ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊNTRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TRẦN KIM OANH NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM CẤU TRÚC VÀ TÁI SINH TỰ NHIÊN TRONG MỘT SỐ QUẦN XÃ RỪNG TRÔ ̀ NG THUẦN LOÀI VÀ HỖN GIAO TẠI XÃ NGỌC ĐƯỜNG THÀ
Trang 1ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
TRẦN KIM OANH
NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM CẤU TRÚC VÀ TÁI SINH TỰ NHIÊN TRONG MỘT SỐ QUẦN XÃ RỪNG TRÔ ̀
NG THUẦN LOÀI VÀ HỖN GIAO TẠI XÃ NGỌC ĐƯỜNG THÀNH
PHỐ HÀ GIANG
LUẬN VĂN THẠC SĨ SINH HỌC
THÁI NGUYÊN - 2015
Trang 2ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
TRẦN KIM OANH
NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM CẤU TRÚC VÀ TÁI SINH TỰ NHIÊN TRONG MỘT SỐ QUẦN XÃ RỪNG TRÔ ̀
NG THUẦN LOÀI VÀ HỖN GIAO TẠI XÃ NGỌC ĐƯỜNG THÀNH
PHỐ HÀ GIANGChuyên ngành: Sinh thái học
Mã số: 60.42.01.20
LUẬN VĂN THẠC SĨ SINH HỌC
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS LÊ NGỌC CÔNG
THÁI NGUYÊN - 2015
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan nghiên cứu là của riêng tôi
Các số liệu kết quả nêu trong luận văn này là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác
Tác giả
Trần Kim Oanh
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành luận văn tốt nghiệp này, tôi xin trân trọng cảm ơn PGS.TS
Lê Ngọc Công đã tận tình hướng dẫn tôi trong suốt quá trình học tập và nghiêncứu khoa học để hoàn thành luận văn thạc sỹ
Tôi xin trân trọng cảm ơn các thầy cô giáo trong ban chủ nhiệm khoaSinh - KTNN, khoa Sau Đại học - trường Đại học Sư phạm Thái Nguyên, cùngcác thầy cô đã nhiệt tình giảng dạy và tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong họctập và nghiên cứu khoa học
Tôi xin chân thành cảm ơn gia đình, bạn bè, đồng nghiệp đã luôn luônđộng viên giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu
Tôi cũng xin chân thành cảm ơn lãnh đạo trường THPT Ngọc Hà - TP HàGiang và các tổ chức cá nhân đã tạo điều kiện thuận lợi cho tôi được học tập vàhoàn thành luận văn này
Tác giả
Trần Kim Oanh
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN ii http://www.lrc.tnu.edu.vn
Trang 5MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT VÀ KÍ HIỆU SỬ DỤNG TRONG LUẬN VĂN iv
DANH MỤC CÁC BẢNG v
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Mục tiêu nghiên cứu 2
3 Giới hạn nghiên cứu 3
Chương 1: TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 4
1.1 Một số khái niệm về tái sinh và phục hồi 4
1.1.1 Tái sinh rừng 4
1.1.2 Phục hồi rừng 5
1.2 Nghiên cứu về cấu trúc rừng 5
1.2.1 Nghiên cứu về cấu trúc rừng trên thế giới 5
1.2.2 Những nghiên cứu về cấu trúc rừng ở Việt Nam 8
1.3 Nghiên cứu về tái sinh rừng 12
1.3.1 Trên thế giới 12
1.3.2 Ở Việt Nam 17
Chương 2: ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 25
2.1 Đối tượng nghiên cứu 25
2.2 Nội dung nghiên cứu 25
2.2.1 Đặc điểm cấu trúc của các quần xã rừng trồng 25
2.2.2 Thành phần dạng sống trong các quần xã rừng trồng 25
2.2.3 Đặc điểm tái sinh trong các quần xã rừng trồng 25
2.3.4 Đề xuất một số giải pháp nhằm xúc tiến tái sinh tự nhiên trong các quần xã rừng trồng 25
Trang 62.3 Phương pháp nghiên cứu 25
2.3.1 Thu thập số liệu về điều kiện tự nhiên, dân sinh, kinh tế - xã hội 25
2.3.2 Thu thập số liệu ở thực địa 26
2.3.3 Phỏng vấn người dân tại khu vực nghiên cứu 28
2.3.4 Phương pháp phân tích, xử lí số liệu 28
Chương 3: ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN VÀ XÃ HỘI KHU VỰC NGHIÊN CỨU 32
3.1 Điều kiêṇ tự nhiên 32
3.1.1 Vị trí địa lý 32
3.1.2 Đặc điểm địa hình 32
3.1.3 Đặc điểm khí hậu, thủy văn 33
3.1.4 Tài nguyên thiên nhiên 34
3.2 Đặc điểm kinh tế - xã hội 35
3.2.1 Dân số, dân tộc 35
3.2.2 Sản xuất Nông - Lâm nghiệp 36
3.2.3 Sản xuất Công nghiệp 37
3.2.4 Xây dựng nông thôn mới 37
3.2.5 Văn hóa, giáo dục, y tế 38
3.2.6 Thương mại, dịch vụ 38
Chương 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ PHÂN TÍCH 40
4.1 Đăcc̣ điểm tầng cây cao của các quần xã rừng trồng taịKVNC 40
4.2 Thành phần dangc̣ sống thưcc̣ vâṭtrong quần xã rừng trồng thuôcc̣ KVNC 46
4.2.1 Thành phần dangc̣ sống dưới tán rừng trồng Mỡ 46
4.2.2 Thành phần dangc̣ sống trong quần xã rừng trồng Keo 47
4.2.3 Thành phần dangc̣ sống trong quần xã rừng trồng hỗn giao (Thông Keo lá tràm)47 4.3 Đăcc̣ điểm tái sinh tư c̣nhiên quần xã rừng trồng 48
4.3.1 Cấu trúc tổthành cây tái sinh 48
4.3.2 Chất lươngc̣ vànguồn gốc cây tái sinh 54
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN iv http://www.lrc.tnu.edu.vn
Trang 74.3.3 Phân bốcây tái sinh theo cấp chiều cao 55
4.3.4 Phân bốcây tái sinh theo cấp đường kinh́ 57
4.5 Đềxuất môṭsốgiải pháp nhằm xúc tiến khảnăng tái sinh tư c̣nhiên ở các quần xã rừng trồng taịKVNC 60
4.5.1 Giải pháp vềchinh́ sách 60
4.5.2 Giải pháp vềkỹthuâṭ 62
́́ ̀ ̀ ́ 66
KÊT LUẬN, TÔN TẠI VA KIÊN NGHI 1 Kết luâṇ 66
2 Tồn taị 67
3 Kiến nghị 65
TÀI LIỆU THAM KHẢO 68
PHỤ LỤC
Trang 8DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT VÀ KÍ HIỆU
SỬ DỤNG TRONG LUẬN VĂN
Trang 9DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 4.1 Đăcc̣ điểm tầng cây cao của các quần xã rừng trồng taịKVNC 40 Bảng 4.2 Kết quả mô phỏng vàkiểm tra giảthuyết bằng hàm Meyer về
luâṭphân bốN/D1.3 41Bảng 4.3 Tương quan giữa chiều cao vút nhoṇ vàđường kinh́ ngang ngưcc̣
(H
VN /D 1.3) 44Bảng 4.4 Thành phần dangc̣ sống trong các quần xã rừng trồng 46Bảng 4.5 Đăcc̣ điểm kết cấu tổthành lớp cây tái sinh trong quần xã rừng
trồng Mỡ 48Bảng 4.6 Đăcc̣ điểm kết cấu tổthành lớp cây tái sinh trong quần xã rừng
trồng Keo 50Bảng 4.7 Đăcc̣ điểm kết cấu tổthành lớp cây tái sinh trong quần xã rừng
trồng hỗn giao (Thông + Keo lá tràm) 51Bảng 4.8 Chất lươngc̣ cây tái sinh dưới quần xã rừng trồng taịKVNC 54Bảng 4.9 Nguồn gốc cây tái sinh trong các quần xã rừng trồng taịKVNC 55Bảng 4.10 Mâṭđô c̣cây tái sinh theo cấp chiều cao trong các quần xã rừng
trồng tại KVNC 56Bảng 4.11 Mâṭđô c̣cây tái sinh theo cấp đường kinh́ trong các quần xã rừng
trồng taịKVNC 58
Trang 10DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình 2.1 Cách bố trí các ô dạng bản trong các ô tiêu chuẩn
Hình 4.1 Biểu đồ phân bố N/D1.3 rừng trồng thuần loài Mỡ
Hình 4.2 Biểu đồ phân bố N/D1.3 rừng trồng thuần loài Keo
Hình 4.3 Biểu đồ phân bố N/D1.3 rừng trồng hỗn giao (Thông + Keo lá tràm)
Hình 4.4 Biểu đồ phân bốsốcây theo cấp chiều cao dươi tan rưng trồng thuôcc̣ khu vưcc̣ xã Ngọc Đường - thành phố Hà Giang
Hình 4.5 Biểu đồ phân bốN/D loai Mỡ
̀̀ Hình 4.6 Biểu đồ phân bốN/D loai Keo
̀̀ Hình 4.7 Biểu đồ phân bốN/D1.3 cua cây tai sinh dươi tan rưng trồng hỗn giao (Thông + Keo)
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN vi http://www.lrc.tnu.edu.vn
Trang 11MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Rừng đóng vai trò hết sức quan trọng đối với con người, rừng là mộttrong những nguồn tài nguyên có khả năng tái tạo quý giá nhất của đất nước ta.Nếu không có rừng thì xã hội loài người sẽ không thể tồn tại được Rừng thamgia vào quá trình điều hòa khí hậu, duy trì tính ổn định và độ màu mỡ của đất,hạn chế lũ lụt, hạn hán, làm giảm nhẹ sức tàn phá khốc liệt của các thiên tai,góp phần bảo tồn nguồn nước mặt và nước ngầm
Nếu trên thế giới trong vòng 300 năm qua đã khai thác mất 2/3 diện tíchrừng thì ở Việt Nam tài nguyên rừng bị giảm đi 1/2 chỉ trong vòng 50 năm.Diện tích rừng tự nhiên của Việt Nam bị suy giảm một cách nhanh chóng từ14,3 triệu ha năm 1943 tương ứng độ che phủ 43%, đến năm 1995 chỉ còn 8,25triệu ha rừng tự nhiên và 1,05 triệu ha rừng trồng tương ứng độ che phủ 28%.Cùng với diện tích rừng bị mất, chất lượng rừng còn lại cũng giảm sút; trữlượng rừng thấp, nhiều loài cây gỗ quý trở nên hiếm, nhiều động thực vật cónguy cơ tuyệt chủng; khả năng cung cấp của rừng không đáp ứng được yêu cầungày càng tăng của xã hội; năng lực phòng hộ của rừng cũng bị hạn chế, thiêntai bão lụt ngày càng nghiêm trọng (dẫn theo Lê Đồng Tấn, 2000 [56])
Trước thực trạng này, việc trồng rừng, phục hồi lại rừng trở thành một mụctiêu quan trọng được Nhà nước, các nhà lâm nghiệp và toàn xã hội quan tâm
Sớm nhận thức được tầm quan trọng của nguồn tài nguyên rừng và vấn
đề bảo tồn chúng Chính phủ Việt Nam đã có nhiều hành động nhằm quản líbảo vệ và phát triển nguồn tài nguyên rừng, nhiều chương trình trồng rừngbằng nguồn vốn Nhà nước và hỗ trợ của các tổ chức quốc tế được thực hiệnnhư các dự án PAM, 327, 661, bảo vệ rừng, xúc tiến tái sinh rừng, khoanh nuôirừng phòng hộ, rừng đặc dụng nhờ đó mà diện tích rừng đã tăng lên đáng kể
Trang 12(năm 2013 độ che phủ là 40,7%), đặc biệt là diện tích rừng trồng trong đó có cảrừng sản xuất, rừng trồng đặc dụng, rừng trồng phòng hộ.
Tỉnh Hà Giang là một tỉnh miền núi biên giới phía Bắc của Tổ quốc, cótổng diện tích tự nhiên toàn tỉnh là 791.489,4ha, có diện tích rừng và đất lâmnghiệp 566.723,4ha chiếm 71,6% tổng diện tích tự nhiên của tỉnh Trong đó có437.217,9ha đất rừng, 358.147ha rừng tự nhiên, 79.070,9ha rừng trồng, độ chephủ 65,4 % diện tích tự nhiên
Thành phố Hà Giang có tổng diện tích đất tự nhiên là 13.404,6ha; trong
đó có 10.094,5ha đất lâm nghiệp, 1.823,7ha rừng đặc dụng; 3.025ha rừngphòng hộ (có 10ha rừng trồng); 5.218,8ha rừng sản xuất (có 1.195,9ha rừngtrồng)
Xã Ngọc Đường là một trong các xã thuộc vùng khoanh nuôi, phục hồi
và trồng rừng phủ xanh đất trống đồi núi trọc Tổng diện tích là 2.025,2ha trong
đó rừng trồng có diện tích là 628,3ha; đất chưa có rừng là 472,5ha, độ che phủ
là 65,9%
Trong những năm gần đây, công tác nghiên cứu, đánh giá thành phầnloài, tính đa dạng thực vật tại tỉnh Hà Giang đã được triển khai, nhưng các côngtrình đó chỉ mới dừng lại ở mức độ khái quát, chưa nghiên cứu sâu về đặc điểmtái sinh, sự phân bố và giá trị của từng loài từng họ Nhằm cung cấp thêmnhững cơ sở khoa học về chuyển hóa rừng trồng thành rừng gần giống với rừng
tự nhiên có tính bền vững của hệ sinh thái đáp ứng được mục tiêu của rừng đặcdụng và gắn liền với mục tiêu du lịch sinh thái Xuất phát từ tình hình đó,
chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: "Nghiên cứu đặc điểm cấu trúc và tái sinh tự nhiên trồng một số quần xã rừng trồng thuần loài và hỗn giao tại
Trang 13rừng hỗn loài đa tầng nhằm tăng cường tính đa dạng thực vật và nâng cao tínhbền vững của hệ sinh thái rừng.
2.2 Về thực tiễn
Đề xuất một số phương pháp kỹ thuật lâm sinh xúc tiến việc khoanh nuôitái sinh, thúc đẩy nhanh quá trình diễn thế và nâng cao chất lượng rừng phụchồi, nâng cao tính bền vững của hệ sinh thái nhằm đáp ứng mục tiêu phòng hộcũng như bảo vệ nguồn gen và tính đa dạng sinh vật của rừng,
3 Giới hạn nghiên cứu
3.1 Giới hạn về khu vực nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu tại khu vực xã Ngọc Đường thuộc thành phố HàGiang, tỉnh Hà Giang
3.2 Giới hạn về đối tượng nghiên cứu
Là các quần xã rừng trồng thuần loài Keo lá tràm (Acacia auriculiformis), Mỡ (Manglietia conifera) và quần xã rừng trồng hỗn giao: Thông (Pinus merkuii) và Keo lá tràm (Acacia auriculiformis ).
3.3 Giới hạn về nội dung nghiên cứu
Do hạn chế về thời gian, đề tài chỉ tập trung nghiên cứu đặc điểm tái sinh
tự nhiên của các loài cây gỗ dưới các quần xã rừng trồng nói trên
Trang 14Chương 1 TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1 Một số khái niệm về tái sinh và phục hồi
vi sinh vât),c̣ đóng góp vào viêcc̣ hinh̀ thành tiểu hoàn cảnh rừng vàlàm thay đổicảquátrinh̀ trao đổi vâṭchất vànăng lươngc̣ diễn ra trong hê c̣sinh thái Do đótáisinh rừng cóthểđươcc̣ hiểu theo nghiã rôngc̣ làsư c̣tái sinh của môṭhê c̣sinh thái
rừng Tái sinh hệ sinh thái rừng thúc đẩy việc hình thành cân bằng sinh học,
đảm bảo cho hệ sinh thái rừng tồn tại liên tục và do đó bảo đảm cho việc sửdụng hệ sinh thái rừng thường xuyên Ở đây cần khẳng định tái sinh hệ sinh tháirừng không chỉ là một hiện tượng sinh học mà còn là một hiện tượng địa lí Xét
về bản chất sinh học tái sinh hệ sinh thái rừng diễn ra dưới ba hình thức: Táisinh hạt, tái sinh chồi và tái sinh thân ngầm (các loài tre nứa) Mỗi hình thức táisinh trên có quy luật riêng và trải qua nhiều giai đoạn khác nhau
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN 4 http://www.lrc.tnu.edu.vn
Trang 15Đứng trên quan điểm Triết hoc,c̣ tái sinh rừng là môṭ quátrinh̀ phủđinḥ biêṇ chứng: Rừng non thay thế rừng già trên cơ sở đươcc̣ thừa hưởng hoàn cảnh
thuận lợi do thế hệ rừng ban đầu tạo nên Đứng trên quan điểm chinh́ trị kinh tế học, tái sinh rừng làmôṭquátrinh̀ tái sản xuất mởrôngc̣ tài nguyên rừng Đương nhiên điều kiện này chỉcó thểtrở thành hiện thưcc̣ khi ta nắm chắc các biêṇ pháp
kỹ thuật lâm sinh chính xác, nhằm điều hòa vàđinḥ hướng các quá trinh̀ tái sinh nhằm phucc̣ vu c̣mucc̣ tiêu kinh doanh đãđềra Như vâỵ tái sinh rừng không còn chỉlàtư c̣nhiên, kỹthuâṭmàcòn làvấn đềkinh tếxãhôị(Sinh thái rừng - Hoàng Kim Ngũ, Phùng Ngocc̣ Lan,1998) [41]
Theo Nguyễn Xuân Lâm (2000) [31], tái sinh rừng là sự xuất hiện một thế
hệ cây con của những loài cây gỗ ở dưới tán rừng hoặc trên đất rừng (sau khi làmnương rẫy), thế hệ cây tái sinh này sẽ lớn dần lên thay thế thế hệ cây già
1.1.2 Phục hồi rừng
Phục hồi rừng: Theo Trần Đình Lý (1995) [38], phục hồi rừng là một quátrình sinh địa phức tạp, gồm nhiều thời gian và kết thúc bằng sự xuất hiện mộtthảm thực vật cây gỗ ( tre nứa) bắt đầu khép tán Nói cách khác phục hồi rừng
là một quá trình tái tạo lại hệ sinh thái, một quần xã sinh vật mà trong đó cây gỗ
là yếu tố cấu thành chủ yếu nó chi phối quá trình biến đổi tiếp theo
1.2 Nghiên cứu về cấu trúc rừng
Cấu trúc rừng là sự sắp xếp tổ chức nội bộ của các thành phần sinh vậttrong hệ sinh thái rừng mà qua đó các loài có đặc điểm sinh thái khác nhau cóthể chung sống hài hòa và đạt tới sự ổn định tương đối trong một giai đoạn pháttriển nhất định của tự nhiên Cấu trúc rừng vừa là kết quả vừa là sự thể hiệnquan hệ đấu tranh và thích ứng lẫn nhau giữa các sinh vật rừng với môi trườngsinh thái và giữa các sinh vật rừng với nhau
1.2.1 Nghiên cứu về cấu trúc rừng trên thế giới
1.2.1.1 Cơ sở sinh thái của cấu trúc rừng
Trang 16Quy luật về cấu trúc rừng là cơ sở quan trọng để nghiên cứu sinh tháihọc, hệ sinh thái rừng và đặc biệt là để xây dựng những mô hình lâm sinh chohiệu quả sản xuất cao Trong nghiên cứu cấu trúc rừng người ta chia thành badạng cấu trúc là cấu trúc sinh thái, cấu trúc không gian và cấu trúc thời gian.Cấu trúc của lớp thảm thực vật là kết quả của quá trình chọn lọc tự nhiên, là sảnphẩm của quá trình đấu tranh sinh tồn giữa thực vật và thực vật và giữa thựcvật với hoàn cảnh sống Trên quan điểm sinh thái thì cấu trúc rừng chính làhình thức bên ngoài phản ánh nội dung bên trong của hệ sinh thái rừng Thực tếcấu trúc rừng nó có tính trật tự và theo quy luật của quần xã.
Các nghiên cứu về cấu trúc sinh thái của rừng mưa nhiệt đới đã đượcRichards P.W(1964) [53], Baur.G.N (1972) [1], Odum (1971) [73]…tiến hành.Các nghiên cứu này thường nêu lên quan điểm, khái niệm và mô tả định tính về
tổ thành, dạng sống và tầng phiến của rừng
Công trình nghiên cứu của tác giả Catinot (1965) [6], Plaudy.J đã biểudiễn cấu trúc hình thái rừng bằng các phẫu đồ rừng, nghiên cứu các nhân tố cấutrúc sinh thái thông qua việc mô tả phân loại theo các khái niệm dạng sống,tầng phiến…
Tác giả Odum E.P (1971) [73] đã hoàn chỉnh học thuyết về hệ sinh tháitrên cơ sở thuật ngữ hệ sinh thái (ecosystem) của Tansley A.P (1935) Kháiniệm hệ sinh thái được làm sáng tỏ là cơ sở để nghiên cứu các nhân tố cấu trúctrên quan điểm sinh thái học
1.2.1.2 Mô tả về hình thái cấu trúc rừng
Hiện tượng thành tầng là sự sắp xếp không gian phân bố của các thànhphần sinh vật rừng trên cả mặt bằng và theo chiều đứng Phương pháp vẽ biểu
đồ mặt cắt đứng của rừng do Davit và P.W Richards (1933-1934) đề xướng và
sử dụng lần đầu tiên ở Guyan đến nay vẫn là phương pháp có hiệu quả đểnghiên cứu cấu trúc tầng của rừng Tuy nhiên phương pháp này có nhược điểm
là chỉ minh họa được cách sắp xếp theo hướng thẳng đứng của các loài cây gỗ
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN 6 http://www.lrc.tnu.edu.vn
Trang 17trong một diện tích có hạn Cusen (1951) đã khắc phục bằng cách vẽ một sốgiải kề bên nhau và đưa lại một hình tượng về không gian ba chiều.
Phương pháp biểu đồ trắc diện do Davit và Richards (1933 -1934) đềxuất trong khi phân loại và mô tả rừng nhiệt đới phức tạp về thành phần loài vàcấu trúc thảm thực vật theo chiều nằm ngang và chiều thẳng đứng
Richards P.W (1968) đã phân biệt tổ thành thực vật của rừng mưa thànhhai loại là rừng mưa hỗn hợp có tổ thành loài cây phức tạp và rừng mưa đơn ưu
có tổ thành loài cây đơn giản.Trong những lập địa đặc biệt thì rừng mưa đơn ưuchỉ bao gồm một vài loài cây Cũng theo tác giả này thì rừng mưa thường cónhiều tầng (thường có 3 tầng, trừ tầng cây bụi và tầng cây thân cỏ) Trong rừngmưa nhiệt đới, ngoài cây gỗ lớn, cây bụi và các loài thân cỏ còn có nhiều loàicây leo đủ hình dáng và kích thước, cùng nhiều thực vật phụ sinh trên thânhoặc cành cây [53]
Kraft (1884), lần đầu tiên đưa ra hệ thống phân cấp cây rừng, ông phân chiacây rừng trong một lâm phần thành 5 cấp dựa vào khả năng sinh trưởng, kíchthước và chất lượng của cây rừng Phân cấp của Kraft phản ánh được tình hìnhphân hóa cây rừng, tiêu chuẩn phân cấp rõ ràng, đơn giản và dễ áp dụng nhưng chỉphù hợp với rừng thuần loài đều tuổi (dẫn theo Thái Văn Trừng, 1978 [66])
Việc phân cấp cây rừng cho rừng hỗn loài nhiệt đới tự nhiên là một vấn
đề phức tạp, cho đến nay vẫn chưa có tác giả nào đưa ra được phương án phâncấp cây rừng cho rừng nhiệt đới tự nhiên mà được chấp nhận rộng rãi SampionGripfit (1948), khi nghiên cứu rừng tự nhiên Ấn Độ và rừng ẩm nhiệt đới TâyPhi có kiến nghị phân cấp cây rừng thành 5 cấp cũng dựa vào kích thước vàchất lượng cây rừng Richards (1968) phân rừng ở Nigeria thành 6 tầng dựa vàochiều cao cây rừng [53]
Như vậy, hầu hết các tác giả khi nghiên cứu về tầng thứ thường đưa ranhững nhận xét mang tính định tính, việc phân chia tầng thứ theo chiều cao
Trang 18mang tính cơ giới nên chưa phản ánh được sự phân tầng phức tạp của rừng tựnhiên nhiệt đới.
1.2.1.3 Nghiên cứu định lượng cấu trúc rừng
Việc nghiên cứu cấu trúc rừng đã có từ lâu và được chuyển dần từ mô tảđịnh tính sang định lượng với sự thống kê của toán học và tin học, trong đóviệc mô hình hoá cấu trúc rừng, xác lập mối quan hệ giữa các nhân tố cấu trúcrừng đã được nhiều tác giả nghiên cứu có kết quả Về cấu trúc không gian vàthời gian của rừng được các tác giả tập trung nghiên cứu nhiều nhất Có thể kểđến một số tác giả tiêu biểu như: Rollet B (1971), Brung (1970), Loeth et al(1976) Rất nhiều tác giả quan tâm nghiên cứu cấu trúc không gian và thờigian của rừng theo hướng định lượng và dùng các mô hình toán để mô phỏngcác qui luật cấu trúc (dẫn theo Trần Văn Con, 2001 [12]) Rollet B (1971) đã
mô tả mối quan hệ giữa chiều cao và đường kính bằng các hàm hồi qui, phân
bố đường kính bằng các dạng phân bố xác suất Nhiều tác giả còn sử dụng hàmWeibull để mô hình hóa cấu trúc đường kính loài theo mô hình củaSchumarcher và Coil (Belly, 1973) Bên cạnh đó các hàm Meyer, Hyperbol,hàm mũ, Pearson, Poisson, … cũng được nhiều tác giả sử dụng để mô hình hóacấu trúc rừng [14], [55], [65], [69]
Khác với xu hướng phân loại rừng theo cấu trúc và ngoại mạo chủ yếu
mô tả rừng ở trạng thái tĩnh Trên cơ sở nghiên cứu rừng ở trạng thái động,Melekhov đã nhấn mạnh sự biến đổi của rừng theo thời gian, đặc biệt là sự biếnđổi của tổ thành loài cây trong lâm phần qua các giai đoạn khác nhau trong quátrình phát sinh và phát triển của rừng
Tóm lại, trên thế giới, các công trình nghiên cứu về đặc điểm cấu trúc rừngnói chung và rừng nhiệt đới nói riêng rất phong phú, đa dạng, có nhiều công trìnhnghiên cứu công phu và đã đem lại hiệu quả cao trong kinh doanh rừng
1.2.2 Những nghiên cứu về cấu trúc rừng ở Việt Nam
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN 8 http://www.lrc.tnu.edu.vn
Trang 19Với tác giả Vũ Đình Phương (1985-1988) [43,44,45,46,47] đã đưa raphương pháp phân chia rừng phục vụ công tác điều chế với đơn vị phân chia là
lô và dựa vào 5 nhân tố: Nhóm sinh thái tự nhiên, các giai đoạn phát triển vàsuy thoái của rừng, khả năng tái tạo rừng bằng con đường tái sinh tự nhiên, đặcđiểm về địa hình, thổ nhưỡng với một bảng mã hiệu dùng để tra trong quá trìnhphân chia Phương pháp phân chia này đã được đưa ra áp dụng trong khi xâydựng phương án điều chế cho một số lâm trường ở Tây Nguyên và Quảng Ninh
đã tỏ ra có nhiều ưu điểm
Như vậy, có rất nhiều tác giả trong nước cũng như của nước ngoài đềucho rằng việc phân chia loại hình rừng tự nhiên ở Việt Nam là tối cần thiết đốivới nghiên cứu cũng như trong sản xuất Nhưng tùy từng mục tiêu đề ra mà xâydựng các phương pháp phân chia khác nhau nhưng đều nhằm mục đích làm rõthêm các đặc điểm của đối tượng cần quan tâm Công trình của Thái Văn Trừng
đã đặt nền móng cho việc phân chia rừng tự nhiên của nước ta một cách tổngquát Phương pháp của Vũ Đình Phương tỉ mỉ hơn và cho ta những thông số cơbản về tình trạng rừng hiện tại không chỉ ở góc độ về trữ lượng, vì vậy ngườiquản lí dễ phác họa được các biện pháp xử lí lâm sinh tác động vào rừng.Phương pháp này tỏ ra hữu hiệu khi áp dụng ở nơi có trình độ kinh doanhtương đối cao và ổn định
1.2.2.2 Nghiên cứu định lượng cấu trúc rừng
Trong những năm gần đây, việc đi sâu nghiên cứu cấu trúc rừng cũng đãđược nhiều tác giả quan tâm như những công trình nghiên cứu mô hình hóa cấu
Trang 20trúc đường kính D1.3 và biểu diễn chúng theo các dạng hàm phân bố xác suấtkhác nhau, nổi bật là công trình nghiên cứu của Đồng Sỹ Hiền (1974) [21]dùng hàm Meyer và hệ đường cong Poisson để nắn phân bố thực nghiệm số câytheo cỡ đường kính cho rừng tự nhiên.
Nguyễn Hải Tuất (1982) [67] đã sử dụng hàm phân bố giảm, phân bốkhoảng cách để biểu diễn cấu trúc của rừng thứ sinh, đồng thời cũng áp dụngquá trình Poisson vào nghiên cứu cấu trúc quần thể rừng
Lê Minh Trung (1991) đã sử dụng hàm Poisson mô phỏng cấu trúc tán lácây, hàm Weibull mô phỏng cấu trúc chiều cao và đường kính Đồng thời cũngtiến hành khảo nghiệm hàm Hyperbol và Meyer cho các cấu trúc này (dẫn theoPhạm Ngọc Thường, 2003 [65]
Nhìn chung các nghiên cứu định lượng cấu trúc đã được nhiều nhà lâmsinh học trong nước quan tâm ở các mức độ khác nhau nhưng đều nhằm mộtmục đích là xây dựng các cơ sở khoa học cho các giải pháp lâm sinh hợp lí.Các nghiên cứu không dừng lại ở mức độ mô tả chung chung mà đã đi sâu vàophân tích các quy luật kết cấu và theo xu hướng chung của thế giới Đó là kháiquát hóa, mô phỏng các quy luật bằng toán học, đồng thời các giải pháp lâmsinh được xây dựng trên cơ sở các chỉ tiêu định lượng
1.2.2.3 Nghiên cứu cấu trúc và xây dựng mô hình cấu trúc mẫu
Nghiên cứu cấu trúc rừng định lượng các nhân tố cấu trúc và xây dựngcác mô hình mẫu chuẩn phục vụ khai thác, nuôi dưỡng rừng là mục tiêu quantrọng nhằm vạch ra phương hướng và phương pháp điều chế rừng Nguyễn VănTrương (1973-1986) đã nghiên cứu về phương pháp thống kê cây đứng, cấutrúc 3 chiều rừng gỗ hỗn loại và đề xuất các mô hình cấu trúc mẫu định lượngbằng toán học phục vụ công tác khai thác, nuôi dưỡng Theo tác giả đây lànhững mô hình hoàn thiện nhất đã có trong thiên nhiên và trên cơ sở khắc phụcnhững tồn tại lớn mà sự ngẫu nhiên của thiên nhiên mang lại (dẫn theo ĐàoCông Khanh,1966 [25])
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN 10 http://www.lrc.tnu.edu.vn
Trang 21Để xây dựng mô hình cấu trúc cho các loài, kiểu rừng ứng với từng điềukiện hoàn cảnh, Nguyễn Hồng Quân (1975, 1981, 1982) [50,51,52] đã sử dụnghàm mũ theo dạng Meyer để phân cấp các lâm phần chặt chọn trên cơ sở thayđổi hệ số góc của phương trình khi điều kiện, hoàn cảnh thay đổi Lê MinhTrung (1991) đã vận dụng phương pháp này để xây dựng cấu trúc mẫu trên 3cấp năng suất cho rừng tự nhiên hỗn loài ở ĐăkNông Từ đó làm cơ sở đề xuấthướng khai thác và nuôi dưỡng rừng (dẫn theo Trần Xuân Thiệp, 1996 [60].
Nguyễn Ngọc Lung (1985) [33] đã cho rằng: Trong thực tiễn sản xuất,sau khi phân chia rừng ra các loại, mỗi loại thuần nhất về một mặt nào đó như
tổ thành, tầng thứ, phân bố số cây theo kích cỡ thì ta có thể chọn được một loạitrong các lô tốt nhất, có trữ lượng cao, sinh trưởng tốt, tổ thành cấu trúc hợp línhất, có đủ thế hệ cây gỗ, cũng cho phép sản lượng ổn định Ta coi đây là mẫuchuẩn tự nhiên và đây cũng chính là cái mà con người cần hướng tới trong quátrình kinh doanh rừng
Phùng Ngọc Lan (1986) [28] cũng đã chỉ rõ: Mô hình cấu trúc mẫu là môhình có khả năng tận dụng tối đa tiềm năng của điều kiện lập địa, có sự phốihợp hài hòa giữa các nhân tố cấu trúc để tạo ra một quần thể rừng có sản lượng,tính ổn định và chức năng phòng hộ cao nhất, nhằm đáp ứng mục tiêu kinhdoanh nhất định
Vũ Đình Phương (1987) [46] cũng đồng quan điểm trong việc xây dựng
mô hình cấu trúc rừng và vốn rừng cho rằng, cần phải tìm trong tự nhiên nhữngcấu trúc mẫu có năng suất cao đáp ứng mục tiêu kinh tế trong từng khu vực Đểnghiên cứu cấu trúc sinh trưởng rừng hỗn loại, ông đã đề xuất quan điểm: Tổngthể hỗn loài hay còn gọi là rừng cây là do các phần tử thuần loài hợp thành
Trong lĩnh vực này, các tác giả đều xây dựng các cấu trúc mẫu từ nghiêncứu cơ sở cơ bản các quy luật kết cấu, từ đó đề xuất các hướng tác động vàorừng Các mẫu này đều được xây dựng trên cơ sở các mẫu tự nhiên đã chọn lọcthông qua tài liệu quan sát và được coi là ổn định, có năng suất cao nhất Tính
ổn định của các cấu trúc này thường được tính toán theo lí thuyết trước khi đi
Trang 22vào khảo nghiệm Cấu trúc mẫu được quan tâm nhiều nhất là cấu trúc N-D1.3 ,
nó cũng là cơ sở cho việc khai thác và nuôi dưỡng thông qua việc điều chỉnhcấu trúc này
1.3 Nghiên cứu về tái sinh rừng
1.3.1 Trên thế giới
1.3.1.1 Những nghiên cứu về tái sinh rừng tự nhiên
Hiện nay vấn đề tái sinh rừng trên thế giới được nhiều nhà khoa họcquan tâm nghiên cứu từ lâu Nhưng đối với rừng nhiệt đới thì được nghiên cứuvào khoảng những năm 30 của thế kỷ XX trở lại đây [10, 12, 14, 16, 18, 19, 20,22…]
Vấn đề tái sinh rừng nhiệt đới được thảo luận nhiều nhất là hiệu quả củacác phương thức xử lý lâm sinh đến tái sinh rừng các loài cây có mục đíchtrong các kiểu rừng Các tác giả bàn đến như Taylor (1854), Kennedy (1935),Lancaster (1953) Từ đó các nhà lâm sinh học đã xây dựng thành công nhiềuphương thức chặt tái sinh Công trình của Bernand (1954,1959), Smith(1961,1963) [74] với phương thức rừng đều tuổi ở Mã lai , Taylor (1954),Jones (1960) với phương thức chặt dần tái sinh dưới tán ở Nijeria và Gana Nộidung chi tiết, các bước và hiệu quả của từng phương thức đối với tái sinh đãđược Baur (1976)[1] tổng kết trong tác phẩm: “Cơ sở sinh thái học của kinhdoanh rừng mưa”
Khi nghiên cứu tái sinh rừng nhiệt đới ở Châu Phi, Aubreville (1938) đãnhận thấy cây con của các loài cây ưu thế trong rừng mưa là rất hiếm Ông đãkhái quát hóa các hiện tượng tái sinh ở rừng nhiệt đới Châu Phi để đúc kết lên líluận bức khảm tái sinh, nhưng phần lí giải các hiện tượng đó còn hạn chế Vìvậy lí luận của ông còn ít sức thuyết phục, chưa giúp ích cho thực tiễn sản xuất,Chưa có các biện pháp kỹ thuật điều khiển tái sinh rừng theo những mục tiêukinh doanh đã đề ra (dẫn theo Nguyễn Văn Hoàn và CS, 2006 [22])
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN 12 http://www.lrc.tnu.edu.vn
Trang 23Tuy nhiên những kết quả quan sát của Davit và Richards P.W (1933), Bot(1946), Sun (1960), Role (1969) ở rừng nhiệt đới Nam Mỹ lại khác hẳn vớinhững nhận định của Aubreville Đó là hiện tượng tái sinh tại chỗ và liên tụccủa các loài cây và tổ thành loài cây có khả năng giữ nguyên không đổi trongmột thời gian dài (dẫn theo Thái Văn Trừng, 1978 [66].
Trong công trình nghiên cứu của Richards (1952), Roole (1974) cho thấytái sinh có dạng phân bố cụm, một số ít phân bố poisson Ở Châu Phi theo sốliệu của Aubreville (1938) nhận thấy cây con của cây ưu thế trong hệ sinh tháirừng mưa có thể cực hiếm hoặc vắng hẳn Ông gọi đó là hiện tượng “ khôngbao giờ sinh con đẻ cái” của cây mẹ trong thành phần tầng cây gỗ của hệ sinhthái rừng mưa Tổ thành loài cây mẹ ở tầng trên và tổ thành loài cây tái sinh ởtầng dưới thường khác nhau rất nhiều Tương tự theo Taylor (1954), BơoatBerwad (1955), số lượng cây tái sinh trong rừng thiếu huṭ cần phải bổ sungbằng rừng trồng nhân tạo Ngược lại ở Châu Á Budowski (1956), Bava (1954),Atinôt (1965) lại nhận định dưới tán rừng nhiệt đới nhìn chung có đủ số lượngcây tái sinh có giá trị kinh tế, do vậy các biện pháp lâm sinh đề ra cần thiết đểbảo vệ và phát triển cây tái sinh có sẵn dưới tán rừng (theo Nguyễn DuyChuyên, 1995 [10])
Lamprecht H (1989) căn cứ vào nhu cầu ánh sáng của các loài cây rừng trong suốt quá trình sống đểphân chia cây rừng nhiêṭđới thành nhóm cây ưa sáng, nhóm cây bán chiụ bóng, nhóm cây chịu bóng Kết cấu của quần tu c̣lâm phần cóảnh hưởng đến tái sinh rừng Yurkevich I.D (1960) đã chứng minh đô c̣ tàn che tối ưu cho sư c̣phát triển bình thường của đa số các loài cây gỗlà0,6 - 0,7 (dẫn theo Lê Đồng Tấn, 2000 [56])
Sự phân bố cây theo đường kính là cấu trúc cơ bản của lâm phần và cũngđược nhiều nhà lâm học quan tâm nghiên cứu Đầu tiên phải kể đến công trìnhnghiên cứu của Meyer (1952) Ông mô tả phân bố số cây theo đường kính bằngphương trình toán học mà dạng của nó là một đường cong giảm liên tục
Trang 24Phương trình này được gọi là phương trình Meyer hay còn được gọi là hàmMeyer Tiếp đó nhiều tác giả đã dùng phương pháp giải tích để tìm phươngtrình đường cong phân bố N/D của lâm phần thuần loài đều tuổi Prodan.M vàIpalatscase.A (1964), Bill và Aremken.K (1964) đã tiếp cận phân bố này bằngphương trình logarit Đặc biệt một số tác giả hay dùng các hàm khác nhau.Loetsch (1973) dung hàm Beta để nắn các phân bố thực nghiệm Batista.J.LF
và Docouto.H.T.Z (1992) trong khi nghiên cứu 19 ô tiêu chuẩn với 60 loài củarừng nhiệt đới ở Maranhoo- Brazil đã dùng hàm Weibull mô phỏng sự phân bốN/D (dẫn theo Nguyễn Thanh Bình, 2003) [4] và nhiều tác giả khác [13, 20, 64,69…]
Để xác định mật độ cây tái sinh người ta đã sử dụng nhiều phương phápkhác nhau như: Ô dạng bản theo hệ thống do Lowdermilk (1927) đề xuất vớidiện tích (1 đến 4m2), ô có kích thước lớn (10 đến 100m2), điều tra theo dải hẹp
ô có kích thước từ (10 đến 100m2) Phổ biến nhất là ô bố trí theo hệ thống trongcác diện tích nghiên cứu từ 0,25 đến 1,0 ha (Povar nix bun, 1934;Yuskevich,1938) để giảm sai số trong khi thống kê, Barnard (1950) đã đề nghịmột phương pháp “ điều tra chuẩn đoán” mà theo ông kích thước ô đo đếmđược có thể thay đổi tùy theo thời gian phát triển của cây tái sinh ở các trạngthái rừng khác Nextorov.V.G (1954, 1960) đề nghị dùng 15 đến 26 ô kíchthước từ 1 đến 2m2 thống kê cây con tuổi nhỏ hơn 5 năm, 10 đến 15 ô kíchthước từ 4 đến 5m2 thống kê cây con từ 5 đến 10 năm Pobedinxki.A.V (1961)
đề nghị dùng 25 ô dạng bản 1x1m cho một khu tiêu chuẩn (0,5 đến 1,0 ha),Belov.XW (1983) nhấn mạnh phải áp dụng thống kê toán học để điều tra vàđánh giá tái sinh Việc phân tích chi tiết lí luận các phương pháp thống kê toánhọc trong điều tra và đánh giá tái sinh rừng đã được trình bày trong các côngtrình của Smith.PG (1976), Vasilevich.VI (dẫn theo Phạm Ngọc Thường, 2003)[65]
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN 14 http://www.lrc.tnu.edu.vn
Trang 25Tóm lại, thông qua những kết quả công trình nghiên cứu tái sinh tự nhiêncủa các thảm thực vật rừng trên thế giới cho chúng ta thấy được các phươngpháp nghiên cứu của một số tác giảcũng như những quy luật sinh thái ở một sốnơi Thông qua đó các tác giả cũng đưa ra một số biện pháp lâm sinh phù hợpthúc đẩy quá trình tái sinh theo hướng có lợi Như vậy ta đều nhận thấy cáccông trình nghiên cứu tái sinh trên thế giới chủ yếu tập trung vào trạng tháirừng tự nhiên mà rất ít đề cập tới trạng thái rừng thứ sinh nhân tác, phục hồinhân tạo.
1.3.1.2 Những nghiên cứu về phục hồi bằng trồng rừng (phục hồi nhân tạo)
Trên thế giới trồng rừng đã xuất hiện khá sớm và phát triển mạnh vàocuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX
Một số nước ở Tây Âu như: Pháp, Italia đã tiến hành trồng các rừngBạch dương cho sản lượng cao trên một phạm vi lớn với mục đích cung cấpnguồn nguyên liệu cho ngành công nghiệp giấy Nhiều nước trên thế giới đãphát động trồng rừng với nhiều mục đích khác nhau như cung cấp nguyên liệucho các ngành công nghiệp, thủ công mỹ nghệ, trồng rừng nhằm mục đích bảo
vệ môi trường như rừng phòng hộ đầu nguồn, rừng phòng chống cát bay, rừngphòng hộ chắn sóng ven biển… Các nước nhiệt đới và á nhiệt đới rừng trồng đãđược hình thành ngay cả trên đất trước đó là đồi trọc do nhu cầu của ngànhcông nghiệp giấy sợi và tính cấp bách phải bảo vệ môi trường [70]
Với vai trò to lớn mà rừng đã đem lại cho nhân loại và hiện nay khi nguồn nguyên liệu ngày càng khan hiếm, môi trường bị suy thoái thì vai trò củarừng ngày càng không thể phủ nhận, các nước trên thếgiới càng phải chútrongc̣ tăng diêṇ tich́ rừng đăcc̣ biêṭlàrừng tư c̣nhiên Điều đáng nói làtaịdưới tán rừng trồng cóthểxuất hiêṇ các lớp cây gỗtái sinh tư c̣nhiên cótriển vongc̣ phát triển thành rừng Điều này đòi hỏi phải có những nghiên cứu kipc̣ thời và đưa ra những giải pháp hơpc̣ lýnhằm chuyển dần diêṇ tich́ rừng trồng thành rừng gần giống với tư c̣nhiên đểtăng tinh́ đa dangc̣ sinh hoc,c̣ tăng khảnăng phòng hô c̣của
Trang 26rừng Chính vì vậy việc trồng rừng và tái sinh rừng ngày càng được nhiều nướcquan tâm và phát triển mạnh mẽ nhằm đáp ứng nhu cầu cuộc sống Tuy nhiênhiện nay vẫn còn có nhiều ý kiến khác nhau xung quanh vấn đề rừng trồng.
Wadsworth (1960) khi nói về vai trò của rừng trong kinh doanh, ông đãkhẳng định trồng rừng thâm canh sẽ là nguồn cung cấp gỗ duy nhất có kinh tế
ở các miền nhiệt đới (Baur, 1976) [1]
Catinot (1965) [6] cho rằng ở vùng nhiệt đới ẩm Châu Phi sau khi khaithác có thể thay thế một quần thể rừng tự nhiên bằng rừng trồng mà vẫn manglại hiệu quả kinh tế Tuy nhiên để mang lại hiệu quả kinh tế cao tác giả cũnglưu ý rằng cần phải nắm chắc kĩ thuật lâm sinh thì quá trình thực hiện mới cóhiệu quả
Baur (1976) [1] đã khẳng định việc trồng rừng là cần thiết để mang lạihiệu quả cao trong kinh doanh rừng nhưng nếu trồng rừng như của Wadsworth(1960) thì chỉ là giải pháp trước mắt, còn về lâu dài thì phải dựa vào nhữngkiến thức đúng đắn về sinh thái học của quần lạc đó
Miyawaki.A (1991) [72] đã đưa ra khẩu hiệu cây bản địa trên đất bản địa,xuất phát từ quan điểm rừng là một hệ sinh thái ông đã thực hiện nhiều dự ánphục hồi hệ sinh thái rừng nhiệt đới bằng biện pháp trồng rừng Phương pháptác giả đề xuất được áp dụng ở một số nước Đông Nam Á như Thái Lan,Malaysia, Indonexia [61, 63, 68] Các nghiên cứu này được thể hiện chủ yếubằng việc trồng rừng Trong đó giống cây trồng là tập đoàn những cây bản địađược xác định bằng phương pháp sinh thái thảm thực vật của Clement (1916)
và trồng rừng được thực hiện bằng phương pháp do ông đề xướng được gọi làphương pháp Miyawaki Theo phương pháp này thì việc phục hồi lại rừng mưanhiệt đới ở Malayxia chỉ khoảng 40 đến 50 năm trong khi đó để đạt trạng tháinày theo con đường diễn thế tự nhiên thì cần phải 200 đến 250 năm(Miyawaki,1991) [72]
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN 16 http://www.lrc.tnu.edu.vn
Trang 27Tansley (1994) cho rằng trồng rừng là quá trình rút ngắn quá trình diễnthế thảm thực vật nhưng Beard (1947) lại phản đối việc trồng rừng và cho đó là
“bệnh sởi trồng rừng đã mắc phải do thiếu sinh tố sinh thái học” (dẫn theo BaurG.(1976)[1]
Trong hội nghị lâm sinh thế giới lần thứ 7 (10/1972) tại Buenos - Aires
đã khẳng định cần đẩy mạnh việc trồng rừng Nhưng hội nghị cũng lưu ý trồngrừng chỉ cho hiệu quả khi phối hợp chặt chẽ các biện pháp kĩ thuật tạo điềukiện cho cây rừng sinh trưởng (Vorobiev,1981[70])
1.3.2 Ở Việt Nam
1.3.2.1 Những nghiên cứu về tái sinh tự nhiên
Ở nước ta vấn đề nghiên cứu tái sinh tự nhiên rừng nhiệt đới đã đượcnghiên cứu từ đầu những năm 30 của thế kỷ XX vànhững năm gần đây viêcc̣ đivào nghiên cứu rừng tự nhiên ởViêṭNam ngày môṭnhiều, bởi đằng sau những hệ
sinh thái rừng còn rất nhiều điều bíẩn Điều đóđãthu hút rất nhiều tác giả quantâm tới Từ những năm 1962 - 1967 Viện Điều tra và Quy hoạch rừng đã đượcthực hiện chuyên đề “Tái sinh rừng tự nhiên” tại một số khu rừng trọng điểmthuộc các tỉnh Yên Bái (Văn Đàn), Quảng Ninh (Tiên Yên, Ba Chẽ, Yên Hưng),Nghệ An (Quỳ Châu, Nghĩa Bàn), Hà Tĩnh (Hương Sơn, Hương Khê), QuảngBình (Long Đại) (dẫn theo lê Ngọc Công 2004 [14])
Nghiên cứu quy luâṭphát sinh, tái sinh tư c̣nhiên vàdiễn thếthứ sinh của các xãhơpc̣ thưcc̣ vâṭrừng nhiêṭđới Thái Văn Trừng (1963, 1970, 1978) [66] đã nhâṇ đinh:c̣ “Sư c̣phát sinh các loaị hinh̀ quần thểcó thành phần loài cây khác nhau, đươcc̣ nghiên cứu đầy đủ trước kia cho nên lúc đó chúng tôi cho rằng trong thiên nhiên nhiêṭđới không cóquần hơpc̣ vàchỉcónhững loài ưu thế, do đóchúng tôi cóđềnghi c̣lấy những kiểu thảm thưcc̣ vâṭlàm đơn vi c̣cơ bản của thảm thưcc̣ vâṭ Nhưtrên đãtrinh̀ bày trong thiên nhiên nhiêṭ đới có thể có những dangc̣ quần hơpc̣ thưcc̣ vâṭ ở những môi trường khắc nghiêt,c̣ còn đaị bô c̣ phâṇ lànhững ưu hơpc̣ thưcc̣ vâṭcómôṭưu thếtương đối của cáthểcác loài cây
Trang 28trong tầng ưu thếsinh thái (hay lâpc̣ quần) của quần thểvàcóle ̃phổbiến hơn là những phức hơpc̣ màđô c̣ưu thếchưa phân hóa rõrêṭ”.
Những vấn đềcần đăṭra đểnghiên cứu làtác nhân nào đãtác đôngc̣ trong quátrình phát sinh những xãhơpc̣ thưcc̣ vâṭnguyên sinh và quátrinh̀ tái sinh tư c̣ nhiên sẽ diễn ra như thếnào và chỉtiêu về chếđô c̣khắc nghiêṭcủa môi trường
cócòn lànguyên nhân duy nhất khống chế sự hinh̀ thành những quần hơp,c̣ ưu hơp,c̣ phức hợp tư c̣nhiên nữa hay không Vấn đề này đãđươcc̣ Lê Viết Lôcc̣ (1964) cùng các côngc̣ tác viên nghiên cứu sơ bô c̣trong khi điều tra các loaịhinh̀ ưu thếtrong khu rừng nguyên sinh Cúc Phương Các tác giả đã dùng một số chỉ tiêukhác, ngoài số lươngc̣ cáthểcây đểtinh́ sinh khối trên diện tich́ điều tra như
chiều cao, tiết diêṇ ngang v.v đểtính đô c̣ưu thếcủa các loài vàđãthấy các nhântốphát sinh của loại hiǹh ưu thếlàkhu hê c̣thực vât,c̣ tiểu điạ hình, đăcc̣ điểm lý tinh́của đất vànhững hoaṭđộng của con người (dẫn theo Hoàng Kim Ngũ và CS,
1997 [41])
Trong những khu vưcc̣ tư c̣nhiên nhiêṭđới giómùa như ởViêṭNam, môṭ quầnthể sinh ra, lớn lên, thành thuc,c̣ già cỗi vàsẽ tàn luịhoăcc̣ từng cáthểhoăcc̣ từng bộphận, hoặc toàn bô c̣quần thể, nhưng cũng cónhiều trường hợp quần thể chưathành thuc,c̣ giàcỗi màmôṭ sốcáthể, môṭ bô c̣phận hay cảquần thểcóthể bi gịóbao, ̃
lũ luṭhay các thiên tai khác hủy diêṭ
Nếu môi trường khíhâụ đất đai chưa biến đổi, thìquần thểcó xu hướngphucc̣ hồi lại tình trạng nguyên sinh: Đó là quátrình tái sinh tư c̣nhiên của quầnthể Trong thiên nhiên nhiệt đới, rõ ràng làrất hiếm những loài cây cótuổi tho c̣
dài hàng ngàn năm, vaṇ năm như loài cây Cùtùng (Metasequoia gigantea) ở Mỹhay Bacc̣h đàn vua (Eucalyptus regnans) ở Úc, màcónhiều loài cây cótuổi thọ
ngắn hay trung bình môṭvài trăm năm, cho đến 1000 năm thâṃ chícó loài chỉsống hai, ba chục năm, cho nên ở môṭsốđiạ phương nhất đinh,c̣ chắc chắn
cónhiếu thếhê c̣của các loài cây đãsinh ra lớn lên, chết đi vàcá thểcủa các loài cây ấy đãtái sinh nhiều lần ởđấy
S
ố
hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN 18 http://www.lrc.tnu.edu.vn
Trang 29Thái Văn Trừng (1978) [66] cũng khẳng đinh:c̣ Môṭthực tếmàbất kỳtác giả nào khi đãnghiên cứu thảm thực vâṭ rừng nhiệt đới, cũng đều nhất trílà tình hình tái sinh rất thưa và yếu dưới tán rừng, của những loài cây đang chiếm ưu thế ở tầng trên Theo những số liêụ điều tra vàthống kê của Aubreville ở Coote
d’Ivoire (Bờ biển ngà ở Châu Phi) hay của David T.A.W và Richards P.W ở Moraballi (Guyana) về tinh̀ hinh̀ đaịdiện các cấp thểtích của các loài trong các ô tiêu chuẩn thìcác loài cây ưu thếcủa các tầng trên córất it́ đaịdiện trong các tầng dưới tán rừng, thậm chínhiều khi không có đaịdiện, như vâỵ khi các loài cây ưu thếnày chết đi, thìthành phần của xãhơpc̣ cóbiến đổi không? Môṭsốxã hợp khác giữa cáthểcác loài cây ưu thếcó thểthay thếcho xãhơpc̣ hiêṇ nay không? Loài cây tái sinh được nhiều nhất, cóphải là loài chiếm ưu thế hiện nay không? Thế thì
điều tra tinh̀ hình tái sinh cây con của các loài mà không nắm được quy luâṭtái sinh của quần thể, không biết tâpc̣ tinh́ của từng loài cây đối với ánh sáng, đô c̣ẩm, nhiệt đô c̣dưới rừng thìlàm sao màphán đoán nổi hướng diễn thế của quần thể, thành phần của các xãhơp,c̣ ưu hơpc̣ se ̃phát sinh? Có loài cây hiêṇ nay, cây ma c̣mọc rất nhiều nhưng vìsao laịkhông thấy cây con, cây nhỡởtầng trên, có loài
thìkhông thấy cây mạ, cây con, cây nhỡ tái sinh dưới rừng, nhưng nếu đó là một loài ưa sáng vàchặt rừng đúng vào năm sai hạt, đúng vào mùa quảchin,́ haṭgià thìcóthểbảo đảm đươcc̣ tái sinh tư c̣ nhiên của các loài cây ấy hay không [65]
Nguyễn Trọng Đạo (1969)[18] đã đưa ra các biện pháp kỹ thuật xúc tiếntái sinh tự nhiên dựa vào tiêu chuẩn phân loại rừng, theo ông rừng loại một thìkhông tu bổ và xúc tiến tái sinh
Đồng Sỹ Hiền (1974) [21] đã dùng hàm Meyer và hệ đường congPoisson để nắm phân bố thực nghiệm số cây theo cỡ kính cho rừng tự nhiênlàm cơ sở cho việc lập biểu đồthể tích và biểu độ thân cây rừng Việt Nam Khinghiên cứu rừng tự nhiên, ông cho rằng phân bố số cây theo chiều cao N/H ởcác lâm phần tự nhiên hay trong từng loài cây thường có nhiều đỉnh, phản ánh
Trang 30kết cấu rừng phức tạp của rừng chặt chọn Tác giả đã sử dụng nhiều phươngtrình toán học khác nhau để biểu diễn tương quan này.
Thái Văn Trừng (1978) [66] trong “thảm thực vật rừng Việt Nam” đãnhấn mạnh một số nhân tố sinh thái trong nhóm nhân tố khí hậu đã ảnh hưởngđiều khiển quá trình tái sinh tự nhiên của các quần xã thực vật là ánh sáng.Nguyễn Hải Tuất (1982) [67] sử dụng phân bố khoảng cách mô tả phân bốthực nghiệm dạng một đỉnh ở ngay sát cỡ đường kính bắt đầu đo Lê MinhTrung (1991) đã thử nghiệm một số phân bố xác suất mô tả phân bố N/D1.3 vànhận xét là, phân bố Weibull là thích hợp nhất cho rừng tự nhiên ở Đắc Lắc.Trần Xuân Thiệp (1996) [60], Lê Sáu (1985) [54] cũng khẳng định sự hơn hẳncủa phân bố Weibull trong việc mô tả phân bố N/D cho tất cả các trạng tháirừng tự nhiên, cho dù phân bố thực nghiệm có dạng giảm liên tục hay một đỉnh
Khi bàn về vấn đề đảm bảo tái sinh trong khai thác, Phùng Ngọc Lan(1984) [27] đã nêu ra kết quả tra dặm hạt Lim xanh dưới tán rừng ở lâm trườngHữu Lũng (Lạng sơn) Ngay từ giai đoạn nẩy mầm, bọ xít là nhân tố sinh vậtđầu tiên gây ảnh hưởng đáng kể đến tỉ lệ nẩy mầm Tiếp theo các đề tài trên, tácgiả đã nghiên cứu và nêu lên sự cần thiết của việc bảo vệ và phát triển Limxanh, đồng thời đề ra một số biện pháp kỹ thuật về xử lí hạt giống, gieo trồngloài cây này Theo tác giả không nên trồng thuần loài Lim xanh
Nghiên cứu ảnh hưởng của các biện pháp lâm sinh tới quá trình tái sinh
tự nhiên của quần xã thực vật còn được một số tác giả nghiên cứu, Hoàng KimNgũ, Phùng Ngọc Lan (1997) [41], Nguyễn Ngọc Lung (1985) [33], NguyễnDuy Chuyên (1995) [ 10]…
Vũ Đình Phương (1987) [46] đã khẳng định giữa đường kính tán vàđường kính ngang ngực của cây rừng tự nhiên Việt Nam tồn tại mối quan hệmật thiết theo dạng đường thẳng Tác giả đã thiết lập phương trình cho một sốloài cây lá rộng như: Vạng, Lim xanh, Chò Chỉ trong lâm phần hỗn giao kháctuổi để phục vụ công tác điều chếrừng
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN 20 http://www.lrc.tnu.edu.vn
Trang 31Phạm Đình Tam (1987) [55], nghiên cứu tình hình tái sinh dưới các lỗtrống ở rừng thứ sinh vùng Hương Sơn (Hà Tĩnh) đã có nhận xét: Số lượng câytái sinh xuất hiện khá nhiều dưới các lỗ trống khác nhau, lỗ trống càng lớn câytái sinh càng nhiều và hơn hẳn những nơi kín tán.
Nguyễn Ngọc Lung và cộng sự (1993) [35] cho rằng nghiên cứu quá trìnhtái sinh tự nhiên cho phép nắm vững các điều kiện cần và đủ để sự can thiệpcủa con người đi đúng hướng Quá trình đó tùy thuộc vào mức độ tác động củacon người mà ta thường gọi là xúc tiến tái sinh tự nhiên với mức cao nhất là táisinh nhân tạo
Lê Mộng Chân (1994) [7] khi điều tra tổ thành loài cây ở vùng núi caoVườn quốc gia Ba Vì, ông cho rằng tình hình tái sinh tốt là 4100 - 7440 cây/ha.Cây có triển vọng chiếm trên 60%, thành phần cây tái sinh phần lớn là nhữngcây chịu bóng
Khi nghiên cứu vai trò của cây tái sinh rừng ở các vùng Tây Bắc, vùngĐông Bắc, vùng Bắc Trung Bộ, vùng trung tâm, Trần Xuân Thiệp (1996) [60]
đã nhận định rằng vùng Đông bắc có năng lực tái sinh khá tốt với số lượng
8000 - 12000 cây/ha, tỉ lệ cây có triển vọng cao đáp ứng được cho việc phụchồi rừng
Thống kê các công trình nghiên cứu về rừng tự nhiên ở Việt Nam chothấy, phân bố N/D1.3 của tầng cây cao (D lớn hơn hoặc bằng 6cm) có hai dạngchính như sau: Dạng giảm liên tục và có nhiều đỉnh phụ hình răng cưa, dạngmột đỉnh hình chữ J Với mỗi dạng cụ thể, các tác giả chọn lọc những mô hìnhtoán học thích hợp để mô phỏng
Đỗ Hữu Thư, Trần Đình Lý và cộng sự (1995) [64] khi nghiên cứu nănglực tái sinh tự nhiên thảm thực vật rừng trong các trạng thái thực bì ở Việt Nam
đã nhận xét: Về số lượng và chất lượng của lớp tái sinh tự nhiên, tốc độ sinhtrưởng và những thay đổi của lớp tái sinh tự nhiên trong giai đoạn đầu của quá
Trang 32trình phục hồi thảm thực vật rừng thì các dạng thực bì ở trạng thái IB, IC, IIA, IIB
đều có thể xếp vào đối tượng có khả năng khoanh nuôi phục hồi rừng
Nhiều tác giả cũng có những nghiên cứu về đặc điểm lớp tái sinh tựnhiên trong các trạng thái thực bì khác nhau ở một số vùng sinh thái đồi núinước ta như: Lê Thị Kim Thuần (1985) [61]; Lê Sáu (1985) [54]; Phạm ĐìnhTam (1987) [55]; Trần Đình Đại, Đỗ Hữu Thư và cộng sự (1990) [17]; Vũ TiếnHinh (1991) [20]; Đỗ Hữu Thư và cộng sự (1994) [62]; Hà Văn Tuế và cộng sự(1995) [69]
Trần Xuân Thiệp (1996) [60], căn cứ vào số lượng cây tái sinh đã xâydựng bảng đánh giá tái sinh cho các trạng thái rừng (theo hệ thống phân loạicủa Loschau) theo ba cấp: tốt, trung bình, xấu Về phân bố theo cấp chiều caođều có sự tương đồng ở các trạng thái rừng, phân bố giảm theo hàm Meyer từcấp 1 đến 5 (< 3m), cấp 6 có chiều cao cộng dồn của cây có đường kính <10cmnên không thể hiện rõ quy luật này
Qua tham khảo các tài liệu có liên quan cho thấy, việc nghiên cứu phân
bố N/D trong thời gian gần đây không chỉ dừng ở mục đích phục vụ công tácđiều tra như xác định tổng diện tích ngang, trữ lượng, mà chủ yếu là xây dựng
cơ sở khoa học cho giải pháp lâm sinh trong nuôi dưỡng rừng Bảo Huy (1993),Đào Công Khanh (1996) [25], Lê Sáu (1995) [54], đã nghiên cứu phân bố N/H
1.3.2.2 Những nghiên cứu về phục hồi bằng rừng trồng ( phục hồi nhân tạo)
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN 22 http://www.lrc.tnu.edu.vn
Trang 33Theo Phùng Ngọc Lan (1991) [29] khi nghiên cứu về đặc điểm của rừngtrồng thuần loài đã nêu rõ nhược điểm của rừng trồng thuần loài (Mỡ, Bồ đềThông, Bạch đàn ) thường xuất hiện dịch bệnh, tác dụng cải tạo đất của rừngThông, rừng Bạch đàn diễn ra rất chậm Vì vậy theo tác giả cần phải phát triểncác mô hình trồng rừng hỗn loài và mô hình nông lâm kết hợp.
Lâm Phúc Cố (1994) [15] khi nghiên cứu phục hồi lại rừng đầu nguồnsông Đà tại Mù Căng Chải cũng đưa ra ý kiến: Ở những nơi đất khó có khảnăng tái sinh tự nhiên thì trồng rừng là một biện pháp lâm sinh cần thiết Cũngtheo tác giả nên chọn phương thức trồng rừng hỗn giao nhiều loài với các loàicây sống thích nghi với điều kiện đồi núi trọc
Nguyễn Ngọc Lung (1994) [36] cho rằng nước ta trong nền kinh tế hànghóa, nên dành hẳn một tỉ lệ đất đai để trồng rừng kinh tế có mục đích cụ thểnhư sản xuất nguyên liệu giấy, gỗ dán bằng phương thức trồng rừng thuần loạiđều tuổi là hợp lý và có hiệu quả cao Nhưng cũng phải có những biện pháplâm sinh là luân canh hoặc trồng xen với những loài cây cố định đạm nhằm bảo
vệ và cải tạo đất, đồng thời đảm bảo sự bền vững của hệ sinh thái rừng trồng
Trần Đình Lý (1995) [39] đã phân tích cụ thể về ưu, nhược điểm của giảipháp trồng rừng và khoanh nuôi Tác giả cũng lưu ý việc chọn giải pháp nàocũng phải phụ thuộc vào điều kiện địa chất, khí hậu, điều kiện kinh tế - xã hộicủa từng vùng, từng địa phương, có như vậy mới đạt được kết quả như mongmuốn
Nguyễn Tiến Bân (1997) [3] cho rằng cần phải phục hồi hệ sinh thái rừngrừng nhiêṭđới bằng các loài cây bản địa nhằm duy trì, bảo vệ nguồn gen và tạo
hệ sinh thái rừng hỗn loài bền vững
Theo Hà Chu Chử (1997) [11] trong những năm qua thông qua việctrồng rừng đã bù đắp được một phần diện tích rừng đã bị mất, nâng cao độ chephủ của rừng từ 27,7 % (năm 1990) lên 28,15% (năm 1995) Tác giả cũng lưu ýrằng rừng trồng không thể so sánh với rừng tự nhiên về sinh khối, về chủng loạigỗ và nhất là về tác dụng phòng hộ
Trang 34Tóm lại: Ở Việt Nam, vấn đề tái sinh tự nhiên và trồng rừng đã được nhiềunhà khoa học quan tâm nghiên cứu Các biện pháp xúc tiến tái sinh tự nhiêncũng như các biện pháp trồng rừng đã được áp dụng vào thực tiễn sản xuất lâmnghiệp, bước đầu đã đem lại những kết quả khả quan góp phần vào việc phụchồi độ che phủ của rừng.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN 24 http://www.lrc.tnu.edu.vn
Trang 35Chương 2 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là các quần xã rừng trồng thuần loài
Keo lá tràm (Acacia auriculiformis), thuần loài Mỡ (Magnolia conifera ) và rừng trồng hỗn giao Thông (Pinus meskusii) và Keo lá tràm (Acacia auriculiformis)
2.2 Nội dung nghiên cứu
2.2.1 Đặc điểm cấu trúc của các quần xã rừng trồng
- Cấu trúc tổ thành tầng cây cao
- Cấu trúc mật độ tầng cây cao, chiều cao Hvn, đường kính D1,3 cm, độ tàn che và phẩm chất tầng cây cao
- Quy luật phân bố số cây theo đường kính (N/D1,3); số cây theo chiều cao (N/Hvn).
- Quy luật tương quan giữa chiều cao và đường kính (Hvn /D1,3)
2.2.2 Thành phần dạng sống trong các quần xã rừng trồng
- Thành phần dạng sống theo 4 nhóm: cây gỗ, cây bụi, cây thảo, dây leo
2.2.3 Đặc điểm tái sinh trong các quần xã rừng trồng
- Cấu trúc tổ thành loài cây tái sinh
- Chất lượng và nguồn gốc cây tái sinh
- Phân bố cây tái sinh theo cấp chiều cao
- Phân bố cây tái sinh theo cấp đường kính
2.3.4 Đề xuất một số giải pháp nhằm xúc tiến tái sinh tự nhiên trong các quần xã rừng trồng
2.3 Phương pháp nghiên cứu
2.3.1 Thu thập số liệu về điều kiện tự nhiên, dân sinh, kinh tế - xã hội
Sử dụng phương pháp thu thập số liệu kế thừa có chọn lọc về điều kiện
tự nhiên, dân sinh, kinh tế - xã hội tại khu vực nghiên cứu, thông qua các tàiliệu của các tác giả có liên quan đến đề tài
Trang 36- Tài liệu về địa lý, đất đai, thổ nhưỡng.
- Tài liệu về khí hậu, thủy văn
- Tài liệu về dân sinh, kinh tế - xã hội
- Bản đồ tài nguyên rừng
- Các tài liệu báo cáo có liên quan
2.3.2 Thu thập số liệu ở thực địa
Dựa trên đặc điểm hiện trạng của khu vực rừng trồng thuộc xã NgọcĐường - thành phố Hà Giang, căn cứ vào tình hình thực tế rừng trồng thuộckhu vực này có các trạng thái rừng trồng thuần loại bao gồm Keo, Mỡ, hỗn giaonên chúng tôi áp dụng phương pháp nghiên cứu điều tra chi tiết theo ô tiêuchuẩn (ÔTC) tạm thời, điển hình cho từng đối tượng Mỗi quần xã rừng lập mộtÔTC, mỗi ÔTC có kích thước là 400m2 (20x20) Mỗi đối tượng được bố trí thínghiệm 5 lần lặp lại
2.3.2.1 Điều tra tầng cây cao
Tại mỗi ÔTC tạm thời tiến hành mô tả các chỉ tiêu như: Vị trí, độ dốc,hướng phơi, độ cao Sau đó xác định chỉ tiêu sinh trưởng của tầng cây cao:
Đường kính ngang ngực (ở độ cao 1,3m trên mặt đất - D1.3m), được đobằng thước kẹp kính với độ chính xác đến cm, được đo theo 2 hướng Đông -Tây và Nam - Bắc, sau đó tính trị số trung bình
- Chiều cao vút ngọn (HVN, m) được đo bằng thước Blumeliss (đo theo nguyên tắc lượng giác) và thước sào với độ chính xác đến cm
+ HVN được xác định từ gốc cây đến đỉnh sinh trưởng của cây
Kết quả sau khi đo được ghi chép, thống kê đầy đủ và chi tiết vào phiếuđiều tra tầng cây cao
-Xác định độ tàn che: Dùng phương pháp trắc đồ rừng của Richards vàDavis (1934) biểu diễn trên giấy kẻ ô ly với dải rừng có diện tích 500m2 tỉ lệ1/200, sau đó tính diện tích độ tàn che trên giấy ô ly, tính tỉ lệ (%) Bên cạnh đócòn sử dụng phương pháp đo độ tàn che bằng máy đo độ tàn che
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN 26 http://www.lrc.tnu.edu.vn
Trang 372.3.2.2 Điều tra thành phần dạng sống thực vật trên ÔTC
Tiến hành điều tra thống kê tất cả các loài thực vật bắt gặp trên ÔTC củakhu vực nghiên cứu, sau đó phân loại theo nhóm (nhóm cây gỗ, nhóm cây bụi,nhóm cây thảo và nhóm dây leo) theo Phạm Hoàn Hộ (2003) [23] Sau đóxácđinḥ số lươngc̣ loài của từng nhóm và tỉlê c̣%
2.3.2.3 Điều tra lớp cây tái sinh
Trong các ÔTC códiện tich́ 400 m2 bố trí các ô dạng bản (ÔDB) có kíchthước 4m2 (2x2m) ÔDB được bố trí trên đường chéo, trung tâm, bốn góc vàcác cạnh của ÔTC theo sơ đồhinh̀ (3.1) Tổng diện tích ÔDB phải đạt ít nhất1/3 diện tích ÔTC
Hình 2.1 Cách bố trí các ô dạng bản trong các ô tiêu chuẩn
Tiến hành thống kê tất cả các cây tái sinh vào phiếu điều tra theo các chỉ tiêu:
- Tên loài cây tái sinh (loài nào chưa rõ thì thu thập mẫu để xác minh)
- Đo chiều cao cây tái sinh (đo bằng thước)
- Đo đường kính cây tái sinh (đo bằng thước kẹp kính)
- Xác định chất lượng cây tái sinh theo 3 cấp: tốt, xấu và trung bình
+ Cây tốt là cây không cụt ngọn, sinh trưởng phát triển tốt, không sâu
Trang 38Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN 27 http://www.lrc.tnu.edu.vn
Trang 39+ Cây xấu là cây cụt ngọn, sinh trưởng phát triển kém, bị sâu bệnh.
+ Còn lại là cây có chất lượng trung bình
- Xác đinḥ nguồn gốc cây tái sinh (từ hạt, từ chồi)
- Điều tra số lượng cây tái sinh (đếm số cây trong ÔTC, tính quy
về số
cây/ha)
Kết quả thu thập được ghi chi tiết vào phiếu điều tra cây tái sinh
2.3.3 Phỏng vấn người dân tại khu vực nghiên cứu
2.3.4 Phương pháp phân tích, xử lí số liệu
2.3.4.1 Đối với tầng cây cao
* Tổthành loài cây cao:
Đây là đối tượng rừng trồng nên việc xác định tổ thành tầng cây caocũng đơn giản song cũng cần phải xác định tổ thành của rừng là thuần loại hayhỗn giao Rừng thuần loại là rừng chỉ có một loài hoặc hai hay nhiều loàinhưng loài chính chiếm tỉ lệ lớn hơn 90% Còn rừng hỗn giao là rừng có haihay nhiều loài trở lên và tỉ lệ của chúng tương đương nhau và có sự ảnh hưởngqua lại với nhau
* Mật độ tầng cây cao:
Để xác định mật độ tầng cây cao chúng ta sử dụng công thức:
N / ha
Trong đó: n là số lượng cá thể của loài hoặc tổng số cá thể có trong OTC
S là diện tích ÔTC (được tính theo m2)
* Cấu trúc tầng thứ và độ tàn che của các trạng thái rừng
- Cấu trúc tầng là chỉ tiêu cấu trúc hình thái thể hiện sự sắp xếp khônggian phân bố của thực vật theo chiều thẳng đứng Nghiên cứu cấu trúc thôngqua các phẫu đồ rừng theo phương pháp Richards và Davis (1934)
- Xác định độ che phủ: Dùng phương pháp quan sát để xác định tỉ lệ che
Trang 40Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN 28 http://www.lrc.tnu.edu.vn