1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Bình luận cách xác định và quy chế pháp lý các vùng biển thuộc quyền chủ quyền của việt nam trong mối quan hệ với quy định của

14 176 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 14
Dung lượng 146 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Vùng tiếp giáp lãnh hải là vùng biển nằm phía ngoài lãnh hải, tiếp liền lãnh hải mà bề rộng không quá 24 hải lý so với đường cơ sở dùng để tính chiều rộng lãnh hải Khoản 2 Điều 33 Công ư

Trang 1

Lời nói đầu

Quyền chủ quyền là các quyền cụ thể của quốc gia xuất phát từ bản chất của chủ quyền trong việc thực hiện quyền lực của mình đối với các khách thể và hành vi của các thể nhân và pháp nhân của mình không chỉ trong phạm vi lãnh thổ quốc gia mà còn ở ngoài phạm vi đó Đối với những trường hợp ở ngoài phạm vi lãnh thổ quốc gia thì quyền chủ quyền được quy định trong các điều ước quốc tế Một trong những quyền chủ quyền cụ thể của quốc gia là quyền tài phán quốc gia(vd đối với máy bay và tàu biển, các tàu vũ trụ đang hoạt động ngoài phạm vi lãnh thổ quốc gia) Các nước ven biển thực hiện quyền chủ quyền đối với thềm lục địa nhằm mục đích thăm dò và khai thác tài nguyên thiên nhiên và thềm lục địa không thuộc chủ quyền hoàn toàn và tuyệt đối của nước ven biển Nước ven biển cũng có các quyền chủ quy nhất định đối với vùng đặc quyền kinh tế

Bên cạnh những vùng biển thuộc chủ quyền của quốc gia ven biển( bao gồm vùng nội thủy và lãnh hải) quốc gia ven biển còn có các vùng biển thuộc quyền chủ quyền của mình như: Vùng tiếp giáp lãnh hải; vùng đặc quyền kinh tế và vùng thềm lục địa theo quy định của Luật Biển quốc tế Việt Nam chúng ta cũng vậy, nằm ở bờ tây của biển Đông với đường bờ biển kéo dài 3260km, chúng ta đã sớm trở thành thành viên của công ước của Liên Hợp Quốc về Luật biển năm 1982 và cũng đã ban hành nhiều bản pháp luật để cụ thể hóa các quy định của công ước này, phù hợp với điều kiện của Việt Nam Vậy thì việc xác định các vùng biển thuộc quyền chủ quyền của Việt Nam như thế nào và quy chế pháp lý của các vùng biển ấy ra sao, có đồng nhất hay còn có sự khác biệt so với những quy định của công ước Luật biển năm 1982 Để làm rõ vấn đề

này nhóm em xin trình bày bài tiểu luận với nội dung: “Bình luận cách xác định và quy chế pháp lý các vùng biển thuộc quyền chủ quyền của Việt Nam trong mối quan hệ với quy định của công ước Luật biển năm 1982”.

Nội Dung

I Vùng tiếp giáp lãnh hải.

1 Khái niệm.

Vùng tiếp giáp lãnh hải là vùng biển nằm phía ngoài lãnh hải, tiếp liền lãnh hải mà bề rộng không quá 24 hải lý so với đường cơ sở dùng để tính chiều rộng lãnh hải( Khoản 2 Điều 33 Công ước của Liên Hợp Quốc về luật biển năm 1982) Tại vùng biển này quốc gia ven biển thực hiện các thẩm quyền riêng biệt và hạn chế đối với các tàu thuyền nước ngoài

Trang 2

2 Cách xác định.

Công ước Luật biển năm 1958 quy định chiều rộng vùng Tiếp giáp lãnh hải cộng với chiều rộng lãnh hải kể từ đường cơ sở không quá 12 hải lý Một nước nào đó đã quy định lãnh hải của mình rộng 12 hải lý thì không còn vùng Tiếp giáp lãnh hải nữa Đến Công ước Luật biển 1982 thì chiều rộng của vùng Tiếp giáp lãnh hải được mở rộng hơn, được tính từ ranh giới phía ngoài lãnh hải đến một đường song song và cách đường cơ sơ một khoảng 12 hải lý

Đối với Việt Nam, ngày 12/5/1977, Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa

Việt Nam đã đưa ra tuyên bố: “ Vùng Tiếp giáp lãnh hải của Việt Nam có chiều rộng

12 hải lý, hợp với lãnh hải Việt Nam thành 1 vùng biển rộng 24 hải lý kể từ đường cơ

sở dùng để tính chiều rộng lãnh hải của Việt Nam”.

Theo quy định tại Khoản 1 Điều 7 Nghị định 140/2004/NĐ-CP của chính phủ ngày

25/06/2004 quy định chi tiết 1 số điều của Luật biên giới quốc gia: “ Đường ranh giới ngoài vùng tiếp giáp lãnh hải là đường mà mỗi điểm cách đều điểm gần nhất của đường cơ sở dùng để tính chiều rộng lãnh hải là 24 hải lý”.

Như vậy, có thể xác định ranh giới trong của vùng Tiếp giáp lãnh hải của Việt Nam

là đường biên giới quốc gia trên biển và ranh giới ngoài song song với đường cơ sở không quá 24 hải lý Việc xác định vùng Tiếp giáp lãnh hải của Việt Nam phù hợp với quy định cả Công ước luật biển 1982

3 Quy chế pháp lý

Vùng tiếp giáp lãnh hải không phải là vùng biển thuộc chủ quyền quốc gia, mà đây

là một bộ phận đặc thù của vùng Đặc quyền kinh tế và có quy chế pháp lý đặc biệt Do

đó, vùng tiếp giáp lãnh hải của một quốc gia không phải là vùng mà quốc gia đó có đầy

đủ mọi thẩm quyền tài phán Nói vậy có nghĩa là các quốc gia ven biển chỉ có một số quyền chủ quyền nhất định trong vùng tiếp giáp lãnh hải của mình

Quyền chủ quyền của các quốc gia ven biển đối với vùng tiếp giáp lãnh hải được

quy định tại Khoản 1 Điều 33 Công ước 1982: “ trong một vùng tiếp giáp với lãnh hải của mình, gọi là vùng tiếp giáp, quốc gia ven biển có thể thi hành sự kiểm soát cần thiết nhằm:

Ngăn ngừa những vi phạm đối với các luật và quy định hải quan, thuế khóa, y tế hay nhập cư trên lãnh thổ hay trong lãnh hải của mình.

Trừng trị những với phạm đối với các luật và quy định nói trên xảy ra trên lãnh thổ hay trong lãnh hải của mình”.

Trang 3

Trong vùng tiếp giáp lãnh hải, quốc gia ven biển có quyền đối với các hiện vật có tính lịch sử và khảo cổ Theo quy định tại Điều 303 Công ước quy định về các hiện vật khảo

cổ và lịch sử được phát hiện ở biển thì: “Các quốc gia có nghĩa vụ bảo vệ các hiện vật

có tính chất khảo cổ hay lịch sử được phát hiện ở biển, các quốc gia hợp tác với nhau

vì mục đích ấy; Để kiểm soát việc mua bán hiện vật này, bằng cách áp dụng Điều 33 (Vùng tiếp giáp) quốc gia ven biển có thể coi việc lấy các hiện vật đó từ đáy biển trong vùng nói ở điều đó mà không có sự thoả thuận của mình là sự vi phạm các luật và quy định của quốc gia ven biển ở trên lãnh thổ hay trong lãnh hải của mình đã được nêu ở Điều 33”.

Ngày 12/05/1977, Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã đưa ra

tuyên bố với nội dung: “ Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam được thực hiển sự kiểm soát cần thiết trong vùng tiếp giáp lãnh hải của mình nhằm bảo vệ an ninh, bảo vệ các quyền lợi hải quan, thuế khóa; đảm bảo sự tôn trọng các quy định về y

tế, về dân cư, nhập cư trên lãnh thổ và trong lãnh hải Việt Nam”.

Từ quy định của Công ước 1982 hay Tuyên bố năm 1977 đều xác định Việt Nam có thẩm quyền tài phán trên bốn lĩnh vực: hải quan, thuế, y tế và nhập cư tại vùng tiếp giáp lãnh hải của mình Và vấn đề đặt ra là: Tại sao Việt Nam chỉ có thẩm quyền trên bốn lịch vực này, mà không phải các lĩnh vực khác, tại sao không phải là năm hay nhiều lĩnh vực khác mà chỉ là bốn lĩnh vực trên? Bởi lẽ, theo nguyên tắc cơ bản của Luật biển quốc tế thì các quốc gia có quyền tự do hàng hải và tự do hàng không, nên rất dễ xảy ra tình trạng các dòng người nhập cư trái phép tự do đi lại trong vùng biển này rồi đột nhập vào lãnh hải và kèm theo đó là các hành vi buôn bán lậu hàng hóa qua đường biên giới quốc gia ven biển sẽ làm ảnh hưởng đến các chính sách hải quan cũng như thuế khóa của quốc gia ven biển…hơn nữa các dòng người nhập cư trái phép cũng tiềm ẩn khả năng phát tán dịch bệnh vào trong lãnh thổ Việt Nam…Vì vậy mà việc trao cho Việt Nam nói riêng và các quốc gia ven biển nói chung có quyền chủ quyền trong vùng tiếp giáp lãnh hải của mình là quy định hợp lý, để đảm bảo cho quốc gia ven biển kiểm soát một cách tốt nhất vấn đề nhập cư, hải quan, thuế, y tế trong mối quan hệ hài hòa với luật pháp quốc tế

4 Việc thực hiện quyền chủ quyền của Việt Nam đối với vùng tiếp giáp lãnh hải.

Những quy định và việc thực hiện quyền chủ quyền của Việt Nam trong vùng tiếp giáp lãnh hải về cơ bản là phù hợp với Công ước 1982, nhưng có mở rộng thêm phạm

vi kiểm soát với cả tàu thuyền nước ngoài nhằm ngăn chặn và trừng trị vi phạm về an ninh và di cư trên đất liền hay lãnh hải của Việt Nam

Ví dụ: Việt Nam không công nhận quyền qua lại không gây hại của tàu quân sự nước ngoài Tàu thuyền quân sự( bao gầm cả tàu chiến và tàu bổ trợ) muốn vào vùng tiếp

Trang 4

giáp lãnh hải Việt Nam thì phải xin phép chính phủ nươc Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam( qua đường Ngoại giao) trước ít nhất 30 ngày và sau khi được phép vào, phải thông báo cho các nhà đương cục quân sự Việt Nam ( qua bộ giao thông vận tải của VN) 48h trước khi bắt đầu đi vào vùng tiếp giáp lãnh hải của Việt Nam ( Điều 30 nghị định 30 /CP ngày 30/1/19980 về quy chế cho tàu nước ngoài hoạt động trên các vùng biển của Việt Nam Quy định này không phù hợp với Công ước 1982, vì theo Công ước các quốc gia khác và tàu thuyền nước ngoài đều được hưởng quyền tự do qua lại không gây hại trong lãnh hải Việt Nam( Điều 17 Công ước 1982) Vì vậy, tuy được xác định là đặc quyền của Việt Nam nhưng quyền này không hoàn toàn đương nhiên trong mọi trường hợp mà chỉ có ý nghĩa khi có liên quan đến việc tàu thuyền nước ngoài ra vào nội thủy hay lãnh hải của Việt Nam Tuy nhiên trong vùng tiếp giáp lãnh hải các quy định về pháp luật hình sự Việt Nam không nêu rõ các chế tài hình sự được áp dụng đối với các hành vi vi phạm về hải quan, thuế, y tế hay an ninh của Việt Nam

II Vùng đặc biệt kinh tế.( ĐQKT)

1 Khái niệm.

“Vùng đặc quyền kinh tế là vùng biển nằm ở phía ngoài lãnh hải và tiếp liền lãnh hải,

có chiều rộng không vượt quá 200 hải lý tính từ đường cơ sở dùng để tính chiều rộng lãnh hải”.( Theo quy định tại Điều 55, 57 Công ước Luật biển năm 1982) Đây là lần

đàu tiên pháp luật quốc tế xác định rõ các quốc gia ven biển có quyền chủ quyền cũng như quyền đối với các tài nguyên khoáng vật, khoáng sản và toàn bộ các hình thức hoạt động kinh tế cũng như quyền tài phán đối với các hoạt động nghiên cứu biển, bảo vệ và giữ gìn môi trường biển, đặt và sử dụng các đảo nhân tạo, các công trình kinh tế…Tất

cả các quy đinh này nhằm phục vụ đắc lực cho việc điều chỉnh quyền lợi giữa các nước phù hợp với yêu cầu xây dựng và phát triển kinh tế của các quốc gia nhất là các nước đang phát triển trong công cuộc bảo vệ an ninh quốc phòng

2 Cách xác định.

Theo quy định tại Điều 55 của Công ước 1982 thì: “ Vùng đặc quyền kinh tế là một vùng nằm ở phía ngoài lãnh hải và tiếp liền với lãnh hải, đặt dưới chế độ pháp lý riêng” Phân tích khái niệm được quy định tại Điều 55, 57 Công ước 1982, ta thấy vùng

đặc quyền kinh tế được xác định như sau Vùng đặc quyền kinh tế có:

+ Ranh giới phía trong là ranh giới phía ngoài của lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế

có chung đường ranh giới phía trong với vùng tiếp giáp lãnh hải và thềm lục địa và là đường biên giới quốc gia trên biển

Trang 5

+ Ranh giới phía ngoài của vùng đặc quyền kinh tế là đường mà mối điểm trên đường đó ở điểm gần nhất của đường cơ sở một khoảng cách không vượt quá 200 hải

Tuyên bố về lãnh hải, vùng tiếp giáp, vùng đặc quyền về kinh tế và thềm lục địa Việt Nam, ngày 12 tháng 5 năm 1977, Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa

(CHXHCN) Việt Nam nêu rõ: “Vùng đặc quyền về kinh tế của nước CHXHCN Việt Nam tiếp liền lãnh hải Việt Nam và hợp với lãnh hải Việt Nam thành một vùng biển rộng 200 hải lý kể từ đường cơ sở dùng để tính chiều rộng lãnh hải Việt Nam” Theo

tuyên bố này, do lãnh hải Việt Nam rộng 12 hải lý nên chiều rộng thực sự của vùng Đặc quyền kinh tế của Việt Nam chỉ là 188 hải lý từ đường ranh giới ngoài của lãnh hải Việt Nam

Theo tuyên bố của Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam về đường

cơ sở dùng để tính chiều rộng của lãnh hải ngày 12/11/1982 thi: “ Đường cơ sở là đường gãy khúc đi qua các điểm có tọa độ ghi trong phụ lục Tính từ đường cơ sở ra

200 hải lý là chiều rộng của lãnh hải và vùng Đặc quyền kinh tế của Việt Nam” Điều này phù hợp với quy định tại Điều 55 của Công ước 1982, Khoản 3 Điều 4 của Luật

biên giới quốc gia năm 2003 xác định: “ Vùng Đặc quyền kinh tế của Việt Nam là vùng tiếp liền phía ngoài lãnh hải và hợp với lãnh hải thành một vùng biển riêng 200 hải lý tính từ đường cơ sở, trừ trường hợp Điều ước quốc tế giữa Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và các quốc gia có liên quan có quy định khác”.

Theo khoản 2 Điều 7 Nghi định 140/2004/NĐ-CP của Chính phủ ngày 25/06/2004

quy định chi tiết một số điều của Luật biên giới quốc gia: “ Đường ranh giới phía ngoài vùng đặc quyền kinh tế là đường mà mỗi điểm cách đều điểm gần nhất của đường cơ sở dùng để tính chiều rộng của lãnh hải là 200 hải lý”

+) Trong công việc xác định vùng đặc quyền kinh tế chúng ta cần chú ý tới việc phân định ranh giới vùng đặc quyền kinh tế giữa các quốc gia cận kề hoặc đối diện nhau: Theo quy định của pháp luật quốc tế việc phân định ranh giới vùng đặc quyền kinh

tế giữa các quốc gia cận kề hoặc đối diện nhau được thực hiện bằng phương pháp thương lượng dựa trên phương pháp thương lượng dựa trên nguyên tắc công bằng hợp

lý (theo Công ước 1982) Nếu cần thì sử dụng đường trung tuyến hoặc đường phân tuyến cách đều, có chú ý đến các điều kiện hợp lý Trong lúc chưa có một thoả ước thì không một nước nào có quyền mở rộng vùng ĐQKT của nước mình ra ngoài đường trung tuyến Như vậy có 2 cách phân chia ranh giới vùng ĐQKT giữa hai nước ven biển láng giềng: chia theo sự thoả thuận chung giữa hai nước hoặc chia theo nguyên tắc trung tuyến cách đều các đường cơ sở để tính chiều rộng lãnh hải Việc xác định ranh

Trang 6

giới giữa hai nước liền kề nhau hoặc đối diện nhau theo Công ước 1982 là hoàn toàn hợp lý

Theo Tuyên bố ngày 12/5/1977 của Chính phủ Việt Nam, tại nhiều khu vực mà vùng ĐQKT của Việt Nam chưa ra tới hết 200 hải lý kể từ đường cơ sở mà đã gặp vùng ĐQKT của quốc gia khác (như Malaysia, Indonesia, Campuchia, Thái lan, Trung Quốc) thì ranh giới phân chia vùng ĐQKT giữa ta với các nước có liên quan sẽ được quy định phù hợp với pháp luật và tập quán quốc tế hoặc theo Điều ước quốc tế mà Việt Nam ký kết với các nước láng giềng (theo khoản 4 Điều 7 Nghị định 140/2004/NĐ-CP của Chính phủ ngày 25/6/2004 quy định chi tiết một số điều của Luật biên giới quốc gia)

3 Quy chế pháp lý quốc tế của vùng Đặc quyền kinh tế.

Ngay từ khái niệm “vùng ĐQKT” ta đã thấy nổi lên mục đích của nước ven biển trong đề nghị thiết lập vùng biển này là nhằm thoả mãn nhu cầu phát triển kinh tế và bảo vệ tài nguyên ở vùng biển tiếp giáp với lãnh hải của mình, chống lại sức mạnh của các đế quốc hàng hải Quy chế pháp lý về vùng ĐQKT được khẳng định từ Công ước

1982, trong đó quốc gia ven biển không có chủ quyền với tư cách là chủ sở hữu hoàn toàn trong một khoảng không gian như trong trường hợp nội thủy và lãnh hải nhưng lại

có quyền chủ quyền không chia sẻ đối với các tài nguyên sinh vật và không sinh vật; đối với các hoạt động nhằm mục đích kinh tế Đó là quyền thuộc quốc gia ven biển do

sự mở rộng quyền lực của chủ quyền quốc gia ra biển, một quyền “đương nhiên được có” (Công ước 1982) và có một số quyền tài phán nhất định (Điều 56, 60, 61, 62, 210,

211, 212 Công ước 1982) trong khi vẫn tôn trọng các quyền khác của các quốc gia khác trong các lĩnh vực khác Các quyền tài phán này là hệ quả của quyền chủ quyền của quốc gia ven biển để bảo đảm cho quyền chủ quyền đó không bị xâm phạm

a Đặc quyền của nước ven biển trong vùng ĐQKT bao gồm:

+ Nước ven biển có quyền chủ quyền hoàn toàn về thăm dò khai thác, bảo

vệ, sử dụng và quản lý tất cả tài nguyên thiên nhiên sinh vật và phi sinh vật ở vùng nước, ở đáy biển và trong lòng đất dưới đáy biển…

Ví dụ: Vì là người quản lí duy nhất nên quốc gia vên biển có độc quyền được dựa vào khả năng đánh bắt của mình trong vùng biển này để có thể chấp nhận cho phép tàu thuyền đánh cá của nước ngoài vào khai thác bằng con đường hiệp thương, cho phép các nước khai thác số dư, đặc biệt ưu tiên sự tham gia của các nước không có biển hay

có vị trí địa lý bất lợi về biển…) Như vậy, quyền chủ quyền về thăm dò, khai thác tài nguyên thiên nhiên trong vùng ĐQKT đã được Công ước 1982 khẳng định chỉ thuộc về quốc gia ven biển Song các quốc gia khác cũng có quyền lắp đặt các dây cáp và ống

Trang 7

dẫn ngầm trong vùng ĐQKT, nhưng khi thực hiện các quyền này, các quốc gia đó không được gây ảnh hưởng đến quyền của các quốc gia ven biển

+ Quốc gia ven biển có quyền và thẩm quyền riêng biệt về việc thiết lập các công trình, thiết bị, đảo nhân tạo để nhằm mục đích kinh tế, nghiên cứu khoa học và bảo vệ moi trường biển, thăm dò, khai thác tài nguyên sinh vật ở đáy biển và trong lòng đất dưới đáy biển (Điều 60 và Điều 193 Công ước 1982) Quốc gia ven biển có toàn quyền tài phán phù hợp với các điều khoản của công ước trong việc thiết lập và sử dụng các đảo nhân tạo, công trình, thiết bị điện

+ Quốc gia ven biển có thẩm quyền riêng biệt về nghiên cứu khoa học biển: quốc gia ven biển thoả thuận cho việc thực hiện các dự án nghiên cứu khoa học của các nước khác hoặc của các tỏ chức quốc tế có thẩm quyền dự định tiến hành trong vùng ĐQKT của mình theo đnsg quy định của công ước nhằm mục đích hoà bình và vì lợi ích của toàn thể nhân loại Quốc gia ven biển có quyền tài phán trong hoạt động nhằm mục đích kinh tế

Ví dụ: Theo Công ước 1982, nước ven biển có quyền đình chỉ ngay các công việc nghiên cứu khoa học biển đang tiến hành trong vùng ĐQKT của họ nếu như bên xin phép không tiến hành đúng các cam kết như trong giấy cấp giấy phép

b Quy chế pháp lý về vùng ĐQKT của Việt Nam:

Tuyên bố ngày 12/5/1977 của Chính Phủ Việt Nam quy định: “Nước CHXHCN Việt Nam có chủ quyền hoàn toàn về việc thăm dò, khai thác, bảo vệ và quản lý tất cả các tài nguyên thiên nhiên, sinh vật và không sinh vật ở vùng nước, ở đáy biển và trong lòng đất dưới đáy biển của vùng ĐQKT của Việt Nam: có quyền và thẩm quyền riêng biệt về các hoạt động khác phục vụ cho việc thăm dò và khai thác vùng ĐQKT nhằm mục đích kinh tế, có thẩm quyền riêng biệt về nghiên cứu khoa học trong vùng ĐQKT của Việt Nam Nước CHXHCN Việt Nam có thẩm quyền về bảo vệ môi trường, chống ô nhiểm môi trường trong vùng ĐQKT của Việt Nam”

Với tư cách thành viên Công ước 1982, trong các văn bản pháp luật quốc gia của Việt Nam đều khẳng định Nhà nước Việt Nam có đặc quyền và quyền tài phán đối với vùng ĐQKT của mình trong các lĩnh vực khai thác tài nguyên sinh vật, không sinh vật, trong nghiên cứu khoa học biển, xây dựng, khai thác đảo nhân tạo hoặc các công trình thiết bị và đặc biệt là bảo vệ và chống ô nhiễm môi trường biển

4 Việc thực hiện quyền chủ quyền của Việt Nam trên vùng ĐQKT:

Liên quan đến việc thực hiện các ĐQKT trong vùng này, pháp luật của Việt Nam đã

có bước phát triển quan trọng để đảm bảo thực thi chế độ pháp lí của vùng này và thụ

Trang 8

hưởng các đặc quyền về khai thác tài nguyên sinh vật Việt Nam đã ban hành Luật Thủy sản và luật này đã được sửa đổi, bổ sung có hiệu lực từ 1/7/2004 Về tổng thể, Luật Thủy sản thực tế đã hình thành được khuôn khổ pháp lý để cá nhân, tổ chức khai thác thủy sản trong các vùng biển thuộc chủ quyền, quyền chủ quyền của Việt Nam phải có giấy phép khai thác thủy sản do Bộ Thủy sản cấp Đối với hoạt động khai thác thủy sản

do cá nhân, tổ chức nước ngoài thực hiện thì Bộ Thủy sản chỉ cấp giấy phép cho những đối tượng là công dân, pháp nhân của quốc gia có kí kết hiệp đinh hợp tác nghề cá với Chính phủ Việt Nam hoặc theo các hợp đồng sản xuất kinh doanh nghề cá đã được cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam phê duyệt Chẳng hạn, ngày 25/12/2000 giữa VIệt Nam và Trung Quốc đã kí kết hiệp định hợp tác nghề cá trong Vịnh Bắc Bộ, trong đó cả hai bên Việt Nam và Trung Quốc cùng có thẩm quyền khai thác đối với vùng đánh cá chung rộng 30,5 hải lý tính từ đường phân định (đạt tổng diện tích là 33500 km2) Cùng với một số văn kiện pháp lí song phương khác được kí kết giữa hai nước, Hiệp đinh này khẳng định các hợp tác nghề cá tiến hành trong vịnh chung giữa hai nước được thực hiện trên cơ sở tôn trọng chủ quyền, quyền chủ quyền và quyền tài phán của nhau, không ảnh hưởng tới chủ quyền mỗi bên trong lãnh hải và các quyền lợi khác thuộc vùng ĐQKT của mỗi bên

Ngoài ra, đối với việc đảm bảo thi hành pháp luật trong vùng ĐQKT của Việt Nam nhằm ngăn ngừa và trừng trị các hành vi vi phạm về bảo vệ môi trường, nghiên cứu, thăm dò và khai thác tài nguyên trong vùng này, pháp luật Việt Nam quy định áp dụng các biện pháp xử phạt hành chính hoặc hình sự Việc áp dụng những hình phạt chính, như cảnh cáo, phạt tiền (VÍ dụ: mức phạt đối với hành vi xâm phạm vùng ĐQKT như các hoạt động thăn dò, khai thác nguồn lợi hải sản, dầu khí, tài nguyên khác có thể đến tối đa là 500 triệu đồng Việt Nam); hoặcnhững hình phạt bổ sung (tước quyền sử dụng giấy phép, chứng chỉ hành nghề…) đã có tác dụng bảo đảm an toàn, an ninh ở vùng ĐQKT

III Vùng thềm lục địa (TLĐ)

1 Khái niệm.

Công ước 1982 định nghĩa: “TLĐ của một quốc gia ven biển bao gồm đáy biển và lòng đất dưới đáy biển bên ngoài lãnh hải của quốc gia đó, trên toàn bộ phận kéo dài

tự nhiên của lãnh thổ đất liền của quốc gia đó cho đến bờ ngoài của rìa lục địa, hoặc đến cách đường cơ sở dùng để tính chiều rộng lãnh hải 200 hải lý khi bờ ngoài của rìa lục địa của quốc gia đó ở khoảng cách gần hơn” (khoản 1 Điều 76) TLĐ có thể được

mở rộng nhưng không vượt quá 350 hải lý tính từ đường cơ sở dùng để tính chiều rộng lãnh hải hoặc cách đường đẳng sâu 2.500 m (2.500 meters isobath) (đường nối liền các điểm có độ sâu 2.500 m) một khoảng cách không quá 100 hải lý (khoản 5 Điều 76)

Trang 9

Theo định nghĩa này, bản chất của TLĐ được thể hiện rõ cả về phương diện tự nhiên và phương diện pháp lý Về phương diện tự nhiên, đó là phần lãnh thổ đất liền

mở rộng ra hướng biển, tại đó danh nghĩa chủ quyền tạo ra cho quốc gia các đặc quyền

có tính chất đương nhiên Về pháp lý, sự mở rộng lãnh thổ này không có ý nghĩa thiết lập vùng lãnh thổ mới của quốc gia vì theo luật biển quốc tế, biên giới biển của quốc gia được giới hạn bởi đường ranh giới phía ngoài lãnh hải và đó là sự bắt đầu của TLĐ pháp lý có từ cơ sở lãnh thổ đất liền

2 Cách xác định TLĐ theo pháp luật quốc tế.

Theo pháp luật quốc tế thì TLĐ bao gồm: “Toàn bộ vành đai lục địa, tức là bao gồm

bề mặt lòng đất của thềm, dốc và khối nhỏ lục địa Đáy sâu thẳm của đại dương cùng với các dải núi đại dương của nó hoặc lòng đất của nó không thuộc thành phần của TLĐ” Tuy nhiên để đảm bảo công bằng giữa các quốc gia có vùng TLĐ rộng và các

quốc gia có TLĐ hẹp và để phù hợp với tương quan về lợi ích giữa các quốc gia ven biển và tất cả các quốc gia khác, trong mọi trường hợp, TLĐ không được phép mở rộng

ra quá 350 hải lí kể từ đường cơ sở mặc dù vành đai lục địa ở đó vượt qua giới hạn này Căn cứ vào Công ước 1982 chúng ta thấy ranh giới phía ngoài của TLĐ được xác định

theo hai tiêu chuẩn : tiêu chuẩn khoảng cách và tiêu chuần về độ sâu.

- Theo tiêu chuẩn về khoảng cách kể từ đường cơ sở, ranh giới phía ngoài của TLĐ có

thể thiết lập bằng ba cách:

Cách 1: Lấy bờ ngoài của rìa lục địa khi bờ ngoài cách đường cơ sở 200 hải lý Cách 2 Lấy đến khoảng cách 200 hải lý kể từ đường cơ sở khi vành đai lục địa chưa

mở rộng tới 200 hải lý

Cách 3 Lấy khoảng cách không quá 350 hải lý kể từ đường cơ sở ở những nơi TLĐ mở rộng ra quá 200 hải lý

- Theo tiêu chuẩn về độ sâu: TLĐ có thể được mở rộng hơn cách đường đẳng sâu

2.500 m (đường nối liền các điểm có cùng độ sâu 2.500 m tính từ mặt nước biển) một khoảng cách không quá 100 hải lý

3 Quy chế pháp lý.

Quốc gia ven biển thực hiện các quyền chủ quyền đối với TLĐ về mặt thăm dò và khai thác tài nguyên thiên nhiên (khoáng sản, tài nguyên không sinh vật như dầu khí, các tài nguyên sinh vật như cá, tôm ) của mình Vì đây là đặc quyền của quốc gia ven biển nên không ai có quyền tiến hành các hoạt động như vậy nếu không có sự thỏa thuận của quốc gia đó Nghĩa là chỉ quốc gia ven biển mới có quyền cho phép và quy

Trang 10

định việc khoan ở TLĐ bất kỳ vào mục đích gì Tuy nhiên, quốc gia ven biển khi thực hiện quyền đối với TLĐ không được đụng chạm đến chế độ pháp lý của vùng nước phía trên, không được gây thiệt hại đến hàng hải hay các quyền tự do của các quốc gia khác Quốc gia ven biển có quyền tài phán về nghiên cứu khoa học Mọi nghiên cứu khoa học biển trên TLĐ phải có sự đồng ý của quốc gia ven biển Tất cả các quốc gia khác đều có quyền lắp đặt các dây cáp và ống dẫn ngầm ở TLĐ

4 Pháp luật Việt Nam về cách xác định và việc thực hiện.

Theo Tuyên bố ngày 12/5/1977 của Chính phủ nước CHXHCN Việt Nam thì TLĐ

mà Việt Nam xác định chính là dải đất kéo dài tự nhiên của lục địa Việt Nam đến bờ ngoài của rìa lục địa đó Theo tuyên bố này, nếu bờ ngoài của rìa lục địa không đến 200 hải lý tính từ đường cơ sở dùng để tính chiều rộng lãnh hải thì sẽ kéo đến 200 hải lý Chính quy định này sẽ làm cho dải đất kéo dài tự nhiên của 3260 km bờ biển Việt Nam

và dải đất kéo dài tự nhiên của hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa kết hợp với nhau tạo thành một vùng TLĐ rộng lớn và liên hoàn

Việt Nam có quyền chủ quyền về mặt thăm dò và khai thác nguồn lợi thiên nhiên ở vùng TLĐ, quyền này là tuyệt đối, có nghĩa là nếu Việt Nam không thăm dò hay không khai thác các nguồn lợi thiên nhiên của mình thì cũng không có nước nào có quyền tiến hành các hành động thăm dò và khai thác mà không được sự chấp thuận của Việt Nam Việt Nam có toàn quyền cho phép và điều chỉnh việc khoan ở TLĐ với bất kì mục đích nào, việc đặt các ống dẫn dầu ở TLĐ phải được sự chấp thuận của Việt Nam và phải phù hợp với các quy định trong công ước quốc tế Việt Nam có quyền tiến hành các biện pháp thích hợp để bảo vệ môi trường biển khỏi bị ô nhiễm đồng thời xây dựng những công trình cần thiết cho việc thăm dò và khai thác TLĐ và thiết lập một vùng an toàn xung quanh nhừng kiến trúc đó với một chiều rộng là 500m kể từ những điểm ngoài cùng của các công trình thiết bị

Việt Nam không cản trở quy chế pháp lý của vùng nước phía trên, không phận phía trên vùng nước ấy Không cản trở quyền các nước khác đặt dây cáp ngầm và ống dẫn ngầm trên TLĐ, việc phác họa kế hoạch đặt ống dẫn ngầm phải được sự đồng ý của Việt nam

a Phân định vùng biển giữa Việt Nam và Thái Lan trong Vịnh Thái Lan.

Vùng biển chồng lấn giữa Việt Nam và Thái Lan trong khu vực Vịnh Thái Lan rộng khoảng 6074 Km2 được hình thành trên cơ sở yêu sách của Việt Nam năm 1971 và Thái Lan năm 1973 Năm 1992, Việt Nam và Thái Lan chính thức đàm phán phân định vùng biển chồng lấn giữa hai nước và sau 7 năm với 9 vòng đàm phán, hai nước đã đạt được giải pháp phân định cho vùng biển chồng lấn Hiệp định phân định biển giữa Việt

Ngày đăng: 27/03/2019, 11:42

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w