Trước sự can thiệptrắng trợn của đế quốc Mỹ vào Lào, Hội nghị Trung ương Đảng Nhân dân Lào 3-6-1959 xác định cuộc đấu tranh cách mạng của nhân dân Lào đang chuyển sangmột giai đoạn mới,
Trang 1BÀI DỰ THI
“TÌM HIỂU LỊCH SỬ QUAN HỆ ĐẶC BIỆT VIỆT NAM – LÀO,
LÀO – VIỆT NAM”
Chuyên đề 1 NHỮNG NHÂN TỐ HÌNH THÀNH, QUYẾT ĐỊNH
MỐI QUAN HỆ HỮU NGHỊ ĐẶC BIỆT VIỆT NAM-LÀO, LÀO- VIỆT NAM.
Trong lịch sử quan hệ quốc tế từ xưa tới nay, quan hệ đặc biệt Việt Nam Lào, Lào – Việt Nam là một điển hình, một tấm gương mẫu mực, hiếm có về sựgắn kết bền chặt, thuỷ chung, trong sáng và đầy hiệu quả giữa hai dân tộc trongcuộc đấu tranh vì độc lập, tự do và tiến bộ xã hội Mối quan hệ này, bắt nguồn từcác điều kiện tự nhiên, nhân tố dân cư, xã hội, văn hoá và lịch sử, truyền thốngchống giặc ngoại xâm của nhân dân hai nước Trong tiến trình đó, lãnh tụ Nguyễn
-Ái Quốc-người sáng lập ra Đảng Cộng sản Đông Dương đã sớm nhận thấy tầmquan trọng của mối quan hệ này, với các hoạt động cách mạng của mình đã đặt nềnmóng vững chắc phát triển thành quan hệ đặc biệt giữa hai dân tộc, hai quốc gia
Về các điều kiện tự nhiên: Việt Nam và Lào nằm ở trung tâm bán đảo
Ấn-Trung, thuộc vùng Đông Nam Á lục địa Trong phạm vi của bán đảo ĐôngDương, Việt Nam nằm ở phía đông dãy Trường Sơn, như một bao lơn nhìn rabiển; Lào nằm ở sườn tây dãy Trường Sơn, lọt sâu vào vùng đất liền của bán đảo.Như vậy, dãy Trường Sơn có thể ví như cột sống của hai nước, tạo thành biên giới
tự nhiên trên đất liền giữa Việt Nam và Lào Với địa hình tự nhiên này, về đường
bộ cả Việt Nam và Lào đều theo trục Bắc-Nam Còn về đường biển, con đườnggần nhất để Lào có thể thông thương ra biển đó là từ Sầm Nưa thuộc tỉnh HủaPhăn (Lào) qua Thanh Hoá; Xiêng khoảng (Lào) qua Nghệ An; Khăm Muộn(Lào) qua Hà Tĩnh; Savẳnnakhệt (Lào) qua Quảng Trị và Khăm Muộn (Lào) quaQuảng Bình
Do điều kiện tự nhiên nên sự phát triển kinh tế - xã hội của Việt Nam vàLào có nhiều điểm tương đồng, lại vừa có những nét khác biệt Tuy nhiên, tronghoàn cảnh toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế ngày nay, để hợp tác cùng phát triểnhai nước hoàn toàn có thể bổ sung cho nhau bằng tiềm năng, thế mạnh của mỗinước về vị trí địa lý, tài nguyên, nguồn nhân lực, thị trường cũng như sự phânvùng kinh tế và phân công lao động hợp lý Ngoài ra, Việt Nam và Lào là nhữngthuộc nước“vừa” và “tương đối nhỏ” sống cạnh nhau, lại nằm kề con đường giaothông hàng hải hàng đầu thế giới, nối liền Đông Bắc Á, Nam Á qua Tây TháiBình Dương và Ấn Độ Dương cho nên chiếm vị trí địa- chiến lược quan trọng ởvùng Đông Nam Á
Trang 2Chủ tịch Hồ Chí Minh và Hoàng thân Souphanouvong tại
chiến khu Việt Bắc năm 1951
Về quốc phòng: bờ biển Việt Nam tương đối dài, nên việc bố trí chiến lượcgặp không ít khó khăn Trong khi đó, dãy Trường Sơn, biên giới tự nhiên giữaViệt Nam và Lào được ví như bức tường thành hiểm yếu, để hai nước tựa lưngvào nhau, phối hợp giúp đỡ lẫn nhau tạo ra thế chiến lược khống chế những địabàn then chốt về kinh tế và quốc phòng, trở thành điểm tựa vững chắc cho ViệtNam và Lào trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ đất nước
Về các nhân tố dân cư, xã hội: Việt Nam và Lào đều là những quốc gia đa
dân tộc, đa ngôn ngữ Hiện tượng một tộc người sống xuyên biên giới quốc giacủa hai nước, hoặc nhiều nước là đặc điểm tự nhiên của sự phân bố tộc người ởkhu vực Đông Nam Á nói chung, ở Việt Nam và Lào nói riêng Đặc điểm này,
đến nay vẫn tiếp tục chi phối mạnh
mẽ các mối quan hệ khác trên đườngbiên giới quốc gia Việt Nam-Lào.Chính quá trình cộng cư, hoặc sinhsống xen cài của những cư dân ViệtNam và cư dân Lào trên địa bànbiên giới của hai nước đã dẫn đếnviệc cùng khai thác và chia sẻ nguồnlợi tự nhiên, đặc biệt là nguồn lợisinh thuỷ Điều này, thêm một lầnnữa khẳng định các quan hệ cộinguồn và quan hệ tiếp xúc chính là những điều kiện lịch sử và xã hội đầu tiên, tạo
ra những mối dây liên hệ và sự giao thoa văn hoá nhiều tầng nấc giữa cư dân hainước Một trong những minh chứng cho nhận định trên đó chính là hai câu chuyệnhuyền thoại của hai dân tộc đều xoay quanh môtíp quả bầu mẹ, đó là: người Lào,thông qua câu chuyện huyền thoại đã cho rằng các nhóm dân cư: Lào, Thái,Khơmú, Việt đều có chung nguồn gốc Đặc biệt, trong câu chuyện này, Khún
Bulôm đã dặn dò với các con cháu của Người: “Các con phải luôn luôn giữ tình
thân ái với nhau, không bao giờ được chia rẽ nhau Các con phải làm cho mọi người noi gương các con và coi nhau như anh em một nhà, người giàu phải giúp đỡ kẻ nghèo, người mạnh giúp kẻ yếu Các con phải bàn bạc kỹ trước khi hành động và đừng bao giờ gây hấn xâm lăng lẫn nhau” Còn ở miền tây
Quảng Bình và Quảng Trị của Việt Nam, người B’ru cũng giải thích nguồn cộicủa các dân tộc Tà Ôi, Ê đê, Xơ đăng, Bana, Khùa, Sách, Mông, Dao, Tày,Khơme, Lào, Thái, Việt cũng từ quả bầu mẹ Hình tượng quả bầu mẹ đã trởthành biểu tượng cao đẹp, lý giải nguồn gốc và tình đoàn kết keo sơn giữa các dântộc hai bên dãy Trường Sơn Chính vì vậy, đến nay, các dân tộc anh em sống ởkhu vực biên giới hai nước vẫn còn nuôi dưỡng niềm tự hào và truyền mãi chonhau những câu chuyện về đạo lý làm người vô cùng sâu sắc mà người xưa để lại
Trang 3Về nhân tố văn hoá và lịch sử: Về nhân tố văn hoá, điều cần phải khẳng
định là do quan hệ gần gũi và lâu đời nên người Việt và người Lào đặc biệt làngười dân ở vùng biên giới am hiểu về nhau khá tường tận Trong cuốn “Dư địachí” (1) của Nguyễn Trãi đã mô tả khá ấn tượng về nền văn hoá độc đáo và phongtục thuần phác của dân tộc Lào, cũng như hiện tượng giao thoa văn hoá nở rộ giữaĐại Việt với các nước láng giềng Đông Nam Á, trong đó có Lào Lạn Xạng
Sự giao thương của người dân Lào với người dân Việt nhất là với người dâncác tỉnh biên giới của Việt Nam cũng khá nhộn nhịp Người dân Việt Nam bày tỏmối thiện cảm với một số mặt hàng có chất lượng cao của Lào như: vải dệt,chiêng Chính vì vậy, mà hiện nay, nhiều dân tộc ít người ở Tây Nguyên củanước ta vẫn còn giữ được những chiếc chiêng Lào nổi tiếng Đúng như nhà bác
học Lê Quý Đôn nhận xét: "Thật là một nước đã giàu lại khéo”.(2) Điều đáng chú
ý là trong quan hệ giao thương với Đại Việt, Lào Lạn Xạng đã không ít lần bộc lộmối quan tâm của mình muốn hướng ra biển, trong khi Đại Việt lại tìm cơ hội để
mở rộng buôn bán vào sâu lục địa
Có thể khẳng định rằng, sự hài hoà giữa tình cảm nhân ái và tinh thần cộngđồng là một nét đặc sắc của triết lý nhân sinh ngươì Việt cũng như người Lào.Chính trong cuộc sống chan hoà này, nhân dân Việt Nam và nhân dân Lào đãngày càng hiểu nhau hơn và bày tỏ những tình cảm rất đỗi chân thành với nhau
Ngạn ngữ Lào có câu: “Nói hợp lòng thì xin ăn cho cũng chả tiếc, nói trái ý thì
dẫu xin mua cũng chẳng bán” (Vầu thực khọ, khỏ kin cò bò thi (bò khỉ thi), vầu
bò thực khọ khỏ xừ cò bò khải) Đó cũng là những tình cảm bình dị nhưng chânthành mà người dân nước Việt dành cho người bạn láng giềng của mình, còn được
lưu lại trong thư tịch cổ: “người Lào thuần hậu chất phác” (3) trong giao dịch buôn
bán thì “họ vui lòng đổi chác”(4)
Mặc dầu Việt Nam và Lào có tiếng nói, văn tự không giống nhau, sáng tạo
và lựa chọn các nền văn hóa cũng như các hình thức tổ chức chính trị -xã hội khácnhau, nhưng những nét tương đồng thì vẫn thấy phổ biến trong muôn mặt đờisống hàng ngày của cư dân Việt Nam và Lào Các nền văn hóa nghệ thuật truyềnthống của Việt Nam và Lào dễ dàng tìm thấy: sự đồng cảm lẫn nhau, chia sẻ cácgiá trị cộng đồng, coi trọng luật tục, tôn kính người già… Sự tương đồng giữa vănhóa làng – nước của người Việt và văn hóa bản - mường của người Lào xuất phát
từ cội nguồn cùng nền văn minh nông nghiệp lúa nước ở Đông Nam Á Đồngthời, lòng nhân ái bao la và đời sống tâm linh phong phú, trong đó có những ảnhhưởng sâu đậm của đạo Phật mà trong cách đối nhân xử thế của mình, nhân dânViệt Nam và nhân dân Lào bao giờ cũng nêu cao những phẩm chất yêu thương vàhướng thiện
Về nhân tố lịch sử: Theo các thư tịch cổ nổi tiếng của Việt Nam như: “Việt
điện u linh” “Lịch triều hiến chương loại chí” thì năm 550 dưới thời Vạn Xuâncủa nhà tiền Lý, khi bị quân Lương ở phương Bắc đàn áp, Lý Nam Đế buộc phải
Trang 4lánh nạn và anh ruột của Vua là Lý Thiên Bảo đã chạy sang đất Lào lập căn cứchống giặc ngoại xâm, mở ra mối quan hệ đầu tiên Việt Nam-Lào, Lào-Việt-Nam Còn hai bộ chính sử khác là “Đại Việt sử ký toàn thư”, “Khâm định Việt sửthông giám cương mục” thì sự kiện quan hệ ngoại giao, thông hiếu đầu tiên giữacác nước Đại Việt và Lào là vào năm 1067(5) Tiếp đến vào giữa thế kỷ XIV (năm1353) những quy ước hoà bình đầu tiên về biên giới quốc gia đã được xác lập giữaĐại Việt và Lạn Xạng khi Chạu Phạ Ngừng lần lượt chinh phục các mường Lào,lập nên vương quốc Lạn Xạng thống nhất đầu tiên của người Lào Ngoài ra, trongsuốt quá trình của cuộc khởi nghĩa Lam Sơn (1418-1427), nghĩa quân Lê Lợi cũngluôn nhận được sự tiếp sức của các tộc trưởng và nhân dân Lào ở vùng biên giới.
Điều đáng nói, là trong khoảng thời gian từ thế kỷ XIV đến XV, hai nướcĐại Việt- Lạn Xạng, Lạn Xạng-Đại Việt mặc dù không phải không có những thờikhắc gặp nguy nan nhưng với tinh thần lấy hoà hiếu làm trọng nên đã sáng suốt vàcông bằng, có ý thức đề cao không thù hận, đồng thời biết chủ động vun đắp tìnhthân ái và hữu nghị lâu dài giữa hai dân tộc
Đến thế kỷ XVII là thời kỳ toàn thịnh của Lạn Xạng dưới Vương triềuXulinhavôngsả (1637-1694), nhà vua Lào đích thân cầu hôn công chúa Vua LêDuy Kỳ Tuy nhiên, đây cũng là lúc chế độ phong kiến Việt Nam bước vào giaiđoạn khủng hoảng nên quan hệ giữa hai vương triều hậu Lê và Lạn Xạng khôngphát triển được nhiều Cuối thế kỷ XVII, nội bộ hoàng tộc Lào rối ren Tuy nhiênbất chấp hoàn cảnh bất lợi của chế độ phong kiến ở Đại Việt và Lạn Xạng, quan
hệ nương tựa vào nhau giữa nhân dân hai nước vẫn tiếp tục được nuôi dưỡng.Chính vì vậy, nửa cuối thế kỷ XVIII, khu vực Mương Phuôn (Xiêng Khoảng) đãtrở thành một căn cứ đề kháng quan trọng của nghĩa quân Tây Sơn chống lại thếlực Nguyễn Ánh Thế kỷ XIX, quan hệ Việt Nam-Lào, Lào -Việt Nam đã có bướctrưởng thành sâu hơn, nhất là về phương diện nhận thức chủ quyền quốc gia, quanđiểm bạn thù cũng như phương cách xây dựng đồng minh giữa nhân dân hai nước
Đó là những yếu tố lịch sử
Cùng với các điều kiện tự nhiên, dân cư, xã hội, văn hoá và lịch sử và sự
tự nguyện phối hợp của nhân dân hai nước Việt Nam và Lào trong chống
ngoại xâm nhất là trong cuộc đấu tranh chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm
lược càng khẳng định mối quan hệ đặc biệt Việt Nam-Lào, Lào-Việt Nam
Trong tiến trình lịch sử cả hai dân tộc đều phải ngoan cường chống
ngoại xâm để bảo vệ nền độc lập dân tộc Dân tộc Việt Nam kể từ khi Nhà nước
Văn Lang thành lập đã trải qua mấy ngàn năm lịch sử và liên tục bị chế độ phongkiến phương Bắc xâm lược, thống trị và do đó đã phải không ngừng chiến đấugiành và bảo vệ độc lập dân tộc Nước Lào cũng trải qua lịch sử hàng nghìn năm
và cũng phải ngoan cường chống xâm lược để khẳng định sự tồn tại của mình với
tư cách một dân tộc, một quốc gia độc lập
Trang 5Từ đầu thế kỷ 20, không cam chịu ách nô lệ, nhân dân hai nước Lào-ViệtNam đã đoàn kết, cùng nhau đấu tranh chống Pháp Như vậy, trước 1930, hai dântộc Lào-Việt đã đoàn kết cùng chiến đấu chống kẻ thù chung, nhưng lúc đó chỉdừng lại ở tính chất tự phát do hạn chế về trình độ nhận thức và điều kiện lịch sử.
Từ khi có chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh soi đường, đặc biệt là từkhi Đảng Cộng sản Đông Dương ra đời do Chủ tịch Hồ Chí Minh sáng lập, trựctiếp lãnh đạo cuộc đấu tranh giải phóng của hai dân tộc Lào-Việt Nam tình đoànkết đó đã được phát triển mạnh mẽ và liên tục Chính truyền thống yêu nước vẻvang là cơ sở vững chắc cho sự đoàn kết giữa hai dân tộc
Tình cảm gắn bó keo sơn giữa hai dân tộc Việt Nam - Lào trong những
năm tháng chiến tranh mà biểu hiện của nó là nhân dân Lào cùng Việt kiều đấu
tranh chống chế độ thuộc địa, phối hợp và ủng hộ cách mạng Việt Nam giai đoạn(1930-1939), tiếp đến giúp nhau tiến hành cuộc vận động khởi nghĩa vũ tranggiành chính quyền thắng lợi (1939 - 1945) và liên minh Việt-Lào, Lào-Việt Namchiến đấu chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược (1945 – 1975) Sau năm
1975, quan hệ Việt Nam và Lào bước sang một trang hoàn toàn mới: từ liên minhchiến đấu chung một chiến hào sang hợp tác toàn diện giữa hai quốc gia có độclập chủ quyền Tình cảm gắn bó keo sơn giữa hai dân tộc Việt Nam - Lào đượcbiểu hiện sâu nặng trong sự nghiệp xây dựng đất nước
Chủ tịch Hồ Chí Minh-Người đặt nền móng vững chắc cho quan hệ đặc biệt Việt Nam-Lào, Lào -Việt Nam.
Trong những thập kỷ đầu thế kỷ XX, chính Nguyễn Ái Quốc (Chủ tịch HồChí Minh), với lòng yêu nước nồng nàn và nghị lực phi thường, vượt lên mọi khókhăn, gian khổ, đã tự mình khám phá thế giới tư bản chủ nghĩa và các dân tộcthuộc địa, nhằm phát hiện chân lý cứu nước Người tiếp nhận và vận dụng sángtạo chủ nghĩa Mác – Lênin vào điều kiện cụ thể của Đông Dương để xác định conđường giải phóng các dân tộc Việt Nam, Lào, Campuchia theo con đường cáchmạng vô sản Trong quá trình tìm đường cứu nước của mình, Nguyễn Ái Quốc rấtquan tâm đến tình hình Lào Người không chỉ lên án chế độ thực dân Pháp nóichung mà còn tố cáo cụ thể sự tàn bạo của thực dân Pháp ở Lào (6) Hội Việt NamCách mạng Thanh niên - một trong những tổ chức tiền thân của Đảng Cộng sảnViệt Nam do Nguyễn Ái Quốc trực tiếp sáng lập vào tháng 6 năm 1925 tại QuảngChâu (Trung Quốc), đến tháng 2 năm 1927, Hội này gây dựng được cơ sở tại Lào.Thông qua hoạt động của Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên ở Lào, Nguyễn
Ái Quốc thấy đây là điều kiện thuận lợi để người Việt Nam vừa tham gia cuộc vậnđộng cứu nước tại Lào, vừa sát cánh cùng nhân dân Lào xây dựng mối quan hệđoàn kết khăng khít giữa Việt Nam – Lào, Lào – Việt Nam Hội Việt Nam Cáchmạng Thanh niên đã lập Hội Ái hữu, Hội Việt kiều yêu nước, mở các lớp huấnluyện cách mạng trên đất Lào Trên thực tế, từ nửa sau những năm 20 thế kỷ XX,Lào là một đầu cầu trực tiếp truyền bá chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng cứu
Trang 6nước mới của Nguyễn Ái Quốc vào Đông Dương Năm 1928, đích thân Người bímật tổ chức khảo sát thực địa tại Lào (7) càng cho thấy mối quan hệ gắn bó mậtthiết giữa cách mạng Việt Nam và cách mạng Lào Cũng trong năm này, chi bộThanh niên cộng sản đầu tiên được thành lập tại Viêng Chăn, đồng thời đườngdây liên lạc giữa nhiều thị trấn ở Lào với Việt Nam được tổ chức
Như vậy, Lào trở thành địa bàn đầu tiên trên hành trình trở về Đông Dươngcủa Nguyễn Ái Quốc, nơi bổ sung những cơ sở thực tiễn mới cho công tác chínhtrị, tư tưởng và tổ chức của Người về phong trào giải phóng dân tộc ở ba nướcĐông Dương Quá trình Nguyễn Ái quốc đặt nền móng cho quan hệ đặc biệt ViệtNam – Lào, Lào – Việt Nam báo hiệu bước ngoặt lịch sử trọng đại sắp tới củacách mạng Việt Nam cũng như cách mạng Lào
Chủ tịch Hồ Chí Minh là người đặt nền móng và chính Người cùng đồng chíKayxỏn Phômvihản, đồng chí Xuphanuvông và các thế hệ lãnh đạo hai Đảng, haiNhà nước, nhân dân hai nước dày công vun đắp, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộngsản Đông Dương, Đảng Nhân dân Cách mạng Lào và Đảng Cộng sản Việt Nam
Thực tiễn đã khẳng định rằng, trong quan hệ quốc tế ít có nơi nào và lúcnào cũng có được mối quan hệ đặc biệt, đoàn kết, hợp tác bền vững lâu dài, trongsáng như mối quan hệ Việt - Lào
Trong bối cảnh toàn cầu hóa hiện nay, quan hệ hữu nghị truyền thống đặcbiệt giữa Việt Nam – Lào, Lào - Việt Nam cùng với những cơ hội vẫn còn không
ít thách thức, nhất là các thế lực thù địch tìm mọi cách xuyên tạc, bóp méo lịch sử,chia rẽ tình hữu nghị đặc biệt Việt Nam – Lào Vì vậy, việc duy trì, củng cố vàtăng cường mối quan hệ đặc biệt trong sáng, thuỷ chung giữa hai Đảng, hai Nhànước và nhân dân hai nước Việt Nam – Lào là nhiệm vụ hết sức quan trọng củaĐảng, chính quyền và nhân dân hai nước Việt Nam-Lào, lào-Việt Nam
Chuyên đề 2 TÌNH CẢM GẮN BÓ KEO SƠN GIỮA HAI DÂN TỘC VIỆT NAM - LÀO TRONG NHỮNG NĂM THÁNG CHIẾN TRANH TRƯỚC ĐÂY
CŨNG NHƯ TRONG SỰ NGHIỆP XÂY DỰNG
ĐẤT NƯỚC HIỆN NAY
Trong lịch sử quan hệ quốc tế từ xưa tới nay, quan hệ đặc biệt Việt Nam Lào, Lào – Việt Nam là một điển hình, một tấm gương mẫu mực, hiếm có về sựgắn kết bền chặt, thuỷ chung, trong sáng và đầy hiệu quả giữa hai dân tộc đấu
tranh vì độc lập, tự do và tiến bộ xã hội Quan hệ đặc biệt Việt Nam Lào, Lào
-Việt Nam phát triển từ quan hệ truyền thống, do Chủ tịch Hồ Chí Minh xây dựngnền móng và chính Người cùng đồng chí Kayxỏn Phômvihản, đồng chíXuphanuvông và các thế hệ lãnh đạo hai Đảng, hai Nhà nước, nhân dân hai nước
Trang 7dày công vun đắp Một trong những nhân tố làm nên mối quan hệ đặc biệt ViệtNam -Lào, Lào-Việt Nam, đó chính là tình cảm gắn bó keo sơn giữa hai dân tộcViệt Nam - Lào trong những năm tháng chiến tranh trước đây cũng như trong sựnghiệp xây dựng đất nước hiện nay
Thứ nhất: Hai dân tộc sát cánh bên nhau, vượt qua mọi gian khổ, hy
sinh, đòan kết gắn bó đánh giặc ngoại xâm
Dân tộc Việt Nam kể từ khi Nhà nước Văn Lang thành lập đã trải qua mấyngàn năm lịch sử và liên tục bị chế độ phong kiến phương Bắc xâm lược, thống trị và
do đó đã phải không ngừng chiến đấu giành và bảo vệ độc lập dân tộc Nước Làocũng trải qua lịch sử hàng nghìn năm và cũng phải ngoan cường chống xâm lược đểkhẳng định sự tồn tại của mình với tư cách một dân tộc, một quốc gia độc lập
Từ đầu thế kỷ 20, không cam chịu ách nô lệ, nhân dân hai nước Lào-ViệtNam đã đoàn kết, cùng nhau đấu tranh chống Pháp Trong đó, có phong tràochống Pháp ở Áttapư do Khi Volảlạt lãnh đạo (1900-1901), phong trào Phùmibun
ở Trung Lào của Phò Càduột (1901-1902) và cuộc khởi nghĩa Hạ Lào do ôngKẹo, ông Côm mađăm lãnh đạo (1901-1937) đã có sự liên kết với các cuộc nổidậy chống Pháp của bộ tộc Xơ đăng ở KonTum (Việt Nam) Đặc biệt, năm 1918,phong trào chống Pháp của người Mông ở Tây Bắc Việt Nam do Chạu Phạpắtchây lãnh đạo lan rộng trên địa bàn nhiều tỉnh Bắc Lào và Tây Bắc Việt Nam, kéodài đến tận năm 1922 gây cho Pháp nhiêù thiệt hại
Như vậy, trước 1930, đã xuất hiện đoàn kết Lào-Việt cùng chiến đấu chống
kẻ thù chung nhưng lúc đó chỉ dừng lại ở tính chất tự phát do hạn chế về trình độnhận thức và điều kiện lịch sử Từ khi được chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng HồChí Minh soi đường, đặc biệt là từ khi Đảng Cộng sản Đông Dương ra đời do Chủtịch Hồ Chí Minh sáng lập, trực tiếp lãnh đạo cuộc đấu tranh giải phóng của haidân tộc Lào-Việt Nam, tình đoàn kết đó đã được phát triển mạnh mẽ và liên tục
Nhân dân Lào cùng Việt kiều đấu tranh chống chế độ thuộc địa, phối hợp
và ủng hộ cách mạng Việt Nam giai đoạn (1930-1939)
Sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam (3-2-1930) đã mở đầu trang sử vẻ
vang của quan hệ đặc biệt Việt Nam – Lào
Tại Hội nghị lần thứ nhất (tháng 10 -1930) Đảng Cộng sản Việt Nam đổi tênthành Đảng Cộng sản Đông Dương, đồng thời xác lập các nguyên tắc, phươnghướng, đường lối chính trị và những nhiệm vụ cơ bản cho phong trào cách mạng của
ba dân tộc ở Đông Dương; đặt phong trào cách mạng Việt Nam và phong trào cáchmạng Lào dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Đông Dương Chính vì vậy, trongnhững năm 1930 - 1939, các cuộc đấu tranh của nhân dân Việt Nam và Lào đã hỗtrợ lẫn nhau, góp phần thúc đẩy sự phát triển phong trào cách mạng mỗi nước
Trong thời gian trên, Tỉnh uỷ Quảng Trị đã bắt mối xây dựng một số chi bộĐảng trong Việt kiều ở địa bàn Trung Lào Sự ra đời của các chi bộ này, thể hiện
sự phát triển của phong trào đấu tranh của công nhân và nhân dân lao động Làocũng như vai trò rất lớn của Việt kiều Dưới sự lãnh đạo của các chi bộ Đảng, sự
Trang 8vận động của các đoàn thể quần chúng, những hoạt động chống Pháp có tính chất
lẻ tẻ trong phạm vi bộ tộc, bộ lạc, mang tính chất địa phương và tự phát ở Lào dầnchuyển lên mang tính tổ chức, hoà nhịp với phong trào đấu tranh của ba nướcĐông Dương Những hoạt động yêu nước và cách mạng ở Việt Nam và Lào có sựphối hợp và ngày càng gắn kết chặt chẽ bổ sung, hỗ trợ nhau
Nhân dân hai nước Việt Nam-Lào giúp nhau tiến hành cuộc vận động khởi nghĩa vũ trang giành chính quyền thắng lợi(1939 - 1945).
Trước sự tồn vong của các dân tộc Đông Dương, Trung ương Đảng Cộng
sản Đông Dương liên tiếp tổ chức các cuộc hội nghị quan trọng, đặc biệt, Hội nghịBan Chấp hành Trung ương Đảng tháng 5- 1941 do lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc chủtrì đã quyết định nhiệm vụ giải phóng dân tộc và giải quyết vấn đề dân tộc trongkhuôn khổ từng nước và thành lập ở mỗi nước một mặt trận dân tộc thống nhấtrộng rãi trong đó nhiệm vụ giải phóng dân tộc được đặt lên hàng trước tiên củacách mạng Đông Dương Hội nghị cho rằng các dân tộc Đông Dương đều chịuchung một ách thống trị của phát xít Pháp-Nhật cho nên phải đoàn kết lại đánhđuổi kẻ thù chung
Cuối năm 1944 đầu năm 1945, tình hình thế giới và Đông Dương có nhiều
biến đổi, đe doạ trực tiếp quyền lực và lợi ích của phát xít Nhật ở Đông Dương.Trước tình hình đó, hai dân tộc Việt Nam - Lào đã phối hợp đấu tranh chống phát-xítNhật tiến hành khởi nghĩa giành chính quyền thắng lợi, thành lập chính phủ độc lập ởmỗi nước Sự ra đời của Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà (ngày 2-9-1945), Chính phủ Lào Ítxalạ (Lào tự do) (ngày 12-10-1945) là một trong những cơ
sở đưa tình đoàn kết, giúp đỡ nhau lên tầm liên minh chiến đấu để hai bên xâydựng mối quan hệ hữu hảo và vững chãi hơn trước là một bước ngoặt đưa tìnhđoàn kết, giúp đỡ nhau lên tầm liên minh chiến đấu
Liên minh Việt Nam-Lào , Lào-Việt Nam chiến đấu chống thực dân Pháp
và đế quốc Mỹ xâm lược.
Sau khi giành lại được chính quyền, Chính phủ hai nước đã ký Hiệp ước
sở pháp lý đầu tiên cho sự hợp tác giúp đỡ và liên minh chiến đấu chống kẻ thùchung của hai dân tộc Việt Nam - Lào
Ngày 25-11-1945, trước nguy cơ tồn vong nền độc lập dân tộc của ba nướcViệt Nam - Lào - Campuchia, Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Đông
Dương ra Chỉ thị Kháng chiến kiến quốc để chỉ đạo sự nghiệp giải phóng dân tộc của ba nước Đông Dương Chỉ thị chủ trương: “Thống nhất mặt trận Việt – Miên
- Lào chống Pháp xâm lược” Thực hiện chủ trương này, trong 3 năm 1948), liên minh chiến đấu Việt Nam - Lào từng bước được hình thành, phát triển
(1945-và thu được nhiều kết quả, góp phần thúc đẩy quan hệ đoàn kết chiến đấu ViệtNam - Lào gắn bó mật thiết hơn Hội nghị Trung ương Đảng lần thứ sáu, (tháng 1-1
2
Trang 91949) đã quyết định “mở rộng mặt trận Lào - Miên”, trong đó nhấn mạnh yêu cầu
mở rộng Mặt trận kháng chiến Lào và Campuchia, củng cố các lực lượng ViệtNam làm nhiệm vụ quốc tế ở hai nước, tăng cường thêm cán bộ, xây dựng và mởrộng các căn cứ ở Lào Thực hiện chủ trương đó, Việt Nam đã cử nhiều cán bộphối hợp với lực lượng kháng chiến Lào mở lớp huấn luyện quân sự và học tậpchính trị Lực lượng này, sau được tổ chức thành hệ thống riêng và lấy tên là
Quân tình nguyện.
Đại hội Quốc dân Lào (Mặt trận Lào kháng chiến) họp từ ngày 13 đếnngày 15 - 8 - 1950, tại Tuyên Quang (Việt Nam) đã đề ra Cương lĩnh chính trị 12điểm, trong đó nhấn mạnh yêu cầu tăng cường đoàn kết quốc tế, trước hết là vớiViệt Nam và Campuchia, cùng nhau đánh đuổi kẻ thù chung là thực dân Pháp xâmlược và can thiệp Mỹ, góp phần bảo vệ hòa bình thế giới
Ngày 11-3-1951, theo sáng kiến của Đảng Lao động Việt Nam, Hội nghịkhối liên minh nhân dân Việt Nam – Lào – Campuchia đã thành lập theo nguyêntắc tự nguyện, bình đẳng, tương trợ và tôn trọng chủ quyền của nhau, cùng nhauđánh đuổi bọn thực dân, đế quốc xâm lược, giành độc lập thực sự cho nhân dânĐông Dương Hội nghị đề ra chương trình hành động chung và cử Ủy ban liênminh gồm đại diện của ba nước Việt Nam, Lào, Campuchia Việc thành lập khốiliên minh nhân dân Việt Nam – Lào – Campuchia đã tạo cơ sở để nâng cao quan
hệ đoàn kết và phối hợp chiến đấu giữa nhân dân ba nước Đông Dương và đãgiáng đòn mạnh mẽ vào chính sách “chia để trị” của bọn thực dân, đế quốc Tháng12-1953, một bộ phận quân chủ lực Việt Nam phối hợp với bộ đội Lào Ítxalạ vàquân tình nguyện Việt Nam tại Lào mở chiến dịch Trung, Hạ Lào Chiến thắngcủa Liên quân Việt – Lào góp phần làm phá sản kế hoạch tập trung quân củaNava, buộc địch phải phân tán lực lượng đối phó trên nhiều chiến trường, tạo điềukiện củng cố, phát triển thế phối hợp chiến lược giữa hai nước Việt Nam và Lào
Với việc ký kết Hiệp định Giơnevơ 1954, cách mạng hai nước Việt Nam,
Lào bước vào thời kỳ mới: thời kỳ tập trung xây dựng lực lượng, đẩy mạnh đấutranh để giữ vững hòa bình và giành độc lập, thống nhất ở mỗi nước Tuy nhiên,
đế quốc Mỹ vẫn nuôi tham vọng xâm lược, ra sức can thiệp vào miền Nam ViệtNam và Lào, âm mưu biến nơi đây thành thuộc địa kiểu mới và căn cứ quân sự, đểlàm bàn đạp tiến công các nước xã hội chủ nghĩa Trước sự chuyển biến mới củacách mạng Lào, Đại hội thành lập Đảng Nhân dân Lào được tiến hành từ ngày 22tháng 3 đến ngày 6 tháng 4 năm 1955 tại tỉnh Sầm Nưa Đảng Nhân dân Lào rađời đã tạo cơ sở vững chắc để tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với cáchmạng Lào, đồng thời là nhân tố trọng yếu, có ý nghĩa quyết định thúc đẩy quan hệđoàn kết, giúp đỡ lẫn nhau giữa cách mạng hai nước Lào - Việt Nam Đặc biệt,sau Đại hội đại biểu lần thứ II của Neo Lào Hắc Xạt (Mặt trận Lào yêu nước) đã
Trang 10mở ra triển vọng mới cho sự tăng cường hợp tác, giúp đỡ lẫn nhau giữa cách mạnghai nước Việt Nam – Lào
Sau khi Đảng Nhân dân Lào được thành lập, các lực lượng yêu nước Làovới sự phối hợp, hỗ trợ tích cực của các tổ cố vấn quân sự và dân chính Việt Nam
đã liên tiếp đánh bại các cuộc tiến công của các thế lực phái hữu trong chínhquyền và quân đội Viêng Chăn vào vùng căn cứ cách mạng, gây cho địch nhiều
thiệt hại Đúng như khẳng định của Ban Chỉ đạo Đảng Nhân dân Lào:“ Sở dĩ cách
mạng Lào đạt được những thắng lợi to lớn đó là do tinh thần đoàn kết đấu tranh anh dũng kiên cường của nhân dân, cán bộ, chiến sĩ Lào dưới sự lãnh đạo của Đảng Nhân dân Lào, đồng thời cũng do sự đóng góp quan trọng của đồng chí và Trung ương Đảng Lao động Việt Nam đã hết lòng theo dõi, giúp đỡ chúng tôi trong mỗi giai đoạn của cách mạng”.
Từ cuối năm 1958, đế quốc Mỹ và bè lũ tay sai đẩy mạnh các hoạt động lậtlọng, từng bước xoá bỏ các hiệp ước hoà hợp dân tộc đã được ký kết để cuối cùngtrắng trợn xoá bỏ Chính phủ liên hiệp và hoà hợp dân tộc Trước sự can thiệptrắng trợn của đế quốc Mỹ vào Lào, Hội nghị Trung ương Đảng Nhân dân Lào (3-6-1959) xác định cuộc đấu tranh cách mạng của nhân dân Lào đang chuyển sangmột giai đoạn mới, giai đoạn từ đấu tranh công khai hợp pháp là chủ yếu, chuyểnsang đấu tranh vũ trang là chủ yếu, kết hợp với các hình thức đấu tranh khác.Thống nhất với quan điểm trên của Đảng Nhân dân Lào, Hội nghị Bộ Chính trịĐảng Lao động Việt Nam (2-7-1959) đề ra chủ trương chi viện cách mạng Làođáp ứng yêu cầu xây dựng, phát triển lực lượng trong tình hình mới và coi đây làmột nhiệm vụ quốc tế hết sức quan trọng, có ý nghĩa to lớn đối với cách mạngViệt Nam Về phía Việt Nam, được sự giúp đỡ tận tình của nhân dân các bộ tộcLào, các đoàn công tác quân sự của ta đã xây dựng được nhiều cơ sở cách mạng,phục vụ cho việc mở tuyến đường mới dọc Tây Trường Sơn trên đất Lào
Ngày 5-9-1962, Chính phủ nước Việt Nam dân chủ cộng hoà và Chính phủ Vương quốc Lào chính thức thiết lập quan hệ ngoại giao Đầu năm 1963 vua
Lào Xỉxávàng Vắthana dẫn đầu đoàn đại biểu Hoàng gia Lào thăm Việt Nam
Trong buổi chiêu đãi vua Lào, Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “Hai dân tộc
Việt và Lào sống bên nhau trên cùng một dải đất, cùng có chung một dãy núi Trường Sơn Hai dân tộc chúng ta đã nương tựa vào nhau, giúp đỡ lẫn nhau như anh em… Ngày nay chúng ta lại đang giúp đỡ nhau để xây dựng một cuộc sống mới Tình nghĩa láng giềng anh em Việt - Lào thật là thắm thiết không bao giờ phai nhạt được” (3[4])
Mặc dù Hiệp định Giơnevơ năm 1962 về Lào được ký kết, đế quốc Mỹ vẫnchưa từ bỏ âm mưu xâm lược Lào, tăng cường viện trợ, giúp chính quyền tay sai
3
Trang 11thân Mỹ tiến công lấn chiếm vùng giải phóng, đồng thời ra sức phá hoại Chínhphủ liên hiệp, cô lập và vu cáo Neo Lào Hắc Xạt Từ cuối năm 1963, Việt Nam cửchuyên gia quân sự sang làm nhiệm vụ quốc tế ở Lào và đến giữa năm 1964,thành lập hệ thống chuyên gia quân sự Việt Nam từ trên cơ quan Tổng tư lệnh Làoxuống đến Bộ tư lệnh các quân khu, tỉnh đội và cấp tiểu đoàn, có nhiệm vụ phốihợp với bạn để nghiên cứu kế hoạch tác chiến, xây dựng lực lượng vũ trang, xâydựng và củng cố các vùng căn cứ ở Lào Đồng thời, các đơn vị quân tình nguyệnViệt Nam phối hợp với bộ đội Pathết Lào mở nhiều chiến dịch, chủ yếu ở khu vựcđường 9 – Trung Lào, Cánh đồng Chum – Xiêng Khoảng, đập tan các cuộc tấncông lấn chiếm của địch, bảo vệ vững chắc vùng giải phóng Lào, tạo điều kiệnthuận lợi cho quân và dân Việt Nam vận chuyển trên đường Tây Trường Sơn đểchi viện cho chiến trường miền Nam Việt Nam và cách mạng hai nước Lào,Campuchia.
Ngày 22-6-1965, Đảng Lao động Việt Nam đã thống nhất với Đảng Nhândân Lào về việc phối hợp và giúp đỡ lẫn nhau, trong đó tập trung giúp Lào xây
dựng vùng giải phóng về mọi mặt Tiếp đó, ngày 3/ 7/ 1965, Bộ Chính trị Ban
Chấp hành Trung ương Đảng Lao động Việt Nam ra Nghị quyết khẳng định:
“Việt Nam cần phải nỗ lực đáp ứng đến mức cao nhất mọi yêu cầu đối với công
Nam phối hợp với Quân giải phóng Lào mở chiến dịch tiến công Nặm Bạc thắnglợi, giải phóng hoàn toàn khu vực Nặm Bạc – Khăm Đeng với trên một vạn dân,nối liền vùng giải phóng Thượng Lào thành khu vực liên hoàn, tạo thế vững chắccho hậu phương cách mạng Lào và hỗ trợ thiết thực cho cuộc kháng chiến củanhân dân Việt Nam và Campuchia
Những thắng lợi trên thể hiện nấc thang phát triển mới của lực lượng cáchmạng Lào, đồng thời khẳng định sức mạnh to lớn của quan hệ đoàn kết chiến đấugiữa quân và dân hai nước Việt Nam – Lào, trong đó thể hiện tình cảm chân thànhnhất mực, sắt son của Việt Nam đối với sự nghiệp cách mạng Lào, như đồng chíCay xỏn Phômvihản phát biểu trong cuộc hội đàm giữa Đảng Nhân dân Lào và
Đảng Lao động Việt Nam (12-1968) đã nhấn mạnh: “Sự giúp đỡ của Việt Nam
cho cách mạng Lào hết sức tận tình và vô tư Việt Nam đã giúp Lào cả vật chất và xương máu Xương máu của nhân dân Việt Nam đã nhuộm đỏ khắp nơi trên đất nước Lào vì nền độc lập của Lào…Sự giúp đỡ của Việt Nam đối với Lào đã xây dựng nên mối quan hệ đặc biệt, thực tế đó cũng là sự vận dụng đúng đắn chủ
4
5
Trang 12Trước âm mưu và thủ đoạn chiến tranh mới của đế quốc Mỹ, Trung ươngĐảng Lao động Việt Nam và Trung ương Đảng Nhân dân Lào đã ra chỉ thị khẳngđịnh tăng cường đoàn kết giữa nhân dân hai nước, quyết tâm đánh bại đế quốc Mỹ
và bè lũ tay sai trong bất cứ tình huống nào Với tinh thần đó, đến cuối năm 1972,cách mạng Lào đã giành được nhiều thắng lợi quan trọng và cùng với những chiếnthắng to lớn về nhiều mặt của quân tình nguyện Việt Nam và quân giải phóngnhân dân Lào cuối năm 1972, đầu năm 1973 đã trực tiếp góp phần quan trọng
buộc chính phủ Viêng Chăn phải ký kết Hiệp định Viêng Chăn “lập lại hoà bình
và thực hiện hòa hợp dân tộc ở Lào” (21-2-1973)
Bước vào thời kỳ mới, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ hai Đảng Nhândân Lào đã quyết định đổi tên Đảng thành Đảng Nhân dân cách mạng Lào; Đạihội đã suy tôn đồng chí Hồ Chí Minh là lãnh tụ của Đảng; thông qua Nghị quyết:
“Tăng cường đoàn kết Lào – Việt” Đặc biệt, đại hội khẳng định tình đoàn kết
Lào – Việt trên cơ sở chủ nghĩa Mác - Lênin và tinh thần quốc tế vô sản là mốiquan hệ đặc biệt Đảng Lao động Việt Nam và Đảng Nhân dân cách mạng Lào
cũng đã thống nhất phương hướng hợp tác cần tập trung vào những vấn đề cơ bản
nhất, những khâu then chốt nhất, tạo điều kiện cho Lào nhanh chóng đảm đương
được công việc một cách độc lập, tự chủ
Thực hiện chủ trương trên, Việt Nam từng bước rút chuyên gia ở tỉnh vàhuyện về nước (trước tháng 5-1974), đồng thời điều chỉnh các lực lượng chuyêngia và quân tình nguyện còn lại để phối hợp và giúp Lào thực hiện nhiệm vụ tronggiai đoạn cách mạng mới Sự phối hợp chặt chẽ và giúp đỡ hiệu quả giữa ViệtNam và Lào nói trên, đã làm cho thế và lực của cách mạng Lào lớn mạnh vượtbậc, tạo điều kiện thúc đẩy phong trào đấu tranh của quần chúng ngày càng lanrộng và sôi nổi, nhất là ở Thủ đô Viêng Chăn, buộc Chính phủ liên hiệp phải chấpnhận Cương lĩnh chính trị 18 điểm và Chương trình hành động 10 điểm do Mặttrận Lào yêu nước đưa ra (12-1974), đồng thời góp phần hỗ trợ tích cực cho nhândân Việt Nam và nhân dân Campuchia anh em giành thắng lợi hoàn toàn trongcuộc kháng chiến chống đế quốc Mỹ xâm lược
Trước thắng lợi dồn dập, to lớn của nhân dân Việt Nam, Campuchia trongtháng 4-1975, nhất là chiến thắng giải phóng hoàn toàn miền Nam (30-4-1975)của nhân dân Việt Nam, ngày 5-5-1975, Bộ Chính trị Trung ương Đảng nhân dâncách mạng Lào tổ chức Hội nghị mở rộng, quyết định phát động toàn Đảng, toàndân, toàn quân trong cả nước nổi dậy đoạt lấy chính quyền và giành thắng lợihoàn toàn
Tháng 12 năm 1975, nước Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào ra đời Đây làthắng lợi to lớn, triệt để của nhân dân các bộ tộc Lào, đồng thời cũng là thắng lợiquan trọng của mối quan hệ đặc biệt, liên minh đoàn kết chiến đấu, thủy chung,son sắt giữa hai dân tộc Việt Nam – Lào
Trang 13Thứ hai: Hợp tác và giúp đỡ nhau, vượt qua khó khăn cùng xây dựng
chủ nghĩa xã hội, hội nhập và phát triển.
Sau năm 1975, quan hệ Việt Nam và Lào bước sang một trang mới Đây làthời kỳ Đảng Cộng sản Việt Nam và Đảng Nhân dân cách mạng Lào trở thànhĐảng cầm quyền ở mỗi nước; cả hai nước càng có điều kiện phát huy truyền thốngtốt đẹp đã từng gắn bó keo sơn trong cuộc đấu tranh chống kẻ thù xâm lược, xâydựng và tăng cường quan hệ liên minh, liên kết và hợp tác toàn diện về chính trị,quốc phòng an ninh, kinh tế, văn hoá, giáo dục… Tuy nhiên, vào thời điểm này hainước đều phải ra sức khắc phục hậu quả nặng nề của chiến tranh, đặc biệt là hậuquả thống trị của chủ nghĩa thực dân mới Trong khi đó, các thế lực thù địch trongnước và bên ngoài câu kết, tìm cách chia rẽ Lào với Việt Nam, Việt Nam với Làogây khó khăn, trở ngại không nhỏ cho mối quan hệ giữa Việt Nam và Lào
Ngày 30-4-1976, Bộ Chính trị Trung ương Đảng Lao động Việt Nam ra
Nghị quyết Về tăng cường giúp đỡ và hợp tác với cách mạng Lào trong giai đoạn
mới, xác định: việc tăng cường đoàn kết, giúp đỡ, hợp tác đối với Lào là một trong
những nhiệm vụ quốc tế hàng đầu của Đảng và nhân dân Việt Nam Từ ngày 15đến ngày 18-7-1977, Đoàn đại biểu cao cấp Đảng và Chính phủ Việt Nam doTổng Bí thư Lê Duẩn và Thủ tướng Phạm Văn Đồng dẫn đầu sang thăm hữu nghịchính thức Lào Hai bên đã trao đổi ý kiến về các vấn đề quốc tế quan trọng màhai bên cùng quan tâm, cũng như các vấn đề nhằm phát triển mối quan hệ hữunghị, hợp tác giữa Đảng, Chính phủ và nhân dân hai nước, trên cơ sở đáp ứngnguyện vọng thiết tha và lợi ích sống còn của hai dân tộc trong sự nghiệp bảo vệđộc lập dân tộc và xây dựng chủ nghĩa xã hội
Ngày 18 tháng 7 năm 1977, hai nước chính thức ký kết các Hiệp ước:
Hiệp ước hữu nghị và hợp tác giữa Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào; Hiệp ước hoạch định biên giới quốc gia giữa nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào;
và ra Tuyên bố chung tăng cường sự tin cậy và hợp tác lâu dài giữa hai nước Hiệp
ước hữu nghị và hợp tác giữa Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào là Hiệp ước toàn diện, mang tính chiến lược lâu dài, tạo
cơ sở chính trị và pháp lý quan trọng để củng cố và tăng cường lâu dài tình đoànkết, mối quan hệ đặc biệt Việt Nam – Lào, mốc lịch sử quan trọng đánh dấu bướcngoặt mới trong quan hệ giữa hai nước
Ngày 3-7-1987, Ban Bí thư Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam chỉ thị:
“Trên cơ sở quán triệt đường lối đối ngoại của Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI,các Nghị quyết 10 và 11 của Bộ Chính trị về tăng cường đoàn kết, hợp tác toàn diệnvới Lào và Campuchia và nội dung thỏa thuận trong các cuộc hội đàm lần này6[7],
6
Trang 14các bộ ban ngành và các tỉnh trực tiếp làm nhiệm vụ hợp tác với bạn cần kiểmđiểm, rút kinh nghiệm, kiên quyết xử lý và có biện pháp chấm dứt các hiện tượngtiêu cực, các quan điểm, nhận thức và hành động sai trái gây phương hại cho quan
hệ đặc biệt giữa ta với Lào”7[8] Về phía Lào, Ban Bí thư Trung ương Đảng Nhândân cách mạng Lào cũng khẳng định: “Xuất phát từ truyền thống lịch sử và tìnhhình, nhiệm vụ chiến lược của cách mạng ba nước, sự tăng cường liên minh hợptác toàn diện giữa ba Đảng, ba nước Lào – Việt Nam – Campuchia mới trở thànhnhiệm vụ chiến lược số một, là nguyên tắc cách mạng bất di bất dịch của mỗinước, là vấn đề sống còn của mỗi nước”8[9] Đặc biệt, Chỉ thị của Ban Bí thư ĐảngNhân dân cách mạng Lào ghi rõ: “hai bên nhất trí phải tăng cường giáo dục chocán bộ, đảng viên và nhân dân hiểu rõ quan hệ đoàn kết sống còn và lâu dài, quántriệt quan điểm, phương châm nguyên tắc của mối quan hệ trong giai đoạn cáchmạng mới, uốn nắn tư tưởng và tác phong làm việc mới, tránh những bảo thủ, chủquan, chống mọi hiện tượng lơ là mất cảnh giác, thiếu trách nhiệm, chống tưtưởng dân tộc hẹp hòi”9[10]
Theo tinh thần đó, từ năm 1988, cuộc gặp hàng năm giữa hai Bộ Chính trị
đã trở thành một cơ chế hoạt động chính thức giữa hai Đảng và hai Nhà nước.Trong đó có sự kiện có ý nghĩa quan trọng đánh dấu bước phát triển mới trongquan hệ hợp tác toàn diện Việt Nam là chuyến thăm hữu nghị chính thức nướcCộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào của Đoàn đại biểu Đảng Cộng sản Việt Nam doTổng Bí thư Nguyễn Văn Linh dẫn đầu từ ngày 2 đến ngày 4 -7-1989 Đây làchuyến thăm Lào chính thức đầu tiên của lãnh đạo cấp cao Đảng Cộng sản ViệtNam từ sau Đại hội IV Đảng Nhân dân Cách mạng Lào Hai bên thống nhất vớinhau nhiều vấn đề quan trọng trong việc đổi mới phương thức hợp tác giữa hainước và giải quyết các vấn đề quốc tế và khu vực Thành tựu nổi bật nhất của
quan hệ hợp tác chính trị Việt Nam – Lào trong giai đoạn này là hai nước vẫn
kiên định giữ vững định hướng chính trị theo con đường xã hội chủ nghĩa.
Tháng 10 năm 1991, đồng chí Cayxỏn Phômvihản, Tổng Bí thư Đảng Nhândân Cách mạng Lào và Đoàn đại biểu cấp cao Đảng Nhân dân Cách mạng Lào thămchính thức Việt Nam Hai bên khẳng định quyết tâm trước sau như một là tăngcường, củng cố và nâng cao quan hệ đoàn kết đặc biệt Lào – Việt Nam, Việt Nam –Lào, đẩy mạnh hợp tác kinh tế, định kỳ trao đổi cấp Thứ trưởng Ngoại giao giữa hainước nhằm phối hợp chặt chẽ các hoạt động ngoại giao trên các diễn đàn quốc tế
Từ đó đến nay, trung bình mỗi năm, hai Đảng cử trên 30 đoàn từ cấp Trungương đến cấp tỉnh sang trao đổi với nhau những kinh nghiệm về giữ vững định
7
8
9
Trang 15hướng xã hội chủ nghĩa, về công tác tư tưởng, lý luận, công tác dân vận Quan hệgiữa các bộ, ban, ngành, đoàn thể, địa phương, nhất là các tỉnh biên giới kết nghĩađều có những trao đổi hợp tác và mối quan hệ đó ngày càng đi vào chiều sâu vớinội dung thiết thực và có hiệu quả Đặc biệt, hai bên phối hợp nghiên cứu, biên
soạn công trình Lịch sử quan hệ đặc biệt Việt Nam – Lào, Lào – Việt Nam (1930 –
2007) nhằm tổng kết quá trình liên minh chiến đấu và hợp tác toàn diện Việt Nam
– Lào, Lào – Việt Nam, đúc kết những bài học kinh nghiệm phục vụ cho việc tiếptục xây dựng và phát triển quan hệ đặc biệt Việt Nam – Lào, Lào – Việt Nam lênmột tầm cao mới
Mối quan hệ đặc biệt Việt Nam -Lào, Lào -Việt Nam quý báu và thiêngliêng đã được Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại đúc kết trong 4 câu thơ bất hủ:
"Thương nhau mấy núi cũng trèo, Mấy sông cũng lội, mấy đèo cũng qua.
Việt - Lào, hai nước chúng ta, Tình sâu hơn nước Hồng Hà, Cửu Long".
Chủ tịch Kayxỏn Phômvihản cũng đã khẳng định: "Trong lịch sử cách
mạng thế giới, đã có nhiều tấm gương chói sáng về tinh thần quốc tế vô sản, nhưng chưa ở đâu và chưa bao giờ, có được sự đoàn kết liên minh chiến đấu đặc biệt, lâu dài và toàn diện như quan hệ Lào - Việt Nam"; "Núi có thể mòn, sông có thể cạn, song tình nghĩa Lào - Việt Nam mãi mãi vững bền hơn núi, hơn sông" Cùng với cả nước, mối quan hệ giữa tỉnh Quảng Trị với hai tỉnh
Savẳn nakhệt, Salavăn của nước Cộng hoà Dân chủ Nhân dân Lào cũng khôngngoài truyền thống quý báu đó
Phát huy truyền thống trong chiến đấu, ngày nay trong sự nghiệp xây dựngđất nước, với lợi thế Quảng Trị có chung 206 km đường biên giới, chính quyền 3tỉnh Quảng Trị, Savẳnnakhệt và Salavăn thường xuyên phối hợp tổ chức các cuộchội thảo quảng bá đầu tư, cải cách thủ tục hành chính tại cửa khẩu Quốc tế LaoBảo, Đensavẳn và cửa khẩu Quốc gia La Lay nhằm khuyến khích giao lưu pháttriển kinh tế, thương mại, du lịch và tạo điều kiện bà con 2 bên biên giới qua lạithăm thân, trao đổi hàng hoá, tham quan, du lịch Quan hệ buôn bán giữa cácdoanh nghiệp và các tổ chức kinh tế của Quảng Trị và các tỉnh biên giới của Làotừng bước được xác lập và bước đầu đạt kết quả tốt Các Công ty du lịch của 3tỉnh Quảng Trị - Việt Nam, Savẳnnakhệt - Lào và Mụcđahản - Thái Lan đã có cácchương trình hợp tác đưa đón khách tham quan du lịch theo tour " Một ngày ăncơm 3 nước" ngày càng thu hút nhiều khác trong và ngoài nước Các Sở, Ban,ngành, đoàn thể, tổ chức xã hội, các lực lượng Công an, Quân sự, Bộ đội biênphòng, Hải quan tỉnh Quảng Trị và tỉnh Savẳnnakhệt, tỉnh Salavăn định kỳ có cáccuộc gặp gỡ giao lưu, học hỏi kinh nghiệm lẫn nhau Công an, Biên phòng cáchuyện biên giới cũng thường xuyên phối hợp với nhau trong công tác nắm tìnhhình, điều tra cơ bản bổ sung các tuyến điểm, địa bàn trọng điểm để hoàn chỉnh kế
Trang 16hoạch đấu tranh phòng chống tội phạm Nhờ vậy, đường biên, cột mốc giữa cáctỉnh luôn được bảo vệ nguyên trạng; tình hình an ninh chính trị, trật tự an toàn xãhội trong khu vực biên giới của hai bên luôn được giữ vững
Hiện nay, các thế lực thù địch đang thực hiện các âm mưu “diễn biến hòabình” với nhiều thủ đoạn nhằm phá hoại, chia rẽ tình đoàn kết hữu nghị đặc biệtViệt- Lào và công cuộc xây dựng CNXH ở mỗi nước Hai Đảng, hai Nhà nướcViệt Nam- Lào tiếp tục khẳng định ý chí, quyết tâm tăng cường quan hệ hữu nghịhợp tác toàn diện nhằm góp phần thực hiện thắng lợi nhiệm vụ cách mạng ở mỗinước, giữ gìn và phát triển tình hữu nghị láng giềng gắn bó keo sơn này
Để thực hiện thắng lợi nhiệm vụ vẻ vang đó, Đảng bộ, chính quyền và nhândân tỉnh Quảng Trị cùng với Đảng bộ, chính quyền và nhân dân 2 tỉnh Quảng Trị,Savẳnnakhệt, Salavăn sẽ làm hết sức mình, tiếp tục đổi mới phương thức, nộidung, cơ chế phù hợp trên tất cả các lĩnh vực hoạt động thúc đẩy quan hệ hữunghị hợp tác toàn diện lên tầm cao mới và càng phát triển bền vững
Chuyên đề 3 VAI TRÒ CỦA CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH, CHỦ TỊCH CAY XỎN PHÔMVIHẢN, CHỦ TỊCH XUPHANUVÔNG VÀ CÁC NHÀ LÃNH ĐẠO CẤP CAO CỦA HAI ĐẢNG, HAI NHÀ NƯỚC TRONG QUÁ TRÌNH XÂY
DỰNG VÀ PHÁT TRIỂN QUAN HỆ ĐẶC BIỆT VIỆT NAM – LÀO, LÀO - VIỆT NAM.
Trong lịch sử quan hệ quốc tế từ xưa tới nay, quan hệ Việt Nam - Lào, Lào– Việt Nam là quan hệ đặc biệt, là một điển hình, một tấm gương mẫu mực, hiếm
có về sự gắn kết bền chặt, thuỷ chung, trong sáng và đầy hiệu quả giữa hai dân tộcđấu tranh vì độc lập, tự do và tiến bộ xã hội Quan hệ đặc biệt Việt Nam - Lào,Lào - Việt Nam phát triển từ quan hệ truyền thống, do Chủ tịch Hồ Chí Minh xâydựng nền móng và chính Người cùng đồng chí Kayxỏn Phômvihản, đồng chíXuphanuvông và các thế hệ lãnh đạo hai Đảng, hai Nhà nước, nhân dân hai nướcdày công vun đắp; đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Đông Dương, ĐảngNhân dân Cách mạng Lào và Đảng Cộng sản Việt Nam:
Chủ tịch Hồ Chí Minh, người đặt nền móng cho quan hệ đặc biệt Việt Nam – Lào, Lào – Việt Nam.
Trong những thập kỷ đầu thế kỷ XX, chính Nguyễn Ái Quốc, với lòng yêunước nồng nàn và nghị lực phi thường, vượt lên mọi khó khăn, gian khổ, đã tựmình khám phá thế giới tư bản chủ nghĩa và các dân tộc thuộc địa, nhằm phát hiệnchân lý cứu nước Người tiếp nhận và vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác – Lêninvào điều kiện cụ thể của Đông Dương để xác định con đường giải phóng các dântộc Việt Nam, Lào, Campuchia theo con đường cách mạng vô sản
Trang 17Liên quân Việt - Lào trước giờ xuất trận năm
Ái Quốc vào Đông Dương Năm 1928, đích thân Người bí mật tổ chức khảo sátthực địa tại Lào (2) càng cho thấy mối quan hệ gắn bó mật thiết giữa cách mạngViệt Nam và cách mạng Lào Cũng trong năm này, chi bộ Thanh niên cộng sảnđầu tiên được thành lập tại Viêng Chăn, đồng thời đường dây liên lạc giữa nhiềuthị trấn ở Lào với Việt Nam được tổ chức
Như vậy, Lào trở thành địa bàn đầu tiêntrên hành trình trở về Đông Dương của Nguyễn
Ái Quốc, nơi bổ sung những cơ sở thực tiễn mớicho công tác chính trị, tư tưởng và tổ chức củaNgười về phong trào giải phóng dân tộc ở banước Đông Dương Quá trình Nguyễn Ái quốcđặt nền móng cho quan hệ đặc biệt Việt Nam –Lào, Lào – Việt Nam báo hiệu bước ngoặt lịch sửtrọng đại sắp tới của cách mạng Việt Nam cũngnhư cách mạng Lào
Ngày 3 -02-1930, Đảng Cộng sản Việt Nam
do chủ tịch Hồ Chí Minh sáng lapạ đã ra đời tiền thân của Đảng Cộng sản Đông Dương cũng
là sự mở đầu những trang sử vẻ vang của quan hệ đặc biệt Việt Nam Lào, Lào Việt Nam
-Trên cơ sở sự phát triển của tổ chức Đảng ở Lào, tháng 9 năm 1934, Ban
Chấp hành Đảng bộ lâm thời Ai Lao (tức Xứ uỷ lâm thời Ai Lao) được thành lập.
Sự ra đời của Xứ uỷ Ai Lao là một dấu mốc quan trọng trong lịch sử đấu tranhyêu nước của nhân dân các bộ tộc Lào, khẳng định trên thực tế vai trò lãnh đạocủa Đảng bộ Lào đối với cách mạng Lào cũng như đánh dấu một bước phát triểnmới trong quan hệ giữa phong trào cách mạng hai nước Việt Nam - Lào, Lào -Việt Nam
Trang 18Trong suốt quá trình lãnh đạo phong trào cách mạng, Đảng Cộng sản ĐôngDương còn đề ra những chủ trương và giải pháp cụ thể chỉ đạo các cấp bộ Đảng
và phong trào cách mạng Đông Dương cũng như tăng cường sự quan hệ mật thiết,nương dựa lẫn nhau của hai dân tộc Việt Nam và Lào trên hành trình đấu tranhgiành tự do, độc lập cho mỗi dân tộc Điều này thêm một lần nữa khẳng định: quátrình chuẩn bị công phu về mọi mặt chính trị, tư tưởng, và tổ chức cho cách mạngViệt Nam, đồng thời với việc quan tâm xây dựng nhân tố bên trong cho cáchmạng Lào, cả về phương diện tổ chức lẫn chỉ đạo thực tiễn của lãnh tụ Nguyễn ÁiQuốc đã thật sự tạo ra nền tảng hoàn toàn mới về chất cho lớp người cộng sảnĐông Dương đầu tiên, bất luận họ là người Việt Nam, người Lào, hay là ngườiCampuchia Đây chính là nền móng vững chắc của quan hệ đặc biệt Việt Nam-Lào, Lào-Việt Nam mà Nguyễn Ái Quốc là kiến trúc sư vĩ đại của tình đoàn kếtđặc biệt đó
Chủ tịch Hồ Chí Minh cùng đồng chí Kayxỏn Phômvihản, đồng chí Xuphanuvông và các thế hệ lãnh đạo hai Đảng, hai Nhà nước, nhân dân hai nước dày công vun đắp mối quan hệ đặc biệt Việt Nam-Lào, Lào-Việt Nam.
Ngay sau khi nước Việt Nam dân chủ cộng hoà ra đời, Chủ tịch Hồ ChíMinh mời Hoàng thân Xuphanuvông đang ở Vinh ra Hà Nội và tiếp Hoàng thân.Cuộc gặp gỡ đã có tác động mạnh mẽ, quyết định đối với Hoàng thân trong việcchọn lựa con đường làm cách mạng Ngày 3-10-1945, tại cuộc mít tinh của hàngvạn nhân dân tỉnh Savẳnnakhệt đón chào Hoàng thân Xuphanuvông trở về tham
gia chính phủ Lào, Hoàng thân tuyên bố: “Quan hệ Lào - Việt từ nay sẽ mở ra một
kỷ nguyên mới ” Hình ảnh, uy tín, quyết tâm làm cách mạng, cứu nước và
những lời nói tốt đẹp của Hoàng thân về quan hệ Lào - Việt đã tác động lớn laođến sự hưởng ứng, tham gia cách mạng của các tầng lớp nhân dân Lào, càng tạothêm chất keo gắn kết tình cảm của nhân dân Lào với Việt kiều cũng như với ViệtNam Chính phủ Lào Ítxalạ (Lào tự do) vừa được thành lập cũng đã chủ trương:
“Nhân dân Lào thân thiện với nhân dân Việt Nam và quyết tâm cùng nhân dân
Khăm Mạo tuyên bố với Việt kiều: “mong rằng ba nước Việt, Miên, Lào bắt tay
đầu tiên cho sự hợp tác giúp đỡ và liên minh chiến đấu chống kẻ thù chung củahai dân tộc Việt - Lào
Sau khi giành được chính quyền, nhân dân hai nước Việt Nam, Lào hơn lúcnào hết, chỉ mong muốn được sống trong hòa bình, tiếp tục hợp tác, cùng nhaubảo vệ nền độc lập và xây dựng lại đất nước nhưng ngày 23 tháng 9 năm 1945,thực dân Pháp được sự đồng lõa của quân Anh, nổ súng đánh chiếm thành phố SàiGòn Tiếp đó, chúng mở rộng chiến tranh ra toàn Nam Bộ, Nam Trung Bộ củaViệt Nam, sang Campuchia, Hạ Lào, rồi toàn cõi Đông Dương
Trang 19Trước nguy cơ tồn vong nền độc lập dân tộc của ba nước Việt Nam – Lào Campuchia, ngày 25-11-1945, Ban chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Đông
-Dương ra Chỉ thị Kháng chiến kiến quốc để chỉ đạo sự nghiệp giải phóng dân tộc của ba nước Đông Dương Chỉ thị chủ trương: “Thống nhất mặt trận Việt- Miên-
Lào chống Pháp xâm lược” và nêu rõ nhiệm vụ: “Tăng cường công tác vũ trangtuyên truyền vận động quần chúng nhân dân ở thôn quê, làm cho mặt trận khángPháp của Lào – Việt lan rộng và chiến tranh du kích nảy nở ở thôn quê, đặng baovây lại quân Pháp ở nơi sào huyệt của chúng và quét sạch chúng khỏi đất Lào” (6)
Đảng và Chính phủ Việt Nam, đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn coinhiệm vụ giúp cách mạng Lào như mình tự giúp mình để cùng phối hợp chiếnđấu, đánh đuổi kẻ thù chung, giành độc lập tự do cho mỗi nước trên bán đảo ĐôngDương Thấm nhuần quan điểm quốc tế cao cả của Đảng Lao động Việt Nam vàcủa Chủ tịch Hồ Chí Minh, nhân dân Việt Nam từ tiền tuyến đến hậu phương sẵnsàng chia sẻ những thuận lợi, cùng khắc phục khó khăn, cử nhiều người con yêudấu của mình sang phối hợp cùng bạn Lào đẩy mạnh chiến tranh du kích, pháttriển lực lượng kháng chiến
Nhân dịp giành được thắng lợi trong cuộc đấu tranh thực hiện hoà hợp dântộc, thống nhất quốc gia, thành lập Chính phủ Liên hiệp, ngày 10 tháng 1 năm
1958, Ban Chỉ đạo Đảng Nhân dân Lào gửi thư cho Chủ tịch Hồ Chí Minh và Ban
Chấp hành Trung ương Đảng Lao động Việt Nam khẳng định: “Sở dĩ cách mạng
Lào đạt được những thắng lợi to lớn đó là do tinh thần đoàn kết đấu tranh anh dũng kiên cường của nhân dân, cán bộ, chiến sĩ Lào dưới sự lãnh đạo của Đảng Nhân dân Lào, đồng thời cũng do sự đóng góp quan trọng của đồng chí và Trung ương Đảng Lao động Việt Nam đã hết lòng theo dõi, giúp đỡ chúng tôi trong mỗi giai đoạn của cách mạng”.
Những thắng lợi trên thể hiện nấc thang phát triển mới của lực lượng cáchmạng Lào, đồng thời khẳng định sức mạnh to lớn của quan hệ đoàn kết chiến đấugiữa quân và dân hai nước Việt Nam – Lào, trong đó thể hiện tình cảm chân thànhnhất mực, sắt son của Việt Nam đối với sự nghiệp cách mạng Lào, như đồng chíCay xỏn Phômvihản phát biểu trong cuộc hội đàm giữa Đảng Nhân dân Lào và
Đảng Lao động Việt Nam (12-1968) đã nhấn mạnh: “Sự giúp đỡ của Việt Nam
cho cách mạng Lào hết sức tận tình và vô tư Việt Nam đã giúp Lào cả vật chất và xương máu Xương máu của nhân dân Việt Nam đã nhuộm đỏ khắp nơi trên đất nước Lào vì nền độc lập của Lào… Sự giúp đỡ của Việt Nam đối với Lào đã xây dựng nên mối quan hệ đặc biệt, thực tế đó cũng là sự vận dụng đúng đắn chủ nghĩa Mác – Lênin và chủ nghĩa quốc tế vô sản”
Thấm nhuần lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Giúp bạn là mình tự giúp
mình”, coi nhân dân bạn như nhân dân mình, coi sự nghiệp cách mạng của bạn là
trách nhiệm của mình, trong suốt 30 năm chiến tranh giải phóng, các thế hệ cán
bộ, chiến sĩ quân tình nguyện và đội ngũ chuyên gia Việt Nam làm nhiệm vụ quốc
Trang 20tế ở Lào luôn kề vai sát cánh và cùng với bạn, vừa chiến đấu chống địch càn quétlấn chiếm, vừa tiến hành xây dựng và củng cố các đoàn thể, chính quyền khángchiến, xây dựng và bảo vệ vùng giải phóng, tăng cường lực lượng vũ trang, pháttriển chiến tranh du kích trên khắp các khu vực Thượng, Trung và Hạ Lào Đồngthời, thực tiễn chiến đấu, công tác trên các chiến trường Lào cũng là cơ hội bồidưỡng, rèn luyện rất bổ ích về các mặt quân sự, chính trị, nhất là nâng cao thêmtinh thần đoàn kết quốc tế cho cán bộ, chiến sĩ quân tình nguyện và đội ngũchuyên gia Việt Nam.
Sau năm 1975, quan hệ Việt Nam và Lào bước sang trang mới: từ liên minhchiến đấu chung một chiến hào sang hợp tác toàn diện giữa hai quốc gia có độc lậpchủ quyền Cuộc cách mạng khoa học công nghệ đang diễn ra như vũ bão, đẩy nhanh
xu thế quốc tế hoá, toàn cầu hoá trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội Do đó,các nước đang phát triển trong đó có Việt Nam và Lào đều có cơ hội và điều kiện thuhút vốn đầu tư, kinh nghiệm quản lý, sử dụng các thành tựu khoa học công nghệ củathế giới để đẩy nhanh quá trình phát triển kinh tế, xây dựng đất nước…
Năm 1976, ngay sau thành lập nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào, Lào
và Việt Nam đã đạt được thỏa thuận quan trọng trong vòng hai tháng rút toàn bộquân đội và chuyên gia Việt Nam về nước và bắt đầu xúc tiến việc hoạch địnhbiên giới quốc gia giữa hai nước Tuy nhiên, lợi dụng cơ hội này, bọn phản độngtrong nước Lào, với sự hỗ trợ của các thế lực thù địch quốc tế, đã hoạt động nổidậy ở nhiều nơi Do vận mệnh của hai nước liên đới lẫn nhau nên mối quan tâmhàng đầu về an ninh chính trị của Lào cũng là mối quan tâm thường trực của ViệtNam Ngày 30 tháng 4 năm 1976, Bộ Chính trị Trung ương Đảng Lao động Việt
Nam ra Nghị quyết Về tăng cường giúp đỡ và hợp tác với cách mạng Lào trong
giai đoạn mới, xác định: việc tăng cường đoàn kết, giúp đỡ, hợp tác đối với Lào là
một trong những nhiệm vụ quốc tế hàng đầu của Đảng và nhân dân Việt Nam,cũng là vì lợi ích thiết thân của cách mạng Việt Nam
Đặc biệt, từ ngày 15 đến ngày 18 tháng 7 năm 1977, Đoàn đại biểu cao cấpĐảng và Chính phủ Việt Nam do Tổng Bí thư Lê Duẩn và Thủ tướng Phạm VănĐồng dẫn đầu sang thăm hữu nghị chính thức Lào Hai bên đã trao đổi ý kiến vềcác vấn đề quốc tế quan trọng mà hai bên cùng quan tâm, cũng như các vấn đềnhằm phát triển mối quan hệ hữu nghị, hợp tác giữa Đảng, Chính phủ và nhân dânhai nước, trên cơ sở đáp ứng nguyện vọng thiết tha và lợi ích sống còn của hai dântộc trong sự nghiệp bảo vệ độc lập dân tộc và xây dựng chủ nghĩa xã hội Ngày 18
tháng 7 năm 1977, hai nước chính thức ký kết các Hiệp ước: Hiệp ước hữu nghị
và hợp tác giữa Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào; Hiệp ước hoạch định biên giới quốc gia giữa nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào; và ra Tuyên bố chung
tăng cường sự tin cậy và hợp tác lâu dài giữa hai nước
Trang 21Hiệp ước hữu nghị và hợp tác giữa Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào là Hiệp ước toàn diện, mang tính chiến lược lâu
dài, tạo cơ sở chính trị và pháp lý quan trọng để củng cố và tăng cường lâu dàitình đoàn kết, mối quan hệ đặc biệt Việt Nam – Lào, Lào – Việt Nam Hiệp ước
có giá trị trong 25 năm và sẽ được mặc nhiên gia hạn thêm từng 10 năm nếu mộttrong hai bên không thông báo cho bên kia muốn hủy bỏ Hiệp ước ít nhất là mộtnăm trước khi hết hạn Hiệp ước nêu rõ: Hai bên cam kết ra sức bảo vệ và pháttriển mối quan hệ đặc biệt Việt Nam – Lào, Lào – Việt Nam, không ngừng tăngcường tình đoàn kết và tin cậy lẫn nhau, sự hợp tác lâu dài và giúp đỡ lẫn nhau về
mọi mặt trên tinh thần của chủ nghĩa quốc tế vô sản và theo nguyên tắc hoàn toàn
bình đẳng, tôn trọng độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của nhau, tôn trọng lợi ích chính đáng của nhau, không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau Đây
là mốc lịch sử quan trọng đánh dấu bước ngoặt mới trong quan hệ giữa hai nước.
Việc ký kết hiệp ước đó còn có ý nghĩa quốc tế quan trọng, nêu cao tinh thần quốc
tế trong sáng giữa hai nước đang cùng hướng tới mục tiêu chủ nghĩa xã hội vàphát huy ảnh hưởng tích cực trong khu vực
Hiệp ước hoạch định biên giới quốc gia là một biểu hiện tốt đẹp của việc
giải quyết vấn đề lợi ích dân tộc trên tinh thần kết hợp nhuần nhuyễn chủ nghĩayêu nước chân chính với chủ nghĩa quốc tế vô sản trong sáng, là mẫu mực vềchính sách láng giềng hữu nghị của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam vànước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào
Từ khi hai nước tiến hành đổi mới vào năm 1986,lãnh đạo cấp cao hai Đảng hai Nhà nước càng tăng cường cũng cố quan hệ hợp tác toàn diện Việt Nam - Lào, Lào - Việt Nam
Ngày 3-7-1987, Ban Bí thư Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam chỉ thị:
“Trên cơ sở quán triệt đường lối đối ngoại của Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI,các Nghị quyết 10 và 11 của Bộ Chính trị về tăng cường đoàn kết, hợp tác toàn diệnvới Lào và Campuchia và nội dung thỏa thuận trong các cuộc hội đàm lầnnày10[11], các bộ ban ngành và các tỉnh trực tiếp làm nhiệm vụ hợp tác với bạn cầnkiểm điểm, rút kinh nghiệm, kiên quyết xử lý và có biện pháp chấm dứt các hiệntượng tiêu cực, các quan điểm, nhận thức và hành động sai trái gây phương hại choquan hệ đặc biệt giữa ta với Lào”11[12] Về phía Lào, Ban Bí thư Trung ương ĐảngNhân dân cách mạng Lào cũng khẳng định: “Xuất phát từ truyền thống lịch sử vàtình hình, nhiệm vụ chiến lược của cách mạng ba nước, sự tăng cường liên minhhợp tác toàn diện giữa ba Đảng, ba nước Lào – Việt Nam – Campuchia mới trởthành nhiệm vụ chiến lược số một, là nguyên tắc cách mạng bất di bất dịch củamỗi nước, là vấn đề sống còn của mỗi nước”12[13] Đặc biệt, Chỉ thị của Ban Bí thưĐảng Nhân dân cách mạng Lào ghi rõ: “hai bên nhất trí phải tăng cường giáo dục
10
11
Trang 22cho cán bộ, đảng viên và nhân dân hiểu rõ quan hệ đoàn kết sống còn và lâu dài,quán triệt quan điểm, phương châm nguyên tắc của mối quan hệ trong giai đoạncách mạng mới, uốn nắn tư tưởng và tác phong làm việc mới, tránh những bảothủ, chủ quan, chống mọi hiện tượng lơ là mất cảnh giác, thiếu trách nhiệm, chống
tư tưởng dân tộc hẹp hòi”
Theo tinh thần đó, từ năm 1988, cuộc gặp hàng năm giữa hai Bộ Chính trị
đã trở thành một cơ chế hoạt động chính thức giữa hai Đảng và hai Nhà nước.Trong đó có sự kiện có ý nghĩa quan trọng đánh dấu bước phát triển mới trongquan hệ hợp tác toàn diện Việt Nam là chuyến thăm hữu nghị chính thức nướcCộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào của Đoàn đại biểu Đảng Cộng sản Việt Nam doTổng Bí thư Nguyễn Văn Linh dẫn đầu từ ngày 2 đến ngày 4 -7-1989 Đây làchuyến thăm Lào chính thức đầu tiên của lãnh đạo cấp cao Đảng Cộng sản ViệtNam từ sau Đại hội IV Đảng Nhân dân Cách mạng Lào Hai bên thống nhất vớinhau nhiều vấn đề quan trọng trong việc đổi mới phương thức hợp tác giữa hainước và giải quyết các vấn đề quốc tế và khu vực Thành tựu nổi bật nhất của
quan hệ hợp tác chính trị Việt Nam – Lào trong giai đoạn này là hai nước vẫn
kiên định giữ vững định hướng chính trị theo con đường xã hội chủ nghĩa.
Tháng 10 năm 1991, đồng chí Cayxỏn Phômvihản, Tổng Bí thư Đảng Nhândân Cách mạng Lào và Đoàn đại biểu cấp cao Đảng Nhân dân Cách mạng Làothăm chính thức Việt Nam Hai bên khẳng định quyết tâm trước sau như một tăngcường, củng cố và nâng cao quan hệ đoàn kết đặc biệt Lào – Việt Nam, Việt Nam –Lào, đẩy mạnh hợp tác kinh tế, định kỳ trao đổi cấp Thứ trưởng Ngoại giao giữa hainước nhằm phối hợp chặt chẽ các hoạt động ngoại giao trên các diễn đàn quốc tế
Từ đó đến nay, trung bình mỗi năm, hai Đảng cử trên 30 đoàn từ cấp Trungương đến cấp tỉnh sang trao đổi với nhau những kinh nghiệm về giữ vững địnhhướng xã hội chủ nghĩa, về công tác tư tưởng, lý luận, công tác dân vận Quan hệgiữa các bộ, ban, ngành, đoàn thể, địa phương, nhất là các tỉnh biên giới kết nghĩađều có những trao đổi hợp tác và mối quan hệ đó ngày càng đi vào chiều sâu vớinội dung thiết thực và có hiệu quả Đặc biệt, hai bên phối hợp nghiên cứu, biên
soạn công trình Lịch sử quan hệ đặc biệt Việt Nam – Lào, Lào – Việt Nam từ 1930 – 2007 nhằm tổng kết quá trình liên minh chiến đấu và hợp tác toàn diện Việt
Nam – Lào, Lào – Việt Nam, đúc kết những bài học kinh nghiệm phục vụ choviệc tiếp tục xây dựng và phát triển quan hệ đặc biệt Việt Nam – Lào, Lào – ViệtNam lên một tầm cao mới
Tháng 6 năm 2011, Tổng Bí thư, Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Phú Trọng đãthăm hữu nghị chính thức CHDCND Lào, tiếp tục khẳng định mong muốn vàquyết tâm của Đảng, Nhà nước và nhân dân Việt Nam trong việc gìn giữ, phát huyquan hệ đặc biệt Việt Nam - Lào như một tài sản chung vô giá của hai dân tộc.Cũng trong năm 2011, hai bên đã trao đổi nhiều đoàn lãnh đạo Quốc hội và đạibiểu Quốc hội của hai nước, phối hợp tổ chức thành công nhiều hoạt động giao
12
Trang 23lưu giữa các cơ quan của hai Quốc hội như: Hội thảo giao lưu giữa Ủy ban Đốingoại Quốc hội Việt Nam - Lào tại Hội An (Việt Nam) vào tháng 6/2011; Hộithảo giữa ba Ủy ban Đối ngoại Quốc hội Việt Nam - Lào - Campuchia tạiChămpaxắc (Lào) vào tháng 7/2011; Hội thảo giao lưu giữa Văn phòng Quốc hộiViệt Nam - Lào tại Savẳnnakhệt (Lào) vào tháng 7/2011; Hội thảo giữa hai Ủyban Văn hóa, Giáo dục, Thanh niên, Thiếu niên và Nhi đồng của hai Quốc hộitháng 2/2011 tại Lào, qua đó tăng cường hiểu biết, tin cậy và quan hệ hợp tác toàndiện giữa hai Quốc hội nói riêng, hai Đảng, Nhà nước và nhân dân hai nước ViệtNam - Lào nói chung.
Tháng 8/2011,Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Lào Chummaly xaynhasỏn dẫnđầu Ðoàn đại biểu cấp cao Lào sang thăm Việt Nam tiếp tục góp phần thắt chặthơn nữa mối quan hệ truyền thống, hữu nghị vĩ đại, tình đoàn kết đặc biệt và sựhợp tác toàn diện giữa hai Ðảng, hai Nhà nước và nhân dân hai nước Lào - ViệtNam phát triển lên tầm cao mới, vì lợi ích của nhân dân hai nước Lào - Việt Nam,
vì hòa bình, ổn định, hợp tác và phát triển ở khu vực và trên thế giới
Mối quan hệ đặc biệt Việt Nam -Lào, Lào -Việt Nam quý báu và thiêngliêng đã được Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại đúc kết trong 4 câu thơ bất hủ:
"Thương nhau mấy núi cũng trèo, Mấy sông cũng lội, mấy đèo cũng qua.
Việt - Lào, hai nước chúng ta, Tình sâu hơn nước Hồng Hà, Cửu Long".
Chủ tịch Kayxỏn Phômvihản cũng đã khẳng định: "Trong lịch sử cách
mạng thế giới, đã có nhiều tấm gương chói sáng về tinh thần quốc tế vô sản, nhưng chưa ở đâu và chưa bao giờ, có được sự đoàn kết liên minh chiến đấu đặc biệt, lâu dài và toàn diện như quan hệ Lào - Việt Nam"; "Núi có thể mòn, sông có thể cạn, song tình nghĩa Lào - Việt Nam mãi mãi vững bền hơn núi, hơn sông"
Cùng với cả nước, mối quan hệ giữa tỉnh Quảng Trị với hai tỉnhSavẳnakhệt, Xalavăn của nước Cộng hoà Dân chủ Nhân dân Lào cũng khôngngoài truyền thống quý báu đó
Phát huy truyền thống trong chiến đấu, ngày nay trong sự nghiệp xây dựngđất nước với lợi thế Quảng Trị có chung 206 km đường biên giới, chính quyền 3tỉnh Quảng Trị, Savẳnnakhệt và Xalavăn thường xuyên phối hợp tổ chức các cuộchội thảo quảng bá đầu tư, cải cách thủ tục hành chính tại Cửa Khẩu Quốc tế LaoBảo, Đensavẳn và Cửa khẩu Quốc gia La Lay nhằm khuyến khích giao lưu pháttriển kinh tế, thương mại, du lịch và tạo điều kiện bà con 2 bên biên giới qua lạithăm thân, trao đổi hàng hoá, tham quan, du lịch Quan hệ buôn bán giữa cácdoanh nghiệp và các tổ chức kinh tế của Quảng Trị và các tỉnh biên giới của Làotừng bước được xác lập và bước đầu đạt kết quả tốt Các Công ty du lịch của 3
Trang 24tỉnh Quảng Trị - Việt Nam, Savannakhẹt - Lào và Mụcđahản - Thái Lan đã có cácchương trình hợp tác đưa đón khách tham quan du lịch theo tour " Một ngày ăncơm 3 nước" ngày càng thu hút nhiều khác trong và ngoài nước
Các Sở, Ban, ngành, đoàn thể, tổ chức xã hội, các lực lượng Công an, Quân
sự, Bộ đội biên phòng, Hải quan tỉnh Quảng Trị và tỉnh Savẳnnakhệt, tỉnhXalavăn định kỳ có các cuộc gặp gỡ giao lưu, học hỏi kinh nghiệm lẫn nhau.Công an, Biên phòng các huyện biên giới cũng thường xuyên phối hợp với nhautrong công tác nắm tình hình, điều tra cơ bản bổ sung các tuyến điểm, địa bàntrọng điểm để hoàn chỉnh kế hoạch đấu tranh phòng chống tội phạm Nhờ vậy,đường biên, cột mốc giữa các tỉnh luôn được bảo vệ nguyên trạng; tình hình anninh chính trị, trật tự an toàn xã hội trong khu vực biên giới của hai bên luôn đượcgiữ vững Vừa qua, tại Cửa khẩu Quốc tế Lao Bảo - Đensavẳn, tỉnh Quảng Trị làtỉnh đầu tiên trong 13 tỉnh, thành phố có chung đường biên giới với nước bạn Làođược triển khai xây dựng thí điểm và tỉnh Savănnakhệt (Lào) khởi công xây dựngcột mốc Quốc giới Việt Nam - Lào đoạn qua tỉnh Quảng Trị và Savănnakhet (mốc605-1 và 605-2) Đây là cặp mốc đầu tiên được khởi công xây dựng nằm trong dự
án tăng dày, tôn tạo hệ thống mốc Quốc giới Việt – Lào
Hiện nay, các thế lực thù địch đang thực hiện các âm mưu “diễn biến hòabình” với nhiều thủ đoạn nhằm phá hoại, chia rẽ tình đòan kết hữu nghị đặc biệtViệt- Lào và công cuộc xây dựng CNXH ở mỗi nước Hai Đảng, hai Nhà nướcViệt Nam- Lào tiếp tục khẳng định ý chí, quyết tâm tăng cường quan hệ hữu nghịhợp tác toàn diện nhằm góp phần thực hiện thắng lợi nhiệm vụ cách mạng ở mỗinước, giữ gìn và phát triển tình hữu nghị láng giềng gắn bó keo sơn này
Để thực hiện thắng lợi nhiệm vụ vẻ vang đó, Đảng bộ, chính quyền và nhândân tỉnh Quảng Trị cùng với Đảng bộ, chính quyền và nhân dân 2 tỉnh Quảng Trị,Savănnakhệt,Xalavăn sẽ làm hết sức mình, tiếp tục đổi mới phương thức, nộidung, cơ chế phù hợp trên tất cả các lĩnh vực hoạt động thúc đẩy quan hệ hữunghị hợp tác toàn diện lên tầm cao mới, trở thành mối quan hệ quốc tế mẫu mực,thuỷ chung trong sáng này ngày càng phát triển bền vững, trước mắt, thực hiệncác nội dung chương trình hợp tác mà lãnh đạo cao cấp 3 tỉnh đã ký kết hàng năm,góp phần cùng với hai Đảng, hai Nhà nước và nhân dân Việt Nam- Lào bảo vệ vànâng quan hệ đặc biệt lên tầm cao mới
C huyên đề 4 NHỮNG THÀNH TỰU CÓ Ý NGHĨA QUAN TRỌNG TRONG LỊCH SỬ
QUAN HỆ ĐẶC BIỆT VIỆT NAM - LÀO, LÀO - VIỆT NAM
Quan hệ đặc biệt Việt Nam - Lào đã ghi vào lịch sử dân tộc của hai nướcnhững trang chói ngời nhất về tinh thần quốc tế vô sản trong sáng, thủy chung, lâu
Trang 25dài và toàn diện, trở thành một trong những nhân tố bảo đảm phát triển của cáchmạng mỗi nước trên con đường phấn đấu vì độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội.
Kể từ khi lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc thành Đảng cộng sản Việt Nam vàotháng 2-1930 và sau đó đổi tên thành Đảng cộng sản Đông Dương (tháng 10-1930), mối quan hệ truyền thống, lâu đời của hai dân tộc được nâng lên thànhquan hệ đặc biệt, không ngừng được hai Đảng, hai Nhà nước, nhân dân hai nướcvun đắp và đạt được những thành tựu có ý nghĩa quan trọng
1 Hai dân tộc Việt Nam, Lào sát cánh bên nhau cùng tiến hành khởi nghĩa tháng Tám năm 1945, giành độc lập dân tộc
Hai tháng sau khi chiến tranh thế giới thứ hai bùng nổ, Đảng cộng sản ĐôngDương đã đưa ra những luận điểm và chủ trương quan trọng chuẩn bị cho côngcuộc khởi nghĩa giành độc lập, tự do cho các dân tộc Việt Nam, Lào, Miên Dođiều kiện cụ thể khi kết thúc chiến tranh thế giới thứ hai, chỉ có hai nước ViệtNam, Lào tiến hành khởi nghĩa giành được độc lập
Từ cuối năm 1939 đến tháng 8-1945, tuy cách mạng Việt Nam và cáchmạng Lào bị chính quyền thực dân Pháp, Nhật đàn áp, khủng bố rất khốc liệt,nhiều cán bộ cao cấp của Đảng và đảng viên bị cầm tù và hy sinh, nhưng dưới sựlãnh đạo của lãnh tụ Hồ Chí Minh và Đảng cộng sản Đông Dương, công tác chuẩn
bị về mọi mặt cho công cuộc khởi nghĩa giành chính quyền vẫn được cán bộ, đảngviên, nhân dân hai nước tham gia tích cực và xúc tiến mạnh mẽ
Tại Việt Nam, căn cứ địa Việt Bắc, Mặt trận Việt Minh và nhiều tổ chứcquần chúng do Đảng lãnh đạo được thành lập; nhiều đơn vị vũ trang như Cứuquốc quân, Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân lần lượt ra đời Sau ngày Nhậtđảo chính Pháp (9-3-1945), Ban Thường vụ Trung ương Đảng cộng sản ĐôngDương ra Chỉ thị “Nhật - Pháp bắn nhau và hành động của chúng ta”, nhiều tỉnhthành lập chiến khu, khởi nghĩa từng phần ở nhiều địa phương miền Bắc và miềnTrung nổ ra thắng lợi
Ở Lào, đầu năm 1945, Xứ ủy Lào được lập lại lần thứ tư và xác định các đôthị và địa phương lớn như Viêng Chăn, Thà Khẹc, Savẳnnakhệt là địa bàn hoạtđộng chính Sau ngày Nhật đảo chính Pháp, phong trào cứu nước càng phát triểnmạnh mẽ Tổ chức Lào Itxalạ (Lào tự do) bao gồm công chức, học sinh có tinhthần yêu nước, chịu ảnh hưởng đường lối cứu nước Đảng cộng sản Đông Dương
ra đời, nhiều căn cứ địa cách mạng xuất hiện Tháng 6-1945, đơn vị Việt NamĐộc lập quân được thành lập ở chiến khu trên đất Thái Lan
Trung tuần tháng 8-1945, thời cơ giành độc lập cho Đông Dương xuất hiện,lãnh tụ Hồ Chí Minh và Ban chấp hành Trung ương Đảng cộng sản Đông Dươngquyết định Tổng khởi nghĩa và tiến hành Hội nghị toàn Đảng tại Tân Trào (TuyênQuang vào ngày 14 và 15-8-1945) Nghị quyết hội nghị nêu rõ: “Những điều kiệnkhởi nghĩa ở Đông Dương như đã chín muồi, cơ hội cho ta giành quyền độc lập đã
Trang 26tới”1 Vào thời điểm này, Bác Hồ gặp các đồng chí đại biểu Xứ ủy Lào, Ngườidặn: thời cơ rất thuận lợi cho nhân dân Đông Dương, ở đâu có điều kiện, phảigiành được chính quyền khi Đồng minh vào Pháp và Đồng minh Anh, Mỹ gắn bóvới nhau Pháp sẽ núp sau lưng Đồng minh để trở lại xâm lược Việt Nam, Lào,Miên, chúng ta phải đoàn kết để đánh kẻ thù chung.
Nhân dân hai nước Việt, Lào chớp thời cơ, tiến hành khởi nghĩa thành côngtháng 8-1945
Đó là kỳ tích đầu tiên của hai nước Việt Nam - Lào, của quan hệ đặc biệtViệt Nam - Lào, Lào - Việt Nam, đặt nền tảng vững chắc cho mối quan hệ pháttriển rực rỡ trong giai đoạn sau
2 Việt Nam, Lào đoàn kết, liên minh chiến đấu chống đế quốc xâm lược, hoàn thành sự nghiệp giải phóng dân tộc
Trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược lần thứ hai:
Hai dân tộc Việt Nam, Lào vừa giành được quyền độc lập, đã phải đối phóngay với thực dân Pháp quay trở lại xâm lược
Sau cách mạng tháng Tám, Việt Nam đứng trước những thử thách hết sứcnghiêm trọng Song Chủ tịch tịch Hồ Chí Minh và Đảng cộng sản Đông Dương đãphát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân, thực thi chính sách đối nội, đối ngoạiđúng đắn, đưa cách mạng vượt qua thác ghềnh, bảo vệ thành quả cách mạng thángTám, bước vào cuộc kháng chiến toàn quốc và thực hiện nghĩa vụ quốc tế đối vớicách mạng Lào
Một là, ngay từ khi mở đầu cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, chiến
trường Việt Nam, Lào đã bị các thế lực đế quốc vây hãm trên trên biển Đông vàlục địa, Trung ương Đảng cộng sản Đông Dương xác định nhiệm vụ “phải liênminh với các dân tộc bị áp bức và vô sản thế giới, đặc biệt với các nước lân cận đểcủng cố công cuộc cách mạng của mình” Trên tinh thần đó, Chủ tịch Hồ ChíMinh và Chính phủ Việt Nam chỉ đạo các cơ quan ngoại giao mở một con đườngngoại giao ở hướng tây nam từ Việt Nam qua Lào tới Thái Lan từ giữa năm 1946đến năm 1951 Đồng thời tranh thủ sự giúp đỡ của quốc gia Miến Điện (sau khiMiến Điện tuyên bố độc lập từ năm 1948) Chiến khu cách mạng của Lào được
mở tại Thái Lan, cán bộ và Việt kiều yêu nước trú chân tại Miến Điện để chuẩn bịlực lượng, gây dựng khu kháng chiến tại Lào
Các hoạt động ngoại giao trong những năm đầu kháng chiến chống thựcdân Pháp đã hỗ trợ nhiều mặt cho cuộc kháng chiến của hai dân tộc Việt Nam,Lào và ươm mầm cho sự phát triển của phong trào ủng hộ cách mạng giải phóngdân tộc của Việt Nam, Lào ở những chặng đường tiếp theo
Hai là, xây dựng đội ngũ cán bộ chủ chốt đầu tiên của quan hệ Việt Nam - Lào.
Ngay từ khi Hội Việt Nam cách mạng Thanh niên ra đời và Đảng cộng sảnĐông Dương được thành lập, công tác xây dựng các tổ chức quần chúng cách mạng
1
Trang 27và chi bộ Đảng tại Lào đã được tiến hành với sự tham gia của người Lào và ngườiViệt, góp phần làm nên cách mạng tháng Tám Khi hai nước phải đứng lên khángchiến chống thực dân Pháp trở lại xâm lược, việc xây dựng đội ngũ cán bộ lãnh đạochủ chốt đầu tiên cho nhiệm vụ tăng cường quan hệ Việt Nam - Lào, Lào - Việt Namtrở nên cấp bách Phía Việt Nam, Đảng, Nhà nước và quân đội vừa sử dụng nhữngcán bộ, đảng viên cộng sản từng hoạt động tại Lào, Thái Lan, vừa tiếp tục điều độngnhiều cán bộ chính trị, quân sự bổ sung cho đội ngũ này Đồng thời, trong phong tràocách mạng của dân tộc Lào cũng xuất hiện nhiều cán bộ lãnh đạo xuất sắc, chủ chốtđầu tiên mà tiêu biểu là đồng chí Cayxỏn Phômvihản, Hoàng thân Xuphanuvông vàmột đội ngũ cán bộ tiếp nối giàu tài năng, đạo đức cách mạng.
Ba là, gây dựng cơ sở chính trị, phát triển chiến tranh du kích và thắt chặt
quan hệ đoàn kết Lào - Việt Nam, Việt Nam - Lào
Đây là một nhiệm vụ cơ bản, rất quan trọng của cuộc chiến tranh cách mạnggiải phóng dân tộc Lào và cũng là một nhiệm vụ trọng yếu của quan hệ đặc biệtViệt Nam - Lào mà phía Việt Nam tự nguyện góp phần thực hiện nghĩa vụ quốc tếcao cả đó
Dưới sự lãnh đạo của Đảng cộng sản Đông Dương, Việt Nam tận tình giúpLào đào tạo cán bộ, truyền bá kinh nghiệm vận động quần chúng, giúp đỡ bạn xâydựng cơ sở chính trị, lực lượng vũ trang tuyên truyền, tạo điều kiện thuận lợi để hìnhthành các khu kháng chiến, từng bước đưa phong trào cách mạng Lào phát triển
Bốn là, xây dựng tại mỗi nước Việt Nam, Lào, Miên một đảng Mácxít
-Lêninnít và thành lập Mặt trận liên minh Việt - Miên - Lào để nâng cao sức mạnhquan hệ Việt Nam - Lào, Lào - Việt Nam trong quan hệ đoàn kết Việt - Miên - Lào
Đến năm 1951, Đảng cộng sản Đông Dương đã trải qua 21 năm xây dựng
và phát triển, lãnh đạo nhân dân Đông Dương đấu tranh chống chế độ thuộc địacủa đế quốc Pháp, phát xít Nhật, tiến hành khởi nghĩa giành độc lập cho hai dântộc Việt Nam, Lào và tổ chức cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp đánh chiếmĐông Dương lần thứ hai, làm thất bại nhiều kế hoạch xâm lược của chúng Đếnthời điểm này, Chủ tịch Hồ Chí Minh và Ban chấp hành Trung ương Đảng thấyrằng việc xây dựng ở mỗi nước Việt Nam, Lào và Cămpuchia một đảng Mácxít -Lêninnít trên cơ sở kế thừa bản chất và năng lực lãnh đạo của Đảng cộng sảnĐông Dương đã có đủ điều kiện thực hiện
Tại Đại hội II của Đảng cộng sản Đông Dương tháng 2-1951, Chủ tịch Hồ ChíMinh đề nghị thành lập tại mỗi nước Đông Dương một Đảng cộng sản Ý kiến này
đã được đại biểu Đảng bộ Lào và đại biểu Đảng bộ Cămpuchia hết sức tán thành
Theo tinh thần đó, sau quá trình chuẩn bị với sự giúp đỡ của Việt Nam,tháng 4-1955, diễn ra Đại hội thành lập Đảng Nhân dân Lào Đây là Đảng Mácxít-Lêninnít kế tục sự nghiệp cách mạng của Đảng cộng sản Đông Dương, phấn đấu
vì nền độc lập và phồn vinh của nước Lào, vì tự do, hạnh phúc của nhân dân Lào,
là thành quả chính trị của quan hệ đặc biệt Lào - Việt Nam, Việt Nam - Lào, một
Trang 28nhân tố quan trọng hàng đầu thúc đẩy sự phát triển của mối quan hệ đó Từ đây,trên bán đảo Đông Dương, mỗi dân tộc có một Đảng Mácxít - Lêninnít đảmđương vai trò lãnh đạo sự nghiệp cách mạng của dân tộc mình và thực hiện nghĩa
vụ quốc tế đối với phong trào cách mạng giải phóng dân tộc và phong trào cộngsản,công nhân quốc tế
Sau Đại hội II Đảng cộng sản Đông Dương, hội nghị thành lập Mặt trận liênminh Việt - Miên - Lào cũng diễn ra tại Việt Bắc vào tháng 3-1951, càng củng cốthêm mối quan hệ Việt Nam - Lào, góp phần thực hiện thắng lợi sự nghiệp cáchmạng của ba nước
Năm là, Việt Nam, Lào đồng tâm, hiệp lực giúp nhau trong chiến đấu, lập
nhiều chiến công
Lãnh đạo nhân dân ba nước Đông Dương chống Pháp, Trung ương Đảngcộng sản Đông Dương đã quyết định: “Về quân sự, Việt Nam, Cao Miên, Ai Lao
là một chiến trường, phải đánh theo một chiến lược chung” Chủ trương đó tạo cơ
sở cho khối đoàn kết, liên minh chiến đấu giữa ba dân tộc càng thêm củng cố vàtăng cường trên cùng một trận tuyến chống kẻ thù chung, thực hiện những mụctiêu chiến lược và kế hoạch tác chiến trên các chiến trường Đông Dương Theo
đó, liên minh chiến đấu Việt - Lào xuất hiện giữa các đơn vị vũ trang hai nước;các mặt trận phối hợp giữa các địa phương Việt Nam, Lào như Liên khu 10 vớiThượng Lào, Liên khu 4 với Trung Lào, Liên khu 5 với Hạ Lào, tiến tới quy môphối hợp lớn hơn về mặt chiến lược, về tổ chức chiến trường, bố trí lực lượng tácchiến và sử dụng các phương pháp đấu tranh quân sự, chính trị, binh vận buộcđịch phải bị động đối phó Còn ta thì giành quyền chủ động chiến lược
Cuối tháng 4 đến giữa tháng 5-1953, liên quân chiến đấu Việt Nam - Lào mởchiến dịch Thượng Lào giành thắng lợi lớn: giải phóng toàn bộ tỉnh Sầm Nưa, mộtphần tỉnh Xiêng Khoảng và Phôngxalỳ, mở rộng căn cứ địa cách mạng Lào Đốivới Việt Nam, chiến dịch Thượng Lào đã góp phần phân tán lực lượng địch, phá tan
âm mưu củng cố vùng Tây Bắc và bình định vùng đồng bằng Bắc Bộ của Pháp
Tiếp đó, từ tháng 12-1953 đến tháng 5-1954, liên quân chiến đấu Việt Nam
- Lào mở chiến dịch Trung - Hạ Lào Thắng lợi của chiến dịch buộc Nava phảitiếp tục phân tán khối cơ động chiến lược của chúng, góp phần làm giảm khối chủlực của địch trên chiến trường chính Bắc Bộ, nhất là đối với hướng chính ĐiệnBiên Phủ
Khi quân và dân ta tiến hành trận quyết chiến chiến lược Điện Biên Phủ,quân và dân Lào đã anh dũng chiến đấu, chặt đứt con đường chi viện chiến lượccủa địch cho Điện Biên Phủ, góp phần cô lập địch ở đây, tạo điều kiện thuận lợicho quân và dân Việt Nam giành thế chủ động tiến công địch, giành thắng lợihoàn toàn
Trong các chiến dịch này, có sự tham gia chỉ đạo của Bộ Tổng tư lệnh quânđội hai nước và nhiều tướng lĩnh cấp cao, tập hợp nhiều đơn vị quân đội Việt
Trang 29Nam, Lào cùng tham gia chiến đấu; được hậu phương hai nước cung cấp khốilượng lớn lương thực, thực phẩm Đó là thắng lợi của tinh thần đoàn kết, ý chíquyết chiến, quyết thắng của quân và dân hai nước, đánh bại hoàn toàn thực dânPháp, buộc Pháp phải ký Hiệp định Giơnevơ công nhận độc lập, chủ quyền, thốngnhất và toàn vẹn lãnh thổ của ba nước Việt Nam, Lào, Cămpuchia.
Trong cuộc kháng chiến chống đế quốc Mỹ xâm lược:
21 năm chống Mỹ cứu nước là một chặng đường kế tục, phát triển quan hệđặc biệt Việt Nam - Lào, Lào - Việt Nam đã trở thành giá trị thiêng liêng của haidân tộc Hoạt động phối hợp đấu tranh của các cơ quan lãnh đạo cùng quân và dânViệt Nam, Lào đều xuất phát từ tình cảm sâu đậm, trách nhiệm cao cả của hai phíaViệt Nam, Lào dành cho nhau, tạo nên những nguồn lực mới, những nấc thangphát triển mới của nội lực từng dân tộc, của quan hệ đặc biệt Việt Nam - Lào, Lào
- Việt Nam trong cuộc chiến đấu chống kẻ thù chung và mở đường đi tới toànthắng Thành quả của mối quan hệ đặc biệt này được thể hiện:
Một là, sự phối hợp giữa lãnh đạo, quân và dân hai nước Việt Nam, Lào phá
vỡ mưu đồ tiêu diệt lực lượng vũ trang nòng cốt Pathết Lào và hãm hại bộ phận đầunão cơ quan lãnh đạo cách mạng Lào do đế quốc Mỹ và bè lũ tay sai tiến hành
Việt Nam đã phối hợp với Lào giải thoát cho Hoàng thân Xuvanuvông vànhiều nhà lãnh đạo cao cấp chủ chốt của cách mạng Lào khỏi trại giam của Mỹ vàchính quyền tay sai, đồng thời lực lượng vũ trang cách mạng Lào cũng thoát khỏivòng vây địch trở về căn cứ an toàn đã tạo điều kiện thuận lợi để Lào xây dựngthực lực, lãnh đạo kháng chiến thắng lợi
Hai là, sự hợp lực giữa lãnh đạo Đảng Nhân dân Lào và Đảng Lao động Việt
Nam trong quá trình xác định phương pháp đấu tranh vũ trang là chủ yếu kết hợp đấutranh chính trị chống chiến lược “chiến tranh đặc biệt” của đế quốc Mỹ ở Lào
Ba là, tuyến đường chiến lược Trường Sơn, một công trình vĩ đại của quan
hệ đặc biệt Việt Nam - Lào, Lào - Việt Nam
Tuyến đường Trường Sơn xuyên qua triền phía đông và phía tây dãy TrườngSơn Công trình này được tiến hành từ cuối năm 1959, đến đầu năm 1964 thì chuyểnhẳn sang phía tây Trường Sơn Nơi đây cũng là khu căn cứ hậu cần của chiến trườngNam Việt Nam, Lào và Campuchia Quá trình khai thông và phát triển con đườngchiến lược chi viện cho cách mạng miền Nam, Lào và Campuchia là quá trình đấutranh gian khổ, quyết liệt của cán bộ, chiến sĩ hai nước Việt Nam, Lào đứng chânhoạt động trên chiến trường này, có sự đóng góp to lớn của nhân dân Việt Nam vàLào tại các địa phương mà tuyến vận tải đi qua Trong mọi hoàn cảnh, quân đội nhândân Việt Nam và Lào đã sát cánh bên nhau chiến đấu kiên cường chống trả sự đánhphá vô cùng ác liệt của đế quốc Mỹ và ngụy quyền tay sai để bảo vệ tuyến đường,kho tàng, vũ khí, lương thực, thực phẩm và nhiều loại hàng hóa khác, trong đó cónhiều chiến dịch lớn như chiến dịch Cánh đồng Chum - Xiêng Khoảng; đặc biệt làthắng lợi của chiến dịch đường 9 - Nam Lào đánh bại cuộc hành quân lớn nhất của
Trang 30Mỹ - ngụy với âm mưu cắt đứt hoàn toàn tuyến vận tải chiến lược quan trọng bậcnhất của ta từ miền Bắc vào miền Nam, Lào và Campuchia.
Nhân dân Lào đã phải chịu đựng biết bao hy sinh, mất mát do kẻ thù xâmlược gây ra Nhưng từ trong gian khổ, ác liệt, đã ngời sáng lên tình cảm thânthương, quý mến của nhân dân Lào dành cho cán bộ, chiến sĩ Việt Nam, tô thắmthêm truyền thống đoàn kết, thủy chung son sắt của hai dân tộc
Tuyến đường chiến lược Trường Sơn được xây dựng, bảo vệ và khai thác,
sử dụng kéo dài trong 16 năm chiến tranh chống đế quốc Mỹ xâm lược là sảnphẩm của sự đồng thuận sâu sắc, sự hy sinh lớn lao vì nghĩa tình quốc tế cao cảcủa hai dân tộc Lào, Việt Nam; là minh chứng hùng hồn của văn minh, nhân nghĩathắng xâm lược, bạo tàn
Suốt 21 năm chống Mỹ, Đảng, Nhà nước, quân đội và nhân dân Lào luôn hếtlòng giúp đỡ, ủng hộ nhân dân Việt Nam Đáp lại, Đảng, Nhà nước, quân đội vànhân dân Việt Nam cũng dốc hết sức vì sự nghiệp cách mạng Lào Trên tinh thần
“giúp bạn là tự giúp mình”, quân tình nguyện và chuyên gia quân sự Việt Nam đã
có mặt ở hầu hết mọi nơi trên chiến trường Lào, chấp nhận mọi gian khổ, hy sinh,cùng nhân dân và quân đội Lào đấu tranh, đánh địch đến thắng lợi hoàn toàn
3 Quan hệ Việt Nam - Lào, Lào - Việt Nam tiếp tục phát triển trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc của hai dân tộc Việt Nam, Lào (từ 1976 đến nay)
Trên lĩnh vực chính trị, ngoại giao:
Sau khi hai dân tộc kết thúc thắng lợi cuộc kháng chiến chống ngoại xâm,vào ngày 18-7-1977, Hiệp ước hữu nghị và hợp tác giữa Cộng hòa xã hội chủnghĩa Việt Nam và Cộng hòa dân chủ Nhân dân Lào đã được ký kết, là sự kiện
mở đầu cho quan hệ đặc biệt Việt Nam - Lào trong giai đoạn cách mạng mới Đây
là văn kiện mang tính chính trị, pháp lý cơ bản, bền vững lâu dài trên nguyên tắchoàn toàn bình đẳng Điển hình của tinh thần hợp tác, hữu nghị của hai Đảng, haiNhà nước, hai dân tộc là cùng thống nhất quan điểm trong việc giải quyết vấn đềCampuchia, cùng đấu tranh bảo vệ sự trong sáng của Việt Nam trên diễn đàn quốc
tế và khu vực
Hai Nhà nước sớm thoả thuận và ký kết Hiệp ước hoạch định biên giớiquốc gia Việt Nam - Lào và hoàn thành hoạch định, cắm mốc trên toàn tuyến biêngiới cùng với hoạt động của các tỉnh hai bên đường biên giới trên lĩnh vực anninh, quốc phòng, kinh tế, giao lưu văn hóa đã xây dựng nên một biên giới hoàbình, hợp tác và phát triển Việt Nam - Lào, Lào - Việt Nam
Hai Đảng, hai Nhà nước thường xuyên trao đổi ý kiến về vấn đề lý luận và chỉđạo thực tiễn sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam và Lào, khơi dậy nộilực và mở rộng quan hệ quốc tế, đem lại sự đổi mới toàn diện cho mỗi nước
Về quốc phòng an ninh:
Trang 31Từ năm 1976 đến nay, Việt Nam và Lào bị nhiều thế lực thù địch từ bênngoài tấn công, xâm phạm chủ quyền lãnh thổ, vừa sử dụng những phần tử phảnđộng lưu vong quay trở lại phá hoại an ninh quốc gia Một lần nữa, nghĩa vụ bảo
vệ Tổ quốc đặt ra cho ngành quốc phòng an ninh và nhân dân hai nước Việt Nam
và Lào nhiều nhiệm vụ mới, đòi hỏi phải nâng cao bản lĩnh và năng lực trong thếtrận đấu tranh mới
Theo tinh thần các văn bản đã ký kết giữa hai Chính phủ, lực lượng vũtrang và lực lượng an ninh Lào, Việt Nam phối hợp chặt chẽ thực hiện các nhiệm
vụ được giao trên mặt trận chống ngoại xâm, chống phỉ, dẹp bạo loạn, trừ diệt bọnphản động vượt qua lãnh thổ Lào xâm nhập lãnh thổ Việt Nam, tiêu biểu là chiếndịch truy quét, phá tan trung tâm phỉ tại Phu Bia (1977-1978), tiêu diệt nhóm phảnđộng Võ Đại Tôn và Hoàng Cơ Minh (1987) khi chúng đang xuyên qua đất Lào
để vào Việt Nam
Cùng với những hoạt động trên, hai bên còn phối hợp chặt chẽ trong đàotạo, bồi dưỡng cán bộ; giúp đỡ nhau về hậu cần kỹ thuật; đặc biệt là việc tìm kiếmhài cốt liệt sĩ quân tình nguyện Việt Nam hy sinh trên đất Lào
Trong thời kỳ mới, hai Đảng, hai Nhà nước luôn xác định hợp tác trên lĩnhvực quốc phòng, an ninh là một trong những điểm mấu chốt của mối quan hệ đặcbịêt Việt Nam - Lào, Lào - Việt Nam
Hợp tác phát triển kinh tế, văn hóa, đào tạo cán bộ:
Lãnh đạo hai nước Việt Nam và Lào đều nhất trí coi trọng sự hợp tác kinh
tế, văn hóa và đào tạo cán bộ
Trên lĩnh vực kinh tế, hai bên chấp hành nguyên tắc hợp tác là bình đẳng,tôn trọng chủ quyền quốc gia, cùng có lợi và hết lòng giúp đỡ nhau; đồng thời,căn cứ vào tình hình cụ thể của mỗi nước mà dành ưu tiên, ưu đãi cho nhau
Phương thức hợp tác ngày càng được mở rộng và nâng cao về quy mô, chấtlượng và hiệu quả Trên thực tế, sự hợp tác giữa hai nước diễn ra từ Trung ươngđến tỉnh, thành phố và các doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh, dịch vụ trên lĩnhvực kinh tế, tài chính, ngân hàng, công thương, nông nghiệp
Nội dung hợp tác kinh tế được chuyển dần theo cấp độ từ thấp lên cao: banđầu là viện trợ, cho vay tiến đến hợp tác sản xuất, liên doanh phù hợp công thức:tài nguyên Lào, lao động kỹ thuật Việt Nam, vốn hợp tác hoặc vay của nước thứ
ba Tiếp đó, từ năm 1996 trở đi, một công thức hợp tác mới được áp dụng, đó làhợp tác hai bên cùng có lợi theo thông lệ quốc tế, ưu tiên, ưu đãi cho nhau
Điểm đặc sắc nổi bật trong quan hệ hợp tác kinh tế Lào - Việt Nam là tinhthần giúp đỡ nhau mỗi khi nước bạn gặp khó khăn mà không thể tự giải quyếtđược Hành động Việt Nam giúp Lào chống lạm phát và ổn định kinh tế vĩ mônăm 1999 là một mẫu hình tiêu biểu
Sự hợp tác Việt Nam - Lào, Lào - Việt Nam trên lĩnh vực giáo dục, đào tạocán bộ được đặt ở tầm chiến lược, tác động trực tiếp tới sự phát triển của quan hệ
Trang 32đặc biệt giữa hai dân tộc, được mở đầu từ thập niên 1950 Từ đó đến suốt cuộckháng chiến chống Mỹ cứu nước, hàng vạn học sinh Lào được học tập tại ViệtNam từ cấp I đến cấp III Việt Nam còn gửi chuyên gia sang Lào giúp bạn xâydựng một nền giáo dục mới theo yêu cầu của bạn.
Từ sau năm 1975, Việt Nam giúp bạn đào tạo cán bộ đạt trình độ đại học vàtrên đại học Theo đó, hàng năm có hơn 1.000 cán bộ, sinh viên Lào được bồidưỡng, học tập tại nhiều học viện, trường đại học Việt Nam Về phía Việt Nam,hàng năm có từ 15-20 lưu học sinh sang học tại đại học Quốc gia Lào
Hợp tác giữa các địa phương và ngoại giao nhân dân
Đi đôi với mối quan hệ hợp tác, giúp đỡ lẫn nhau giữa hai Đảng, hai Nhànước, các bộ, ngành Trung ương, còn có mối quan hệ kết nghĩa giữa toàn bộ cáctỉnh có chung đường biên giới cũng như các tỉnh không có chung biên giới giữahai nước với nhau Các địa phương đã phối hợp chặt chẽ về trao đổi đoàn thamquan, cùng giúp đỡ, chia sẻ kinh nghiệm cũng như cùng tháo gỡ những khó khăngiữa hai nước Các Hội hữu nghị Việt Nam – Lào, Lào – Việt Nam và cộng đồngngười Việt Nam tại Lào đã có nhiều đóng góp đáng kể trong vai trò làm cầu nốiquan trọng trong việc giữ gìn và phát triển quan hệ đoàn kết đặc biệt Việt Nam –Lào, Lào – Việt Nam
Quảng Trị có đường giới chung với Cộng hoà Dân chủ nhân dân Lào206km, giáp với hai tỉnh bạn là Savẳnnakhệt và Xalavăn Từ chỗ tương đồng vềtiếng nói, phong tục, tập quán và xuất phát từ nhu cầu bảo vệ nền độc lập đấtnước, phát triển kinh tế, văn hóa, từ xa xưa, nhân dân các dân tộc Việt - Lào ở haibên triền Đông - Tây dãy Trường Sơn đã có mối quan hệ giao hảo thân thiết, giúp
đỡ lẫn nhau khi khó khăn, đồng lòng đồng sức đánh đuổi ngoại xâm, bảo vệ vữngchắc biên cương của hai nước Tiêu biểu nhất trong lịch sử đấu tranh giữ nước của
ba tỉnh trước năm 1930 là cuộc chiến đấu thắng lợi đánh quân xâm lược Xiêmtrong hai năm 1883, 1884, làm thất bại hoàn toàn mưu đồ xâm lấn vùng đất Lào
và Việt Nam của Nhà nước Xiêm từ đó về sau
Từ khi có Đảng cộng sản Việt Nam (sau đổi thành Đảng cộng sản ĐôngDương) ra đời và lãnh đạo cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc, Tỉnh ủy Quảng Trịđược thành lập và nhận nhiệm vụ xây dựng tổ chức Đảng tại Savẳnnakhệt Đây làtiền đề quan trọng góp phần xây dựng và phát triển Đảng bộ Đảng cộng sản ĐôngDương Lào Trong thời kỳ tiền khởi nghĩa, Quảng Trị đã giúp bạn huấn luyện lựclượng vũ trang, chuẩn bị giành chính quyền
Quan hệ quốc tế giữa Quảng Trị và hai tỉnh bạn Lào phát triển mạnh mẽ vàngày càng đạt được những thành tựu to lớn hơn trong hai cuộc kháng chiến chốngthực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược Pháp và Mỹ đều coi đường 9 xuyên Á làmột huyết mạch giao thông quan trọng, nuôi tham vọng khống chế con đường này để
Trang 33giành thắng lợi trong quá trình xâm lược, áp bức, bóc lột 3 nước Đông Dương Vì lẽ
đó, liên minh chiến đấu Việt - Lào giữa Quảng Trị và Savẳnnakhệt, Xalavăn đã đượcthành lập từ năm 1945, đã không ngừng phát triển và ngày càng phối hợp chặt chẽ,nhịp nhàng trong các chiến đấu, các chiến dịch đánh địch giành thắng lợi lớn
Lịch sử chiến tranh cách mạng của Quảng Trị và hai tỉnh bạn Lào ghi dấu
ấn sâu đậm về tình đoàn kết hữu nghị, sự giúp đỡ lẫn nhau tận tình của Tỉnh ủy vànhân dân ba tỉnh, đó là khi Quảng Trị gặp khó khăn thì đất bạn là nơi đứng chân
và ngược lại Quảng Trị là nơi bạn bảo toàn, xây dựng và phát triển lực lượng khi
bị kẻ thù truy đuổi, để từ đó, có những quyết sách đúng đắn lãnh đạo nhân dângiành thắng lợi từng bước trong cuộc chiến đấu sống còn với kẻ thù
Tình đoàn kết, sự phối hợp chiến đấu giữa Quảng Trị và Savẳnnakhệt,Xalavăn trong chống Mỹ cứu nước được thể hiện trên nhiều mặt, nhiều lĩnh vực,nhưng sự kiện lớn nhất đã đi vào lịch sử dân tộc đó là sự cưu mang, đùm bọc, giúpnhau chỗ đứng chân, xây dựng hậu cứ, đảm bảo huyết mạch giao thông trên tuyếnđường 559 - con đường vận tải chiến lược Bắc - Nam Sự kiện đó đã đi vào lịch sửdân tộc như một thiên anh hùng ca tuyệt đẹp, góp phần quan trọng làm nên chiếnthắng vang dội, kết thúc bằng chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, giải phóng miềnNam, thống nhất đất nước
Khi hai nước bước vào giai đoạn quá độ lên chủ nghĩa xã hội từ năm 1975đến nay, quan hệ đặc biệt hữu nghị càng được phát huy mạnh mẽ, toàn diện trêntất cả các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, quốc phòng an ninh, gópphần to lớn vào việc xây dựng và bảo vệ an ninh chính trị, tăng cường quốcphòng, tạo môi trường ổn định để phát triển kinh tế, văn hoá, xã hội của ba tỉnh
Chuyên đề thứ 5 NHỮNG KỶ NIỆM SÂU SẮC VỀ TÌNH ĐOÀN KẾT, HỮU NGHỊ GIỮA HAI DÂN TỘC VIỆT – LÀO TRONG SỰ NGHIỆP ĐẤU TRANH GIÀNH ĐỘC LẬP DÂN TỘC TRƯỚC ĐÂY CŨNG NHƯ TRONG CÔNG CUỘC
XÂY DỰNG VÀ BẢO VỆ TỔ QUỐC NGÀY NAY
Về quan hệ đặc biệt Việt Nam - Lào, chúng ta nhớ câu nói bất hủ của BácHồ: “Yêu nhau mấy núi cũng trèo; mấy sông cũng lội; mấy đèo cũng qua Việt -Lào hai nước chúng ta; tình sâu hơn nước Hồng Hà - Cửu Long”!
Quên sao được, trong bài chào mừng của các đoàn khách quốc tế tại mộtđại hội Đảng toàn quốc của chúng ta, đồng chí Cay-Sỏn Phôm-Vi-Hẳn có nhữngcâu nói đầy tình nghĩa, trong sáng, thủy chung với hình ảnh dung dị mà lắng sâulòng người, không thể nào quên Đồng chí nói về quan hệ đoàn kết hữu nghị Lào -Việt: “Cao hơn núi, dài hơn sông, rộng như biển Đông, sáng tựa trăng rằm! ” VàViệt Nam giúp đỡ, chia sẻ với nhân dân Lào trong thời cam go gian khó: “Hạt gạocắn đôi, cọng rau bỏ nửa! ” Xúc động quá
Trang 34Còn biết bao nhiêu sự kiện, tình người sâu nặng trong chiều dài lịch sửquan hệ Việt Nam - Lào, Lào - Việt Nam.
Trong những ngày này, tuy sự hiểu biết của chúng tôi là hạn hẹp, nhưngtrong lòng chúng tôi tự nhiên trào dâng tình cảm cách mạng với đồng chí, bạn bè,
bà con Lào thân quen
Tôi có may mắn là một cán
bộ lãnh đạo của TP Hải Phòng và
Bộ Nội vụ (nay là Bộ Công an)trong nhiều năm Ở Bộ Nội vụ, tôiđược phân công những phần việc
có quan hệ giữa Bộ Nội vụ ViệtNam và Bộ Nội vụ Lào (nay là Bộ
An ninh Lào) Ngoài những côngviệc quan hệ, trao đổi thườngxuyên, theo thông lệ giữa hai Bộ,hằng năm có hai đoàn đại biểu cấp
Bộ làm việc với nhau và ký văn bảnhợp tác cụ thể; luân phiên mỗi nămmột lần ở Việt Nam và ở Lào
Những năm ở Hải Phòng, tôi thường được tiếp đón, làm việc cụ thể theoyêu cầu của các đoàn bạn Lào, có đoàn cán bộ đến trao đổi kinh nghiệm, đoànsinh viên thực tập; đoàn tham quan, nghỉ mát v.v Tôi nhớ đoàn cán bộ lãnh đạo,
do đồng chí Sa-Mẳn Vi-Na-Kẹt làm Trưởng đoàn đến Hải Phòng để nghiên cứuthực tế hoạt động của thành phố Cảng có nền kinh tế tương đối tổng hợp do cán
bộ Trường Nguyễn Ái Quốc Trung ương (nay là Học viện Chính trị, Hành chínhQuốc gia Hồ Chí Minh) tháp tùng
Khi sang công tác tại Lào, đồng chí Sa-Mẳn Vi-Na-Keạ̊t và tôi lại có dịp gặp
gỡ thăm nhau thân tình Sau này, đồng chí Si-Sa-Mẳn và Chủ nhiệm Tổng cụcChính trị Quân đội nhân dân Lào và nay đồng chí là UVBCT, Chủ tịch Hội đồng lýluận Trung ương Đảng nhân dân Lào Đại tướng Si-Sa-Vát Kẹo-Bun-Phăn, nguyênTổng Tham mưu trưởng Quân đội nhân dân, khi làm Bộ trưởng Bộ Nội vụ Lào(nay là Bộ An ninh Lào) thăm và làm việc với lãnh đạo Bộ Nội vụ Việt Nam, đồngchí đã thăm gia đình tôi (Trần Đông), tại số 1, đường Trần Bình Trọng, Hà Nội
Những ngày đồng chí Si-Sa-Vát đi nghỉ theo chương trình, đồng chí đã biênthư gửi cho tôi nói về những việc cần trao đổi tiếp sau những ngày nghỉ Thời gianĐoàn Việt Nam thăm và làm việc ở Lào, đồng chí Si-Sa-Vát đã nhiệt tình mờichúng tôi đến thăm gia đình đồng chí
Chuyến thăm và làm việc đầu tiên của tôi ở Lào, đoàn chúng tôi đã đếnthăm gia đình, dâng lễ thắp hương cố Bộ trưởng Bộ Nội vụ Lào Săm-Sừng theophong tục Việt Nam – Lào
Đồng chí Nu-Hắc Phôn-Sa-Vẳn, Ủy viên Bộ chính trị, Chủ
tịch nước Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào (bên phải) tiếp
đồng chí Trần Đông tại Viêng-Chăn, Thủ đô Lào
Trang 35Đồng chí A-Sang Lao-Ly, Bộ trưởng Bộ Nội vụ Lào trong chuyến thăm vàlàm việc với lãnh đạo Bộ Công an Việt Nam, chương trình có buổi đồng chí cùngphu nhân (chúng tôi quen gọi nhau bằng anh, chị) và đoàn đến thăm gia đình tôi, ở
số 90A, đường Hai Bà Trưng, Hà Nội (khi đó tôi đã nghỉ hưu theo chế độ) Buổithăm của đoàn đồng chí đúng vào ngày 8/3, tôi đã xin phép được tặng hoa chịChia-Mơi Lao-Ly, sau đó mới thăm hỏi, trò chuyện với anh A-Sang Lao-Ly vàcác thành viên trong đoàn Buổi thăm thân tình, vui vẻ, mà gia đình tôi còn nhớmãi Nay, đồng chí A-Sang Lao-Ly là UVBCT, Phó Thủ tướng Chính phủ Cộnghòa dân chủ Lào
Khi tôi còn làm Thứ trưởng Bộ Nội vụ, trong nhiều chuyến công tác ở Lào,
có chuyến chúng tôi được bạn mời thăm Cố đô Lu-Ăng Pha-Băng, vào dịp tháng 4
- Tết Bun-Ti-May, các đồng chí lãnh đạo địa phương đã tổ chức một buổi lễ chào
mừng đoàn chúng tôi, có ca hát, “ténước” và buộc chỉ cổ tay Đặc biệt
nữ ca sĩ Lào tài năng vừa hát vừasáng tác tại chỗ chào mừng đoànđồng chí Trần Đông, rất hay và tựnhiên, buổi lễ thân tình, vui vẻ vàtrọng thị theo nghi thức của bạnLào
Với các đồng chí lãnh tụ củaLào tôi nhớ có lần đồng chí LêDuẩn giao cho chúng tôi tổ chứcbữa cơm thân mật để đồng chí LêDuẩn tiếp đồng chí Cay-Sỏn Phôm-Vi-Hẳn Trong bữa cơm thân mật, các đồng chí trò chuyện thân tình với nhaunhững chuyện lớn về tình hình quốc tế, tình hình hai nước Việt Nam và Lào chỉkhi có đồng chí hỏi đến TP Hải Phòng, chúng tôi mới báo cáo với các đồng chí.Trong lúc nghỉ ngơi, đồng chí Cay-Sỏn rất gần gũi và chuyện trò với anh em chúngtôi như người nhà, anh em chúng tôi có người nói đến việc sử dụng mật gấu chữachấn thương, đồng chí Cay-Sỏn vui vẻ trao đổi về dùng mật con vịt trắng hay hơn,
vì không có phản ứng phụ như mật gấu Đồng chí Cay-Sỏn khi bị chấn thương dobom địch gây ra ở khu căn cứ Lào, bà con dân tộc thiểu số đã bàn nhau chữa chođồng chí khỏi chấn thương bằng mật vịt trắng! Theo kinh nghiệm của đồng chíCay-Sỏn nói, anh em ta đã tìm mua vịt trắng về cải thiện, lấy mật vịt trắng chữabệnh Một vài đồng chí nói với tôi, đã dùng mật vịt trắng chữa bệnh thay mật gấu
có kết quả
Về lãnh tụ Su-Pha-Nu-Vông và phu nhân, lấy tên Việt Nam là anh, chị Chính(các đồng chí Lào đi tháp tùng và chúng tôi cũng thường gọi là anh chị Chính).Theo chỉ đạo của đồng chí Lê Duẩn nên tổ chức để mời vợ chồng đồng chí Su-Pha-Nu-Vông thăm biển đảo Hải Phòng Chúng tôi đã tổ chức chu đáo chuyến thămbiển đảo Cát Hải Đoàn nghỉ ăn trưa tại doanh trại Đồn CANTVT (nay là Bộ độiBiên phòng) ở bến Gót, xã Cao Minh, Cát Hải Trên đường đi, đồng chí Lê Duẩn vàđồng chí Su-Pha-Nu-Vông đã trao đổi với nhau nhiều chuyện, còn chị Chính thì vui
Đại tướng Si-Sa-Vát Kẹo-Bun-Phăn, Bộ trưởng Bộ Nội vụ (nay
là Bộ An ninh Lào, thứ hai từ trái sang) thăm gia đình đồng chí
Trần Đông tại số 1, đường Trần Bình Trọng, Hà Nội