỡi Và những đau khổ, chua xót sau cơn say càng đc.nhân lên vạn lần Cụm từ này đã cho ta thấy một vòng luẩn quẩn, đầy bế tắc rất đỗi xót xa của tác giả Bà cứ bị đẩy qua đẩy lại liên hồi trong vòng tuần hoàn nghiệt ngã của số phận Và ta nhớ đến một hình ảnh bẽ bàng tủi nhục của nàng Kiều ngày nào "Khi tỉnh rượu, lúc tàn canh/ Giật mình mình lại thương mình xót xa " Đến câu thơ tiếp theo, nỗi đau lại tiếp tục được thể hiện rõ ràng và đậm nét
"Vầng trăng bóng xế khuyết chưa tròn"Có vẻ như Hồ Xuân Hương đã ngồi một mình bên chén rượu như thế đến hết đêm, đến tận khi “mặt trăng bóng xế”, nhường chỗ cho một ngày mới Bà cứ ngồi uống rượu và ngằm trăng như vậy, như mong chờ một sự đồng cảm và sẻ chia Nhưng bà đã nhìn thấy gì? Một sự đồng cảm chăng? Hay bà chỉ thấy số phận dở dang của mình đang hiện diện trong một vầng trăng khuyết? Trăng vốn là một biểu tượng của hạnh phúc, là hình ảnh đại diện cho cho những ước mơ
và hy vọng Nhưng hạnh phúc của Hồ Xuân Hương lại xót xa đến mức “khuyết chưa tròn”, một hạnh phúc không hề trọn vẹn,một cuộc đời còn dang dở với những éo le, trắc trỏ trong tình duyên Hạnh phúc của bà chỉ như vầng trăng khuyết mà bà không thể biết ngày mai trăng sẽ lại khuết tiếp hay sẽ tròn Ánh trăng sáng mà lạnh lẽo vô cùng khi ẩn hiện trong nó một nỗi cô đơn, trống vắng.Và “bóng xế” đi kèm với trăng lại gợi nên một nỗi niềm trong lòng tác giả: nỗi lo sợ trước tuổi thanh xuân đang mất đi Trăng đã xế mà vẫn khuyết chưa tròn, giống như tuổi xuân của Xuân Hương đang dần mất đi
mà tình duyên vẫn không được trọn vẹn Hình ảnh mặt trăng là hình ảnh ẩn dụ vô cùng độc đáo và đặc sắc, miêu tả chính xác và vô cùng sinh động ngoại cảnh mà cũng bộc lộ được tâm cảnh, những suy nghĩ, tâm tư đang hiện hữu trong lòng bà
Nhưng dù có thất vọng, dù có đau xót, chán chường đến mức nào, Hồ Xuân Hương vẫn là một người phụ nữ đầy bản lĩnh Và sâu thẳm trong tâm trí bà, dù yếu ớt đến đâu vẫn luôn lóe lên một ánh lửa khát khao, hy vọng, không chịu khuất phục mà muốn vùng lên thay đổi cuộc sống của mình
Một hình ảnh thiên nhiên rất dữ dội, đầy cựa động, giống như tính cách bướng bỉnh, hok chịu khuất phục điều gì của chính tác giả vậy Ở Hồ Xuân Hương, sự buồn tủi bao h cũng gợi nên những phản ứng tích cực (giống mình :”>) Bà hok buông xuôi, không đầu hàng mà lun cố gắng tìm cách để thay đổi vận mệnh, cho dù những cố gắng đó mới chỉ dừng lại trong suy nghĩ
Trang 10“Xiên ngang mặt đất rêu từng đám Đâm toạc chân mây đá mấy hòn”
Hai câu thơ tửơng như chỉ miêu tả cảnh vật xung quanh, nhưng chính đặc điểm của những cảnh vật đó đã đươc dùng để bộc lộ tâm trạng của con người Hàng loạt động từ mạnh, đầy sắc thái biểu cảm như “xiên”, “đâm” được đảo lên đầu câu cùng với những bổ ngữ độc đáo, ấn tượng đi kèm với nó đã thể hiện rất rõ cảm xúc của bà Rêu “xiên ngang”, dàn trải như bao phủ khắp cả mặt đất Không phải xiên dọc hay xiên chéo gì cả mà phải là “xiên ngang”, những tảng rêu như chọc thủng mặt đất để đâm lên một cách đầy ngang tàng, ngạo nghễ Đá “đâm toạc” chĩa lên nhọn hoắt đầy đe dọa như muốn xuyên thủng cả bầu trời Và cũng chẳng phải đâm thủng hay đâm xuyên gì hết mà là “đâm toạc”, tảng
đá dường như đã bị dồn nén tất cả những căm hậm, phẫn uất mà đâm thẳng lên, xé toạc tất cả những gì đang gò bó, áp đặt chúng Chỉ là những cảnh vật bình thường, không có gì đặc biệt như rêu và đá, nhưng qua cái nhìn đầy ấm ức, bất mãn của tác giả, chúng đã trở nên vô cùng sống động Cựa động, nổi loạn, phá phách, muốn đập tan những gì gò bó để đc tự do vùng vẫy giữa đất trời, thiên nhiên hòa hợp với con người, đặc điểm thiên nhiên cũng chính là nỗi niềm của nhân vật Và ta cũng thấy đc tâm trạng phẫn uất của HXH với tuổi già và những luật lệ phong kiến cũng như số phận hẩm hiu đang tàn nhẫn ra tay bóp chết hạnh phúc của bà; những uất hận ây bị đè nén, gò ép trong lòng bà đến không chịu nổi chỉ chực vỡ òa ra, bà khao khát muốn đạp tung tất cả, muốn lật đổ mọi thứ, muốn tự do biết nhường nào Nhưng dù sao, bà vẫn chỉ là một người phụ nữ phong kiến, một thân phận nữ nhi cô độc,
dù phá phách, dù nổi loạn đến đâu thì tất cả vẫn chỉ kết thúc trong giới hạn ngôn từ Bà không thể làm
gì hơn được nữa Mặc dù ta vẫn phải công nhận, đây là một suy nghĩ vô cùng mới mẻ, một tư tưởng
đi trước thời đại, một tính cách hoàn toàn khácc biệt so với những người phụ nữ thời bấy h Đó là một
bản lĩnh, một cá tính Xuân Hương đáng trân trọng
“Ngán nỗi xuân đi xuân lại lại, Mảnh tình san sẻ tí con con ”
Những khát khao, vùng vẫy, nổi loạn cuối cùng cũng đã bị dập tắt trong sự chán chường, bất lực Hồ Xuân Hương đã không thể vượt khỏi thân phận mình, vị thế nhỏ nhoi cô độc của mình trong xã hội Kết thúc bài thơ là một sự cam chịu đc thốt lên trong một tiếng thở dài ngao ngán Bà đã phát ngán ,
đã chán lắm rồi cái vòng xoáy luẩn quẩn của số phận Càng cố bao nhiêu thì càng thất bại bấy nhiêu, hi vọng càng nhiều thì thất vọng càng lớn, càng chua xót Thế thì còn cố gắng để làm gì nữa? “Xuân”, hình ảnh nổi bật trong câu thơ có thể là mùa xuân, cũng có thể là tuổi xuân của tác giả những mùa xuân cứ đến và đi, dòng thời gian cứ chầm chậm chảy, cũng có nghĩa là tuổi xuân của bà đang tuột mất từng ngày Và nỗi đau của bà lại càng đc nhân lên gấp bội Hai chữ “lại” đứng ở cuối câu chứa đựng biết bao sự ngán ngẩm nặng nề của bà khi cảm nhận tuổi xuân đang trôi đi từng ít một Bà chán ghét số phận hẩm hiu của mình, chán ghét vòng tình duyên ngang trái lun đeo đẳng, chán ghét hạnh phúc ít ỏi đến nỗi gần như không tồn tại “Mảnh tình”, một cụm từ mang nặng nỗi trớ trêu của số phận Tình iêu vốn là một điều gì đó thật cao cả thiên nhiên, Nhưng tình yêu của HXH lại như một mảnh vỡ nhỏ bé được sẻ ra từ hạnh phúc của người khác Tình yêu của bà rẻ mạt như một sự bố thí, như một thứ đồ vật
đã qua sử dụng ngươi` ta vứt lại cho bà Đau xót biết mấy, khi “mảnh tình” lại là một thứ được chia năm sẻ bảy mà bà chỉ được nhận duy nhất một mảnh “tí con con” Hạnh phúc của bà chẳng những không trọn vẹn mà còn nhỏ bé, ít ỏi đến mức tội nghiệp Tình duyên như thế thì có để làm gì, chỉ cảng thêm tủi nhục đắng cay Cách dùng từ giản đơn mà vẫn vô cùng độc đáo đã cực tả nỗi niềm của tác giả HXH ngang tàng thách thức đầy nổi loạn ở trên là thế, nhưng cuối cùng, tất cả vẫn chìm vào vô vọng trong sự bất lực tột cùng và chán chường mệt mỏi Những cố gắng vùng vẫy của bà chỉ là vô ích, bởi
số phận của bà vốn đã là một bi kịch và mãi mãi chỉ là 1 bi kịch mà thôi Có lẽ trong giờ phút ấy, bà đã muốn buông xuôi, muốn bỏ mặc tất cả cho số phận đưa đẩy, bà đã mất hết hy vọng Giọt nươc’ mắt em âm thầm buông rơi, đêm sầu đơn côi trong tim em ôm trọn một nỗi sầu bơ vơ đành khóc vậy thôi Liệu HXH có thể vượt qua tất cả để có thể trở lại là một ng` phụ nữ yêu đời mạnh mẽ không sợ gì cả như ngày nào? Đó vẫn là một câu hỏi còn dở dang của những thân phận phụ nữ đem thân đi lam lẽ, phận ng` mà hạnh phúc không bao h trọn vẹn mà chỉ nhỏ nhoi như 1 mảnh gg vỡ Câu thơ đã diễn trả đc đỉnh đ? bi kịch của HXH và cũng là của những người phụ nữ thời bấy giờ