1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

Vai tro cua Dang gd 46-54

35 589 4

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 35
Dung lượng 436,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Mở đầu là thắng lợi của cách mạng tháng Tám năm 1945, lập ra nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa, tiếp đó là thắng lợi của các cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc, bảo vệ Tổ quốc; và đến nay

Trang 1

ĐỀ TÀI TIỂU LUẬN:

VAI TRÒ LÃNH ĐẠO CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM TRONG CUỘC CÁCH MẠNG DÂN TỘC DÂN CHỦ NHÂN DÂN Ở NƯỚC TA (1946-1954)

A LỜI NÓI ĐẦU

I Khái quát vai trò của Đảng Cộng Sản đối với Cách

Mạng Việt Nam từ năm 1930 đến nay.

II Khái quát vai trò lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt

Nam trong cuộc Cách Mạng Dân Tộc Dân Chủ Nhân

Dân ở nước ta (1946-1954).

1 Khái quát tiến trình trình phát triển lịch sử của cuộc

kháng chiến chống Pháp trong toàn quốc (1946 – 1954)

2 Khái quát vai trò lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam

trong CM DTDCND ở nước ta (1946-1954)

B NỘI DUNG CHÍNH

I Xây dựng và bảo vệ chính quyền cách mạng (9/1945

đến 12/1946)

1 Tình hình đất nước sau Cách mạng tháng tám năm 1945

2 Tiến hành kháng chiến chống thực dân Pháp ở Nam Bộ

II Toàn quốc kháng chiến chống thực dân Pháp

(19/12/1946 – 21/7/1950)

1 Phát động toàn quốc kháng chiến, đường lối kháng chiến

chống thực dân Pháp

2 Đẩy mạnh cuộc kháng chiến toàn diện

III Chủ động đẩy mạnh cuộc kháng chiến đi đến thắng

lợi (1951-1954)

Trang 2

1 Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ II của Đảng

2 Nguyên nhân thắng lợi.

3 Bài học kinh nghiệm

C Kết luận

TÀI LIỆU THAM KHẢO

A LỜI NÓI ĐẦU

Cuộc kháng chiến do Đảng lãnh đạo là cuộc chiến tranh cách mạng để bảo vệ thành quả cách mạng, là cuộc đối đầu toàn diện tất cả các lĩnh vực với thực dân Pháp Vì thế, sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng đã góp phần to lớn tạo ra sức mạnh tổng hợp để chiến thắng kẻ thù Vì vậy, nghiên cứu lịch sử Đảng giai đoạn kháng chiến chống Pháp (1945 – 1954), chúng ta không thể không nghiên cứu sự lãnh đạo của Đảng trong giai đoạn này

Từ cơ sở nhận thức ý nghĩa khoa học và thực tiễn nêu trên, tôi đã chọn đề tài “ Vai

trò lãnh đạo của Đảng Đảng Cộng Sản Việt Nam trong cuộc cách mạng Dân Tộc Dân

Chủ Nhân Dân ở nước ta giai đoạn (1945 – 1954)” làm đề tài tiểu luận của mình

I Khái quát vai trò của Đảng Cộng Sản đối với Cách Mạng Việt Nam từ năm 1930 đến nay.

Ngày 3 tháng 2 năm 1930, Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời đánh dấu bước chuyển biến quyết định của cách mạng Việt Nam Đảng là đội tiên phong của giai cấp công nhân, đồng thời là đội tiên phong của nhân dân lao động và của dân tộc Việt Nam; đại biểu trung thành lợi ích của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của dân tộc Sự lãnh đạo của Đảng là nhân tố hàng đầu quyết định mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam

Lịch sử dân tộc Việt Nam, kể từ khi có Đảng là những trang sử sôi động nhất, hào hùng nhất, oanh liệt nhất Kể từ khi có Đảng, hơn 7 thập kỷ qua dân tộc ta tiếp tục giành được những thắng lợi mang ý nghĩa dân tộc và thời đại sâu sắc, thể hiện những bước nhảy vọt trong tiến trình lịch sử của dân tộc Mở đầu là thắng lợi của cách mạng tháng Tám năm 1945, lập ra nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa, tiếp đó là thắng lợi của các cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc, bảo vệ Tổ quốc; và đến nay chúng ta cũng khẳng định công cuộc đổi mới của đất nước, dưới sự lãnh đạo của Đảng đã và đang giành được những thắng lợi lớn, “có ý nghĩa lịch sử sâu sắc”… Tất cả những thắng lợi đó của dân tộc không thể phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng Sản Việt Nam

Trang 3

II Khái quát tiến trình trình phát triển lịch sử và vai trò lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam trong cuộc Cách Mạng Dân Tộc Dân Chủ Nhân Dân ở nước ta (1946-1954).

1 Khái quát tiến trình trình phát triển lịch sử của cuộc kháng chiến chống Pháp trong toàn quốc (1946 – 1954 )

Trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp (1945 – 1954), quân và dân ta đã giành được nhiều thắng lợi trên các mặt trận quân sự, chính trị, kinh tế, văn hóa, ngoại giao Trong đó mặt trận quân sự giữ vai trò quan trọng nhất góp phần tạo ra và thúc đẩy thắng lợi ngày càng to lớn của nhân dân ta trên các chiến trường

Trên mặt trận quân sự, quân dân ta từng bước đánh bại các âm mưu của thực dân Pháp để tiến lên mở chiến dịch Điện Biên Phủ, đánh bại hoàn toàn thực dân Pháp, buộc chúng phải kí kết Hiệp định Giơnevơ công nhận độc lập chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của nước ta cũng như Lào và Campuchia Trước khi tìm hiểu vai trò

lãnh đạo của Đảng Cộng Sản Việt Nam trong cuộc cách mạng Dân Tộc Dân Chủ Nhân

Dân ở nước ta (1946-1954), ta có thể khái quát tiến trình trình phát triển của cuộc kháng chiến chống Pháp trong toàn quốc (1946 – 1954) qua các mốc lịch sử chính sau đây:

Hiệp định Giơnevơ

Tháng 7/1954

1953 - 1954 Cuộc tiến công chiến lược

* Vị trí, ý nghĩa của các mốc lịch sử trên:

1 Ngày 19/12/1946, Kháng chiến toàn quốc bùng nổ bằng cuộc chiến đấu ở các đô thị vĩ tuyến 16, mở đầu cuộc kháng chiến chống Pháp trong toàn quốc Qua cuộc chiến đấu này, quân dân ta đã đánh bại âm mưu “đánh úp” của địch, đảm bảo cho cơ quan đầu

Trang 4

não kháng chiến của Đảng và Chính phủ rút về chiến khu Việt Bắc an toàn, chuẩn bị cho kháng chiến lâu dài.

2 Tiếp đó là thắng lợi trong chiến dịch Việt Bắc Thu – Đông 1947 Là chiến thắng lớn đầu tiên của quân và dân ta trong việc tổ chức phản công địch trong cuộc kháng chiến chống Pháp, làm cho âm mưu muốn kết thúc chiến tranh nhanh chóng của địch bị thất bại hoàn toàn, phá tan âm mưu “đánh nhanh thắng nhanh” của chúng; lực lượng so sánh giữa ta và địch bắt đầu thay đổi theo chiều hướng có lợi cho ta Đây là một thắng lợi

có ý nghĩa chiến lược quan trọng trong năm đầu toàn quốc kháng chiến, đưa cuộc kháng chiến của nhân dân sang một giai đoạn mới, ta từ chỗ phòng ngự sang thế tấn công địch

3 Đến thắng lợi của chiến dịch Biên Giới Thu – Đông năm 1950, ta chủ động mở chiến dịch trên đường số 4 Đây là chiến thắng lớn đầu tiên của ta trong việc chủ động

mở cuộc tiến công địch có qui mô lớn, một chiến dịch đánh tiêu diệt hay và gọn theo phương thức “vận động chiến”, đánh dấu bước trưởng thành vượt bậc về nghệ thuật quân

sự, nghệ thuật chiến dịch và trình độ tác chiến tập trung của quân đội ta Là thất bại lớn của Pháp cả về quân sự lẫn chính trị; địch bị đẩy lùi về thế phòng ngự, bị động, càng thêm lúng túng về nhiều mặt; đánh dấu sự chuyển biến lớn trong cục diện chiến tranh đưa cuộc kháng chiến bước vào giai đoạn mới; ta vươn lên giành quyền chủ động và phản công ngày càng lớn…

4 Cuộc tiến công chiến lược Đông Xuân 1953 – 1954, đỉnh cao chiến thắng Điện Biên Phủ Đây là thắng lợi có ý nghĩa chiến lược lớn nhất về mặt quân sự Đánh dấu bước phát triển đến đỉnh cao của cuộc kháng chiến chống Pháp Với sự kiện này ta đã làm phá sản hoàn toàn kế hoạch Nava, đó là âm mưu và thủ đoạn chiến tranh xâm lược lớn nhất của Pháp và Mỹ, làm thay đổi cục diện chiến tranh Đông Dương, buộc Pháp phải ký Hiệp định Giơnevơ

5 Hiệp định Giơnevơ 1954: Đây là sự kiện có ý nghĩa bước ngoặt, đánh dấu sự kết thúc thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Pháp, mở ra những điều kiện thuận lợi mới để dân tộc ta tiến lên xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc và hoàn thành cuộc Cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân trong cả nước

Như vậy, qua các thắng lợi của quân dân ta từ năm 1946 đến cuộc chiến Đông – Xuân (1953 – 1954), ta đã đánh bại được các âm mưu của địch, giành được nhiều thắng lợi to lớn và đến chiến dịch Điện Biên Phủ là đỉnh cao của cuộc kháng chiến, ta đã đánh bại hoàn toàn thực dân Pháp xâm lược Đây là thắng lợi quân sự lớn nhất và là thắng lợi quyết định buộc thực dân Pháp phải chấm dứt chiến tranh xâm lược Đông Dương

2 Khái quát vai trò lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam trong CM DTDCND ở nước ta (1946-1954 )

Với cương lĩnh và đường lối đúng đắn, sáng tạo của mình, Đảng Cộng sản Việt Nam đã tổ chức, lãnh đạo mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam vượt qua một chặng đường đấu tranh cực kỳ khó khăn, gian khổ và đã giành được những thắng lợi rất đáng tự

Trang 5

hào Lịch sử Việt Nam, từ tháng 9-1945, là lịch sử kháng chiến và kiến quốc Trong lò lửa kháng chiến, chưa lúc nào Đảng ta lại rơi vào tình thế hiểm nghèo như trong thời kì

(1945-1954) nhưng Đảng đã lãnh đạo toàn dân kháng chiến chống thực dân Pháp xâm

lược, đưa cách mạng nước ta vượt qua tình thế khó khăn, tạo đà cho những bước phát triển tiếp theo của lịch sử Việt Nam ở những chặng đường sau này Nước Việt Nam dân chủ cộng hoà được củng cố và phát triển, tạo dựng sức mạnh để đưa kháng chiến đến thắng lợi Cuộc kháng chiến thần thánh của dân tộc Việt Nam chống thực dân Pháp và can thiệp Mĩ (1945-1954) là một cuộc chiến tranh nhân dân, chiến tranh cách mạng vì độc lập và thống nhất, vì nền dân chủ cộng hoà và gây mầm mống cho chủ nghĩa xã hội

B NỘI DUNG CHÍNH

I Xây dựng và bảo vệ chính quyền cách mạng (9/1945 đến 12/1946)

1 Tình hình đất nước sau Cách mạng tháng tám năm 1945

Một đặc điểm nổi bật của tình hình quốc tế sau chiến tranh thế giới thứ hai là các lực lượng hòa bình, dân tộc, dân chủ trên thế giới đang trên đà tiến công mạnh mẽ vào chủ nghĩa đế quốc và các thế lực phản cách mạng Song các lực lượng đế quốc và các thế lực phản cách mạng cũng đang tìm mọi cách để phục hồi và phát triển vai trò của mình, phản kích mạnh mẽ các lực lượng hòa bình, dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội Liên Xô ngày càng khẳng định vị thế chính trị trên thế giới Nhiều nước Đông Âu với sự giúp đỡ của Liên Xô đã đánh đuổi chủ nghĩa phát xít và đi theo con đường XHCN Phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc ở các nước Châu Á, Châu phi, Châu Mỹ phát triển Đi ngược lại với hòa bình thế giới, các thế lực phản động, chống cộng vẫn tiếp tục âm mưu chiến tranh dưới những hình thức và tính chất khác nhau

Những mâu thuẩn trên thế giới diễn biến khá phức tạp và ngày càng gay gắt, mà chủ yếu là mâu thuẩn giữa các lực lượng hòa bình, dân tộc, dân chủ và chủ nghĩa xã hội với các nước đế quốc và lực lượng phản động, do đế quốc Mĩ cầm đầu

Việt Nam là một bộ phận của cách mạng thế giới nên đã chịu tác động lớn của cuộc đối đầu gay gắt và phức tạp đó Vừa mới ra đời nước Việt Nam dân chủ cộng hòa đã bị chủ nghĩa đế quốc và các thế lực phản động liên kết với nhau bao vây, chống phá quyết liệt

Khó khăn đầu tiên và cũng là lớn nhất của cách mạng Việt nam lúc này là sự hiện diện của các quân đội nước ngoài trên đất nước ta Theo Hội nghị Pốt- đam (tháng 7/1945), 20 vạn quân Tưởng đã tràn vào Việt Nam dưới danh nghĩa quân Đồng minh để làm nhiệm vụ giải giáp sự đầu hàng của phát xít Nhật từ vĩ tuyến 16 ra Bắc Ở phía Nam, hàng vạn quân Anh vào cũng với danh nghĩa quân Đồng minh Ở trong nước lúc này còn hơn 6 vạn quân Nhật và hàng vạn tàn binh Pháp, một phái bộ của Mỹ có mặt tại Hà Nội

do Patti dẫn đầu Cách mạng Việt Nam nằm trong vòng vây của chủ nghĩa đế quốc

Trang 6

Khó khăn thứ hai là các tổ chức phản động người Việt như Việt cách, Việt Quốc, Đại Việt, các phần tử Tơrốtkít đã dựa vào thế lực bên ngoài để chống phá cách mạng Tình hình chính trị diễn biến phức tạp, chưa bao giờ trên đất nước Việt Nam lại có nhiều loại kẻ thù như ở thời điểm sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945.

Bên cạnh đó, nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa non trẻ phải đương đầu với nhiều thách thức: nền kinh tế vốn đã nghèo nàn, lạc hậu, vì hơn 50% diện tích đất canh tác bỏ hoang, nạn đói vẫn đang đe dọa hàng triệu người, đã cướp đi sinh mệnh của hai triệu đồng bào ta thì nguy cơ một nạn đói mới lại tiếp tục đe dọa nhân dân ta, lũ lụt gây

vỡ đê sông Hồng làm cho đời sống nhân dân càng khó khăn Tài chính kiệt quệ, kho bạc hầu như trống rỗng, kho bạc chỉ có 1.233 000 đồng, trong đó quá nửa là tiền rách Ngân hàng Đông Dương vẫn nằm trong tay tư bản Pháp Thương nghiệp ngừng trệ, bế tắc, hàng hóa khan hiếm, xí nghiệp, nhà máy, hầm mỏ ngừng sản xuất, bị chiến tranh tàn phá nặng nề Các di sản văn hóa của chế độ thực dân để lại là một gánh nặng khi mà người “

số Việt Nam thất học so với số người trong nước là 95%, nghĩa là hầu hết người Việt Nam mù chữ” Các tệ nạn, hủ tục lạc hậu, tàn tích chiến tranh, tàn dư của chế độ thực dân phong kiến đang thách thức chế độ mới

Khó khăn kế đến thuộc lĩnh vực ngoại giao Lúc này, chưa có một nước nào trên thế giới công nhận và đặt quan hệ ngoại giao với Việt Nam Dân Chủ Cộng Hoà

Giặc ngoài, thù trong, khó khăn chồng chất khó khăn đè nặng lên đất nước ta, chưa lúc nào trên đất nước Việt Nam có nhiều kẻ thù đến như vậy! Trong khi lực lượng mọi mặt của nước việt Nam dân chủ cộng hòa chưa kịp củng cố và phát triển, khối đại đoàn kết toàn dân trong mặt trận dân tộc thống nhất và cơ cấu bộ máy tổ chức chính quyền còn phải tiếp tục củng cố và mở rộng, lực lượng vũ trang cách mạng còn non trẻ, trang bị kém, thiếu thốn đủ mọi bề, kinh nghiệm chiến đấu còn quá ít Tất cả đặt chính quyền cách mạng nước ta đứng trước tình thế “Ngàn cân treo sợi tóc” Vận mệnh dân tộc vừa mới giành được đang đứng trước nguy cơ mất còn!

Bên cạnh những khó khăn chồng chất đó, cách mạng Việt Nam cũng có những mặt thuận lợi nhất định để dựa vào đó Đảng và Bác đã dần xoay chuyển tình thế theo chiều hướng có lợi cho ta Đó là những thuận lợi sau:

- Hệ thống chính quyền cách mạng đã được thiết lập từ trung ương đến địa phương

- Lòng tin và sự ủng hộ rất lớn của nhân dân dành cho Đảng, mặt trận Việt Minh và

Hồ Chủ Tịch

- Lực lượng vũ trang nhân dân đang phát triển mạnh

- Sự lãnh đạo sáng suốt, tài tình của Đảng và Hồ Chủ Tịch

Đảng Cộng sản Đông Dương trở thành đảng cầm quyền cùng với Mặt trận Việt Minh và các đoàn thể chính trị - xã hội đã tạo nên một sức mạnh tinh thần và lực lượng làm chỗ dựa cho chính quyền cách mạng non trẻ Nhân dân ngày càng tin tưởng vào Đảng, Chính phủ và Chủ tịch Hồ Chí Minh

2 Chủ trương, biện pháp của Đảng

*Chủ trương “kháng chiến kiến quốc” của Đảng

- Nội dung chủ trương:

+ Mục tiêu của cách mạng Việt Nam lúc này vẫn là dân tộc giải phóng

Trang 7

+ Khẩu hiệu lúc này là “Dân tộc trên hết Tổ quốc trên hết”

+ Về xác định kẻ thù: “kẻ thù chính của ta lúc này là thực dân Pháp xâm lược phải tập trung ngọn lửa đấu tranh vào chúng”

+ Về nhiệm vụ: có 4 nhiệm vụ chủ yếu và cấp bách cần khẩn trương thực hiện là: “củng cố chính quyền, chống thực dân Pháp xâm lược, bài trừ nội phản, cải thiện đời sống cho nhân dân” Đảng chủ trương kiên trì nguyên tắc thêm bạn bớt thù, thực hiện khẩu hiệu “Hoa - Việt thân thiện” đối với quân đội Tưởng Giới Thạch và “độc lập về chính trị, nhân nhượng về kinh tế” đối với Pháp

- Ý nghĩa của chủ trương:

Chỉ thị'' Kháng chiến, kiến quốc'' có ý nghĩa hết sức quan trọng Chỉ thị xác định đúng kẻ thù chính của dân tộc Việt Nam là thực dân Pháp xâm lược Đảng chỉ ra kịp thời những vấn đề cấp bách cơ bản về chiến lược và sách lược khôn khéo trong tình thế vô cùng hiểm nghèo của nước nhà Đề ra những nhiệm vụ, biện pháp cụ thể về đối nội, đối ngoại để khắc phục nạn đói, nạn dốt, chống thù trong giặc ngoài, bảo vệ chính quyền cách mạng

Chỉ thị'' Kháng chiến, kiến quốc'' đã giải quyết những vấn đề cấp bách của cách mạng Việt nam và đề ra chiến lược, sách lược kịp thời

a Xây dựng, củng cố, bảo vệ chính quyền cách mạng và chế độ xã hội mới

Ngày 3/9/1945, Chính phủ họp phiên đầu tiên đề ra 6 nhiệm vụ cấp bách: giải quyết nạn đói; nạn dốt; tổng tuyển cử; thực hiện cần, kiệm, liêm chính; bỏ thuế thân, thuế chợ, thuế đò và cấm hút thuốc phiện; tự do tín ngưỡng, lương giáo đoàn kết

Để tạo cơ sở pháp lý của một nhà nước, ngày 13/9/1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký các Sắc lệnh số 33A, 33B, 33C lập các tòa án quân sự xét xử tất cả những ai có hành động phương hại đến nền độc lập của Việt Nam; ký các Sắc lệnh số 34 ngày 20/9/1945 lập Ủy ban dự thảo Hiến pháp; Sắc lệnh số 39 ngày 26/9/1945 thành lập Ủy ban dự thảo thể lệ tổng tuyển cử; Sắc lệnh số 63 ngày 22/11/1645 về tổ chức, quyền hạn, cách làm việc của Hội đồng nhân dân, Ủy ban hành chính các cấp (xã, huyện, tỉnh, kỳ)

Ngày 25/11/1945, Trung ương Đảng ra Chỉ thị “Kháng chiến, kiến quốc” xác định nhiệm vụ trước mắt: “Nhiệm vụ riêng trong nước là phải củng cố chính quyền chống thực dân Pháp xâm lược, bài trừ nội phản, cải thiện đời sống của nhân dân”

Ngày 5 – 1 – 1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh ra Lời kêu gọi quốc dân đi bỏ phiếu để phát huy quyền làm chủ của mình, tự do lựa chọn và bầu ra những đại biểu xứng đáng thay mặt cho mình để gánh vác việc nước Quốc dân đồng bào đi bầu cử là tỏ rõ cho thế giới biết rằng dân tộc Việt Nam đã đoàn kết chặt chẽ, kiên quyết chống bọn thực dân, kiên quyết tranh quyền độc lập Chính quyền nhân dân các cấp từ Trung ương đến địa phương được tổ chức và làm việc theo một tinh thần mới, một chế độ dân chủ mới của dân, do dân, vì dân Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nêu rõ ràng: “Các cơ quan của chính phủ

từ toàn quốc cho đến các làng, đều là công bộc của dân, nghĩa là để gánh vác việc chung cho dân, chứ không phải để đè đầu dân như trong thời kì dưới quyền thống trị của Pháp, Nhật Việc gì lợi cho dân, ta phải hết sức làm Việc gì hại đến dân, ta phải hết sức tránh”

- Kết quả:

Cuộc Tổng tuyển cử ngày 06/01/1946 đã thu được kết quả tốt đẹp Cả nước có 89% số cử tri đi bầu; có 333 đại biểu trúng cử Ngày 02/3/1946, Quốc hội khóa 1 kỳ họp

Trang 8

lần thứ nhất đã bầu Chính phủ chính thức gồm có 12 thành viên do Chủ tịch Hồ Chí Minh làm Chủ tịch Quốc dân khóa I là thành quả của cuộc đấu tranh dân tộc gay gắt Đó

là Quốc hội của độc lập, thống nhất dân tộc và đại đoàn kết toàn dân, của tất cả các giai cấp, dân tộc, tôn giáo, đảng phái yêu nước và dân chủ

- Ý nghĩa :

Thắng lợi của cuộc Tổng tuyển cử ngày 6 – 1 – 1946 đánh dấu mốc phát triển đầu tiên trong tiến trình xây dựng thể chế dân chủ trên đất nước Việt Nam.Thắng lợi của cuộc Tổng tuyển cử, như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói, là “kết quả của sự hi sinh, tranh đấu của tổ tiên ta, nó là kết quả của sự đoàn kết anh dũng phấn đấu của toàn thể đồng bào Việt Nam ta… không kể già trẻ, lớn bé, gồm tất cả các tôn giáo, tất cả các dân tộc trên bờ cõi Việt Nam đoàn kết chặt chẽ thành một khối hi sinh không sợ nguy hiểm tranh lấy nền độc lập cho Tổ quốc”

b Về kinh tế, văn hóa, xã hội

Đất nước độc lập mà dân không được hưởng tự do, hạnh phúc thì độc lập không có

ý nghĩa gì Đứng trước những khó khăn về kinh tế, nhất là hậu quả của nạn đói cũ đang hoành hành, nạn đói mới đang có nguy cơ đe dọa, trong phiên họp ngày 3 – 9 – 1945 theo đề nghị của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Chính phủ đã quyết định phải chống “giặc đói”, phát động ngay một phong trào tăng gia sản xuất Việt Minh và các đoàn thể cứu quốc đã vận động nhân dân cứu trợ đồng bào những nơi đang bị đói Nhiều sáng kiến cứu đói được thực hiện như tổ chức lạc quyên, tổ chức “ngày đồng tâm” nhịn ăn, lập “hũ gạo cứu đói”, ; xoá bỏ mọi hạn chế trong lưu thông lúa gạo giữa các vùng; kêu gọi nhân dân tích cực “tăng gia sản xuất” Chính phủ và các địa phương thành lập các ban cứu đói và tiến hành các chiến dịch cứu trợ ở các vùng bị đói nặng nhất như: Thái Bình, Nam Định, Ninh Bình… Đồng thời, bãi bỏ thuế thân và các thứ thuế vô lý khác của chế độ cũ;

tịch thu ruộng đất của đế quốc, Việt gian để chia cho dân cày; giảm tô 25%; khuyến

khích sản xuất, kinh doanh… đã trở thành một phong trào quần chúng rộng lớn Số gạo tiết kiệm được đem phân phát để cứu dân đói, dân nghèo Truyền thống đồng cam cộng khổ “một miếng khi đói bằng một gói khi no”, đùm bọc lẫn nhau của dân ta được khơi động mạnh mẽ

* Về tài chính: có những chính sách mới, thiết thực, ngày 04/9/1945, Chính phủ ra

Sắc lệnh xây dựng “Quỹ độc lập” và phát động “Tuần lễ vàng” (từ ngày 17 đến ngày 24/9/1945) Đi đôi với việc xây dựng nền tiền tệ độc lập, chính phủ và nhân dân ta đã đấu

Trang 9

tranh chống lại mọi âm mưu phá rối nền tài chính của ta bởi các thể lực đế quốc đang chiếm đóng trên đất nước ta lúc bấy giờ

* Về văn hóa: Ngày 08/9/1945, Chính phủ ra sắc lệnh thành lập “Nha bình dân

học vụ”, khôi phục hệ thống giáo dục quốc dân trong phạm vi cả nước, các trường học từ cấp tiểu học đến đại học đã được khai giảng Phong trào “diệt giặc dốt” phát triển mạnh

mẽ trong cả nước Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: “Một dân tộc dốt là một dân tộc

yếu” Người viết bài Chống nạn thất học chỉ rõ những cách học tập đơn giản, thực tế để

mọi người nhanh chóng thoát khỏi nạn mù chữ, những người đã biết chữ dạy cho người chưa biết chữ, những người chưa biết chữ gắng sức học cho biết chữ.Tháng 9 – 1945, nhân ngày khai trường đầu tiên ở nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, trong thư gửi cho các em học sinh, Chủ tịch Hồ Chí Minh nói: Nền giáo dục của chúng ta là nền giáo dục của một nước độc lập, một nền giáo dục sẽ đào tạo học sinh thành những người công dân hữu ích cho nước Việt Nam “Non song Việt Nam có trở nên tươi đẹp hay không, dân tộc Việt Nam có bước tới đài vinh quang để sánh vai với các cường quốc năm châu được hay không, chính là nhờ một phần lớn ở công học tập của các em”

- Ý nghĩa :

Thành quả của một năm kiến quốc, xây dựng chế độ mới đã ổn định đời sống nhân dân đã có ý nghĩa chính trị rất to lớn, bảo vệ được nền độc lập của đất nước, giữ vững chính quyền cách mạng; xây dựng được những nền móng đầu tiên, vững chắc và cơ bản cho một chế độ mới, chế độ Việt Nam Dân chủ cộng hòa; tạo dựng sức mạnh to lớn của dân tộc trên nền tảng dân chủ nhân dân chuẩn bị được những điều kiện cần thiết trực tiếp cho cuộc kháng chiến toàn quốc sau đó Nhờ đó, nhân dân thêm tin tưởng, gắn bó

và bảo vệ chế độ mới Đó chính là một trong những sức mạnh để giữ vững chính quyền trong hoàn cảnh ''thù trong, giặc ngoài'', đưa nước nhà vượt qua tình thế hiểm nghèo vào những năm 1945 – 1946

2 Tiến hành kháng chiến chống thực dân Pháp ở Nam Bộ

Cùng với việc xây dựng chế độ mới, Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa phải tiến hành cuộc đấu tranh gay go phức tạp và quyết liệt chống lại âm mưu lật đổ, bành trướng của quân Tưởng và phát động cuộc kháng chiến toàn dân chống lại cuộc xâm lược lần thứ hai của thực dân Pháp

Tại Hội nghị toàn quốc tháng 8 – 1945, Đảng đã vạch rõ: quân Đồng minh sắp vào nước ta và đế quốc Pháp đang lăm le khôi phục lại địa vị của chúng ở Đông Dương Hội nghị đề ra chủ trương phải tránh trường hợp một mình đương đầu với nhiều kẻ thù, phải hết sức lợi dụng mâu thuẫn giữa hai phe Đồng minh Anh – Pháp và Mĩ – Tưởng Để bảo

vệ chính quyền còn non trẻ, Đảng và Nhà nước ta, do Chủ tịch Hồ Chí Minh đứng đầu,

đã vận dụng một đường lối chính trị nhậy bén và sáng suốt, vừa cứng rắn về nguyên tắc, vừa mềm dẻo về sách lược nên đã từng bước đẩy lùi âm mưu của kẻ thù

* Pháp quay lại xâm lược Nam Bộ: Được thực dân Anh hậu thuẫn, vào sáng

ngày 23/9/1945, quân đội Pháp tại Sài Gòn đã nổ súng chính thức phát động tái chiếm Việt Nam Xứ ủy Nam Bộ đã họp tại Cây Mai (Chợ Lớn) trong ngày 23/9/1945 và ra quyết định phát động nhân dân kháng chiến chống Pháp Chính phủ và Chủ tịch Hồ Chí Minh quyết định kêu gọi cả nước ủng hộ cuộc kháng chiến ở Nam Bộ, cử đặc phái viên

Trang 10

Chính phủ vào chỉ đạo kháng chiến ở Nam Bộ Hưởng ứng lời kêu gọi của Chủ tịch Hồ Chí Minh, nhiều đơn vị Nam tiến ở các tỉnh miền Bắc và miền Trung vào miền nam chiến đấu chống thực dân Pháp Ngày 25/10/1945, Hội nghị cán bộ Đảng Nam Bộ họp tại Thiên Hộ (Cái Bè – Mỹ Tho) chủ trương tăng cường vai trò lãnh đạo của Đảng, tiếp tục đẩy mạnh cuộc kháng chiến Ngày 21/11/1945, Hội nghị quân sự của Xứ ủy Nam Bộ họp ở An Phú (Gia Định) quyết định xây dựng các căn cứ địa kháng chiến lâu dài Về cuộc kháng chiến ở Nam Bộ, Chỉ thị kháng chiến kiến quốc nêu rõ “Phải áp dụng chiến tranh du kích đến triệt để và cổ động nhân dân thi hành “nhà không đồng vắng” nếu quân Pháp tràn về quê”.

Quân dân Sài Gòn – Chợ Lớn, quân dân Nam Bộ đã kiên quyết đứng lên chiến đấu

mở đầu cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, đó là hành động kịp thời và đúng đắn Trung ương Đảng, Chính phủ đã tán thành và kêu gọi cả nước chi viện cho quân dân Sài Gòn – Chợ Lớn, cho Nam Bộ kháng chiến

Ngày 24 – 9-1945, Chính phủ nước Việt Nam dân chủ cộng hòa ra Huấn lệnh gửi cho quân và dân Nam Bộ Huấn lệnh chỉ rõ: “Nam Bộ phải căn cứ theo chính sách tranh thủ hoàn toàn độc lập của chính phủ và điều kiện thực tế của Nam Bộ mà định phương châm hành động cho đúng, làm sao giữ gìn được lực lượng quân sự và chính trị, đồng thời chứng tỏ cho thế giới biết rằng dân Việt Nam không chịu ách nô lệ một lần nữa”

Đảng và Chính phủ ta còn phát động phong trào ủng hộ, tổ chức chi viện cho Nam

Bộ và Nam Trung Bộ Hàng vạn thanh niên nô nức nhập ngũ Các chi đội vệ quốc đoàn được thành lập và lần lượt lên đường tham gia chiến đấu ở các mặt trận miền Nam

Cuộc chiến đấu của quân và dân ta trên chiến trường Nam Bộ và Nam Trung Bộ chống lại đội quân xâm lược nhà nghề của Pháp là một cuộc đụng đầu không cân sức nên chúng ta không thể đánh bại được kế hoạch mở rộng đánh chiếm của chúng Song chính cuộc đấu đó đã bước đầu làm thất bại chiến lược đánh nhanh, giải quyết nhanh của Lơcơlec (Leclerc), là hình ảnh đẹp của bức Thành đồng tổ quốc Để bảo vệ tổ quốc, như

Chủ tịch Hồ Chí Minh nói: “Chúng ta còn phải chiến đấu nhiều Chỉ có chiến đấu mới

vượt được những trở lực, khó khăn Chỉ có chiến đấu mới đưa lại vẻ vang cho Tổ quốc Các bạn ở tiền tuyến không bao giờ cô độc, vì đã có cả một khối toàn dân đoàn kết làm hậu thuẫn cho mình Thắng lợi cuối cùng nhất định về ta”.

* Kết quả và ý nghĩa: Thực hiện chỉ thị kháng chiến kiến quốc, tháng 12/1945,

Ủy ban kháng chiến miền Nam Việt Nam được thành lập, chính quyền cách mạng ở cả vùng tự do và bị chiến đều được xây dựng và củng cố Từ thực tế kháng chiến, chính quyền cách mạng đã bước đầu đứng vững và làm thất bại kế hoạch đánh nhanh, thắng nhanh của thực dân Pháp

d Đấu tranh trên mặt trận ngoại giao

Trong hoàn cảnh có rất nhiều kẻ thù trên đất Việt nam và ta không thể cùng lúc đối đầu với tất cả các loại kẻ thù nên Đảng ta dùng sách lược phân hoá kẻ thù, chĩa mũi nhọn vào kẻ thù nguy hiểm nhất Trong thời gian 1945-1946, đường lối ngoại giao của Đảng ta đã được thực hiện cụ thể như sau:

*Trước hết thực h i ện h oà ho ã n v ới quân T ư ởng ở miền Bắc , tập trung chống

Pháp ở miền Nam, tiếp tục đàm phán để giải quyết xung đột Pháp – Việt (9/1945 đến 2/1946)

- Lý do hoà với Tưởng: Việc hoà hoãn với Tưởng xuát phát từ nhu cầu của cả 2

Trang 11

+ Về phía ta: ta không thể đương đầu cùng một lúc với nhiều kẻ thù Ta đã xác định Pháp là kẻ thù chủ yếu thì phải hoà với Tưởng để tập trung chống Pháp ở miền Nam

+ Về phía quân Tưởng: Chúng phải dựa vào chính quyền của ta để giải quyết những khó khăn về mặt hậu cần

- Các biện pháp thực hiện: Để thực hiện sách lược này, Đảng, chính phủ và Hồ Chủ Tịch đã thực hiện các biện pháp sau:

+ Tiến hành các cuộc tiếp xúc ngoại giao với các tướng lĩnh Tưởng và chủ động đón tiếp quân Tưởng khi chúng kéo vào nước ta với khẩu hiệu:''Hoa-Việt thân thiện''; Nhân nhượng cho chúng các quyền lợi về kinh tế như chấp nhận cung cấp lương thực, thực phẩm cho 20 vạn quân Tưởng; cho phép lưu hành đồng tiền quan kim của chúng trên lãnh thổ Việt nam; Nhân nhượng cho chúng một số quyền lợi chính trị như tuyên bố giải tán Đảng Cộng sản Việt Nam; nhường cho chúng 70 ghế trong quốc hội không thông qua bầu cử; cải tổ chính phủ cách mạng thành chính phủ liên hiệp với sự tham gia của các đảng phái khác…

-Nguyên tắc hoàn hoãn: giữ vững chính quyền cách mạng, giữ vững mục tiêu độc lập dân tộc, dựa vào khối đại đoàn kết dân tộc, vạch trần những hành động phản dân hại nước của bọn tay sai Tưởng

- Kết quả: giữ vững và củng cố chính quyền mới, phá vỡ âm mưu lật đổ của chúng, dồn sức để kháng chiến chống Pháp ở miền Nam

- Bài học kinh nghiệm:

Sự nhân nhượng về chính trị trên đây đã thể hiện một yêu cầu cơ bản là giữ vững

sự tồn tại của chính quyền của dân, do dân và vì dân, một chính quyền của sự hòa giải, đoàn kết thống nhất quốc gia dân tộc để tổ chức kháng chiến chống thực dân xâm lược Pháp và kiến thiết quốc gia, thực hiện tư tưởng độc lập tự do của Hồ Chí Minh với khẩu hiệu hành động cấp bách là “Dân tộc trên hết, Tổ quốc trên hết”

Trong khi thực hiện hòa giải nhân nhượng, thông qua công cụ báo chí, thông tin tuyên truyền, chúng ta đã không ngừng vạch trần những hoạt động chia rẽ, phá hoại phản dân hại nước của các lực lượng tay sai của Tưởng, kiên quyết trừng trị những tên hoạt động làm tổn hại đến an ninh quốc gia trên cơ sở đã đủ bằng chứng

Trong quan hệ với Chính phủ Tưởng Giới Thạch ở Trùng Khánh, ngay từ đầu, Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh chủ trương “Hoa – Việt” thân thiện Hồ Chí Minh đã tuyên bố: “Chính sách của Việt Nam đối với Trung Hoa, lúc này tóm tắt lại là phải thân thiện” Người đã nhiều lần gửi thông điệp, gửi điện đến Thống chế Tưởng Giới Thạch thông báo rằng Chính phủ Việt Nam đã giải quyết việc quân đội Tưởng bị công kích ở địa phương Yên Bái khi họ mới kéo quân qua biên giới và yêu cầu Thống chế can thiệp buộc quân Anh – Pháp phải chấm dứt tàn sát nhân dân Việt Nam đang bảo vệ quyền dân tộc chính đáng của mình theo các nguyên tắc đã ghi trong Hiến chương Đại Tây Dương

và Hiến chương Xan Phranxixcô (San Francisco) và “công nhận nền độc lập hoàn toàn của nước Cộng hòa Việt Nam” Với những nhân nhượng về kinh tế, chính trị và những biện pháp “đau đớn”, ta đã vô hiệu hóa 20 vạn quân Tưởng, đấu tranh kiên quyết với hai đảng phản động là “Việt Quốc” và “Việt Cách”

Trang 12

Chủ trương nhân nhượng của Chính phủ nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, dưới

sự lãnh đạo của Đảng theo tư tưởng đại đoàn kết thống nhất quốc gia dân tộc của Hồ Chí Minh, là kịp thời, táo bạo và đúng đắn Đứng trước tình thế gay go và cấp bách lúc bấy giờ, như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: “Đảng phải dùng mọi cách để sống còn, hoạt động và phát triển, lãnh đạo kín đáo và có hiệu quả hơn, và để có thời giờ củng cố dần dần lực lượng chính quyền nhân dân, củng cố mặt trận dân tộc thống nhất Lúc đó Đảng không thể do dự Do dự là hỏng hết, Đảng phải giải quyết mau chóng, phải dùng những phương pháp – dù là những phương pháp đau đớn – để cứu vãn tình thế”

Việc nhân nhượng của Đảng và Nhà nước ta đã hạn chế đến mức thấp nhất mọi hoạt động chống phá của quân Tưởng và tay sai, làm thất bại âm mưu lật đổ chính quyền cách mạnh của chúng, tạo điều kiện cho ta kiến quốc và kháng chiến chống thực dân Pháp, giữ vững chính quyền cách mạng

* Sau đó c h úng ta lại chủ động h o à hoãn với Pháp để đ u ổi Tưởng về nước (th

á ng 3- 1946 ) để mượn tay Pháp đuổi nhanh quan Tưởng về nước.

- Lý do của v i ệc hoà v ớ i Pháp : 28/2/1946 Hiệp ước Hoa- Pháp đã được ký kết Theo đó, Tưởng nhường cho Pháp ra Bắc thế chân quân Tưởng và đổi lại, Pháp nhân nhượng cho Tưởng một số quyền lợi về kinh tế Lúc này, Pháp cũng gặp những khó khăn nên muốn ra miền Bắc một cách hoà bình chứ không phải ngay lập tức đối đầu với cuộc kháng chiến của nhân dân ta Hiệp ước Pháp – Hoa là sự chà đạp thô bạo đối với chủ quyền độc lập tự do của dân tộc Việt Nam Hiệp định này đặt Đảng ta trước sự lựa chọn ”đánh hay hòa”? Phải cân nhắc kĩ càng, phải quyết đoán nhanh chóng, không thể do dự

- Chủ tr ư ơ ng của Đảng : chủ động hoà với Pháp để đuổi Tưởng về nước, tránh đối đầu một lúc với nhiều kẻ thù và tranh thủ thời gian chuẩn bị lực lượng cho cuộc kháng chiến không tránh khỏi Ngày 3 – 3 – 1946, Ban Thường vụ Trung ương Đảng họp do Hồ Chí Minh chủ trì, đã chọn giải pháp “hòa để tiến” Hội nghị phân tích: “Vấn đề lúc này không phải là muốn đánh hay không muốn đánh Vấn đề là biết mình, biết người, nhận định một cách khách quan những điều lợi hại trong nước và ngoài nước mà chủ trương cho đúng” Và “điều cốt tử là trong khi mở cuộc đàm phán với Pháp, không những không ngừng một phút công việc sửa soạn, sẵn sàng kháng chiến bất cứ lúc nào và ở đâu, mà còn hết sức xúc tiến việc sửa soạn ấy và nhất định không để cho việc đàm phán với Pháp làm nhụt tinh thần quyết chiến của dân tộc ta”

- Biện pháp t hực hiện : Mở các cuộc đàm phán với Pháp và ký kết các hiệp định sau:

+ Hiệp định Sơ bộ 6/3/1946: Theo hiệp định này, chính phủ Pháp công nhận

Việt Nam là quốc gia tự do nằm trong khối Liên hiệp Pháp; Pháp được đưa 15000 quân

ra miền Bắc thay thế quân Tưởng trong thời hạn 5 năm, mỗi năm phải rút 1/5 số quân; hai bên đình chỉ xung đột để mở các cuộc đàm phán chính thức

+ Hội nghị trù bị ở Đà Lạt từ 19/4/1946 đến 11/5/1946: Do sự bất đồng quan điểm

về vấn đề Liên bang đông Dương và vấn đề Nam Kỳ nên hai bên không đi đến được thoả

Trang 13

- Kết quả c ủ a việc hoà với Pháp : Tránh được thế đối đầu cùng một lúc với nhiều

kẻ thù, đuổi được 20 vạn quân Tưởng về nước

Sau Hiệp định sơ bộ đã diễn ra các hoạt động ngoại giao: cuộc gặp giữa Hồ Chí Minh với Đô đốc Đắcgiăngliơ trên vịnh Hạ Long ngày 24/3/1946; tiếp theo là Hội nghị trù bị ở Đà Lạt, và sau đó là Hội nghị Phôngtennơblô trên đất Pháp nhưng đều bế tắc Đang thăm Pháp với tư cách là thượng khách, ngày 14/9/1946 , Chủ tịch Hồ Chí Minh ký với đại diện Chính phủ Pháp bản tạm ước với thiện chí tiếp tục nhân nhượng Pháp, cố gắng đàm phán ngoại giao để giải quyết quan hệ Việt – Pháp

Thực hiện chủ trương hòa hoãn, việc kí Hiệp định sơ bộ 6 – 3 và Tạm ước 14 – 9 –

1946 của Chính phủ và Chủ tịch Hồ Chí Minh là đúng đắn Phân tích đánh giá chủ trương đó, Hồ Chí Minh nói: “Việc này cũng làm cho nhiều người thắc mắc và cho đó là

chính sách quá hữu Nhưng các đồng chí và đồng bào Nam Bộ thì lại cho là đúng Mà

đúng thật Vì đồng bào và đồng chí ở Nam Bộ đã khéo lợi dụng dịp đó để xây dựng và phát triển lực lượng của mình…Chúng ta cần hòa bình để xây dựng nước nhà, cho nên chúng ta đã ép lòng mà nhân nhượng để giữ hòa bình Dù thực dân Pháp đã bội ước, đã gây chiến tranh, nhưng gần một năm tạm hòa bình đã cho chúng ta thời giờ để xây dựng lực lượng căn bản Khi Pháp đã có ý gây chiến tranh, chúng ta không thể nhịn nữa thì cuộc kháng chiến toàn quốc bắt đầu”

- Nguyên nhân thắng lợi:

Đảng đã đánh giá đúng tình hình nước ta sau Cách mạng tháng Tám, kịp thời đề ra chủ trương kháng chiến kiến quốc đúng đắn; xây dựng và phát huy được sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc, lợi dụng được mâu thuẫn trong hàng ngũ kẻ thù v.v…

- Những kinh nghiệm của Đảng về xây dựng và bảo vệ chính quyền cách mạng

Phát huy sức mạnh đại đoàn kết dân tộc, dựa vào dân để xây dựng và bảo vệ chính quyền cách mạng Triệt để lợi dụng mâu thuẫn trong nội bộ kẻ thù, chĩa mũi nhọn vào kẻ thù chính, coi sự nhân nhượng có nguyên tắc với kẻ địch cũng là một biện pháp đấu tranh cách mạng cần thiết trong hoàn cảnh cụ thể Tận dụng khả năng hòa hoãn để xây dựng lực lượng, củng cố chính quyền nhân dân, đồng thời đề cao cảnh giác, sẵn sàng đối phó với khả năng chiến tranh lan ra cả nước khi kẻ thù bội ước

Với đường lối, chủ trương, biện pháp kịp thời, đúng đắn, Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã lãnh đạo cách mạng nước ta vượt qua tình thế “ngàn cân treo sợi tóc” chủ động chuẩn bị lực lượng cho cuộc kháng chiến trường kỳ của dân tộc Chính trong thời gian đó, Đảng và Chính phủ ta đã nắm vững mục tiêu cách mạng, đánh giá đúng lực lượng của ta và địch, nắm vững tình thế, dựa chắc vào nhân dân, nêu cao khẩu hiệu đại

Trang 14

đoàn kết, hòa giải, hòa hợp dân tộc, loại bỏ chia rẽ, đối lập, vừa kháng chiến vừa kiến quốc, kết hợp khéo léo các mặt chính trị, quân sự, ngoại giao, biết nhân nhượng hòa hoãn

có nguyên tắc nên đã đưa nước nhà vượt qua tình thế hiểm nghèo, thực hiện thắng lợi nhiệm vụ củng cố chính quyền cách mạng, kháng chiến và kiến quốc

II Toàn quốc kháng chiến chống thực dân Pháp (19/12/1946 – 21/7/1950)

1 Phát động toàn quốc kháng chiến, đường lối kháng chiến chống thực dân Pháp

Chính phủ nước Việt Nam dân chủ cộng hòa vẫn kiên trì tìm cách duy trì hòa bình, tránh cuộc chiến tranh Chủ tịch Hồ Chí Minh tuyên bố rõ lập trường của Việt Nam

khi trả lời với báo Paris – Sài Gòn, rằng: “Đồng bào tôi và tôi thành thực muốn hòa

bình… Chúng tôi không muốn chiến tranh… Nước Việt Nam cần kiến thiết, nước Việt Nam không muốn là nơi chôn vùi hàng bao nhiêu sinh mạng Nhưng cuộc chiến tranh ấy, nếu người ta buộc chúng tôi phải làm thì chúng tôi sẽ làm… Nước Pháp có những phương tiện ghê gớm và cuộc chiến đấu sẽ khốc hại, nhưng dân tộc Việt Nam đã sẵn sàng chịu đựng tất cả, chứ không chịu mất tự do Dù sao, tôi mong rằng chúng ta sẽ không đi tới cách giải quyết ấy”

“Cả nước Pháp lẫn nước Việt Nam đều không phí sức gây một cuộc chiến tranh khốc hại và nếu phải kiến thiết trên đống hoang tàn thì thật là một điều tai hại”

Hồ Chí Minh đã gửi lời kêu gọi các nước Anh, Trung Quốc, Hoa Kì, Liên Xô và các thành viên của Liên hợp quốc, trong đó nêu rõ thiện chí hòa bình và ý chí quyết chiến đấu đến cùng để bảo vệ độc lập và toàn vẹn lãnh thổ của đất nước và mong mỏi Liên hợp quốc chấp nhận những yêu cầu chân chính của Việt Nam để vãn hồi hòa bình, để cho Hiến chương Đại Tây Dương được tôn trọng và để “khôi phục lại những quyền cơ bản của Việt Nam là được thừa nhận độc lập dân tộc và thống nhất lãnh thổ” Người cũng đã liên tiếp gửi thư cho Chính phủ, Quốc hội, Thủ tướng Pháp và cử phái viên gặp gỡ với những người cầm đầu Pháp ở Đông Dương, tìm cách cứu vãn hòa bình, tránh đổ máu Song mọi cố gắng của Việt Nam đều vô hiệu Họ coi nguyện vọng hòa bình của Chính phủ Việt Nam là biểu hiện của sự yếu kém nên họ càng lấn tới

a Âm mưu của thực dân Pháp ở Đông Dương

* Ngu ồ n g ố c, ngu y ên nhân c u ộc chiến tranh là do dã tâm xâm lược và chính sách hiếu chiến của thực dân pháp gây ra Mặc dù Việt nam đã tỏ rõ thiện chí nhưng thực dân Pháp đã bội ước, tăng cường khiêu khích và lấn chiếm Ngày 18/12/1946, Tư lệnh quân đội Pháp ở Bắc Bộ là Moóclie Pháp đã gửi tối hậu thư cho

ta với những điều kiện ta không thể chấp nhận và ấn định thời gian đảo chính là ngày 20/12/1946 nếu chính phủ ta khước từ những điều kiện đó Với sức mạnh quân sự và vũ khí vượt trội, thực dân Pháp hy vọng sẽ “đánh nhanh, thắng nhanh”, thì tìm mọi cách để

âm mưu xâm lược nhanh hơn.Trong hoàn cảnh đó, để bảo vệ nền độc lập vừa mới giành được, nhân dân Việt Nam buộc phải cầm sung đứng lên chống kẻ thù xâm lược Đảng và

Hồ Chủ Tịch quyết định phát động cuộc kháng chiến toàn quốc vào đêm 19/12/1946 để giành thế chủ động

Trang 15

Vì muốn hòa bình nên chúng ta phải nhân nhượng Còn thực dân Pháp thì tìm mọi cách để âm mưu xâm lược nhanh hơn.

b Đường lối kháng chiến chống thực dân Pháp

Tình thế khẩn cấp đòi hỏi Đảng, Nhà nước – đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh – phải có một sự chọn lựa lịch sử, phải kịp thời có một quyết định chiến lược để chuyển xoay vận nước đang lâm nguy Sẽ là một tội ác đối với lịch sử nếu chần chừ, do

dự để quân dân Hà Nội và các thành phố, thị xã khác trở thành nạn nhân của “kịch bản đảo chính quân sự” của quân đội Pháp sẽ diễn ra như chúng “đã diễn” ở Hải Phòng, Lạng Sơn

Độc lập tự do hay nô lệ? Dân tộc Việt Nam không bao giờ muốn trở lại kiếp nô lệ Dân tộc Việt Nam thà chết chứ nhất định không chịu mất độc lập tự do Đã đến lúc phải đứng lên chiến đấu vì độc lập tự do của Tổ quốc

Tư tưởng, đường lối kháng chiến của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh vạch ra từ ngày đầu của cuộc kháng chiến được thể hiện tập trung trong Chỉ thị kháng chiến kiến quốc ngày 25/11/1945; Chỉ thị toàn dân kháng chiến ngày 12/12/1946; Lời kêu gọi toàn

quốc kháng chiến ngày 19/12/1946 và tác phẩm Kháng chiến nhất định thắng lợi, đường

lối kháng chiến chống thực dân Pháp gồm những nội dung cơ bản:

+ Ban Thường vụ Trung ương Đảng ra chỉ thị Toàn dân kháng chiến 25/11/1945,

nêu một cách tóm tắt nội dung đường lối và chính sách kháng chiến gồm: mục đích, tính chất, chính sách, cách đánh, chương trình kháng chiến, cơ quan lãnh đạo kháng chiến, khẩu hiệu tuyên truyền để hướng dẫn các Đảng bộ và cơ quan chỉ đạo kháng chiến các cấp thi hành

+ Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến của Chủ tịch Hồ Chí Minh ngày

19/12/1946 là tiếng gọi của non sông đất nước, động thấu trái tim và khối óc của mọi người Việt Nam yêu nước, khơi dậy mạnh mẽ chủ nghĩa dân tộc, truyền thống anh hùng bất khuất, làm cho cả nước đứng lên chiến đấu bằng sức mạnh của chủ nghĩa anh hùng cách mạng và trí tuệ của người Việt Nam với mọi thứ vũ khí có sẵn, với một ý chí “cảm

tử cho Tổ quốc quyết sinh”, một thái độ chính trị dứt khoát và kiên định: “Thà hi sinh tất

cả, chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ” Lời kêu gọi kháng chiến là một bản cương lĩnh kháng chiến mang tính khái quát cao, chứa đựng tư tưởng, quan điểm, đường lối chiến tranh nhân dân, toàn dân đánh giặc, lâu dài, tự lực cánh sinh và nhất định thắng lợi

+ Để giải thích và phát triển quan điểm, đường lối kháng chiến của Đảng và Hồ Chí Minh, Trường Chinh – Tổng bí thư Ban chấp hành trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương đã việt một loạt bài đăng trên báo Sự thật từ số 70 đến số 81 và nhân dịp kỉ niệm lần thứ hai ngày Nam Bộ kháng chiến, tác giả đã sửa chữa, bổ sung và in thành tác phẩm

Kháng chiến nhất định thắng lợi.Tác phẩm của Trường Chinh nhằm “vạch một phương

châm tử chiến với thực dân phản động Pháp để giành độc lập, thống nhất thực sự cho Tổ quốc, giữ vững và mở rộng chế độ cộng hòa dân chủ Việt Nam, và góp phần nhỏ mọn của dân tộc ta vào công cuộc xây dựng hòa bình, dân chủ thế giới” Việc giành thắng lợi cuối cùng của cuộc kháng chiến lâu dài và gian khổ này chỉ có thể đạt được với điều kiện căn bản là: đường lối chính trị và quân sự đúng, toàn dân đoàn kết chặt chẽ và có nhiều bạn bè, chỉ huy quân sự ta khôn khéo và dũng cảm, tất cả cán bộ, binh sĩ và nhân dân ta bền gan vượt khó, không sợ gian khổ hi sinh

Trang 16

* Mục tiêu của cuộc kháng chiến vẫn là “dân tộc trên hết”, “Tổ quốc trên hết” Cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp là tiếp tục sự nghiệp Cách mạng Tháng 8 năm

1945 Cuộc kháng chiến có hai nhiệm vụ cơ bản: vừa kháng chiến; vừa kiến quốc Hai nhiệm vụ bổ sung, hỗ trợ nhau đưa sự nghiệp cách mạng đến thắng lợi

* Lực lượng kháng chiến: huy động sức mạnh toàn dân tộc, các tầng lớp nhân dân tập hợp trong Mặt trận Việt Minh, Hội Liên hiệp quốc dân Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội

* Lãnh đạo cuộc kháng chiến: Đảng - Chính phủ, Chủ tịch Hồ Chí Minh và các đoàn thể chính trị - xã hội

* Phương châm kháng chiến: Toàn dân, toàn diện, lâu dài, tự lực cánh sinh.

+ Toàn dân kháng chiến có nghĩa là thực hiện mô hình chiến tranh nhân dân Toàn dân tham gia đánh giặc và huy động sức người, sức của cho cuộc kháng chiến,

+ Toàn d i ện kháng chiến có nghĩa là đánh địch trên tất cả các phương diện: quân sự, chính trị, kinh tế, văn hoá, ngoại giao…trong đó quân sự là hàng đầu

+ Trư ờ ng k ỳ kháng chiến có nghĩa là ta phải đánh lâu dài để có thời gian xoay chuyển tương quan lực lượng theo chiều hướng có lợi cho ta

+ Tự lực cánh sinh có nghĩa là ta phải dựa vào sức mình là chính bởi ta bắt đầu cuộc kháng chiến mà không nhận được sự giúp đỡ nào của các nước khác

* Ý nghĩa của đườ ng lối kháng chiến:

+ Đường lối kháng chiến chống Pháp là sự kế thừa và phát huy truyền thống đánh giặc ngoại xâm của dân tộc ta, là sự vận dụng lý luận chiến tranh cách mạng của chủ nghĩa Mác- Lênin và kinh nghiệm của nước ngoài vào điều kiện Việt Nam

+ Đường lối đó là ngọn cờ dẫn dắt và tổ chức nhân dân ta chiến đấu và chiến thắng thực dân Pháp xâm lược Cuộc kháng chiến của nhân dân ta là kế tục sự nghiệp cuộc Cách mạng tháng Tám bằng phương thức chiến tranh cách mạng Nó nhằm mục đích đánh thực dân xâm lược Pháp, giành độc lập và thống nhất Đây là một cuộc chiến tranh cách mạng của dân tộc, chiến tranh tình nghĩa, chiến tranh tiến bộ Cuộc kháng chiến này không những có tính chất dân tộc giải phóng mà còn có tính chất dân chủ mới “Trong lò lửa kháng chiến, một nước Việt Nam mới đang được rèn đúc: nước Việt Nam độc lập, thống nhất, dân chủ, phú cường – một nước Việt Nam dân chủ mới” Vì vậy, nhiệm vụ giải phóng dân tộc và nhiệm vụ dân chủ có quan hệ với nhau, trong đó nhiệm vụ cấp bách và nóng bỏng nhất là nhiệm vụ giải phóng dân tộc Nhiệm vụ dân chủ về ruộng đất được thực hiện dần dần để thích hợp với hoàn cảnh của cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc Giải thích về mối quan hệ dân tộc và dân chủ, Trường Chinh viết: “Có bạn cho rằng cuộc kháng chiến này đã có tính chất dân tộc và dân chủ như thế thì nó phải vừa đánh đuổi thực dân, vừa tịch thu ruộng đất của địa chủ chia cho dân cày.Đây là một quan điểm độc lập sáng tạo của Đảng ta về mối quan hệ giữa độc lập dân tộc và ruộng đất cho dân cày trong cuộc chiến tranh giải phóng ở một nước vốn là thuộc địa còn nhiều tàn dư phong kiến về sở hữu ruộng đất, theo tư tưởng độc lập tự do và chiến lược đại đoàn kết vì đại nghĩa dân tộc của Hồ Chí Minh Cuộc kháng chiến của ta vì độc lập, thống nhất, dân chủ và phú cường là một cuộc chiến tranh nhân dân, toàn dân, toàn diện và lâu dài

* Bài học kinh nghiệm:

Trang 17

- Cuộc kháng chiến của ta chống lại một đội quân xâm lược nhà nghề, có ưu thế về trang bị vũ khí nên phải tiến hình lâu dài, gian khổ và hi sinh, song cuối cùng thắng lợi nhất định thuộc về chúng ta Vì “Chiến tranh của ta là chiến tranh nhân dân, chiến tranh tiến bộ Ta lấy sức mạnh vật chất và tinh thần trong nguồn vô tận của nhân dân, trong chính ngay tính chất tiến bộ của cuộc chiến tranh chính nghĩa”.

- Điều có tính chất quyết định là Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh hạ quyết tâm chiến lược mở đầu cuộc kháng chiến toàn quốc đúng lúc và xác định được từ đầu những nội dung cơ bản về quan điểm, đường lối kháng chiến là chiến tranh nhân dân, toàn dân, toàn diện, lâu dài, tự lực cánh sinh và nhất định thắng lợi Trong buổi đầu tiến hành kháng chiến, khó có thể vạch ra được một đường lối hoàn thiện, thậm chí còn ít nhiều biểu hiện của sự rập khuôn theo lí luận quân sự nước ngoài, như lí luận kháng chiến 3 giai đoạn: phòng ngự, cầm cự, tổng phản công Trong quá trình lãnh đạo kháng chiến, chúng ta dần dần nhận thức sâu hơn thực tiễn chiến tranh cách mạng ở nước ta, từng bước bổ sung đường lối kháng chiến, phát triển khoa học và nghệ thuật chiến tranh nhân dân

Đường lối kháng chiến của Đảng là sự kế thừa và nâng lên tầm cao mới tư tưởng quân sự truyền thống của tổ tiên xưa, là sự vận dụng lí luận chiến tranh cách mạng của chủ nghĩa Mác – Lênin và kinh nghiệm nước ngoài vào điều kiện Việt Nam Đường lối đó là ngọn cờ dẫn dắt và là động lực chính trị tinh thần đưa quân và dân ta tiến lên chiến đấu và chiến thắng thực dân xâm lược Pháp Đây chính là ưu thế chính trị tinh thần, là lợi thế duy nhất tạo thành sức mạnh vật chất, bảo đảm cho quân và dân ta tin tưởng và kiên trì chiến đấu trong thế bị bao vây, chiến đấu bằng sức mạnh tự lực tự cường với một tinh thần độc lập tự chủ và nghị lực sáng tạo vô biên của dân tộc

Đường lối kháng chiến chống thực dân Pháp về bản chất là đường lối cách mạng Việt Nam trong chiến tranh Trong quá trình tiến hành cuộc kháng chiến, Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn coi việc bổ sung, phát triển, cụ thể hóa đường lối kháng chiến phù hợp với yêu cầu thực tế của từng giai đoạn để đi tới thắng lợi

2 Đẩy mạnh cuộc kháng chiến toàn diện, từng bước đánh thắng các chiến lược “đánh nhanh, thắng nhanh, lấy chiến tranh nuôi chiến tranh, dung người Việt trị người Việt” của thực dân Pháp

a Đẩy mạnh cuộc kháng chiến toàn diện

Kháng chiến muốn đạt được thắng lợi đòi hỏi phải có một hậu phương vững mạnh, đáp ứng yêu cầu chi viện sức người, sức của và cả tinh thần chính trị cho tiền tuyến Phải

nỗ lực bồi đắp và phát huy sức mạnh vật chất, tinh thần dồi dào của chế độ mới, của cả dân tộc để phục vụ sự nghiệp kháng chiến Xây dựng hậu phương kháng chiến thực chất

là xây dựng một chế độ mới ưu việt – chế độ dân chủ cộng hòa trên nền tảng dân chủ mới Kháng chiến toàn quốc đã bùng nổ Mặt trận quân sự ngày càng lan rộng và quyết liệt Mọi hoạt động trên các mặt chính trị, quân sự, kinh tế, văn hóa, xã hội phải chuyển hướng theo hoàn cảnh thời chiến và phục vụ kháng chiến

* Xây dựng, tổ chức lực lượng vũ trang nhân dân

+ Trước yêu cầu mới của kháng chiến, Ban Thường vụ Trung ương Đảng chủ trương xây dựng lực lượng bộ đội địa phương và phát triển dân quân Trong quá trình phát triển của chiến tranh, bộ đội địa phương và dân quân là lực lượng hậu bị trực tiếp

Ngày đăng: 06/02/2015, 17:00

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w