1. Trang chủ
  2. » Y Tế - Sức Khỏe

các thường gặp ở trẻ em

134 552 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 134
Dung lượng 0,98 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

SƠ LƯỢC Phần A Lý thuyết Chương I. Đại cương về bệnh trẻ em Chương II. Các bệnh thường gặp ở trẻ em Chương III. Các bệnh chuyên khoa Chương IV. Bệnh truyền nhiễm ở trẻ em Chương VI. Thuốc và cách sử dụng thuốc Phần B Thực hành

Trang 1

đại học huế trung tâm đào tạo từ xa

bS lê thị mai hoa

Giáo trình

Nhà xuất bản giáo dục

Trang 2

Mục lục

Phần A

lý thuyết……… 5

Chương I Đại cương về bệnh trẻ em 5

I Tầm quan trọng của môn học 5

II Đặc điểm sinh học và bệnh lý từng thời kỳ phát triển của trẻ em ư phòng ngừa bệnh cho trẻ em 6

III Tình hình bệnh, tật và tử vong ở trẻ em 16

IV Chăm sóc sức khỏe ban đầu cho trẻ em 18

Hướng dẫn tự học và ôn tập chương I 22

Câu hỏi ôn tập chương I 23

Chương II Các bệnh thường gặp ở trẻ em 24

I Các bệnh liên quan đến dinh dưỡng và chuyển hóa 24

II Bệnh thuộc hệ tiêu hóa 33

III Các bệnh thuộc hệ hô hấp 45

IV Các bệnh thuộc hệ tiết niệu 56

V Bệnh thấp tim 59

Hướng dẫn tự học và ôn tập chương II 63

Câu hỏi ôn tập chương II 64

Chương III Các bệnh chuyên khoa 65

I Bệnh về mắt 65

II Bệnh sâu răng 67

III Bệnh ngoài da 69

Hướng dẫn tự học và ôn tập chương III 74

Câu hỏi ôn tập chương III 75

Chương IV Bệnh truyền nhiễm ở trẻ em 76

I Đại cương về bệnh truyền nhiễm 76

II Các bệnh truyền nhiễm thường gặp 78

Hướng dẫn tự học và ôn tập chương IV 99

Câu hỏi ôn tập chương IV 100

Chương V Một số tai nạn và cấp cứu thường gặp ở trẻ em 101

Hướng dẫn tự học và ôn tập chương V 116

Câu hỏi ôn tập chương V 117

Chương VI Thuốc và cách sử dụng thuốc 118

I Đại cương về thuốc 118

II Một số thuốc thường dùng 121

III Tủ thuốc ư cách bảo quản và vườn thuốc trong trường mầm non 125

Trang 3

H−íng dÉn tù häc vµ «n tËp ch−¬ng VI 128

C©u hái «n tËp ch−¬ng VI 129

PhÇn B thùc hµnh 130

I Pha dung dÞch Oresol 130

II NÊu n−íc ch¸o muèi 131

III CÊp cøu ngõng thë vµ ngõng tim 131

Tµi liÖu tham kh¶o 133

Trang 4

Lời nói đầu

Để đáp ứng nhu cầu đào tạo cử nhân Đại học Sư phạm ngành Mầm non hệ từ

xa hiện nay, chúng tôi biên soạn Giáo trình Bệnh trẻ em nhằm phục vụ các học

sở các kiến thức được trang bị, học viên sẽ biết cách tổ chức phòng bệnh tích cực, tạo điều kiện cho việc chăm sóc sức khỏe ban đầu có hiệu quả Đồng thời, bước

đầu hình thành ở học viên một số kỹ năng đơn giản trong việc xử lý nhanh chóng khi trẻ bị bệnh hoặc các trường hợp rủi ro bất thường xảy ra trong sinh hoạt hằng ngày của t ẻ em ở trường mầm non Giáo trình này được biên soạn lần đầu nênkhó tránh khỏi những khiếm khuyết Vì vậy, chúng tôi rất mong sự góp ý của các nhà chuyên môn, các bạn đồng nghiệp và bạn đọc gần xa để lần tái bản sau được tốt hơn

Tác giả

Trang 5

Vì vậy, yêu cầu cơ bản về sức khỏe trẻ là được lớn và trưởng thành tới mức tối đa

ở trẻ khỏe mạnh bình thường, các hệ cơ quan hoạt động theo những chức năng nhất định và

ở những chỉ số cho phép

Ví dụ : Để đánh giá sự phát triển, người ta có thể dựa vào cân nặng qua các độ tuổi của trẻ

ở trẻ sơ sinh đủ tháng, trọng lượng trung bình từ 2,5kg đến 3kg, nếu trọng lượng dưới 2,5kg coi như trẻ sinh non, sinh yếu hay suy dinh dưỡng bào thai

Trong năm đầu, khi trẻ 5 ư 6 tháng, trọng lượng gấp đôi khi sinh, nếu dưới mức đó là trẻ suy dinh dưỡng

Hệ tiêu hóa có chức năng tiêu hóa thức ăn, thải các chất cặn bã ra ngoài Nhưng khi ăn vào thức ăn không được tiêu hóa, trẻ đại tiện phân sống hoặc số lần đại tiện trong ngày nhiều hơn, trẻ nôn trớ, đó là trẻ đã bị bệnh về đường tiêu hóa Hoặc chức năng của các cơ quan khác như của hệ hô hấp, hệ tuần hoàn khi nhịp thở nhanh, nhịp tim nhanh hơn bình thường theo độ tuổi coi như trẻ đã bị bệnh

Vậy, trẻ bị bệnh là sự lớn và sự trưởng thành của cơ thể trẻ bị rối loạn, quá trình sinh học của trẻ không được bình thường

Trang 6

cơ thể trẻ em và ứng dụng vào việc chăm sóc, nuôi dưỡng, bảo vệ sức khỏe trẻ em và giáo dục trẻ

Bảo vệ sức khỏe cho trẻ gồm 4 khâu : tăng cường sức khỏe, phòng ngừa, chữa bệnh và phục hồi chức năng Ngành giáo dục mầm non có trách nhiệm trực tiếp chăm sóc sức khỏe trẻ

em, trong đó việc tăng cường sức khỏe và phòng ngừa bệnh tật là vô cùng quan trọng

Sinh viên ngành Mầm non phải được trang bị những kiến thức, kỹ năng cần thiết để sau khi

ra trường có thể áp dụng vào việc nuôi dưỡng, chăm sóc, phòng bệnh cho trẻ để nâng cao thể lực, sức khỏe trẻ em lứa tuổi từ 0 đến 6 tuổi Vì vậy, việc đưa môn Bệnh học trẻ em vào chương trình chăm sóc giáo dục trẻ em của ngành Mầm non là một yêu cầu cấp bách, bức thiết

II Đặc điểm sinh học và bệnh lý từng thời kỳ phát triển của trẻ em

1.1 Sự tăng trưởng thể chất trẻ em

1.1.1 Trẻ sơ sinh

Chiều cao của trẻ sơ sinh đủ tháng lúc mới sinh là 50 ± 1,6cm đối với con trai và 49,8 ± 1,5cm đối với con gái Cân nặng của trẻ trai là 3100 ± 350g và trẻ gái là 3060 ± 340g (theo số liệu điều tra năm 1995)

Cân nặng và chiều cao của con dạ thường lớn hơn con so và con trai thường lớn hơn con gái

Sau sinh cân nặng thường giảm đi khoảng 6ư8% trọng lượng lúc mới sinh, nghĩa là từ 150 ư 300g, và sẽ đạt được cân nặng ban đầu vào ngày thứ 10 sau sinh Trẻ sinh non thì tỷ lệ sút cân nhiều hơn và sự phục hồi chậm hơn

Trang 7

Trong giai đoạn nhảy vọt này, cân nặng tăng trung bình từ 3 ư 3,5kg đối với trẻ gái, đỉnh cao là 4kg/năm ; còn đối với trẻ trai là 4 ư 4,5kg/năm và đỉnh cao là 5kg/năm

Sau giai đoạn này tốc độ tăng chậm dần

b) Cũng tương tự như sự phát triển cân nặng, tốc độ tăng chiều cao từ năm thứ hai trở đi

chậm hơn năm đầu, mỗi năm tăng từ 6,5 ư 7,5cm và sau đó mỗi năm tăng được 4cm đối với trẻ gái và 4,5cm đối với trẻ trai, cho đến giai đoạn dậy thì lại có sự tăng vọt Trong giai đoạn này, chiều cao tăng trung bình là 5,5cm và đỉnh cao là 9cm/năm đối với nam, 5cm/năm và đỉnh cao

là 8cm/năm đối với nữ, sau đó tốc độ tăng chiều cao giảm nhanh

Như vậy, để ước tính chiều cao cho trẻ em trên 1 tuổi, có thể áp dụng công thức sau :

H = 75 + 5(N ư 1) (H là chiều cao tính bằng cm, N là số tuổi tính theo năm)

1.1.4 Biểu đồ tăng trưởng (growth chart)

Để đánh giá sự phát triển cơ thể trẻ em thì việc theo dõi cân nặng, chiều cao liên tục từ lúc lọt lòng cho đến lúc trưởng thành là rất quan trọng Tuy nhiên, cân nặng là chỉ tiêu thay đổi nhanh, phản ánh được tình trạng dinh dưỡng và sức khỏe trẻ em, cho nên người ta sử dụng biểu

đồ cân nặng Để có thể so sánh tình trạng dinh dưỡng trẻ em của các nước, Tổ chức Y tế thế giới đã khuyến cáo các nước sử dụng thống nhất một biểu đồ cân nặng chuẩn dựa theo số liệu của Trung tâm Quốc gia Thống kê sức khỏe Hoa Kỳ (NCHS ư National Center For Health Statistics)

Hiện nay, đường biểu diễn cân nặng của trẻ em nước ta nằm trong khoảng từ X đến X ư 2SD của biểu đồ cân nặng chuẩn (SD : Độ lệch chuẩn so với quần thể tham khảo 1 SD tương

Trang 8

đương với 10% trọng lượng cơ thể trẻ bình thường) Điều này phản ánh tình trạng dinh dưỡng trẻ em dưới 5 tuổi của nước ta tuy có tốt hơn nhưng vẫn còn đáng lo ngại

Ngoài ra, quá trình tăng trưởng của trẻ em còn chịu ảnh hường của các yếu tố :

ư Nội tiết : hormon các tuyến giáp, tụy, thượng thận, sinh dục, tuyến yên

ư Bệnh tật : các bệnh về chuyển hóa, thận, thần kinh, nội tiết, hô hấp, tim mạch, tiêu hóa,

đều ảnh hưởng đến sự tăng trưởng

ư Khuynh hướng thế tục (secular trend) : là xu hướng tăng trưởng theo thời gian

1.2 Sự phát triển tâm thần vận động ở trẻ em

Các bậc cha mẹ và những người nuôi trẻ phải có kiến thức về sự phát triển tâm thần vận

động của trẻ em thì mới đánh giá được mức độ chậm phát triển và các lệch lạc trong phát triển

1.2.1 Các yếu tố ảnh hưởng đến sự phát triển tâm thần vận động của trẻ

Trang 9

ư Yếu tố bên ngoài :

Trẻ lớn lên trong môi trường xã hội, gia đình nên môi trường có ảnh hưởng lớn đến sự phát triển của trẻ Trẻ lớn lên trong môi trường nghèo nàn không phát triển bằng trẻ trong môi trường phong phú Sự tương tác giữa thể chất và môi trường xã hội góp phần phát triển và làm tỷ mỉ hóa các sợi đuôi gai của tế bào thần kinh

Nhiều thí nghiệm đã cho thấy quá trình học tập liên quan đến quá trình tăng trưởng của sợi

đuôi gai

Thông qua sự tác động của môi trường, hành vi sẽ phát triển Hành vi góp phần phát triển nhân cách bao gồm khả năng tính toán, giao tiếp, giải quyết vấn đề, vận động tinh vi Chuỗi phát triển được kích thích hoặc ức chế thông qua tác động lẫn nhau của trẻ và môi trường

Những cử chỉ, lời nói của cha mẹ và những người xung quanh đều ảnh hưởng đến sự trưởng thành của trẻ Mỗi trẻ em có một nhịp độ trưởng thành riêng nhưng cũng có một mức độ trung bình chung Từng phần hoạt động, cảm tính, trí tuệ trong thực tế cuộc sống nội tâm của trẻ có một sự thống nhất

Quá trình phát triển hình thái, myelin hóa, tác dụng của môi trường giúp trẻ đi qua chặng

đường phức tạp để hình thành hành vi, nhân cách Sự phát triển này tương tự ở tất cả các dân tộc

1.2.2 Phát triển tâm thần vận động qua các lứa tuổi

Để đánh giá phát triển tâm thần vận động, chúng ta có thể khảo sát, theo dõi 4 khía cạnh :

ư Các động tác vận động ;

ư Sự khéo léo kết hợp các động tác ;

ư Sự phát triển về lời nói ;

ư Quan hệ của trẻ đối với con người và môi trường xung quanh

• Trẻ sơ sinh :

Trẻ sơ sinh hoạt động chủ yếu do các phản xạ, về vận động còn mang tính chất hỗn loạn do trung tâm dưới vỏ não chi phối

ư Không chủ động được mọi động tác, có những vận động tự phát, không trật tự, không phối hợp, xuất hiện đột ngột cả hai bên và không giống nhau

ư Trẻ có phản xạ tự nhiên như phản xạ bú, phản xạ nắm tay, phản xạ bắt chộp (khi vỗ tay vào thành giường nơi trẻ nằm, trẻ sẽ giật mình, hai tay dang ra rồi ôm choàng vào thân còn được gọi là phản xạ Moro), phản xạ bước đi

ư Tư thế nằm ngửa, đầu gối và khuỷu tay gấp cong, hông gấp và dạng ra ngoài

ư Tư thế nằm sấp, chậu hông giơ cao, đầu gối gấp dưới bụng

ư Tư thế treo ngang bụng thì đầu rũ hoàn toàn

Lúc 2 ư 3 tuần tuổi, trẻ có thể nhìn người mẹ, có thể có hiện tượng lác mắt sinh lý

• Trẻ 2 ư 3 tháng :

ư Trẻ biết nhìn mặt người mỉm cười, hóng chuyện khi được nói chuyện, mắt biết nhìn theo vật sáng di động

Trang 10

ư ở tư thế nằm sấp, trẻ có thể ngẩng được đầu từng lúc, khung chậu duỗi rộng, hông duỗi gần hoàn toàn

ư Ngồi được khi có người đỡ nách

Trong cả năm đầu, bộ phận tiếp xúc chủ yếu là môi miệng được dùng không chỉ để bú, để

ăn mà còn để thăm dò mọi vật

• Trẻ 6 tháng :

ư Trẻ 6 tháng biết đưa tay với những đồ vật trông thấy, nhưng ngón tay dính quặp với vật trẻ nắm, cầm đồ chơi bằng lòng bàn tay

ư Bắt đầu ngồi được một mình nhưng dễ đổ, chưa vững

ư Trẻ bắt đầu bập bẹ hai âm thanh, bắt đầu nhận biết mặt người quen

• Trẻ 7 ư 9 tháng :

ư Tự ngồi được vững vàng

ư Gặp người lạ trẻ có phản ứng, không chịu cho bế và có khi còn khóc

ư Trẻ có thể tự cầm bánh đưa vào miệng ăn, đưa đồ vật từ tay này sang tay kia, biết vẫy tay chào, vỗ tay hoan hô

ư Cầm được đồ vật ở cả hai tay, có thể đập vào nhau để có tiếng động hoặc biết bỏ một cái

để lấy cái khác Vì vậy, trẻ rất thích các đồ chơi có tiếng động (chuông, quả lắc)

ư Sự kết hợp giữa những cảm giác tai nghe, mắt thấy, tay sờ, miệng nếm, mũi ngửi giúp cho trẻ dần dần nhìn nhận các thuộc tính của đồ vật Đó là bước đầu tiên phát triển trí tuệ không như cảm giác về vận động

ư Biết phát âm bà bà, ma ma

• Trẻ 9 tháng :

ư Ngồi vững lâu, bò trên bàn tay và bàn chân, bắt đầu vịn lên thành giường, thành ghế để

đứng lên

ư Có thể nhặt vật nhỏ bằng ngón tay cái và ngón tay trỏ

ư Thích phát âm a, a, ba ba, ma ma

• Trẻ 10 ư 12 tháng :

ư Trẻ đứng vịn vững, bắt đầu thích đi men mép vật chắn

ư Thích đập đồ chơi vào bàn rồi quẳng xuống đất

Trang 11

ư Sử dụng các ngón tay dễ dàng hơn

ư Biết chỉ tay đòi vật mình ưa thích

ư Hiểu từ "không"

Vào cuối năm thứ nhất, sự phối hợp giữa mắt và tay có hiệu quả hơn trước, những cảm giác bắt đầu rõ nét hơn và chính xác hơn Lúc ấy, trẻ bắt đầu nhận ra có những vật thể riêng biệt Trước đó, chơi với một vật gì hễ ai lấy đi hoặc trẻ đánh rơi mất là trẻ không để ý Nhưng đến lúc này, nếu mất vật đang chơi, trẻ có ý đi tìm Trong não đã ghi nhận một dấu ấn ổn định của đồ vật

• Trẻ 13 ư 15 tháng :

ư Đi men giỏi, bắt đầu tự đi một mình được vài bước

ư Trẻ 15 tháng biết mở một cái hộp, bắt chước xếp chồng hai khối vuông và vẽ nguệch ngoạc

ư Trẻ có thể sử dụng ngón tay dễ dàng, có thể nhặt một vật tròn bằng đầu ngón tay cái và ngón tay trỏ Đó là một phát triển rất quan trọng Trẻ có thể cầm chén uống nước nếu được giúp

đỡ

ư Biết sử dụng chừng 4 ư 6 từ ngoài từ bố, mẹ

ư Biết đáp ứng với mệnh lệnh đơn giản đi cùng với dấu hiệu

• Trẻ 16 ư 18 tháng :

ư Đi vững, đứng thẳng, mắt nhìn xa

ư Bắt đầu cầm cốc uống nước, cầm thìa ; bàn tay, ngón tay ngày càng khéo léo, có thể đóng

mở hộp diêm, cầm bút vẽ trên tờ giấy

ư Biết nói câu 2 ư 3 từ, số từ phong phú dần, biết đòi đi vệ sinh

ư Do trẻ biết nói nên bắt đầu xuất hiện khả năng suy nghĩ làm cho thế giới vật chất không chỉ có thể tiếp xúc bằng giác quan và vận động mà còn thêm một thế giới biểu tượng ở bên trong ở tuổi này, tư duy còn gắn chặt với hành động và tình cảm chi phối tâm tư của trẻ Trẻ nhìn sự vật một cách chủ quan, chưa thấy tính khách quan của sự vật

• Trẻ trên 2 ư 3 tuổi :

ư Đi nhanh, chạy, leo được lên bậc cửa

ư Các động tác tay khéo kéo, thích mặc quần, áo

ư Biết nói câu 2 ư 3 từ, biết ít nhất 250 từ, biết số nhiều của từ, biết đại từ

Trang 12

ư Trẻ đặt nhiều câu hỏi, phát triển lời nói nhiều

ư Học thuộc bài hát ngắn

ư Đặc biệt trẻ gái thích múa hát

• Trẻ trên 3 ư 6 tuổi :

ư Lứa tuổi này sôi động nhất

ư Đôi tay khéo léo lên nhiều, biết cầm dao, cầm kéo, buộc dây

ư Đi lên, xuống cầu thang dễ dàng, đi xe 3 bánh, đi cầu bập bênh

ư Ngôn ngữ phát triển nhanh, vốn từ lên đến hàng nghìn từ, bắt đầu nói thành câu, thích nghe kể chuyện và kể lại

• Trẻ trên 7 ư 15 tuổi :

Trẻ đi học từ 6 tuổi Đến nhà trường "học chữ" là thay đổi môi trường xã hội một cách sâu sắc Muốn học một hệ thống kiến thức cần có những điều kiện sau :

ư Trẻ biết kiềm chế ngồi yên, tập trung chú ý vào bài học

ư Kiến thức là những điều trừu tượng, trẻ em phải biết tách biệt những kiến thức khỏi những cảm giác trực quan mới tiếp nhận được

ư Trẻ chấp nhận những quy tắc chung cho cả lớp, cả trường, đồng thời gia nhập một tập thể

bè bạn, chịu tác động hỗn loạn

ư Trẻ đã khôn lớn, có khả năng sáng tạo, tưởng tượng

ư Vào tuổi 12 ư 15, có khi sớm hơn, cơ thể trải qua đột biến, đó là hiện tượng dậy thì, mở

đầu cho tuổi thanh niên

Nên lưu ý không phải lúc nào cũng theo đúng mức phát triển thông thường này, nếu loại trừ phát triển sớm hay bị bệnh làm chậm phát triển thì sự chênh lệch trong quá trình trưởng thành giữa em này và em khác về mặt cảm giác, vận động và trí tuệ không xa nhau lắm

2 Đặc điểm sinh học và bệnh lý từng thời kỳ phát triển của trẻ em

Trẻ em là một cơ thể đang lớn và phát triển Quá trình lớn và phát triển của trẻ em cũng tuân theo quy luật chung của sự tiến hóa sinh vật ; đi từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp Quá trình tiến hóa này không phải là một quá trình tuần tiến mà có những bước nhảy vọt, có sự khác về chất chứ không đơn thuần về số lượng Vì vậy, khi nói đến trẻ em, không thể nói chung,

mà mỗi lứa tuổi có những đặc điểm sinh học riêng, chi phối đến sự phát triển bình thường cũng như quá trình bệnh lý của trẻ

Sự phân chia các thời kỳ của trẻ em là một thực tế khách quan nhưng ranh giới giữa các giai

đoạn không rõ ràng Các cách chia đều dựa vào những đặc điểm cơ bản về sinh học của trẻ

2.1 Thời kỳ phát triển trong tử cung

Đây là thời kỳ hình thành và phát triển thai nhi, trung bình 280 ư 290 ngày Đặc biệt, 9 tháng trong bụng mẹ chiều dài của thai nhi phát triển tương đương 9 năm từ 3 ư 12 tuổi, trọng lượng của não trẻ sơ sinh đã bằng 25% và lúc 6 tháng tuổi bằng 50% trọng lượng não trưởng thành

Trang 13

Bào thai phát triển hoàn toàn phụ thuộc vào người mẹ Có nhiều yếu tố ảnh hưởng đến sự phát triển thai nhi như : tuổi của mẹ, số lần sinh đẻ, khoảng cách giữa các lần sinh con, dinh dưỡng của mẹ khi có thai, điều kiện lao động, tình trạng tinh thần, bệnh tật của người mẹ Trong thời kỳ có thai, nhất là 3 tháng đầu, nếu người mẹ bị nhiễm những yếu tố độc hại như : hóa chất (dioxin ), virut, một số thuốc, có thể gây rối loạn hoặc cản trở sự hình thành các bộ phận, sẽ gây quái thai hoặc các dị tật sau này

Sự tăng cân của thai nhi phụ thuộc vào sự tăng cân của mẹ Sự tăng cân của mẹ khi mang thai :

ư Quý I của thai kỳ tăng từ 0 ư 2kg ;

ư Quý II của thai kỳ tăng từ 3 ư 4kg ;

ư Quý III của thai kỳ tăng từ 5 ư 6kg

Tính chung đến cuối thai kỳ, người mẹ tăng được từ 8 ư 12kg

Hiện nay, tình trạng dinh dưỡng của các bà mẹ mang thai còn kém, Nếu người mẹ không tăng đủ cân trong quá trình thai nghén sẽ làm tăng nguy cơ mẹ bị suy kiệt, cân nặng trẻ sơ sinh thấp và tỷ lệ tử vong cao

Do đó, việc bảo vệ và chăm sóc các bà mẹ khi có thai sẽ giúp thai nhi phát triển tốt Các bà

mẹ cần :

ư Khám thai định kỳ, ít nhất 3 lần trong suốt thời kỳ thai nghén

ư Thận trọng khi dùng thuốc, tránh tiếp xúc với các yếu tố độc hại

ư Chế độ lao động hợp lý, tinh thần thoải mái

ư Chế độ dinh dưỡng đầy đủ, đảm bảo từ 2400 ư 2500 cal/ngày

2.2 Thời kỳ sơ sinh

Thời gian là 4 tuần đầu sau khi sinh

Trẻ bắt đầu thích nghi với cuộc sống ngoài tử cung Bộ máy hô hấp, tuần hoàn, tiêu hóa và các cơ quan khác bắt đầu hoạt động nhưng chưa hoàn chỉnh

Một đặc điểm sinh học nổi bật của trẻ trong thời kỳ sơ sinh là chức năng các bộ phận và hệ

thống đều chưa hoàn thiện, nhưng nó biến đổi rất nhanh, đặc biệt trong tuần đầu

• Về bệnh lý :

ư Các bệnh lý trước sinh : Các dị tật bẩm sinh, các bệnh rối loạn chuyển hóa, đẻ non

ư Các bệnh do sinh : Sang chấn, ngạt

ư Các bệnh mắc phải sau đẻ : Các bệnh nhiễm khuẩn toàn thân hoặc tại chỗ (rốn, hô hấp, da), bệnh dễ nặng và dễ gây tử vong

• Muốn hạn chế tỷ lệ tử vong cho trẻ sơ sinh cần :

ư Chăm sóc trước sinh : chăm sóc bà mẹ

ư Vô khuẩn trong chăm sóc và giữ ấm

ư Bảo đảm cho trẻ bú mẹ

Trang 14

2.3 Thời kỳ bú mẹ

Tiếp theo sau thời kỳ sơ sinh cho đến lúc trẻ được 12 tháng

• Đặc điểm sinh học cơ bản của trẻ thời kỳ này :

ư Trẻ lớn rất nhanh, 6 tháng cân nặng gấp đôi, đến cuối năm cân nặng gấp 3 và chiều cao tăng gấp rưỡi lúc mới sinh Nhu cầu dinh dưỡng cao, 120 ư 130 kcal cho 1kg trọng lượng một ngày Thức ăn tốt nhất là sữa mẹ Từ 5 ư 6 tháng trở đi, ngoài sữa mẹ cần phải cho trẻ ăn bổ sung hợp lý

ư Chức năng các bộ phận cũng phát triển nhanh nhưng vẫn chưa hoàn thiện, đặc biệt chức năng tiêu hóa ; tình trạng miễn dịch thụ động (IgG từ mẹ truyền sang) giảm nhanh, trong khi khả năng tạo globulin miễn dịch còn yếu

ư Đã hình thành hệ thống tín hiệu thứ nhất (các phản xạ có điều kiện) và đến cuối năm trẻ bắt đầu hình thành hệ thống tín hiệu thứ hai (trẻ bắt đầu nói)

• Bệnh lý của thời kỳ này hay gặp là :

ư Các bệnh về dinh dưỡng và tiêu hóa : suy dinh dưỡng, thiếu máu, còi xương, tiêu chảy cấp,

ư Các bệnh nhiễm khuẩn mắc phải như viêm phổi, viêm màng não mủ Nói chung các bệnh nhiễm khuẩn dễ có xu hướng lan tỏa

• Chăm sóc trẻ trong thời kỳ này cần chú ý :

ư Đảm bảo dinh dưỡng : Trẻ được bú mẹ đầy đủ, cho ăn sam đầy đủ và đúng thời điểm

ư Đảm bảo tiêm phòng đầy đủ, đúng thời gian và đúng kỹ thuật

ư Ngoài việc vệ sinh thân thể cần chú ý giúp trẻ phát triển về mặt tâm thần vận động

2.4 Thời kỳ răng sữa

• Có thể chia thời kỳ này làm hai giai đoạn :

ư Giai đoạn nhà trẻ : 1 ư 3 tuổi

ư Giai đoạn mẫu giáo : 4 ư 6 tuổi, hay còn gọi là tuổi tiền học đường

• Đặc điểm sinh học chủ yếu :

ư Tốc độ tăng trưởng chậm hơn

ư Răng sữa bắt đầu mọc từ 6 tháng tuổi Đến 2 tuổi trẻ có đủ 20 răng Khoảng 6 tuổi trẻ bắt

đầu thay răng sữa bằng răng vĩnh viễn

ư Chức năng cơ bản của các bộ phận dần dần hoàn thiện

ư Chức năng vận động phát triển nhanh, hệ cơ phát triển, trẻ có khả năng phối hợp động tác khéo léo hơn

ư Trí tuệ phát triển nhanh, đặc biệt về ngôn ngữ

• Về bệnh lý :

ư Xu hướng bệnh ít lan tỏa hơn

ư Xuất hiện các bệnh có tính chất dị ứng : hen phế quản, nổi mề đay, viêm cầu thận cấp,

Trang 15

ư Do tiếp xúc rộng rãi trẻ dễ mắc một số bệnh lây nhưng nhờ tiêm phòng tốt nên đến nay

đã giảm rõ rệt

Trong giai đoạn này việc giáo dục thể chất và tạo môi trường thuận lợi cho sự phát triển tâm sinh lý có một vai trò hết sức quan trọng

2.5 Thời kỳ niên thiếu (tuổi học đường)

• Thời kỳ này cũng có thể chia thành 2 giai đoạn :

ư Giai đoạn tiểu học : 7 ư 11 tuổi

ư Giai đoạn tiền dậy thì : 12 ư 15 tuổi

• Đặc điểm sinh học chủ yếu :

ư Hình thái và chức năng các bộ phận đã phát triển hoàn toàn

ư Giai đoạn tiền dậy thì tốc độ tăng trưởng nhanh, trẻ gái tăng trưởng sớm hơn trẻ trai 1 ư 2 năm

ư Hệ cơ phát triển mạnh, răng vĩnh cửu thay thế cho răng sữa

ư Tế bào vỏ não đã hoàn toàn biệt hóa, chức năng vỏ não phát triển mạnh và phức tạp hơn, trí tuệ phát triển và hình thành rõ rệt tâm sinh lý giới tính

• Về bệnh lý : Gần giống như người lớn

Trẻ dễ mắc bệnh như thấp tim, viêm cầu thận cấp và các bệnh xuất hiện trong quá trình học tập như bệnh biến dạng cột sống (gù, vẹo), cận hoặc viễn thị, bệnh răng miệng và rối nhiễu tâm

Do những đặc điểm sinh bệnh nói trên, ở nhiều nước đã hình thành chuyên ngành y tế học

đường để chăm sóc tốt sức khỏe cho trẻ em ở lứa tuổi này

2.6 Thời kỳ dậy thì (tuổi học sinh Trung học Phổ thông)

Thời kỳ dậy thì thực ra bắt đầu từ tuổi thiếu niên, khi bắt đầu có những biểu hiện tính sinh dục thứ yếu (thay đổi tuyến vú và tinh hoàn, mọc lông ở nách và xương mu, bước "nhảy vọt tăng trưởng", ), thay đổi theo giới, tình trạng dinh dưỡng, môi trường văn hóa, xã hội,

• Đặc điểm sinh học chủ yếu :

ư Sự thay đổi về hệ thần kinh ư nội tiết, mà nổi bật là sự hoạt động của các tuyến sinh dục gây ra những biến đổi về hình thái và sự tăng trưởng của cơ thể Sau khi dậy thì hoàn toàn, tốc

độ tăng trưởng giảm xuống rất nhanh và ngừng hẳn ở nữ vào tuổi 19 ư 20 và nam ở tuổi 21 ư

25

ư Có sự thay đổi về tâm lý (cảm xúc giới tính, tính khí, nhân cách, )

• Về bệnh lý : Dễ bị rối loạn chức năng tim mạch và nhiễu tâm, cũng như phát hiện thấy

Trang 16

cố định, có thể sớm hay muộn, tùy theo từng đứa trẻ, nhưng mọi trẻ đều trải qua các thời kỳ phát triển trên

ư Cần nắm vững những đặc điểm sinh bệnh học từng thời kỳ của trẻ em để vận dụng vào công tác chăm sóc, giáo dục và bảo vệ sức khỏe cho trẻ em

ư Cần có một quan điểm "động" trong việc nhìn nhận trẻ em

Việc chăm sóc và giáo dục đầy đủ có tác dụng phòng ngừa các nguyên nhân ảnh hưởng đến

sự phát triển thể chất, trí tuệ và học tập của trẻ ở phổ thông, đặc biệt sự giáo dục đúng đắn sẽ có

ảnh hưởng quan trọng đến việc hình thành nhân cách của trẻ Vì vậy, những cán bộ mầm non phải nhận biết được toàn diện việc chăm sóc sức khỏe cho trẻ là để phòng ngừa các nguyên nhân gây bệnh, tạo điều kiện cho trẻ lớn và trưởng thành đến mức tối đa

3 Phòng ngừa bệnh trẻ em

Bảo vệ sức khỏe gồm 4 khâu : tăng cường sức khỏe, phòng ngừa, chữa bệnh và phục hồi chức năng Ngành Giáo dục mầm non có trách nhiệm trực tiếp chăm sóc sức khỏe trẻ em, trong

đó việc tăng cường sức khỏe và phòng ngừa bệnh tật là quan trọng

Phòng ngừa bệnh là tổ chức và thực hiện các biện pháp dự phòng cho trẻ không mắc bệnh như : nuôi dưỡng đầy đủ, tiêm chủng, luyện tập sức khỏe, vệ sinh môi trường Muốn vậy, cần phải hướng dẫn cho các bậc cha mẹ, xã hội cách chăm sóc giáo dục sức khỏe cho trẻ Đó là theo dõi sự phát triển của trẻ, phát hiện bệnh sớm, cải thiện cuộc sống, tổ chức sinh hoạt tinh thần thoải mái, hạn chế được trẻ hư hỏng, những trẻ tật nguyền hội nhập được với xã hội Không ngừng nâng cao kỹ thuật, chất lượng chăm sóc, xử lý cấp cứu tại các trường mầm non để giảm bớt tỷ lệ tử vong và di chứng, đem lại hạnh phúc cho trẻ em, gia đình và xã hội

Trang 17

2 Tình trạng có tật ở trẻ em

Nghiên cứu của Viện Bảo vệ sức khỏe trẻ em (1993) ước tính có 1,2 triệu trẻ em dưới 16 tuổi bị tàn tật Có nhiều loại tàn tật : tật thị giác, tật thính giác, tật vận động, tật nói, trí óc chậm phát triển và các loại khác Mỗi năm có khoảng 6000 trẻ em từ 6 tháng đến 59 tháng tuổi bị mù

Các tật mắc phải có thể xảy ra trước khi sinh, trong khi sinh và cả sau khi sinh, liên quan

đến sự nghèo đói, thiếu kiến thức trong việc chăm sóc sức khỏe bà mẹ và trẻ em như :

ư Trong thời kỳ mang thai người mẹ bị thiếu ăn sẽ đẻ non hoặc đẻ con thiếu cân (dưới 2500 gam), đó là nguyên nhân làm cho não của trẻ kém phát triển

ư Do nuôi dưỡng trẻ không đúng cách gây ra suy dinh dưỡng, tạo điều kiện cho các bệnh nhiễm khuẩn phát triển, gây sốt cao, đôi khi tổn thương đến não

ư Do vệ sinh kém, điều kiện sống chật chội tạo điều kiện thuận lợi cho bệnh lao phát triển (lao màng não, lao xương, lao cột sống)

ư Trẻ không được tiêm chủng đầy đủ các bệnh như bại liệt, bạch hầu, uốn ván, ho gà, lao

ư Trẻ bị mù do thiếu vitamin A, hoặc chậm phát triển tinh thần do thiếu iốt trong bữa ăn của trẻ và do bà mẹ không dùng muối iốt trong khi mang thai

ư Do bị tai nạn gây chấn thương sọ não hoặc gãy chân tay

ư Do sử dụng thuốc bừa bãi, tiếp xúc nhiều với các chất độc hại dễ gây đẻ non hoặc con bị

dị tật Trẻ bị điếc do lạm dụng kháng sinh Streptomyxin

Ngoài ra, nguyên nhân do chiến tranh cũng làm cho nhiều bà mẹ và trẻ em bị thương tổn, tàn phế, thiếu ăn và thiếu các chăm sóc y tế cơ bản

3 Tình hình tử vong ở trẻ em

3.1 Tình hình tử vong của trẻ em trên thế giới

Tỷ lệ tử vong của trẻ em dưới 1 tuổi còn rất cao Chung cho toàn thế giới là 61‰, các nước công nghiệp là 7‰, các nước đang phát triển là 67‰, các nước kém phát triển là 109‰ (Theo

Tổ chức Y tế thế giới, 1997)

3.2 Nguyên nhân tử vong của trẻ em dưới 5 tuổi ở các nước đang phát triển

Hằng năm có khoảng hơn 12 triệu trẻ em dưới 5 tuổi ở các nước đang phát triển bị chết, trong đó chết trong giai đoạn sơ sinh khoảng 4 triệu, từ 1 ư 11 tháng là 4.110.000 và từ 1 ư 5 tuổi là 4.110.000 Như vậy, 2/3 số tử vong trẻ dưới 5 tuổi xảy ra trong năm đầu

Nguyên nhân tử vong chủ yếu là suy dinh dưỡng và các bệnh nhiễm khuẩn, trong đó đứng hàng đầu là nhiễm khuẩn hô hấp cấp (25%), tiêu chảy (23%), uốn ván sơ sinh (5%), sốt rét (8%), sởi (9%)

Trang 18

IV Chăm sóc sức khỏe ban đầu cho trẻ em

1 Định nghĩa sức khỏe trẻ em

Theo Tổ chức Y tế thế giới (WHO) định nghĩa : "Sức khỏe là một trạng thái thoải mái về thể chất, tâm thần và xã hội chứ không phải thuần túy chỉ là tình trạng không có bệnh tật" Một đứa trẻ khỏe mạnh là một đứa trẻ không những không có bệnh mà phải có một trạng thái thoải mái về tâm thần, sống trong gia đình hạnh phúc, trong một xã hội lành mạnh, có thể chất tốt Nghĩa là các yếu tố về sinh lý, về xã hội phải luôn luôn gắn chặt với nhau, hỗ trợ bổ sung cho nhau Muốn có một đứa trẻ khỏe mạnh phải chú trọng đến các yếu tố phát triển thể chất, tâm lý và môi trường sống lành mạnh

2 Sự cấp thiết của chiến lược chăm sóc sức khỏe ban đầu cho trẻ em

Phân tích tình hình mắc bệnh và nguyên nhân tử vong của hàng triệu trẻ em, đặc biệt trẻ em

ở các nước đang phát triển cho thấy :

ư Các bệnh nhiễm khuẩn (viêm phổi, ỉa chảy, các bệnh lây, ) và suy dinh dưỡng là những bệnh phổ biến, là nguyên nhân chủ yếu gây tử vong cho trẻ dưới 3 tuổi

ư Đa số các bệnh này có thể đề phòng và chữa khỏi bằng các biện pháp đơn giản, rẻ tiền và hiệu quả Vì vậy, Quỹ nhi đồng Liên hợp quốc (UNICEF) đã đề xướng một chương trình Chăm sóc sức khỏe ban đầu cho trẻ em gồm 7 biện pháp, viết tắt bằng chữ tiếng Anh là GOBIFFF Bảy nội dung đó là :

ư Theo dõi biểu đồ tăng trưởng (Growth chart) ;

ư Bù nước bằng đường uống (Oral rehydratation) ;

ư Bú sữa mẹ (Breast feeding) ;

ư Tiêm chủng (Immunization) ;

ư Kế hoạch hóa gia đình (Family planning) ;

ư Cung cấp thực phẩm cho bà mẹ và trẻ em (Food Supplement) ;

ư Giáo dục sức khỏe cho bà mẹ (Female Education)

Theo Bộ Y tế Việt Nam có thêm : phòng thiếu Vitamin A và phòng các tai biến sản khoa

3 Nội dung chính của 7 biện pháp chăm sóc sức khỏe ban đầu cho trẻ em

3.1 Theo dõi biểu đồ tăng trưởng (Growth chart)

Đánh giá kết quả :

ư Dựa vào hướng đi của biểu đồ :

+ Nếu đường biểu đồ đi lên là bình thường

+ Đường biểu đồ nằm ngang là đe dọa

+ Đường biểu đồ đi xuống là nguy hiểm

ư Dựa vào vị trí của điểm biểu diễn :

+ Khi cân nặng ở kênh A là bình thường

Trang 19

+ Khi cân nặng ở kênh B là suy dinh dưỡng vừa (độ I)

+ Khi cân nặng ở kênh C là suy dinh dưỡng nặng (độ II)

+ Khi cân nặng ở kênh D là suy dinh dưỡng rất nặng (độ III)

Khi thấy trẻ suy dinh dưỡng, việc đầu tiên phải điều chỉnh lại chế độ ăn cho trẻ, sau đó phải theo dõi tình trạng mắc các bệnh nhiễm khuẩn và cần điều trị sớm các bệnh khi trẻ mắc phải

Điều kiện vệ sinh môi trường kém, nhà ở chật chội, thiếu vệ sinh, không đủ nguồn nước sạch và

hố xí không hợp vệ sinh, là nguyên nhân phát sinh bệnh tật và làm chậm sự tăng trưởng hoặc gây tử vong ở trẻ em Các yếu tố nòi giống, tuổi tác của bố mẹ, các bệnh di truyền cũng ảnh hưởng đến sự tăng trưởng của trẻ

3.2 Bù nước bằng đường uống (Oral rehydratation)

Tiêu chảy là nguyên nhân hàng đầu gây bệnh và tử vong cho trẻ em các nước đang phát triển ở Việt Nam, hằng năm có khoảng 20 triệu lượt trẻ em bị tiêu chảy, trung bình mỗi trẻ mắc 2,5 lần Tử vong trong tiêu chảy là do trẻ bị mất nước và mất muối nặng do ỉa chảy và nôn, gây trụy tim mạch và nhiễm toan máu Vì vậy, ở trẻ em khi bị ỉa chảy phải kịp thời bù nước và

điện giải bằng đường uống là một trong những thành tựu lớn của y học trong những năm gần

đây, góp một phần quan trọng hạ thấp tỷ lệ tử vong ở trẻ

Dung dịch bù nước được sử dụng rộng rãi và có hiệu quả cao là Oresol

Nên cho uống ngay khi trẻ mới bị ỉa chảy

3.3 Đảm bảo cho trẻ được bú sữa mẹ

Sữa mẹ là loại thức ăn tốt nhất đối với trẻ dưới 1 tuổi Sữa mẹ cung cấp đủ các chất dinh dưỡng cần thiết cho trẻ mà các loại thức ăn khác không có được; là loại thức ăn dễ tiêu hóa, dễ

sử dụng, đảm bảo vệ sinh và còn cung cấp kháng thể, nội tiết tố Vì vậy, đảm bảo cho trẻ bú mẹ

đầy đủ, bú sớm và kéo dài đến trên một tuổi là biện pháp rất có hiệu quả, kinh tế, đơn giản, góp phần làm giảm tỷ lệ mắc bệnh nhiễm khuẩn và suy dinh dưỡng, giúp trẻ phát triển bình thường, khỏe mạnh

3.4 Tiêm phòng

Tiêm phòng là đưa vắcxin vào cơ thể bằng đường tiêm, đường uống để cơ thể sinh ra kháng thể chống lại mầm bệnh tương ứng khi xâm nhập vào cơ thể, nghĩa là cơ thể có khả năng miễn dịch, tránh mắc bệnh

Tiêm phòng là biện pháp phòng bệnh tích cực, chủ động, có hiệu quả và ít tốn kém

Trang 20

Khi tiêm phải tiêm đủ, tiêm đúng kỹ thuật để gây được miễn dịch cơ bản và củng cố miễn dịch

3.5 Kế hoạch hóa gia đình

Sinh nhiều và dày sẽ làm ảnh hưởng xấu đến tình trạng sức khỏe của bà mẹ, trẻ em, nhất là khi điều kiện kinh tế còn khó khăn Người mẹ bị thiếu máu, ốm yếu, gầy mòn thì con sẽ bị suy dinh dưỡng ngay từ thời kỳ bào thai, hoặc sinh non, hoặc thiếu sữa nuôi con

Nội dung của Kế hoạch hóa gia đình là vận động mỗi gia đình chỉ nên có 1 hoặc 2 con, sinh cách nhau 3 ư 5 năm, không nên sinh trước tuổi 22 và sau tuổi 35 Có như vậy mới đảm bảo

được sức khỏe cho các bà mẹ và trẻ em, đảm bảo giáo dục con cái một cách hoàn hảo, đảm bảo hạnh phúc của một gia đình (cha ư mẹ ư con)

3.6 Cung cấp đầy đủ thực phẩm cho bà mẹ và trẻ em

Trong năm đầu tiên, thức ăn chủ yếu của trẻ em là sữa mẹ Người mẹ khi mang thai và nuôi con phải được ăn uống đầy đủ Để đảm bảo dinh dưỡng cho mẹ và con cần phải cung cấp thực phẩm đầy đủ cho các bà mẹ và bổ sung thực phẩm cho trẻ em, có như vậy trẻ mới khỏe, tránh

được bệnh suy dinh dưỡng và các bệnh nhiễm khuẩn Khuyến khích các gia đình phát triển chăn nuôi, trồng trọt (vườn ư ao ư chuồng) để sẵn sàng có thêm nguồn thực phẩm cho bữa ăn của trẻ

3.7 Giáo dục sức khỏe cho các bà mẹ

Vai trò của người mẹ rất quan trọng trong việc chăm sóc sức khỏe cho trẻ em Các bà mẹ cần phải có trình độ về văn hóa, hiểu biết những kiến thức khoa học và nhận thức được chăm sóc, giáo dục sức khỏe cho trẻ em là cần thiết như chế độ nuôi trẻ, chăm sóc giấc ngủ cho trẻ,

vệ sinh, phòng bệnh,

Vậy, cần hướng dẫn cho các bậc cha mẹ chăm sóc, giáo dục trẻ, biết thế nào là một trẻ khỏe, có nhiệm vụ theo dõi sự phát triển của trẻ, phát hiện bệnh sớm và dự phòng cho trẻ, hạn chế được tỷ lệ mắc bệnh và giảm được tỷ lệ tử vong của trẻ

Ngoài những biện pháp phòng bệnh bảo vệ sức khỏe cho trẻ thì việc phòng mắc bệnh thiếu vitamin A và phòng các tai biến sản khoa như đẻ khó, sinh non là rất cần thiết và quan trọng Muốn thực hiện các biện pháp này có hiệu quả cao phải có sự phối hợp với các ngành, các cấp, có chế độ chính sách cụ thể của Nhà nước và có những biện pháp của chính quyền

Vậy, chăm sóc sức khỏe trẻ em là trách nhiệm của toàn xã hội, mọi người trong cộng đồng

đều phải tham gia thực hiện

4 Mục tiêu chăm sóc sức khỏe trẻ em từ nay đến năm 2020

Theo Nghị quyết 37/CP 20/6/96 của Chính phủ, mục tiêu sức khỏe trẻ em từ nay đến 2020 :

ư Tỷ lệ tử vong của trẻ dưới 1 tuổi giảm xuống 15 ư 18% vào năm 2020

ư Hạ thấp tỷ lệ suy dinh dưỡng của trẻ em dưới 5 tuổi xuống 15% vào năm 2020

ư Phấn đấu chiều cao trung bình của nam đạt 165cm và nữ là 155cm

ư Tỷ lệ bướu cổ ở trẻ em 8 ư 12 tuổi còn dưới 5%

Trang 21

− Thanh to¸n c¬ b¶n bÖnh d¹i, sèt rÐt, t¶, th−¬ng hµn, dÞch h¹ch, viªm gan B, viªm n·o NhËt B¶n B vµo n¨m 2020 Tr−íc m¾t ph¶i khèng chÕ tíi møc thÊp nhÊt tû lÖ m¾c vµ chÕt c¸c bÖnh nãi trªn

Trang 22

Hướng dẫn tự học và ôn tập chương I

I Tầm quan trọng của môn học

ư Nắm được khái niệm trẻ bị bệnh.

ư Phân tích tầm quan trọng của môn học

II Đặc điểm cơ thể trẻ em và những yếu tố ảnh hưởng tới sức khỏe trẻ em

ư Phân tích được đặc điểm sinh học và bệnh lý từng thời kỳ phát triển của trẻ em

ư Nắm được sự phát triển thể chất và sự phát triển tâm thần vận động của trẻ em

ư Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến sự phát triển thể chất và phát triển tâm thần vận

động của trẻ em

ư Phân tích được khái niệm phòng bệnh cho trẻ em

III Tình hình bệnh, tật và tử vong ở trẻ em

ư Phân tích được tình hình bệnh, tật và tử vong ở trẻ em hiện nay

ư Phân tích nguyên nhân dẫn đến tình hình bệnh, tật và tử vong của trẻ em hiện nay

IV Chăm sóc sức khỏe ban đầu cho trẻ em

ư Định nghĩa sức khỏe trẻ em

ư Phân tích tính cấp thiết của chiến lược chăm sóc sức khỏe ban đầu cho trẻ em

ư Phân tích đầy đủ các biện pháp phòng bệnh cho trẻ em

Trang 23

Câu hỏi ôn tập chương i

1 Phân tích đặc điểm sinh học và bệnh lý từng thời kỳ phát triển của trẻ em

2 Phân tích tình hình bệnh, tật và tử vong ở trẻ em hiện nay Từ đó, hãy cho biết các biện pháp phòng bệnh cho trẻ em

Trang 24

Chương II Các bệnh thường gặp ở trẻ em

I Các bệnh liên quan đến dinh dưỡng và chuyển hóa

1 Bệnh suy dinh dưỡng

Tình trạng dinh dưỡng của trẻ em trước tuổi đến trường, đặc biệt trẻ dưới 3 tuổi là chỉ số nhạy cảm nhất về mức sống và sự phát triển của trẻ em ở các nước đang phát triển, trong đó có nước ta, suy dinh dưỡng đang là bệnh chiếm tỷ lệ cao và mang tính chất xã hội Những đánh giá gần đây cho thấy tỷ lệ suy dinh dưỡng (cân nặng/tuổi) của trẻ em dưới 5 tuổi là 33,8% ; 10% trẻ sơ sinh cân nặng dưới 2500 gam do bị thiếu dinh dưỡng ngay trong bụng mẹ (theo số liệu điều tra của Viện dinh dưỡng năm 2000) ở nông thôn trẻ em bị suy dinh dưỡng cao hơn thành thị và miền núi cao hơn đồng bằng So sánh với các nước trong khu vực, Việt Nam có tỷ lệ trẻ em suy dinh dưỡng cao nhất Tỷ lệ suy dinh dưỡng cao và thường xuyên của trẻ em trước tuổi đến trường, đe dọa sự phát triển đầy đủ nguồn nhân lực của đất nước trong tương lai Riêng với bản thân trẻ em, suy dinh dưỡng gây ra tình trạng cơ thể thấp bé, nhẹ cân, hay ốm yếu, bệnh tật, đe dọa tử vong và có thể ảnh hưởng đến sự phát triển trí tuệ

1.1 Nguyên nhân suy dinh dưỡng ở trẻ em

Có nhiều nguyên nhân gây ra suy dinh dưỡng Nhiều nghiên cứu ở các nước phát triển và ở

nước ta cho thấy có các nguyên nhân trực tiếp và nguyên nhân sâu xa như sau :

ư Do việc chăm sóc bà mẹ khi có thai và khi cho con bú chưa tốt Nguyên nhân sinh con thiếu tháng hoặc thiếu cân (dưới 2500 gam) là do người mẹ ăn uống kiêng khem trong thời kỳ mang thai Bình thường trước khi sinh cơ thể người mẹ phải tăng được 12kg so với lúc chưa có thai (trong đó 3 tháng đầu chỉ tăng lên 1kg, 3 tháng sau tăng thêm 5kg và 3 tháng cuối tăng thêm 6kg) Nếu người mẹ ăn uống thiếu chất, 3 tháng cuối cân hầu như không tăng, trẻ sơ sinh

bị suy dinh dưỡng ngay trong bụng mẹ Sau khi sinh con, mẹ không được ăn uống đầy đủ nên sức khỏe yếu, thiếu sữa nuôi con Ngoài ra, nhiều bà mẹ còn phải lao động nặng nhọc, tham

công tiếc việc đến tận ngày ở cữ, ảnh hưởng đến sức khỏe và bào thai trong bụng mẹ

ư Do sai lầm trong cách nuôi con như : không cho trẻ bú sữa non, không nuôi con bằng sữa

mẹ, hoặc chưa tận dụng triệt để sữa mẹ để nuôi con trong 3 ư 4 tháng đầu Trẻ bị cai sữa mẹ sớm, hoặc ăn sam sớm và không đầy đủ về số lượng và chất lượng, khẩu phần mất cân đối, gây

ra thiếu năng lượng, thiếu đạm và các vi lượng cần cho sự lớn và phát triển khỏe mạnh của trẻ

(sắt, đồng, kẽm, iốt hoặc các vitamin A, vitamin D)

Nhiều bà mẹ trẻ chưa được chuẩn bị đầy đủ kiến thức nuôi con Các phong tục, tập quán, thói quen lạc hậu

ư Do kết quả của các bệnh như tiêu chảy, viêm phổi, sởi, lao, giun, sốt rét, gây rối loạn chuyển hóa các chất, trẻ biếng ăn, sụt cân Suy dinh dưỡng là nguyên nhân thuận lợi cho các bệnh phát triển, ngược lại bệnh tật lại làm nặng thêm tình trạng suy dinh dưỡng

Trang 25

ư Các nguyên nhân cơ bản khác có liên quan đến suy dinh dưỡng, đó là : trình độ kinh tế, văn hóa, xã hội kém phát triển dẫn đến nghèo nàn, lạc hậu Tỷ lệ mù chữ cao đặc biệt ở phụ nữ,

tỷ lệ sinh đẻ cao, thiếu nước sạch, môi trường ô nhiễm, phòng chữa bệnh yếu kém Ngoài ra, thiên tai gây mất mùa, hậu quả chiến tranh cũng liên quan tới suy dinh dưỡng

1.2 Phân loại suy dinh dưỡng

Có nhiều cách phân loại suy dinh dưỡng : căn cứ vào chỉ tiêu cân nặng so với tuổi (cân/tuổi), chiều cao so với tuổi (cao/tuổi) hoặc cân nặng so với chiều cao (cân/cao) và so với chuẩn quy định ở các cơ sở y tế nhà trẻ, trường mẫu giáo nước ta hiện nay thống nhất sử dụng cách phân loại của Tổ chức Y tế thế giới (WHO, năm 1981), đánh giá suy dinh dưỡng dựa vào tiêu chuẩn cân nặng theo tuổi, quần thể tham khảo là NCHS (National Center of Health Statistics)

ư Suy dinh dưỡng độ 1 : Cân nặng dưới ư 2SD đến ư 3SD, tương đương với cân nặng còn 70

ư 80% so với cân nặng của trẻ bình thường

ư Suy dinh dưỡng độ 2 : Cân nặng dưới ư 3SD đến ư 4SD, tương đương với cân nặng còn 60

có mảng thâm nhiễm lở loét trên da

1.3 Các biểu hiện của suy dinh dưỡng

1.3.1 Suy dinh dưỡng độ 1

ư Cân nặng còn 70 ư 80% (ư 2SD đến ư 3SD)

ư Lớp mỡ dưới da bụng mỏng

ư Trẻ vẫn thèm ăn và chưa có biểu hiện rối loạn tiêu hóa

1.3.2 Suy dinh dưỡng vừa

ư Cân nặng còn 60 ư 70% (ư 3SD đến ư 4SD)

ư Mất lớp mỡ dưới da bụng, mông, chi

ư Rối loạn tiêu hóa từng đợt

ư Trẻ có thể biếng ăn

Trang 26

ư Cơ nhão làm ảnh hưởng đến sự phát triển của trẻ

ư Tinh thần mệt mỏi, ít phản ứng với ngoại cảnh, trẻ hay quấy khóc, không chịu chơi

ư Trẻ có thể thèm ăn hoặc kém ăn, thường xuyên rối loạn tiêu hóa, ỉa lỏng, phân sống

ư Gan hơi to hoặc bình thường

b) Thể phù (Kwashiorkor)

ư Cân nặng còn 60 ư 80% (ư 2SD đến ư 4SD)

ư Trẻ phù từ chân đến mặt rồi phù toàn thân, phù trắng, mềm, ấn lõm

ư Cơ nhẽo đôi khi che lấp do phù

ư Lớp mỡ dưới da còn được giữ lại nhưng không chắc

ư Da khô, trên da có thể xuất hiện những mảng sắc tố ở bẹn, đùi, tay, lúc đầu là những chấm đỏ rải rác lan dần rồi tụ lại thành những đám màu nâu sẫm, vài ngày sau bong ra để lại lớp da non, rỉ nước và dễ bị nhiễm khuẩn

ư Tóc thưa dễ rụng có màu hung đỏ, móng tay mềm, dễ gãy

ư Trẻ kém ăn, nôn trớ ; đi ngoài phân sống, lỏng và có nhầy mỡ

ư Trẻ hay quấy khóc, kém vận động

c) Thể phối hợp (Marasmus ư Kwashiorkor)

ư Cân nặng còn dưới 60% (ư 4SD)

ư Trẻ phù nhưng cơ thể lại gầy đét, kém ăn và hay bị rối loạn tiêu hóa

Các triệu chứng kèm theo trong suy dinh dưỡng nặng là thiếu máu, thiếu vitamin, đặc biệt

là thiếu vitamin A có thể dẫn đến khô mắt gây mù lòa vĩnh viễn

ư Tiêm chủng đầy đủ các bệnh, đặc biệt sởi và lao

ư Chữa khỏi bệnh kịp thời cho trẻ, nhất là đối với tiêu chảy, sởi và viêm phổi Chú ý chăm sóc và tăng cường chế độ dinh dưỡng cho trẻ ốm

Trang 27

ư Theo dõi cân nặng thường xuyên bằng biểu đồ phát triển để phát hiện kịp thời tình trạng suy dinh dưỡng và can thiệp sớm

Ba biện pháp phòng bệnh khác cần thực hiện đồng bộ đối với cộng đồng và gia đình, đó là :

ư Tuyên truyền, giáo dục dinh dưỡng cho các bà mẹ và phổ cập giáo dục cơ sở cho phụ nữ

và trẻ em gái

ư Thực hiện kế hoạch hóa gia đình

ư Thực hiện ô dinh dưỡng gia đình, trường học, bao gồm cả ở nhà trẻ và mẫu giáo Thực hiện vệ sinh an toàn thực phẩm

Năm 1994 nước ta đã xây dựng "Chương trình chống suy dinh dưỡng ở trẻ em và bà mẹ" và các mục tiêu về dinh dưỡng đến năm 2000 (do ủy ban Bảo vệ và chăm sóc trẻ em quản lý, điều phối chương trình này) Phối hợp chặt chẽ với các chương trình quốc gia khác như : Kế hoạch hành động quốc gia về dinh dưỡng giai đoạn 1995 ư 2000, chiến lược quốc gia về dinh dưỡng từ năm 2001 ư 2010, chăm sóc sức khỏe bà mẹ trẻ em và kế hoạch hóa gia đình, chăm sóc sức khỏe ban đầu, phòng chống các bệnh thiếu vi chất dinh dưỡng như thiếu vitamin A, thiếu sắt, thiếu iốt ; xóa đói giảm nghèo, cho vay vốn ; VAC, chương trình sản xuất và chế biến lương thực thực phẩm và chương trình phát triển trẻ thơ ; giáo dục các bậc cha mẹ của Bộ Giáo dục và

Đào tạo Riêng ngành giáo dục có nhiệm vụ nghiên cứu đưa chương trình giáo dục dinh dưỡng sức khỏe bà mẹ trẻ em vào chương trình chính thức ở các trường đại học, phổ thông, sư phạm mầm non, xây dựng chương trình đào tạo bồi dưỡng về dinh dưỡng cho đội ngũ, cán bộ giáo viên trường đại học, phổ thông, nhà trẻ, mẫu giáo (bao gồm chính quy và dân lập), chỉ đạo hệ thống các trường lớp, mẫu giáo, nhà trẻ, các cấp phối hợp tham gia Ban chỉ đạo chương trình dinh dưỡng tại địa phương và cộng đồng

1.4.2 Điều trị

ư Trước hết cần chữa khỏi các bệnh trẻ đang mắc

ư Đối với suy dinh dưỡng nhẹ và trung bình, chủ yếu xem xét và điều chỉnh chế độ ăn hợp

lý hoặc nâng khẩu phần ăn cả về số lượng và chất lượng, đa dạng hóa khẩu phần Đối với trẻ nhỏ, bếp ăn còn quan trọng hơn cả tủ thuốc

ư Đối với suy dinh dưỡng thể nặng cần đưa đến bệnh viện hoặc trung tâm sức khỏe để kết hợp chữa các bệnh khác

ư Việc phục hồi suy dinh dưỡng phải kiên trì

1.5 Mục tiêu về dinh dưỡng

ư Từ năm 2000 giảm tỷ lệ phụ nữ thiếu năng lượng trường diễn mỗi năm 1% tính chung trên toàn quốc

ư Giảm tỷ lệ trẻ sơ sinh không đạt tiêu chuẩn (dưới 2,5kg) còn 6% vào năm 2010

ư Phổ biến kiến thức gia đình về an toàn thực phẩm, giảm tỷ lệ trẻ suy dinh dưỡng dưới 5 tuổi còn 15% vào năm 2020

Trang 28

2 Bệnh còi xương

Bệnh còi xương do thiếu vitamin D (còn gọi là bệnh còi xương dinh dưỡng) là bệnh phổ biến ở trẻ em dưới 3 tuổi Theo điều tra của Viện Nhi, tỷ lệ mắc bệnh còi xương ở trẻ em dưới 3 tuổi ở miền Bắc Việt Nam trung bình từ 9 ư 11,7%, ở các tỉnh miền Nam tỷ lệ này thấp hơn Trẻ em bị còi xương là do cơ thể bị thiếu hụt vitamin D, làm ảnh hưởng đến quá trình hấp thu và chuyển hóa canxi và phôtpho Hai chất này cần thiết cho sự phát triển của xương Có 2 nguồn cung cấp vitamin D cho cơ thể trẻ em, đó là nguồn do thức ăn, chủ yếu từ sữa mẹ (nhưng hàm lượng vitamin D trong sữa mẹ và sữa bò rất ít), ngoài ra từ gan, lòng đỏ trứng Nguồn thứ 2

là do cơ thể tổng hợp được từ tiền vitamin D có trong lớp mỡ dưới da do tác dụng của tia cực tím trong ánh nắng mặt trời Trung bình mỗi ngày cơ thể tổng hợp được từ 50ư1000 đơn vị vitamin D, đủ thỏa mãn nhu cầu cơ thể

Vì vậy, một trong những nguyên nhân chủ yếu gây còi xương ở nhà trẻ là do thiếu ánh nắng mặt trời

Vitamin D có tác dụng đối với sự hấp thụ canxi ở ruột và huy động canxi ở máu vào xương Hormon tuyến cận giáp có tác dụng điều hòa chuyển hóa canxi

Như vậy, khi thiếu vitamin D sẽ làm giảm hấp thu canxi ở ruột, canxi máu giảm làm tăng tiết hormon cận giáp trạng Tình trạng cường cận giáp trạng sẽ dẫn đến hai hậu quả :

ư Giảm tái hấp thu phôtphat ở ống thận, làm giảm phôtphat máu, gây ra dấu hiệu rối loạn các chức năng của hệ thần kinh như kích thích, vã mồ hôi

ư Huy động canxi ở xương vào máu, gây loãng xương

2.1 Nguyên nhân gây bệnh còi xương

ư Do thiếu ánh nắng mặt trời, do trẻ em sống trong những căn nhà chật chội thiếu ánh nắng,

do tập quán kiêng khem không cho trẻ ra ngoài trời ; trẻ sinh vào mùa đông, ở các vùng nhiều mây mù, nhà trẻ thiếu ánh nắng mặt trời

ư Do chế độ ăn uống : trẻ ăn sữa bò (nuôi bộ), ăn bột đường hay bột muối dễ bị còi xương vì thức ăn này có lượng vitamin D quá thấp hoặc tỷ lệ canxi và phôtpho không thích hợp

ư Trẻ đẻ non, sinh đôi ; do dự trữ vitamin D thấp, hoặc do hệ thống enzym tham gia vào quá trình chuyển hóa vitamin D có hoạt tính yếu

ư Trẻ bị nhiễm khuẩn, nhất là các bệnh nhiễm khuẩn ở hệ hô hấp và tiêu hóa

ư ở những trẻ bị rối loạn tiêu hóa kéo dài hoặc tắc mật bẩm sinh cũng rất dễ bị còi xương, vì việc hấp thu vitamin D và canxi bị cản trở

2.2 Triệu chứng

Bệnh còi xương không những ảnh hưởng đến xương mà còn đến các hệ cơ, thần kinh, máu, Các triệu chứng thay đổi tùy theo từng thời kỳ tiến triển của bệnh

ư Các biểu hiện thần kinh : Thường xuất hiện sớm, trẻ quấy khóc, ngủ không yên giấc, hay giật mình, vã mồ hôi

Trang 29

ư Các biểu hiện ở xương : Xương sọ mềm, thóp trước rộng, bờ mềm, chậm kín thóp Có các bướu đỉnh và trán làm đầu to Chậm mọc răng, chậm phát triển vận động như chậm lẫy, bò, ngồi

và đi Có chuỗi hạt sườn, ngực nhô kiểu ngực gà tạo ra rãnh Philatôp ư Harison Chân tay cong hình chữ X hoặc chữ O Cột sống có thể gù, vẹo Khung chậu hẹp, đối với trẻ gái sẽ gây khó khăn đến sự sinh đẻ sau này

ư Giảm trương lực cơ, bụng to bè, cơ nhẽo, thiếu máu thường gặp ở trẻ còi xương nặng

ư Chụp X quang xương và xét nghiệm phôtpho, canxi máu giảm và enzym phôtphataza kiềm trong máu tăng sẽ giúp xác định bệnh

2.3 Tiến triển và biến chứng

Bệnh còi xương diễn biến qua 4 thời kỳ :

ư Khởi phát : Có các biểu hiện thần kinh và máu

ư Toàn phát : Có đầy đủ các triệu chứng kể trên

ư Giai đoạn hồi phục : Các triệu chứng thần kinh giảm, các xét nghiệm trở lại bình thường nhưng trên phim X quang xương có biểu hiện lắng đọng vôi

ư Giai đoạn di chứng : Có thể để lại các biến dạng ở xương Trẻ bị còi xương, giảm canxi máu thường bị các cơn co giật, cơ thể ốm yếu, dễ mắc bệnh nhiễm khuẩn

ư Khi trẻ có biểu hiện sớm nghi ngờ còi xương cần khuyên cha mẹ đưa con đến y tế để khám chữa trị kịp thời

Trang 30

vitamin A nhẹ hoặc vừa làm cho trẻ dễ bị cảm nhiễm với các bệnh nhiễm khuẩn như ỉa chảy, viêm đường hô hấp

ở Việt Nam, theo điều tra của Viện dinh dưỡng và Viện Bảo vệ bà mẹ trẻ em, năm 1994, trên 37920 trẻ thì trong đó trẻ quáng gà chiếm 0,05% ; X1B chiếm 0,045% và khô loét giác mạc chiếm 0,005%

A mà thiếu dầu mỡ, cơ thể cũng không hấp thu được

ư Nguyên nhân thiếu vitamin A là do trẻ không được bú sữa non và không được nuôi bằng sữa mẹ đầy đủ ; do chế độ ăn sam thiếu các chất dinh dưỡng có nguồn gốc động vật và thực vật, hoặc do ăn thiếu dầu mỡ

ư Ngoài ra, do trẻ bị ỉa chảy cấp kéo dài gây rối loạn hấp thu, hoặc bị bệnh nhiễm khuẩn gây kém ăn

3.2 Triệu chứng

ư Trẻ biếng ăn, mệt mỏi, chậm lớn

ư Biểu hiện nhẹ (XN) : quáng gà do mắt kém thích nghi với bóng tối Trẻ đi từ bóng tối ra sáng có biểu hiện loạng choạng, vấp ngã

ư Khô mắt, khô màng tiếp hợp, giác mạc (X1A) nên trẻ hay nhắm mắt, sợ ánh sáng

Nếu không chữa kịp thời ở giai đoạn này bệnh sẽ nặng lên và có biểu hiện sau :

+ Trên kết mạc có những vết màu trắng xám, phủ một chất như bọt xà phòng do kết mạc bị khô, sừng hóa dày lên từng đám và bong vảy gọi là vệt Bi ư to (X1B)

+ Khô giác mạc (X2), dấu hiệu giác mạc như sương mù

+ Loét giác mạc (X3A)

+ Nhuyễn giác mạc (X3B), hoại tử nhanh, mắt bị xẹp

+ Sẹo giác mạc (XS) gây mù

Ngoài ra, còn có các biểu hiện thần kinh, da, niêm mạc : da khô ; tóc khô, dễ gãy, đổi màu

3.3 Phòng bệnh và điều trị

ư Ngay từ khi trẻ có biểu hiện quáng gà cần cho trẻ đến cơ sở y tế khám chữa tích cực để tránh các biến chứng nặng

ư Phòng bệnh :

+ Thực hiện chế độ ăn uống hợp lý : nuôi trẻ bằng sữa mẹ, đặc biệt cho bú sữa non Ăn sam

đủ chất, các thức ăn giàu vitamin A hoặc caroten như gấc, đu đủ chín, rau rền, rau đay, cà rốt, trứng, cá, gà, gan, thịt, lạc, đỗ,

Trang 31

Chú trọng cho trẻ ăn dầu, mỡ hằng ngày

+ Chăm sóc trẻ bị tiêu chảy hoặc sởi : cho trẻ uống đầy đủ hơn vì các bệnh này dễ gây ra thiếu hụt vitamin A

+ Cho uống viên nang vitamin A liều cao 200.000 đơn vị, một năm 2 lần cho trẻ từ 6 tháng

đến 60 tháng (trẻ dưới 1 năm liều dùng 100.000 đơn vị) Trẻ bị suy dinh dưỡng nặng, sởi, tiêu chảy và viêm nhiễm đường hô hấp là đối tượng được ưu tiên

4 Bệnh bướu cổ do thiếu iốt

4.1 Nguyên nhân

Bệnh bướu cổ địa phương do thiếu hụt iốt trong nước ăn và thực phẩm ở một số vùng núi

tỷ lệ bướu cổ cao vì mưa làm xói mòn đất, đưa lượng iốt ra biển Tuy nhiên, bướu cổ cũng gặp ở trung du và đồng bằng, nhất là ở các nơi có tập quán ăn uống nước mưa

Thiếu iốt không chỉ gây ra bướu cổ mà đáng lo ngại nhất là giảm sự phát triển trí tuệ, dẫn

đến thiểu trí và đần độn Theo điều tra của Bộ Y tế, tỷ lệ bướu cổ ở các tỉnh miền núi rất cao Ví

dụ ở Bắc Cạn, Thái Nguyên có 80% dân số bị bướu cổ ở các mức độ khác nhau ở đồng bằng xuất hiện bướu cổ ở nhiều tỉnh (như Hải Dương, Hưng Yên : 18 ư 30% ; Tiền Giang : 25 ư 28%, )

Ngay tại Hà Nội tỷ lệ mắc bướu cổ 3 ư 5% ở một phường Nữ bị bệnh nhiều hơn nam Trong 17 xã thuộc tỉnh Bắc Cạn, Thái Nguyên, Cao Bằng, Yên Bái, Lào Cai, Hà Giang, Tuyên Quang phát hiện có 156 trường hợp đần độn, chiếm tỷ lệ 9,7%

4.2 Triệu chứng

Bình thường không nhìn thấy và sờ thấy tuyến giáp Khi bị bệnh bướu cổ, tuyến giáp sẽ to

ra nên nhìn, sờ thấy được Chia ra 3 mức độ :

ư Độ 1 : Nhìn thấy hình tuyến giáp khi nuốt

ư Độ 2 : Có thể nhìn thấy khi người bệnh ngồi gần

ư Độ 3 : Có dấu hiệu chèn ép, làm biến dạng hình dáng và kích thước của cổ

Bướu cổ tăng sinh, lan tỏa, các thùy to đồng đều, sờ nhẵn và mật độ mềm, không có nhân Thường không có các rối loạn chức năng Tuy nhiên, khi bướu phát triển to sẽ có thể gây khó thở, khó nuốt

Chẩn đoán bệnh chủ yếu dựa vào dấu hiệu tuyến giáp sưng to ở vùng có bướu cổ lưu hành

4.3 Phòng bệnh và điều trị

4.3.1 Phòng bệnh

Nguyên tắc chung là phải bổ sung iốt cho mọi người dân sống trong các vùng thiếu iốt, chú

ý đặc biệt đến trẻ em và phụ nữ có thai Có nhiều phương pháp bổ sung, trong đó có 2 phương pháp chính là ăn muối iốt và tiêm dầu iốt Chính phủ đã phát động từ năm 1995 toàn dân ăn muối iốt hằng ngày nhằm thanh toán bướu cổ vào năm 2010

Trang 32

C¸c triÖu chøng l©m sµng cã thÓ : cÊp, kinh diÔn hoÆc thÓ tim

− ThÓ kinh diÔn : TriÖu chøng chñ yÕu lµ rèi lo¹n tiªu hãa, kÐm ¨n, n«n, Øa ch¶y hay t¸o bãn

− ThÓ cÊp diÔn : TrÎ em Ýt bÞ liÖt chi d−íi mµ hay bÞ liÖt c¸c d©y thÇn kinh sä n·o (d©y III, VI), d©y thÇn kinh quÆt ng−îc, d©y thanh ©m lµm cho trÎ mÊt tiÕng khãc, khµn tiÕng

− ThÓ tim : ChØ gÆp ë trÎ d−íi 3 th¸ng tuæi vµ lµ thÓ nguy hiÓm h¬n c¶ BÖnh c¶nh l©m sµng nh− mét tr−êng hîp suy tim cÊp TrÎ khã thë, tÝm t¸i, rªn Ò Ò, kh«ng sèt, m¹ch nhanh vµ yÕu Tim yÕu cã thÓ nghe thÊy tiÕng ngùa phi Tim to, nhÊt lµ tim ph¶i, gan to

− §Æc ®iÓm : Dïng thuèc trî tim Ýt kÕt qu¶ nh−ng nÕu tiªm vitamin B1 100 mg tiªm tÜnh m¹ch, trÎ khái nhanh chãng

Trang 33

ư Đau và chảy máu dưới màng xương : bệnh nhi nằm yên, chân tay không cử động, tưởng như liệt Nếu khám, các đầu xương sưng lên, không đỏ, da căng bóng

X quang : đám mờ ở đầu xương dài, màng xương mỏng Có thể thấy máu tụ ở dưới màng xương

ư Chảy máu dưới da và ở niêm mạc

ư Dấu hiệu dây thắt dương tính (+) Có thể có chảy máu phủ tạng như chảy máu ở đường tiêu hóa, ở hệ tiết niệu

ư Bệnh nhi thiếu máu rõ, kém ăn

Nếu bệnh kéo dài trẻ chậm lớn

6.3 Điều trị

ư Cho uống nước chanh, cam và các loại hoa quả, ngày 3 ư 4 lần, mỗi lần 2 thìa cà phê

ư Hoặc cho uống vitamin C : 0,10g ; 2 ư 4 viên Cần điều trị lâu dài vì bệnh dễ tái phát

6.4 Phòng bệnh

ư Đối với trẻ còn bú : Cho bú mẹ, cho uống nước cam, chanh hay nước hoa quả khác

ư Đối với trẻ lớn, chế độ ăn thay đổi, có rau và hoa quả Uống vitamin C : 0,025 ư 0,050g hằng ngày

II Bệnh thuộc hệ tiêu hóa

1 Bệnh tiêu chảy cấp tính

1.1 Đại cương

Tiêu chảy là đi ngoài phân lỏng hoặc tóe nước trên 3 lần trong 24 giờ

Tiêu chảy cấp là tiêu chảy khởi đầu cấp tính kéo dài không quá 14 ngày (thường dưới 7 ngày) phân thường lỏng tóe nước

1.1.1 Tác hại của bệnh tiêu chảy

Do phân tiêu chảy chứa số lượng lớn nước, điện giải : ion Na+, Clư, K+ và bicarbonat nên hậu quả cấp tính của tiêu chảy phân nước là :

ư Mất nước, mất natri (Na) : Khi khối lượng nước mất chiếm 5% trọng lượng cơ thể bắt đầu xuất hiện biểu hiện mất nước Mất 10% : sốc do giảm khối lượng tuần hoàn Mất trên 10% trọng lượng cơ thể : tử vong do suy tuần hoàn

ư Nhiễm toan chuyển hóa : Do mất nhiều bicarbonat trong phân, nếu chức năng thận bình thường thận sẽ điều chỉnh và bù trừ, nhưng khi giảm khối lượng tuần hoàn gây suy giảm chức năng thận, nhanh chóng dẫn tới nhiễm toan Trẻ thường thở mạnh và sâu, môi đỏ

ư Thiếu kali (K) : Do mất ion kali trong phân khi bị tiêu chảy, đặc biệt là ở trẻ suy dinh dưỡng Trẻ thường chướng bụng, liệt ruột cơ năng, loạn nhịp tim, nhược cơ toàn thân

Tiêu chảy là nguyên nhân hàng đầu gây bệnh tật và tử vong cho trẻ em ở các nước đang phát triển, người ta ước tính có tới 1,3 ngàn triệu lượt trẻ em bị tiêu chảy và 4 triệu trẻ dưới 5 tuổi hằng năm chết vì bệnh tiêu chảy 80% tử vong do tiêu chảy xảy ra ở trẻ dưới 2 tuổi, nguyên

Trang 34

nhân chính gây tử vong của tiêu chảy cấp là do cơ thể bị mất nước và điện giải Tiêu chảy là nguyên nhân hàng đầu gây suy dinh dưỡng, ảnh hưởng tới sự tăng trưởng của trẻ Bệnh tiêu chảy là một vấn đề y tế toàn cầu, là gánh nặng kinh tế đối với các nước đang phát triển

1.1.2 Chương trình phòng chống tiêu chảy

Nhận rõ mối nguy hại của bệnh tiêu chảy, WHO đề ra "Chương trình chống bệnh tiêu chảy" giúp các nước nghiên cứu và thực hiện Mục tiêu của chương trình đặt ra cho đến năm

2000 sẽ giảm được 50% tỷ lệ chết do tiêu chảy so với năm 1990

ở Việt Nam, chương trình được triển khai từ năm 1982 tại 4 tỉnh và được mở rộng hằng năm Đến năm 1992, chương trình được triển khai trong toàn quốc Các hoạt động tuyên truyền, kiểm tra giám sát được đẩy mạnh Đặc biệt trong năm 1990 và 1991 các tài liệu của chương trình được biên soạn và đưa vào chương trình giảng dạy chính khóa của các trường trung học và cao đẳng sư phạm nhà trẻ mẫu giáo Ngoài ra, chương trình còn mở thêm các lớp huấn luyện xuống đến tuyến huyện, tuyến xã Tài liệu huấn luyện và tuyên truyền đã được in ấn và phát hành rộng rãi

Kết quả hoạt động của "Chương trình chống bệnh tiêu chảy" trong những năm qua là đã giảm được tỷ lệ bệnh nhân vào viện và giảm tỷ lệ tử vong do tiêu chảy so với tỷ lệ tử vong chung của trẻ dưới 5 tuổi vào viện Đồng thời thay đổi được tập quán không tốt trong chăm sóc trẻ bị tiêu chảy (việc bắt trẻ nhịn ăn khi tiêu chảy) và việc sử dụng các phương pháp bù dịch bằng đường uống tại cộng đồng Đây là một chương trình quốc gia hoạt động có hiệu quả Tuy nhiên, chất lượng triển khai của các nơi chưa đồng đều, đặc biệt còn khó khăn ở vùng núi phía Bắc và Tây Nguyên

1.2 Nguyên nhân

1.2.1 Ăn uống

ư Do mẹ thiếu sữa hoặc cai sữa sớm nên trẻ ăn những thức ăn không thích hợp như ăn bột sớm, bột đặc, ăn nhiều hoặc thành phần prôtêin, lipit, gluxit trong thức ăn không phù hợp với tuổi

ư Dinh dưỡng không tốt dẫn đến tiêu chảy, tiêu chảy là nguyên nhân suy dinh dưỡng, suy dinh dưỡng lại làm tiêu chảy tăng lên

1.2.2 Nhiễm khuẩn

Nhờ tiến bộ về khoa học kỹ thuật, việc xét nghiệm tìm ra nguyên nhân do vi sinh vật gây bệnh ngày càng nhiều Một số vi sinh vật hay gây bệnh là virut, vi khuẩn : các loại E.coli, phẩy khuẩn tả, lỵ trực khuẩn, Salmonella, ký sinh trùng

Các vi khuẩn này lây nhiễm qua đường thức ăn, nước uống và các dụng cụ cho trẻ ăn, uống Bệnh có thể lây qua bàn tay bẩn ở người phục vụ trẻ Hoặc có thể bị nhiễm sau khi trẻ mắc các bệnh nhiễm khuẩn như : nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính, viêm mũi, họng, viêm tai giữa, viêm phổi, nhất là sau các bệnh lây cấp tính như sởi, ho gà,

Trang 35

1.2.3 Yếu tố thuận lợi cho sự phát triển của bệnh

Do môi trường vệ sinh kém, khí hậu nóng tạo điều kiện cho các vi sinh vật phát triển gây bệnh

Trẻ bị suy dinh dưỡng dễ mắc tiêu chảy, các đợt tiêu chảy kéo dài hơn, dễ bị tử vong hơn, nhất là ở những trẻ bị suy dinh dưỡng nặng

Trẻ dưới 2 tuổi, nhất là trẻ từ 6 tháng đến 12 tháng hay bị bệnh

1.3 Biểu hiện

1.3.1 Về tiêu hóa

Trẻ biếng ăn, không chịu ăn, đại tiện phân lỏng, nhiều nước, số lần đại tiện nhiều hơn bình thường (trên 3 lần trong ngày), kèm theo buồn nôn và nôn ra thức ăn, nước uống làm cho dấu hiệu mất nước ngày càng tăng

Trong tiêu chảy kéo dài, trẻ đại tiện phân lỏng từ 2 tuần trở lên thường dẫn đến suy dinh dưỡng

1.3.2 Về thần kinh

Trẻ quấy khóc, vật vã, co giật, có khi mệt lả, li bì, hôn mê Ngoài ra, trẻ có thể bị sốt cao

1.3.3 Dấu hiệu mất nước

Mất nước là triệu chứng quan trọng vì đó là nguyên nhân gây tử vong ở trẻ Vì vậy, khi trẻ

bị tiêu chảy cần phải đánh giá đúng mức tình trạng mất nước

ư Mất nước nhẹ : Cân nặng của trẻ mất dưới 5% trọng lượng cơ thể, trẻ chưa khát nước, quấy khóc

ư Mất nước vừa : Cân nặng của trẻ giảm từ 5 ư 9% trọng lượng cơ thể, trẻ khát nhiều, vật vã, mắt trũng, miệng khô, môi se, khóc không có nước mắt, nhịp thở nhanh, mạch nhanh, da mất đàn hồi

ư Mất nước nặng : Cân nặng mất trên 10% trọng lượng cơ thể, khát nước nhiều, lờ đờ, mệt mỏi, thóp trũng, môi se, miệng khô, khóc không có nước mắt, da mất đàn hồi, nước tiểu ít, mạch nhanh nhỏ, huyết áp hạ

Có thể dựa vào bảng đánh giá tình trạng mất nước theo Tổ chức Y tế thế giới (bảng 1)

Bảng 1 Đánh giá tình trạng mất nước của bệnh nhân

Bình thường

Ướt Không khát, uống bình thường

Vật vã, kích thích (+) Trũng

Không có Khô

Khát, uống háo hức (+)

Mệt lả, li bì, hôn mê (+) Rất trũng

Không có Rất khô

Uống kém hoặc không uống được (+)

Trang 36

Sờ véo da Nếp véo da mất

Nếu bệnh nhi có hai dấu hiệu trở lên, trong đó có ít nhất một dấu hiệu (+) là mất nước nặng

ư Điện giải đồ : Hematocrit tăng nếu có cô đặc máu

ư Công thức bạch cầu : bạch cầu đa nhân tăng trong nhiễm khuẩn

ư Cấy phân : soi tươi tìm vi khuẩn, ký sinh trùng

1.4 Điều trị

1.4.1 Điều trị mất nước và điện giải

Mục đích là bù lượng nước và điện giải mất do bệnh gây ra, cung cấp lượng đang tiếp tục mất nước và cung cấp nước, điện giải theo nhu cầu sinh lý bình thường Có thể sử dụng phương pháp đưa nước và điện giải vào cơ thể bằng đường uống và truyền tĩnh mạch Nhưng ở gia đình

và các trường mầm non, nơi chăm sóc trẻ hằng ngày, khi phát hiện trẻ tiêu chảy thì phương pháp tốt nhất là cho trẻ uống nhiều nước hơn bình thường Dung dịch tốt nhất dùng cho trẻ là Oresol Một gói Oresol gồm có :

ư Cách cho uống Oresol :

+ Có thể cho uống bằng thìa và cốc

+ Đối với trẻ nhỏ, nếu ỉa chảy nhẹ cho uống 50ml/1kg cân nặng trong 4 giờ đầu ; mất nước vừa cho uống 100ml/1kg trong 4 giờ đầu

Trẻ lớn và người lớn cho uống theo nhu cầu

Cần kiên trì cho uống từng thìa, uống đủ số lượng Khi cho trẻ uống phải theo dõi số lần đại tiện và tính chất của phân, nếu thấy tình trạng mất nước tăng lên phải đưa trẻ đến cơ sở y tế ngay, khi các triệu chứng giảm đi thì tiếp tục cho uống đến khỏi

Trang 37

1.4.2 Chế độ dinh dưỡng

Khi bị bệnh, cơ thể bị thiếu các chất dinh dưỡng nên việc kiêng khem là không phù hợp Cho nên cần phải cho trẻ tiếp tục ăn, không phải nhịn vì lúc này ruột của trẻ vẫn hấp thụ được các chất dinh dưỡng

ư Trẻ đang bú mẹ thì vẫn cho bú bình thường

ư Trẻ ăn sữa bò nên pha loãng sữa với nước cháo, số lần ăn tăng hơn bình thường

ư Khi trẻ ăn thức ăn bổ sung : cho trẻ ăn lỏng, thức ăn nấu nhừ, ít chất xơ, đủ chất dinh dưỡng, tăng lượng prôtêin, để tăng lipit nên dùng dầu thực vật Số lượng thức ăn một bữa ít hơn nhưng số bữa ăn trong ngày tăng lên Khi hết ỉa chảy vẫn cho ăn tăng mỗi ngày một bữa trong một tuần, sau đó ăn bình thường

ư Chú ý không nên dùng nước cháo để thay thế bữa ăn Ngoài ra cần bổ sung vitamin, nhất

là vitamin A Với trẻ ỉa chảy kéo dài sẽ thiếu vitamin A rất trầm trọng Cho trẻ ăn thêm các

muối khoáng như đồng, sắt, những vi chất này rất cần cho việc tái tạo niêm mạc ruột

1.4.3 Thuốc dùng trong tiêu chảy

ư Thuốc kháng sinh : trước kia, việc dùng kháng sinh được áp dụng rộng rãi Nhưng ngày nay theo WHO chỉ nên dùng kháng sinh trong các trường hợp nhiễm trùng như tả, lỵ

ư Có thể sử dụng một số thuốc chữa triệu chứng như thuốc hạ sốt, thuốc chống co giật

ư Một số thuốc trước kia thường dùng trong tiêu chảy như tanin, pectine, không có tác dụng nữa Không dùng các thuốc có thuốc phiện như xirô diacot, viên rửa, gây ngộ độc cho trẻ

1.5 Phòng bệnh

1.5.1 Dinh dưỡng

Cần cho trẻ bú sữa mẹ ngay từ khi mới sinh, đảm bảo thời gian cho trẻ bú từ 18 đến 24 tháng vì trong sữa mẹ có yếu tố phòng bệnh tiêu chảy tốt và sữa mẹ sạch sẽ, không bị nhiễm khuẩn Từ tháng thứ 6 cho trẻ ăn bổ sung, thức ăn phải đảm bảo đủ chất dinh dưỡng, tỷ lệ thích hợp với tong lứa tuổi

1.5.2 Vệ sinh ăn uống

Phải đảm bảo vệ sinh trong ăn uống, vệ sinh thực phẩm, vệ sinh bếp ăn : bếp ăn một chiều, tránh nhiễm khuẩn khi nấu thức ăn cho trẻ Vệ sinh các đồ dùng ăn uống như thìa, cốc, bát, và phải được tráng nước sôi trước khi ăn, thức ăn không được để ở môi trường không khí lâu không

đậy Phải thường xuyên rửa tay cho trẻ : trước khi ăn, sau khi đi vệ sinh và sau khi chơi, móng tay cắt ngắn Không cho trẻ ăn những thức ăn chưa chín, thức ăn bị ôi thiu Rau quả tươi cho trẻ

ăn phải rửa sạch, gọt, bóc vỏ Nước uống phải sôi, sạch, nhất là mùa hè

1.5.3 Vệ sinh môi trường (xử lý phân, nước, rác)

Phân trẻ nhỏ rất nhiều vi khuẩn nên phải xử lý phân đúng, khi có cháu bị tiêu chảy phải xử

lý phân của trẻ bị bệnh hợp lý, tránh bệnh lây lan ra các cháu khác : phải dùng riêng bô, đổ vào nơi quy định

Trang 38

Nước : nguồn nước dùng cho trẻ là nước sạch như nước máy, nước giếng, nước mưa, không dùng nước hồ ao, mương máng

Nước thải phải có cống ngầm, ở nông thôn nên xử lý nước thải đúng, không nên để thấm vào giếng và chảy vào ao hồ

Ngoài ra, cần phải điều trị các ổ nhiễm khuẩn khác có thể đưa đến tiêu chảy như viêm phổi

; viêm mũi họng ; viêm tai giữa Tủ thuốc ở nhà trẻ, mẫu giáo và gia đình cần thường xuyên có Oresol Giáo dục sức khỏe, dinh dưỡng cho bà mẹ và cô nuôi dạy trẻ

Số trẻ em bị nhiễm hai loại giun : 43% ; ba loại giun :18%

2.1 Giun đũa (Ascaris lumbricoides)

Bệnh giun đũa (Ascaris lumbricoides) ở nước ta là một bệnh rất nghiêm trọng Các bệnh giun thường có tỷ lệ cao ở vùng đồng bằng Đặc biệt, bệnh giun đũa là bệnh phổ biến và gây nhiều tác hại Đối với trẻ em bệnh này gây ảnh hưởng lớn đến sự phát triển về thể chất

2.1.1 Hình thể chung

Giun đũa là loại giun lớn ký sinh ở người Hình thể giống như chiếc đũa tròn Giun cái dài

20 ư 25cm, giun đực dài 15 ư 17cm Giun đũa có màu trắng hồng như sữa, hoặc hơi hồng, hai

đầu nhọn, con đực nhỏ hơn con cái và đuôi thường cong về phía bụng, đuôi con cái thon và nhọn

Trứng giun đũa hình bầu dục hoặc hơi tròn, ngoài cùng lớp vỏ xù xì và phần vỏ này thường

là màu vàng, ở trong là lớp vỏ dày có sức chống đỡ với hóa chất Trong cùng là nhân sẫm Trong thân giun cái có thể có tới 24 triệu trứng và mỗi ngày giun cái đẻ trên 20 vạn trứng

2.1.2 Chu kỳ

Giun đũa sống ở ruột non của người Giun đực và cái trưởng thành, giao hợp, giun cái đẻ trứng, trứng theo phân ra ngoài, gặp điều kiện thuận lợi có ôxy và sau một thời gian phát triển

Trang 39

thành trứng mang ấu trùng Trứng này tồn tại rất lâu trong đất không bị hủy hoại (từ 1 đến 5 năm) Sức đề kháng của trứng với nhiệt độ và hóa chất cao ánh sáng mặt trời và nhiệt độ trên

700C mới diệt được trứng Người ăn phải trứng có ấu trùng, trứng qua bộ máy tiêu hóa, ấu trùng thoát ra khỏi vỏ (ấu trùng khoảng 2mm) ấu trùng theo mạch máu ruột tới gan, ở gan từ 3 ư 4 ngày ấu trùng theo tĩnh mạch trên gan tới tĩnh mạch chủ trên vào tim phải Từ tim phải, theo

động mạch phổi vào phổi Trong thời gian ở phổi, ấu trùng thoát vỏ 2 lần, theo phế quản lên hầu họng, rồi theo thực quản xuống ruột non mà trở thành giun đũa trưởng thành

Chu kỳ từ khi nhiễm trứng giun tới khi phát triển thành giun trưởng thành cần có thời gian (60 ư 75 ngày) Giun sống được khoảng 13 tháng

Giun trưởng thành sống ở ruột non, nhưng cá biệt có thể thấy giun chui vào gan, ruột thừa, ống tụy, chui lên dạ dày Đó là trường hợp khi giun lạc chỗ Nếu trứng giun đũa của người lạc vật chủ (chuột, lợn, gà ăn phải) thì ấu trùng cũng không phát triển thành giun trưởng thành

ư Giun đũa cũng có thể gây ra những biến chứng hay gặp ở trẻ : Tắc ruột do quá nhiều giun, viêm ruột thừa do giun, giun chui lên ống mật gây viêm đường mật, sỏi mật, apxe gan Trẻ nhiều giun dễ mắc các bệnh nhiễm khuẩn

2.1.4 Tác hại

Giun đũa trưởng thành ở ruột non chiếm thức ăn của cơ thể để sống, sinh sản, tác hại ngấm ngầm liên tục làm cho cơ thể trẻ gầy yếu, mặt khác làm tổn thương niêm mạc ruột ở trẻ em nếu mắc nhiều giun đũa kéo dài dẫn đến suy dinh dưỡng Nếu lượng giun ít thì triệu chứng không

rõ, người bệnh chỉ thấy rối loạn tiêu hóa Trường hợp nhiều giun có thể gây những triệu chứng cấp tính hay gặp ở trẻ dưới 5 tuổi Ngoài ra, giun đũa có thể gây lồng ruột, thủng ruột Giai

đoạn ấu trùng ở phổi có thể gây viêm phổi, chảy máu phổi Nếu ấu trùng cư trú tại não, tủy sống, mắt thì sẽ gây ra hậu quả nghiêm trọng hơn

2.1.5 Biện pháp phòng bệnh và điều trị

a) Phòng nhiễm giun đũa

Tỷ lệ số người nhiễm giun đũa là trên 80% Vùng đồng bằng tỷ lệ mắc cao hơn miền núi và thành thị

Muốn thực hiện phòng nhiễm giun đũa hiệu quả cần áp dụng rộng rãi phương pháp sau :

ư Vấn đề quản lý phân là vấn đề quan trọng nhất đối với bệnh giun đũa Phải xây dựng đầy

đủ hố xí đúng quy cách, hợp vệ sinh ; ở nông thôn xây dựng hố xí hai ngăn đúng quy cách, ủ phân tại chỗ để đạt tới mức diệt được trứng giun ; còn ở thành phố dùng hố xí tự hoại (hố xí nước)

Trang 40

ư Vệ sinh ngoại cảnh : điều kiện tự nhiên ở nước ta như nhiệt độ, độ ẩm đều thuận lợi cho trứng giun phát triển, nhưng chúng ta lại có nhiều ánh sáng mặt trời có khả năng diệt trứng giun Vì vậy, phòng của nhóm trẻ cần phải được thông thoáng, tạo điều kiện cho ánh sáng chiếu vào càng nhiều càng tốt

ư Tránh nhiễm trứng giun : chủ yếu do ăn uống, vì vậy phải giữ vệ sinh ăn uống như : ăn chín, uống sôi, vệ sinh thực phẩm và chế biến thức ăn Tại các cơ sở mầm non cần thực hiện nghiêm túc chế độ vệ sinh : rửa tay cho trẻ trước khi ăn Đối với trẻ, cần chú ý tránh chơi lê la

đất cát Đây là điều kiện quan trọng để trẻ nhiễm trứng giun từ đất Ngoài ra còn có thể nhiễm trứng giun từ bụi bặm nên cần có biện pháp chống bụi

Nếu nước uống chưa đun sôi hoặc không được đậy thì cũng có thể nhiễm bệnh giun

Vai trò truyền trứng giun của ruồi cũng cần chú ý đặc biệt về mùa hè

b) Điều trị

Nhiễm giun đũa là tình trạng phổ biến, nhiều người trong xã hội mắc, vì vậy phải điều trị hàng loạt cho từng vùng Điều trị cho các vùng rộng lớn thì hiệu quả càng lâu dài Điều trị phải

đi đôi với việc tăng cường vệ sinh phòng chống tái nhiễm

Thuốc điều trị giun đũa :

ư Pyperazyn là loại thuốc hay dùng ở nước ta dưới dạng viên nén, kẹo giun, xirô (ít độc)

Đối với người lớn : 3g cho mỗi ngày, chia ba lần, uống sau bữa ăn độ 1 giờ, uống từ 3 đến 5 ngày Đối với trẻ em : uống dưới dạng xirô Pyperazyn (50 ư 100mg/kg, ngày chia hai lần)

ư Decaris (Levamisol) : viên 0,030g, người lớn uống 5 viên/ngày, trẻ em uống 3mg/kg/ngày (uống 1 lần)

ư Vermox (Mebeldazol) : viên 0,100g, ngày uống 2 lần, uống từ 1 ư 3 ngày Trẻ em uống giống như người lớn

ư Đông y : dùng sử quần tử (cây keo dậu) 10 ư 20g

2.2 Giun kim (Enterobius vermicularis)

Là bệnh phổ biến hay gặp ở trẻ nhỏ, dễ lây trong các vườn trẻ và trong gia đình

Ngày đăng: 25/01/2015, 17:34

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Phạm Mai Chi, Lê Thị Ngọc ái. Chăm sóc bảo vệ sức khoẻ trẻ từ 0 − 6 tuổi. NXB Giáo dục, Hà Nội, 1998 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chăm sóc bảo vệ sức khoẻ trẻ từ 0 − 6 tuổi
Tác giả: Phạm Mai Chi, Lê Thị Ngọc ái
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 1998
2. Bộ môn Nhi ư Trường đại học Y khoa Hà Nội. Bài giảng Nhi khoa. NXB Y học, Hà Nội, 2000 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bài giảng Nhi khoa
Nhà XB: NXB Y học
3. Bộ môn Nhi ư Trường đại học Y khoa Hà Nội. Nhi khoa (tập 1, 2). NXB Y học, Hà Nội, 1992 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhi khoa
Nhà XB: NXB Y học
5. Phạm sĩ Cảo. Bách khoa th− bệnh tật trẻ em. NXB Phụ nữ, Hà Nội, 1998 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bách khoa th− bệnh tật trẻ em
Nhà XB: NXB Phụ nữ
6. Trần Văn Thụ (Biên soạn). 230 lời giải về bệnh tật trẻ em. NXBTP. Hồ Chí Minh, 1999 Sách, tạp chí
Tiêu đề: 230 lời giải về bệnh tật trẻ em
Nhà XB: NXBTP. Hồ Chí Minh
7. Lại Kim Thuý. Phòng bệnh trẻ em. NXB Đại học Quốc gia Hà Nội, 2001 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phòng bệnh trẻ em
Nhà XB: NXB Đại học Quốc gia Hà Nội
8. Lại Kim Thúy. Tâm bệnh học. NXB Đại học quốc gia Hà Nội, 2000 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tâm bệnh học
Nhà XB: NXB Đại học quốc gia Hà Nội
9. Chu Văn T−ờng. Chữa bệnh trẻ em. NXB Y họcm Hà Nội, 1994 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chữa bệnh trẻ em
Nhà XB: NXB Y họcm Hà Nội
10. Viện Sức khoẻ trẻ em. Cẩm nang điều trị nhi khoa. NXB Y học, Hà Nội, 1991 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cẩm nang điều trị nhi khoa
Nhà XB: NXB Y học
11. David Werner. Chăm sóc sức khỏe. NXB Y học, H. 1988 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chăm sóc sức khỏe
Nhà XB: NXB Y học
12. Elizabeth Fenwick. Cẩm nang chăm sóc bà mẹ và em bé (ng−ời dịch : Nguyễn Lân Đính). NXB Trẻ, 1995 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cẩm nang chăm sóc bà mẹ và em bé
Nhà XB: NXB Trẻ
13. Leith Hodgkin. Cẩm nang sức khoẻ gia đình (người dịch : Chương Ngọc). NXB Y học, H. 1997 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cẩm nang sức khoẻ gia đình
Tác giả: Leith Hodgkin
Nhà XB: NXB Y học
Năm: 1997
4. Ch−ơng trình ARI − Bộ Y tế (1994). "Nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính ở trẻ em&#34 Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1. Đánh giá tình trạng mất n−ớc của bệnh nhân - các thường gặp ở trẻ em
Bảng 1. Đánh giá tình trạng mất n−ớc của bệnh nhân (Trang 35)
Bảng 3. Đánh giá tình trạng viêm phổi trẻ d−ới 2 tháng và cách xử lý   Triệu chứng  Xếp loại  Xử trí - các thường gặp ở trẻ em
Bảng 3. Đánh giá tình trạng viêm phổi trẻ d−ới 2 tháng và cách xử lý Triệu chứng Xếp loại Xử trí (Trang 54)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w