sinh học 8 Tuỳ theo cách thể hiện thì các thí nghiệm thức hành được chia làm các loại bài như sau: * Thí nghiệm thực hành do giáo viên biểu diễn: thường được sử dụng trong các giờ dạy lý
Trang 1A PHẦN MỞ ĐẦU
I./ Lí do chọn đề tài.
- Sinh học là một môn khoa học thực nghiệm, bằng những kinh nghiệm, kết quả của nghiên cứu được kiểm nghiệm qua thực tế, từ đó rút ra được những kinh nghiệm, kiến thức của bộ môn
- Mục tiêu đào tạo của ngành giáo dục cũng đã từng khẳng định vai trò của công tác thực hành “ học đi đôi với hành ”, thông qua công tác thực hành giúp học sinh vận dụng đựơc kiến thức đã học vào trong thực tế đời sống sản xuất, góp phần hoàn thành mục tiêu giáo dục toàn diện,
- Với việc thực hiện nội dung chương trình sách giáo khoa mới, phần thực hành được tăng cường về thời lượng lẫn kỹ năng, kiến thức, yêu cầu các bài thực hành ngày càng cao Sử dụng phương pháp mới lấy học sinh làm trung tâm, phát huy tính chủ động sáng tạo của học sinh, thì việc giảng dạy theo phương pháp thực hành là cân thiết Phương pháp thực hành được đặc biệt chú trọng, vì rằng thông qua những kết quả mà học sinh quan sát, thí nghiệm, thực hành, các em lĩnh hội được kiến thức một cách chắc chắn, có sáng tạo, đồng thời kiến thức các em tiếp thu được qua các tiết học lí thuyết sẽ được củng cố nhờ các tiết thực hành, nhờ đó việc vận dụng kiến thức vào thực tế đời sống của học sinh sẽ được tốt hơn
- Việc đầu tư kinh phí để mua sắm trang thiết bị dạy học, đồ dùng dạy học phục
vụ chương trình sách giáo khoa mới được cấp đầy đủ (trường nào cũng được cấp) Tuy nhiên phòng học bộ môn hầu như chưa trường nào có hoặc cũng chỉ mới là phòng thực hành chung với các bộ môn khác
- Đa số giáo viên quen dạy với phương pháp cũ, còn có tư tưởng ngại khó, ít tìm tòi sáng tạo, ít vận dụng phương pháp mới để giảng dạy Vì vậy việc sử dụng phương pháp giảng dạy đối với phần thực hành còn nhiều lúng túng, thậm chí còn bị chuyển thành giờ dạy lý thuyết với phương pháp thuyết trình ( thường được biện hộ là chưa
có phòng thực hành, khó khăn về mẫu vật ) Vì vậy hiệu quả giảng dạy phần thực hành chưa cao
II./ Giới hạn đề tài.
Trong phạm vi đề tài này, chỉ đề cập đến việc giảng dạy đối với phần thực hành
Trang 2hành theo quy định trong chương trình Tôi mong muốn được trao đổi với các đồng nghiệp một số kinh nghiệm bản thân tôi đã đạt được.
III./ Phân loại các bài thực hành.
Tuỳ theo mục đích của bài thực hành, của thí nghiệm phần thí nghiệm thực hành được chia làm các dạng:
* Dạng bài thực hành: Rèn luyện kỹ năng thực hành
Dạng bài này chủ yếu giúp học sinh chuẩn bị tiêu bản, chuẩn bị mẫu vật cho một tiết thực hành, biết sử dụng thành thạo dụng cụ thực hành, rèn luyện các thao tác thực hành chính xác, biết cách quan sát mẫu vật
Ví dụ: Các bài quan sát tế bào thực vật, quan sát một số động vật nguyên sinh, quan sát tế bào và mô
* Dạng bài thực hành: Tìm hiểu kiến thức mới
Dạng bài này chủ yếu giúp cho học sinh biết tự thiết kế một thí nghiệm, thực hành, biết quan sát, nhận xét kết quả, giáo dục tính cẩn thận, tìm tòi, suy luận, từ đó rút
ra được những khái niệm, kiến thức mới
* Dạng bài thí nghiệm chứng minh:
Dạng bài này giúp học sinh qua kết quả của thí nghiệm thực hành chứng minh được những khái niệm, nhận định, đã rút ra được bằng cách suy luận, lý thuyết
Trang 3Dạng bài này được thực hành sau khi học lý thuyết thường tiến hành vào cuối chương, giúp học sinh củng cố được kiến thức đã học trong lý thuyết, tạo cho các em hiểu rõ, ghi nhớ các khái niệm một cách chắc chắn.
Ví dụ: Các bài thực hành xem băng về tập tính của sâu bọ, xem băng về tập tính của chim, xem băng về tập tính của thú,
* Dạng bài thực hành vận dụng kiến thức đã học vào đời sống thực tế; dạng bài này giúp học sinhvận dụng một cách linh hoạt vào trong đời sống thực tế sản xuất, tạo cho các em có óc tư duy, sáng tạo, dễ dàng thích ứng với mọi hoàn cảnh khác nhau, biết vận dụng kiến thức đã học để nhận định phân loại sinh vật, định hướng tìm hiểu sinh học và các vấn đề liên quan đến sinh học
Ví dụ:
+ Tập giâm cành, chiết cành, ghép cành (sinh học 6)
+ Các bài: Tham quan thiên nhiên (Sinh học 6, sinh học 7)
+ Các bài: Sơ cứu và bang bó cho người bị gãy xương, sơ cứu chảy máu, thực hành hô hấp nhân tạo, phân tích khẩu phần cho trước (sinh học 8)
Tuỳ theo cách thể hiện thì các thí nghiệm thức hành được chia làm các loại bài như sau:
* Thí nghiệm thực hành do giáo viên biểu diễn: thường được sử dụng trong các giờ dạy lý thuyết, được sử dụng để minh hoạ kiến thức trong bài học
* Thí nghiệm thực hành do học sinh tiến hành: dưới sự hướng dẫn của giáo viên, học sinh trực tiếp sử dụng các phương tiện và thiết bị để thực hiện thí nghiệm
* Thí nghiệm tư duy trên giấy bút: giáo viên mô tả thí nghiệm bằng lời hoặc hình
vẽ trên bảng, học sinh phân tích nghiên cứu thí nghiệm, trả lời câu hỏi và rút ra kết luận
Trang 4nghiệm Việc quan sát, nghiên cứu, nhận xét trên các sinh vật, mẫu vật học sinh sẽ phát hiện ra những thông tin Việc phát hiện ra các thông tin còn có thể được thực hiện khi quan sát một hiện tượng sinh học trên băng hình, hình vẽ, kết hợp với quan sát trên mẫu thực hành Ngoài ra dưới sự hướng dẫn của giáo viên, học sinh sử dụng các phương tiện và thiết bị để thực hiện thí nghiệm Học sinh được đóng vai trò là người nghiên cứu, chủ động phát hiện tìm hiểu các hiện tượng, thay đổi điều kiện thí nghiệm Điều này tạo cho học sinh có khả năng đi sâu tìm hiểu nguyên nhân, bản chất, tính quy luật của hiện tượng sinh học trong thí nghiệm Mặt khác đối với học sinh, trong quá trình học tập các bài tập quan sát và thí nghiệm do giáo viên tiến hành biểu diễn hoặc
do chính bản thân học sinh thực hiện dưới sự tổ chức, chỉ đạo của giáo viên, thường cũng là để tìm tòi “những vấn đề” đã biết trong khoa học, rút ra những kết luận cũng đã biết, tuy rằng đối với các em là mới, học sinh đã lặp lại, với sự gia công sư phạm trong khoảng thời gian ngắn của tiết học, con đường mà các nhà khoa học đã phải trải qua một thời gian dài trong quá trình nghiên cứu trước đây
Thông qua những thí nghiệm thực hành thì học sinh không những lĩnh hội, củng
cố dược kiến thức sinh học mà còn rèn luyện cho học sinh một số kỷ năng, thao tác thực hành thí nghiệm như: khả năng quan sát, tổng hợp, so sánh, biết chuẩn bị mẫu vật, dụng cụ, biết lắp đặt, thiết kế một thí nghiệm, thực hành đơn giản, rèn luyện cho học sinh phương pháp nghiên cứu khoa học, giúp các em phát triển tư duy khoa học, tác phong, thận trọng, chính xác, lòng say mê nghiên cứu khoa học
Chính vì vậy thời lượng, nội dung thí nghiệm thực hành được thiết kế trong chương trình sách giáo khoa mới được tăng lên đáng kể
II./ Định hướng phương pháp giảng dạy thí nghiệm thực hành trong chương trình.
Định hướng phương pháp giảng dạy trong chương trình sinh học được tiến hành dựa trên hai cơ sở: tính đặc thù của bộ môn và sự đổi mới phương pháp dạy học theo hướng tích cực hoá hoạt động học tập của học sinh, tạo điều kiện cho học sinh tự lực tìm tòi phát hiện kiến thức thông qua kết quả thí nghiệm thực hành
Thông qua bài thực hành, tổ chức cho học sinh quan sát mẫu vật, mô tả đối tượng,
tự thu thập số liệu, tư liệu theo yêu cầu của bài thực hành, giáo viên hướng dẫn học
Trang 5sinh xử lý tư liệu đã thu thập được bằng những thao tác tư duy như: phân tích so sánh, khái quát hoá để tìm ra các tính chất chung, riêng, bản chất của đối tượng
Đối với các thí nghiệm do giáo viên biểu diễn, thông thường loại thí nghiệm này được sử dụng để minh hoạ cho kiến thức của bài học, tuy nhiên thí nghiệm biểu diễn
có thể sử dụng theo hướng phát huy tích cực tư duy của học sinh bằng cách: giáo viên biểu diễn thí nghiệm theo hướng nghiên cứu, bằng một hệ thống câu hỏi và bài tập định hướng cho học sinh; khi trả lời câu hỏi và bài tập đó, học sinh sẽ tự thiết lập được các mối quan hệ nhân quả để tìm ra các kết luận về bản chất, quy luật của hiện tượng.Đối với các thí nghiệm do học sinh tiến hành: dưới sự hướng dẫn của giáo viên, học sinh sử dụng các phương tiện và thiết bị để thực hiện thí nghiệm Với phương pháp này học sinh chủ động lĩnh hội được kiến thức, có suy luận và sáng tạo
Ngoài ra đối với một số thí nghiệm thực hành đòi hỏi tính chính xác cao, phức tạp được vận dụng thực hành thí nghiệm tư duy trên giấy và bút
+ Giáo viên mô tả thí nghiệm bằng lời hoặc trên bảng nhưng không phân tích và rút ra kết luận Học sinh nghiên cứu thí nghiệm bằng cách trả lời những câu hỏi yêu cầu giải thích cách thiết kế thí nghiệm, so sánh kết quả giữa thí nghiệm và đối chứng, tìm các mối quan hệ nhân quả từ đó rút ra kết luận về thí nghiệm
+ Học sinh dưới sự chỉ dẫn của giáo viên tham gia thiết kế và mô tả thí nghiệm trên giấy hoặc xem xét tính hợp lí của cách thiết kế cũng như diễn biến và kết quả thí nghiệm (số liệu, hiện tượng ) từ đó có thể rút ra kết luận
III./ Thực trạng việc giảng dạy phần thí nghiệm thực hành môn sinh học ở các trường THCS hiện nay
Qua khảo sát ở nhiều trường THCS bằng nhiều hình thức: trao đổi trực tiếp với giáo viên giảng dạy, trao đổi trực tiếp với học sinh, thông qua công tác thanh tra kiểm tra Việc thực hiện giảng dạy phần thí nghiệm thực hành đạt hiệu quả chưa cao, thậm chí một số còn bị chuyển sang dạng bài dạy lý thuyết hoặc dạng thí nghiệm tư duy trên giấy, do nhiều nguyên nhân khác nhau:
- Do giáo viên chưa chủ động tìm mẫu vật hoặc không linh hoạt tìm các mẫu vật khác để thay thế, nguyên nhân này khá phổ biến nhất là đối với giáo viên giảng dạy chương trình sinh học 7 phần động vật không xương sống hoặc sinh học 6
Trang 6- Do giáo viên chưa linh hoạt vận động kinh phí mua mẫu vật thay thế, nhất là các trường THCS ở các xã vùng II, vùng III, kinh phí sử dụng thường xuyên cho hoạt động chuyên môn hầu như không có Vì vậy không có kinh phí mua mẫu vật, phổ biến nhất
là đối với giáo viên giảng dạy chương trình sinh học 8 hoặc sinh học 7 phần các lớp động vật có xương sống
- Do giáo viên ngại khó, một số giáo viên ít tìm tòi học hỏi dẫn đến các thao tác thực hành thí nghiệm chưa nhuần nhuyễn, thành thạo vì vậy khi giảng dạy gặp nhiều khó khăn
- Phổ biến nhất là cơ sở vật chất của trường chưa đáp ứng được yêu cầu của tiết thực hành, phòng học bộ môn chưa có hoặc có thì chỉ là phòng thực hành chung với các môn khác, không có phòng làm kho học liệu chứa các dụng cụ đồ dùng dạy học, vì vậy đồ dùng dạy học được được đựng kĩ trong các thùng, khi thí nghiệm thực hành phải tốn nhiều công sức để chuẩn bị, ngược lại khi thí nghiệm thực hành xong phải tốn nhiều thời gian xếp gọn các dụng cụ vì chưa có nhân viên quản lý chuyên trách (công tác này thường do một giáo viên kiêm nhiệm quản lý trang thiết bị), bên cạnh đó giáo viên giảng dạy quá nhiều tiết nên không kịp thời gian chuẩn bị Vì vậy phần thí nghiệm thực hành thường bị bỏ qua, chuyển qua dạng học lý thuyết hoặc thí nghiệm trên giấy bút
IV./ Giải pháp và thực hiện.
1./ Giải pháp
Trước thực trạng về việc giảng dạy phần thí nghiệm thực hành ở các trường THCS hiện nay hiệu quả chưa cao do nhiều nguyên nhân khác nhau Nguyên nhân chủ quan như do giáo viên chưa chủ động tìm tòi, sưu tầm mẫu vật, chưa sáng tạo trong quá trình thực hiện giảng dạy, kỷ năng thực hành còn nhiều hạn chế (mặc dù đã được
sở GD - ĐT phối hợp với công ty sách và thiết bị trường học tập huấn hàng năm) thì một nguyên nhân khá phổ biến là do hệ thống cơ sở vật chất chưa đáp ứng được yêu cầu phục vụ cho công tác thí nghiệm, thực hành, chưa có phòng học bộ môn Đối với trường hợp do các nguyên nhân chủ quan thì tuỳ điều kiện cụ thể từng trường, cán bộ quản lí chuyên môn có hướng khắc phục, tôi xin phép không đề cập đến, chỉ xin được nêu một số giải pháp đối với các nguyên nhân khách quan như sau:
Trang 7- Trang thiết bị, dụng cụ thí nghiệm thực hành sau khi nhận về phải được kiểm tra
kĩ về chủng loại, số lượng, chất lượng từ đó xác định được mức độ đáp ứng yêu cầu thí nghiệm thực hành Tuỳ điều kiện từng trường, đồ dùng trang thiết bị khác nhau về
số lượng có trường 4lớp/ bộ, nhưng cũng có trường ngoài việc được cấp từ phòng giáo dục về còn tự trang bị thêm nên đạt 2lớp/ bộ Vì vậy việc đáp ứng nhu cầu dụng cụ thí nghiệm thực hành cũng khác nhau
- Trang thiết bị, dụng cụ thí nghiệm thực hành phải được kiểm tra bảo quản thường xuyên, tránh trường hợp để lâu bị gỉ sét hoặc do nhiều nguyên nhân khác làm cho dụng cụ thuỷ tinh bị vỡ hoặc để lâu ngày bị bẩn dẫn đến tốn nhiều công sức chuẩn
bị, có thể dẫn đến kết quả thí nghiệm thực hành không chính xác
- Danh mục các trang thiết bị, đồ dùng dạy học kèm theo hướng dẫn sử dụng phải được niêm yết cho mọi giáo viên bộ môn đều biết, có như vậy giáo viên trực tiếp giảng dạy mới có kế hoạch chuẩn bị cho bài thực hành, thí nghiệm chu đáo, đầy đủ, phù hợp với trang thiết bị hiện có, tránh trường hợp trang thiết bị đầy đủ nhưng giáo viên giảng dạy không nắm bắt được, nên việc chuẩn bị dụng cụ cho bài thực hành thí nghiệm gặp nhiều lúng túng
- Giáo viên trực tiếp giảng dạy phải được tập huấn sử dụng trang thiết bị, dụng cụ thí nghiệm thực hành và được tập huấn thực hiện thí nghiệm thực hành Trong thực tế một bộ phận giáo viên giảng dạy nhất là giáo viên giảng dạy trước đây đã lâu, trong quá trình đào tạo ở trường sư phạm công tác thí nghiệm thực hành do còn gặp nhiều khó khăn về cơ sở vật chất, thời gian đào tạo (chưa chính quy) nên kỷ năng thực hiện các thí nghiệm thực hành chưa được thành thạo Vì vậy cần phải được bồi dưỡng, tập huấn đầy đủ mới tiến hành giảng dạy đạt hiệu quả
- Giáo viên giảng dạy nhất thiết phải có kế hoạch bộ môn, kế hoạch chương trình kèm theo định hướng thời gian, dụng cụ cần thiết cho thí nghiệm, thực hành, mẫu vật cần sử dụng và đặc biệt là phải có lịch báo giảng hàng tuần lập ngay từ tuần trước, nhờ
đó mà giáo viên có đầy đủ thời gian sắp xếp chuẩn bị bài thực hành được chu đáo kịp thời không bị động
- Giáo viên giảng dạy phải chủ động, sáng tạo, nhiệt tình tìm tòi mọi biện pháp khắc phục khó khăn vật chất, mẫu vật để tiến hành thí nghiệm thực hành, phương án
tổ chức bài thí nghiệm, thực hành cho phù hợp với điều kiện thực tế Có thể tiến hành
Trang 8theo nhóm ở nhà, theo nhóm ở lớp học, trong vườn trường, hoặc tiến hành từng cá nhân ở nhà rồi báo cáo kết quả
- Các tổ chuyên môn cần tổ chức thường xuyên dự giờ rút ra kinh nghiệm các tiết
có thí nghiệm, thực hành để từ đó rút kinh nghiệm tìm ra phương án tổ chức bài thí nghiệm thực hành có hiệu quả, phù hợp với điều kiện thực tế
- Cán bộ quản lý chuyên môn (BGH, Tổ trưởng tổ chuyên môn ) cần chỉ đạo sâu sát, thường xuyên thanh kiểm tra để kịp thời uốn nắn những thiếu sót còn gặp phải,đồng thời cho phép giáo viên bộ môn linh hoạt vận dụng các điều kiện cơ sở vật chất, mọi hình thức khác nhau để thành giảng dạy phần thực hành thí nghiệm và phải kiểm tra việc tiến hành của giáo viên và học sinh
2./ Quá trình thực hiện và kết quả đạt được
Qua thực tế giảng dạy, công tác ở các trường có điều kiện cơ sở vật chất, phòng thí nghiệm thực hành gặp nhiều khó khăn ở mức độ khác nhau, trường THCS Chu Văn An chưa có phòng thí nghiệm thực hành, trường THCS Cao Bá Quát đã có phòng thí nghiệm, thực hành chung với các môn khác Bản thân tôi đã cố gắng áp dụng các giải pháp nêu trên, khắc phục mọi khó khăn tiến hành thí nghiệm cho bài thực hành một cách linh hoạt bằng nhiều hình thức khác nhau và đã đạt được một số kết quả khả quan
a) Quá trình thực hiện:
Đối với một số thí nghiệm thực hành được trình bày trong sách giáo khoa, theo sự hướng dẫn của sách giáo viên rất chi tiết và cụ thể Tuy nhiên khi áp dụng vào điều kiện thực tế rất khó thực hiện vì các lý do nêu trên Vì vậy trong quá trình giảng dạy tôi
đã nghiên cứu, sáng tạo hướng dẫn tổ chức cho học sinh bằng nhiều hình thức tổ chức khác nhau nhưng vẫn đạt được yêu cầu nội dung sách giáo khoa cần truyền tải đến học sinh, chứ không nhất thiết phải thực hiện theo sách giáo viên hướng dẫn tiến hành thí nghiệm thực hành ngay tại lớp hoặc phòng thí nghiệm thực hành với số lượng đông học sinh
Ví dụ: Dạy bài: Các loại rễ; các miền của rễ (Sinh học 6) khi dạy bài này, theo hướng dẫn của giáo viên, học sinh thực hành ngay tại lớp hoặc tại phòng học bộ môn, dụng cụ thiết bị dạy học đơn giản gồm: khay nhựa, chậu trồng cây, kính lúp cầm tay
Trang 9Tuy nhiên qua thực tế, nếu để học sinh mang mẫu vật từ nhà đến trường (vì trường không có nơi để ươm, chuẩn bị mẫu vật) thì mẫu vật không được đảm bảo, nhất
là thời điểm tiến hành vào học ở các tiết cuối buổi, do vậy tính chính xác khi dạy phần các miền của rễ cây không có hiệu quả vì rễ cây bị héo
Tôi đã tiến hành như sau:
Về phần chuẩn bị mẫu vật, tôi đã tiến hành cho học sinh chuẩn bị như hướng dẫn trong sách giáo khoa, nhưng chuẩn bị ở nhà
Khi dạy phần I: cho học sinh mang mẫu vật đến thực hành tại lớp học như hướng dẫn của giáo viên
Nhưng ở phần II tôi đã tiến hành như sau: sau khi cho học sinh gieo một số cây như hướng dẫn (trên cát ẩm), cho học sinh trước ngày học bài này, tiến hành quan sát theo nhóm ngay tại nhà của học sinh, mỗi nhóm cũng cử ra một nhóm trưởng, một thư
ký và có ghi lại kết quả quan sát được Về phần dụng cụ, tôi cho các nhóm mượn đầy
đủ kính lúp, (nếu nhóm nào ở nhà các em đã có thì khỏi mượn) Hướng dẫn cho các em quan sát các miền khác nhau của rễ non, kết hợp với hình vẽ của sách giáo khoa, từ đó các em rút ra nhận xét về các miền khác nhau của rễ, khi quan sát phần lông hút, vì điều kiện không có kính hiển vi, tôi chỉ hướng dẫn học sinh quan sát lượng lông hút trên một rễ non Các em cũng nhận xét được số lượng lông hút trên miền hút rất nhiều nhưng ở các phần khác không có
Lên lớp, khi học đến phần II tôi cho các nhóm trình bày nhận xét của nhóm mình, các nhóm trao đổi thảo luận từ đó rút ra kết luận bài học
Qua cách tổ chức như vậy, thay vì phần thực hành trên lớp với rất đông học sinh (vì lớp học trên 45 học sinh), việc quan sát rất khó chính xác thì ở nhà các em có điều kiện tham gia trức tiếp quan sát kỹ lưỡng và có ý kiến nhận xét dẫn đến các em có hứng thú, tích cực chủ động học tập hơn
Ví dụ 2: Dạy bài: Biến dạng của rễ
Khi dạy bài này thay vì thực hiện theo trình tự như hướng dẫn trong sách giáo viên, nhưng tuỳ tình hình cụ thể ở từng lớp khác nhau tôi cho học sinh tiến hành một cách linh hoạt, nhưng tôi định hướng bài này như một bài tập về nhà
Tôi tiến hành như sau:
Trang 10Chia lớp thành nhiều nhóm khác nhau, tuỳ vào điều kiện của từng lớp Cho các
em đọc kỹ trong sách giáo khoa, sưu tầm đầy đủ các mẫu vật khác nhau về rễ Các em quan sát theo nhóm, phân loại rễ, thảo luận và rút ra nhận xét của nhóm mình khi lên lớp các em cũng phải mang theo mẫu vật đã phân loại được, trong tiết học các nhóm nêu ra nhận xét của nhóm mình, trao đổi thảo luận, từ đó rút ra kết luận của bài học Qua cách tổ chức như trên: tôi đã chuyển tải một phần trình tự giảng dạy trên lớp thành dạng bài tập chuẩn bị bài ở nhà (Quan sát, nhận xét, phân lọai trước ở nhà) vì vậy tiết học rất nhẹ nhàng, thoải mái, các em chỉ phải trao đổi với nhau, thống nhất nhận xét với nhau, rút ra kết luận Đặc biệt với cách tổ chức như vậy đã giúp cho tất cả học sinh ở các đối tượng mạnh dạn trao đổi với nhau, còn ở trên lớp vì lớp quá đông, thời gian hạn chế, những em yếu ít khi được nêu ra ý kiến của mình khi nhận xét, vì thời gian quá ít mà các nhóm chủ yếu tìm ra nhận xét chung, nên các em khá thường chủ động nêu ra ý kiến của mình trước
Ví dụ 3: Dạy bài: Phần lớn nước vào cây đi đâu
Giống như ở ví dụ 2, khi dạy phần một bài này, tôi cũng đã chuyển thành dạng bàitập thực hành chuẩn bị bài ở nhà (tiến hành thí nghiệm, quan sát hiện tượng, nhận xét theo nhóm ở nhà)
Thay vì theo hướng dẫn trong sách giáo viên, muốn tiến hành thí nghiệm này phải dùng cân đĩa hoặc cân đơn giản tự lắp, mặt khác nếu tiến hành tại lớp trong một thời gian một tiết học khó thực hiện thành công thí nghiệm, do vậy chỉ dừng lại thí nghiệm trên giấy và bút
Tôi đã tiến hành như sau: trước khi dạy bài này, tôi hướng dẫn cho học sinh cách chuẩn bị dụng cụ: các nhóm được mượn ống nghiệm (hoặc có thể thay bằng vỏ chai nước khoáng bằng nhựa loại 500 ml), nến (hoặc sáp ong), 2 cây con có đầy đủ rễ, một cây còn nguyên lá và một cây mất hết lá
Cách tiến hành: cho cả hai thân cây vào ống nghiệm (hoặc hai vỏ chai nước) đổ nước vào ngập rễ, đặt lên cân đồng hồ sao cho hai ống nghiệm (hai vỏ chai nước) đựng cây có trọng lượng bằng nhau, dùng nến gắn chặt kín miệng ống nghiệm (miệng chai)
để ngoài sáng một thời gian, càng lâu thì kết quả thí nghiệm càng rõ đem cân lại hai ống nghiệm đựng cây (chai nước có đựng cây), thấy trọng lượng hai ống nghiệm thay đổi và chênh lệch nhau
Trang 11Từ đó các em thảo luận và nhận xét.
Khi đến tiết học các em có thể mang theo thí nghiệm đã làm (hoặc tuỳ điều kiện
có thể không mang theo), các nhóm trình bày cách tiến hành và nhận xét của nhóm mình, cả lớp thảo luận, rút ra kết luận của phần I Phần II tiến hành như hướng dẫn của sách giáo viên Qua cách tổ chức này, song song với việc thí nghiệm tìm tòi phát hiện kiến thức mới, còn giúp các em được tự mình tham gia thiết kế một thí nghiệm, điều này ở trên lớp vì thời gian có hạn các em khó có thể thực hiện được, từ đó giúp các em thu thập được kiến thức tốt hơn
Tương tự như vậy, đối với một số bài thực hành trong chương trình động vật (sinh học 7) tôi cũng đã tổ chức nhiều hình thức thí nghiệm thực hành khác nhau tại nhà cho các em
Ví dụ: Dạy bài: Mổ và quan sát giun đất
Đây là một dạng bài thực hành tìm tòi, phát hiện kiến thức mới, thao tác thực hành phức tạp, đòi hỏi học sinh phải có kỹ năng thực hành thao tác thành thạo, và đặc biệt việc tổ chức nhóm phải chặt chẽ
Tuy nhiên việc thực hiện thực hành ngay taị lớp rất khó thực hiện vì điều kiện bàn ghế không đảm bảo (hiện nay đa số mặt bàn học sinh đều theo mặt phẳng nghiêng), nước ở xa (Không có ngay taị lớp), số lượng học sinh đông, sau khi tiến hành sẽ gây bẩn lên bàn ghế, nền lớp học, ảnh hướng lớn đến tiết học sau Vì vậy tôi cũng chọn phương án cho học sinh làm bài tập thực hành chuẩn bị bài ở nhà Tôi cũng chia nhóm
và đặc biệt cử 1 em làm nhóm trưởng có năng lực tổ chức và quán triệt các em phải có
ý thức tổ chức kỷ luật
Cách tiến hành:
- Cho các nhóm mượn dụng cụ thí nghiệm; bộ đồ mổ, kính lúp, khay mổ
- Hướng dẫn cho các em cách mổ, chú ý cách cố định mẫu vật, cách mổ từ lưng xuống, cách quan sát mẫu vật, xác định cấu tạo bề ngoài và cấu tạo bên trong
- Hướng dẫn học sinh vừa quan sát mẫu vật, vừa so sánh hình vẽ trong sách giáo khoa
Sau khi các em mổ, nhóm trưởng hướng dẫn các em quan sát thảo luận rút ra nhận xét, khi đến tiết học các nhóm trình bày nhận xét của nhóm mình, cả lớp thảo luận, rút
ra kết luận chung, nội dung của bài học
Trang 12Với cách tiến hành như thế này; vì đây là một bài thực hành khó, đòi hỏi kĩ năng thực hành tương đối thành thạo Vì vậy, nếu các em làm ở nhà sẽ có điều kiện thời gian
để các em tiến hành mổ nhiều lần, nhiều mẫu vật khác nhau để so sánh, điều này khó thực hiện được trên lớp với thời gian hạn chế trong một tiết học Tuy nhiên cũng có thể các em mổ bị sai dẫn đến nhận xét không chính xác, đến khi đến lớp giáo viên sẽ hướng dẫn, nhận xét đánh giá chỉ ra các nguyên nhân dẫn đến chưa chính xác nhờ vậy qua đó cả lớp rút kinh nghiệm
Với một số bài thực hành khác như bài mổ và quan sát tôm sông, bài mổ cá ta cũng có thể tiến hành như ở ví dụ 4
Đối với một số bài thực hành như bài tập sơ cứu và băng bó cho người bị gãy xương, bài sơ cứu cầm máu(sinh học 8) một số bài thực hành quan sát trên mô hình như bài: Quan sát bộ xương, mẫu mổ chim bồ câu, quan sát cấu tạo chim bồ câu (sinh học 7), một số bài quan sát mẫu vật, phân loại mẫu thực vật (sinh học 6) ta có thể tiến hành ngay tại lớp học
Các bài này cách tổ chức tiến hành tương đối đơn giản, mẫu vật gọn nhẹ, một mẫu vật có thể được nhiều em quan sát cùng một lúc, khi quan sát xong đối chiếu vơi quan sát trên hình vẽ, các em có thể thảo luận theo nhóm rút ra nhận xét, sau đó các nhóm trao đổi, thảo luận rút ra nội dung bài học, trong quá trình đó giáo viên định hướng dẫn cho các em quan sát, rút ra kinh nghiệm
Đối với một số bài xem băng hình như bài: xem băng hình về đời sống và tập tính của chim, xem băng hình về đời sống và tập tính của thú ta có thể tổ chức ngay trên lớp học vì chuẩn bị rất đơn giản, nếu nhà trường không có đầu Video,VCD thì có thể khắc phục bằng cách mượn của học sinh, giáo viên hoặc có thể chia thành nhiều nhóm, cho các em mượn băng về nhà theo từng nhóm lần lượt xem, ghi lại nhận xét và trao đổi ở lớp
b) Kết quả đối chứng:
Qua thực tế giảng dạy, so sánh giữa các lớp có tiến hành thí nghiệm thực hành với lớp không được thí nghiệm thực hành hoặc chỉ thí nghiệm thực hành trên giấy và bút thì ở các lớp có tiến hành thí nghiệm thực hành đạt được kết quả học tập khả quan hơn Chất lượng kết quả học tập được nâng cao một bước, thái độ học tập của các em tốt hơn Trong các giờ học, các em tham gia một cách tích cực, say mê, hứng thú, chủ
Trang 13động tiếp thu kiến thức Ngoài ra các kỹ năng thí nghiệm thực hành cũng được rèn luyện dần dần, các kỹ năng mổ, kỹ năng quan sát mẫu vật, kỹ năng vẽ hình, so sánh, cũng được nâng ca, các thao tác thực hành ngày càng thành thạo, đặc biệt khả năng tìm tòi, tư duy tổng hợp của các em ngày càng chính xác, logic hơn Ngược lại ở các lớp,
do điều kiện khó khăn về cơ sở vật chất, các em ít được thực hành hoặc chỉ thực hành trên giấy và bút là chủ yếu thì các kỹ năng về thí nghiệm thực hành của các em ít được phát triển
Năm học 2002 - 2003 tôi tham gia giảng dạy môn sinh học ở các lớp 6A5, 6A6, 6A7, 6A8 của trường THCS Chu Văn An Khi dạy bài 17: Vận chuyển các chất trong thân (Sinh học 6) tôi đã tiến hành thực nghiệm lớp 6A5, 6A6 và lớp 6A7, 6A8 là lớp đối chứng Tôi đã tiến hành như sau:
Ở lớp thực nghiệm (6A5 và 6A6)
* Để chuẩn bị dạy phần 1: Vận chuyển nước và muối khoáng hoà tan: khi dạy xong bài 16, tôi hướng dẫn học sinh về nhà tiến hành thực hành
+ Chia các nhóm gồm các thành viên có nhà ở gần nhau
+ Chuẩn bị mẫu vật: Cành hoa có màu trắng như Huệ trắng, Cúc trắng, Hồng trắng, Cành cây Dâm bụt, hoa Hồng
+ Chuẩn bị dụng cụ: Lọ cắm hoa, mực màu, dao sắc, kính lúp
+ Hướng dẫn học sinh về nhà tiến hành thí nghiệm như hướng dẫn trong sách giáo kho
- Cắm cành hoa và cành lá vào bình chứa nước màu, cắm một cành hoa và một cành lá vào bình chứa nước trong, để cả 2 lọ ra chỗ thoáng
- Sau một thời gian, quan sát, nhận xét sự thay đổi màu sắc của cánh hoa ở lọ có chứa nước màu
- Cắt ngang cành hoa và cành lá ở lọ chứa nước màu một lát thật mỏng Dùng kính lúp quan sát phần bị nhuộm mầu
Nhận xét nước và muối khoáng hoà tan được vận chuyển theo phần nào của thân? ghi lại nhận xét của nhóm mình
* Để chuẩn bị dạy phần 2: Vận chuyển chất hữu cơ trong thân Trước khi dạy bài này khoảng 1 tháng, tôi hướng dẫn học sinh về nhà chọn một cành cây khỏe mạnh, không già lắm những cũng không quá non, có khả năng phát triển nhanh Dùng dao sắc