1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

Ngữ pháp văn bản tiếng việt

30 2,1K 7
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 30
Dung lượng 2,63 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

1.CÂU: Câu là gì? Câu là đơn vị văn bản nhỏ nhất, là thành tố nhỏ nhất của văn bản có một cấu trúc và một nội dung nhất định. Nội dung này có thể đầy đủ hoặc không đầy đủ. Đơn vị này có ranh giới xác định, nó bắt đầu bằng chữ cái hoa và kết thúc bằng dấu ngắt câu. Đó là dấu chấm câu (.) dấu chấm hỏi (?), dấu chấm cảm () và đôi khi, dấu hai chấm (:) hoặc dấu (…)hết câu. Đó là đơn vị văn bản cơ sở dùng để cấu tạo nên các đơn vị văn bản thuộc các cấp độ cao hơn tức là các kết cấu văn bản như cụm câu, đoạn văn, mục, tiết… Đoạn văn là gì? Đoạn văn là một kết cấu văn bản, là một tập hợp các cụm câu liên kết chặt chẽ với nhau về hai mặt nội dung và hình thức nhờ các phương tiện liên kết nhằm thể hiện một chủ đề bộ phận trong chủ đề chung của văn bản hoặc của kết cấu văn bản thuộc cấp độ cao hơn đoạn văn. Về mặt cấp độ: đoạn văn là đơn vị ngữ pháp văn bản ở cấp độ cao hơn cụm câu

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC ĐỒNG THÁP

KHOA NGỮ VĂN

Trang 3

thúc bằng dấu ngắt câu Đó là dấu chấm câu (.)

Trang 4

dấu chấm hỏi (?), dấu chấm cảm (!) và đôi khi, dấu hai chấm (:) hoặc dấu (…)hết câu Đó là đơn vị văn bản cơ sở dùng để cấu tạo nên

các đơn vị văn bản thuộc các cấp độ cao hơn tức là các kết cấu văn bản như cụm câu,

đoạn văn, mục, tiết…

Trang 6

2 Cụm câu:

Cụm câu là gì?

Cụm câu là đơn vị ngôn ngữ ở bậc trên câu và là tập hợp câu gắn bó chặt chẽ về nội dung và hình thức nhờ các phương tiện liên kết câu và thể hiện một chủ đề đơn nghĩa là một chủ đề nhỏ nhất

thường không có khả năng chia thành các chủ đề nhỏ hơn Chủ đề này sẽ bao quát ý tưởng của các câu thành tố

Trang 7

-Về mặt cấp độ: cụm câu là thành tố của văn bản, là đơn vị văn bản ở bậc trên trực tiếp của phát ngôn -Về mặt nội dung thông báo: cụm câu thể hiện ở

một chủ đề đơn hay đơn chủ đề.

-Về mặt kết cấu: cụm câu gồm một số câu gắn bó với nhau bởi sự liên kết nhất định, có một kết cấu nội bộ nhất định.

-Về mặt hình thức: cụm câu có liên kết nội tại chặt: chúng có thể liên kết móc xích hoặc liên kết song song nhờ các phương tiện liên kết văn bản Nó có thể được phân cách với các cụm câu khác nhờ

dấu chấm qua hàng hoặc không qua hàng mà

đơn giản là sự chuyển đổi chủ đề

Trang 8

Thúy Kiều là chị, em là Thúy Vân”

giới thiệu gia đình Kiều.

- Cụm 2: “Mai cốt cách, tuyết tinh thần

….

Tường đông ong bướm đi về mặc ai”

miêu tả vẻ đẹp của hai chị em Thúy Kiều

Trang 9

- Về mặt cấp độ: đoạn văn là đơn vị ngữ pháp văn bản ở cấp độ cao hơn cụm câu

Trang 10

-Về mặt nội dung, ngoài mối liên kết với toàn

văn bản, các cụm câu trong đoạn văn liên kết chặt chẽ với nhau và làm thành một chỉnh

thể thông báo làm nên chủ đề của đoạn văn -Về mặt kết cấu, là thành phần cấu tạo nên văn bản, đoạn văn là đơn vị có cấu trúc nội bộ và

có sự chi phối của văn bản hoặc của kết cấu văn bản ở cấp độ cao hơn đoạn văn.

-Về mặt hình thức, các cụm câu trong đoạn văn thường liên kết chặt chẽ với nhau nhờ các

phương tiện liên kết hình thức

Trang 11

Ví dụ:

Một tiếng hét dữ dội(1) Tnu đã nhảy xổ vào

giữa bọn lính(2) Anh không biết đã làm gì(3) Chỉ thấy thằng lính giặc to béo nằm ngửa ra giữa sân, thằng Dục tháo chạy vào nhà

ưng(4) Tiếng lên đạn lách cách quanh

anh(5) Rồi Mai ôm đứa con chui vào ngực anh(6) Hai cánh tay rộng lớn như hai cánh lim chắc của anh ôm chặt lấy mẹ con Mai.(7)

Trang 12

Đoạn văn trên gồm 7 câu trong đó các câu liên kết chặt chẽ với nhau theo nguyên tắc logic Câu (1) với hành động “thét”, câu (2) là “nhảy xổ”, câu (3), câu (4) là hệ quả của câu (2),

câu (5) là hệ quả của câu (4) Các câu này diễn tả hành động dũng cảm cua Tnu Các câu (6), (7) diễn tả tình cảnh đáng thương

của gia đình anh trước tội ác của giặc.

Như vậy toàn đoạn văn được liên kết một cách chặt chẽ, diễn đạt nội dung hoàn chỉnh đó là hành động của một con người có trách

nhiệm, thương yêu gia đình, không thể

khoanh tay đứng nhìn khi chứng kiến cảnh

vợ con bị tra tấn dã man.

Trang 13

4.Các kết cấu văn bản trên đoạn văn

-Mục là phần của văn bản trình bày trọn vẹn một

điểm một khía cạnh hoặc một vấn đề do đoạn văn cấu tạo nên.

-Tiết, bài là phần của văn bản trình bày tương đối

trọn vẹn một ý tưởng thường bao gồm nhiều mục Tiết là đơn vị văn bản thường được dùng trong các văn bản nghiên cứu khoa học, còn bài thường được dùng trong các văn bản giáo khoa.

-Chương, hồi là phần của văn bản có nội dung trọn vẹn cao, thường do nhiều tiết, bài hoặc tình tiết cấu tạo nên Chương là tên gọi thường được dùng trong các văn bản khoa học, giáo khoa và truyện hiện đại,

Trang 14

-Phần là một bộ phận của văn bản, diễn đạt

một nội dung trọn vẹn cao, thường do nhiều chương cấu tạo nên.

-Văn bản là kết cấu văn bản lớn nhất, là đơn vị

cơ bản của ngôn ngữ trong sự vận hành của nó.

Ví dụ: Tác phẩm “Dấu chân người lính” của

Nguyễn Minh Châu có 3 phần, 17 chương.

Trang 15

II Kết cấu văn bản

Một cách khái quát, kết cấu của văn bản có khuôn hình

thường dùng gồm có ba phần, có thể gọi tên theo tuần tự như sau:

Loại kết câu này được sử dụng rộng rãi trong nhà trường,

kết cấu của văn bản

Phần mở Phần thân

Phần kết

Trang 16

Ngoài ba phần vừa nêu, văn bản còn có thêm yếu

Phần Mở

Phần Thân

Phần Kết

Trang 17

Đ u đ ầ ề

Đặt đầu đề cho văn bản ngày nay đã trở thành một

“nghệ thuật” phức tạp mà yếu tố chi phối là mục

đích sử dụng văn bản ít nhất ở đây có hai lựa

chọn cần đặt ra trong mối quan hệ giữa phần đầu

đề với phần văn bản còn lại:

- Đặt đầu đề theo hướng nêu tên đề tài hay theo hướng nêu chủ đề

- Đặt đầu đề theo lối phản ánh trực tiếp hay theo lối phản ánh gián tiếp nội dung phần còn lại của văn bản

Về mặt cấu tạo ngữ pháp, đầu đề nên đặt bằng một danh từ, cụm danh từ, cố gắng tránh dùng câu có

Trang 18

Phần mở

Với mục đích là nêu tên đề tài – chủ đề của

văn bản, văn bản miêu tả ở phần mở thường

có kèm những yếu tố hoàn cảnh không gian, còn văn bàn nghị luận thường kèm theo

những yếu tố khác nữa, phức tạp hơn

Nhìn tổng quát có thể nêu lên những yêu tố nội dung sau đây ở phần mở:

- Nêu tên đề tài- chủ đề

-Nêu khung cảnh chung của đề tài- chủ đề

-Giới hạn nội dung được đề cập đối với đề

tài- chủ đề, cũng tức là định hướng cho việc

Trang 19

Số lượng các ý được chọn phải thep tiêu chuẩn logic là cần và đủ, nhờ

đó văn bản sẽ tránh được hiện tượng “thiếu ý” và “rườm rà”

Phân cấp ý là biểu hiện của việc biết đánh giá tác dụng của các ý trong văn bản đang thực hiện Ở đây 2 khái niệm tương đương và bao hàm

có vai trò quyết định.

Phải xác định ý nào tương đương với ý nào Ý nào bao hàm ý nào và ý

Trang 20

Phần kết

Phần kết có tác dụng tạo cho văn bản tình kết thúc, tính

chất đóng cả về phương diện nội dung lẫn phương diện hình thức Phần kết có thể được thực hiện theo mấy

hướng sau đây, sử dụng riêng lẻ hoặc kết hợp với nhau:

- Điểm khái quát toàn bộ nội dung của phần thân một

trong văn bản.

Trang 21

Ngoài những nét lớn kể trên, đối với kết cấu văn bản còn có những vấn đề khác nũa, trong đó có một số vấn đề về Mạch lạc trong văn bản, sẽ bàn

ở phần nói về Đoạn văn

Nhìn lại toàn cục, khi bàn về kết cấu của văn bản cần chú ý hai phần có quan hệ mật thiết với nhau: một phần thuộc phương diện kết cấu văn bản ,

một phần thuộc phương diện hiện thực hóa kết

cấu đó, còn gọi là lấp đầy văn bản.

Đối với kết câu văn bản, tiêu chuẩn đánh giá là

tính đúng, tính hợp logic ; đối với việc hiện thực hóa văn bản thì tiêu chuẩn đánh giá là tốt hay

không tốt.

Trang 22

[I] NGƯỜI THẦY ĐẠO CAO ĐỨC TRỌNG

[II] (1) Ông Chu Văn An đời Trần là một thầy giáo giỏi, tính

tình cứng cỏi, không màng danh lợi.

[III](2) Học trò theo ông rất đông (3)Nhiều người đỗ cao và

sau này giữ những trọng trách trong triều đình như các ông Phạm Sư Mạnh, Lê Bá Quát, vì thế mà vua Trần Minh Tông vời ông ra dạy thái tử học (4) Đến thời Dụ Tông, vua thích vui chơi, không coi sóc đến việc triều đính, lại tin dùng bọn nịnh thần (5) Ông nhiều lần can ngăn nhưng vua không

nghe (6) Lần cuối, ông trả lại áo mũ triều đình, từ quan về làng.

VÍ DỤ

Trang 23

[IV] (7) Học trò của ông, từ người làm quan to đến người bình

thường khi có dịp tới thăm thầy cũ, ai cũng giữ lễ (8) Nếu họ có đều gì không phải, ông mắng ngay, có khi không cho vào thăm.

[V] (9) Khi ông mất, mọi người đều thương tiếc.

Các thành tố kết cấu của văn bản này như sau:

[I] – Đầu đề

[II] – Phần mở

[III, IV] – Phần thân

[V] –Phần kết

Trang 24

Đầu đề: ở đây được chọn theo lối kết hợp đề tài và

tuyến chủ đề: đề tài là người thầy, chủ đề là đạo cao

đức trọng.

Nếu đầu đề chỉ là đề tài thì có thể là một trong nhưng cách

diễn đạt sau đây: Ông hay Thầy [giáo] Chu Văn An, hay một

ông thầy, hay thậm chí chỉ Chu Văn An…

Nếu đầu đề chỉ là chủ đề thì đại loại có thể là: Một tấm

gương cao quý, Đạo đức của một ông thầy, thậm chí chỉ Đạo cao đức trọng, Đạo làm thầy…

Đầu đề được chọn cũng thuộc loại đầu đề trực tiếp.

Trang 25

Phần mở : Chỉ dùng một câu ngữ pháp mà đã nêu

được các yếu tố khống chế đủ rõ và cần thiết.

-Tên nhân vật (Chu Văn An);

- Thời điểm lịch sử (đời Trần);

- Cương vị xã hội (thầy giáo);

- Phẩm chất (giỏi, tính tình cứng cỏi, không màng danh lợi).

Phần mở ngắn gọn, bằng một câu ngữ pháp, ở đây thực

hiện cùng một lúc hai nhiệm vụ:

- Cụ thể hóa đầu đề ở hai phương diện nhân vật và phẩm chất khái quát của nhân vật: Ông Chu Văn An đời Trần với

cương vị một thầy giáo; phẩm chất khái quát là giỏi nghề, tính

Trang 26

- Mở ra, có giới hạn chật chẽ nội dung của phần thân, nói cách khác là định hướng nội dung cụ thể

và chật chẽ cho việc triển khai nội dung phần tiếp theo

Trang 27

Phần thân:

Được chia làm hai đoạn văn căn cứ vào

tuyến thời gian: Đoạn văn III nói về thời kì ông Chu Văn An đang làm việc, đoạn văn IV nói về thời kì ông thôi việc Trong mỗi đoạn đều có nói cả phần đạo cao lẫn phần đức

trọng.

Ở đoạn III phần đạo cao thể hiện ở chỗ có nhiều học trò và học trò nhiều người đỗ đạt, được vua vời dạy thái tử Phần đức trọng là can ngăn vua và không can ngăn và trả mũ

áo triều đình, từ quan về làng.

Trang 28

Ở đoạn IV, đạo cao và đức trọng khiến cho các “ quan - học trò và các “ dân – học trò” khi đến thăm phải giữ lễ,

đức trọng còn thể hiện ở chỗ ai không phải thì (dù đó là

quan – học trò ) vẫn bị mắng, có khi không được tiếp.

Phần đạo cao trong hai đoạn văn này làm rõ cái ý một

thầy giáo giỏi Cái chi tiết: can ngăn vua, mắng, không cho

vào thăm đối với những học trò thất lễ giải thích cái tính

tình cứng cỏi Trả lại áo mũ triều đình, từ quan về làng là không màng danh lợi Như vậy là các tiểu chủ đề (thầy)

giỏi , cương nghị, coi thường danh lợi được đặt ra ở đầu

đề điều được thực hiện vừa đúng tiêu chuẩn cần và đủ ở phần thân: không thiếu cái cần thiết, không thừa cái không cần thiết.

Cả hai đoạn văn II,IV bổ sung ý cho nhau, cho thấy cái tài,

Trang 29

Phần kết:

Chỉ bằng một câu ngữ pháp đã nâng tất cả đạo

cao đức trọng của ông lên một nấc thang khái

quát hơn: mọi người đều thương tiếc, tất nhiên là

vì cái đạo ấy cái đức ấy, và cho phép hiểu là

không chỉ riêng học trò của ông mà là mọi người!

Tài đức của ông không chỉ được nể vì khi ông còn sống, mà còn được kính phục cả khi ông qua đời

Trang 30

BÀI GIẢNG CỦA NHÓM 4 ĐẾN ĐÂY LÀ KẾT THÚC MONG SỰ ĐÓNG GÓP Ý KIẾN CỦA THẦY VÀ CÁC

BẠN

Ngày đăng: 04/02/2015, 00:44

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w