8 Một trong các phương-pháp căn-bản của triết-học Phật-giáo và Veda là để khám-phá thực-chất của chân-lý, của thực-tại tuyệt-đối, bắt đầu không phải từ " Je pense donc je suis " Tôi tư-
Trang 1là Giác-ngộ, thuần-túy trực-giác
Về giáo-lý hay triết-học thì Thiền không có triết-học riêng ngoài triết-học Đại-thừa Tam-Luận-Tông ( Madhyamika ) hay là Biện-chứng-pháp Chân-Không ( Sunyata )
Nhưng Thiền có riêng một lối diễn-tả giáo-lý Phật khiến cho người mới thấy tưởng là " Đầu voi đuôi chuột " hay là " Ông nói gà, Bà nói vịt " Ví dụ một nhà Sư hỏi :
_ Bồ-đề Đạt-ma từ phương Tây lại là thế nào ?
Sư Tổ liền đáp :
_ Cây thông ở trong sân
Câu hỏi của đệ-tử có nghĩa là : Chân-lý là gì ? Và câu trả lời của phụ ngụ-ý là Chân-lý ở khắp cả mọi vật Hoặc là Sư-phụ không trả lời vào câu hỏi của đệ-tử mà muốn phá thẳng vào cái bệnh suy-tư hợp lý nhân-quả của đệ-tử để thúc đẩy cho đệ-tử phải vượt lên Hoặc giả cũng có thể nói rằng Sư-phụ không có ý giải-đáp câu hỏi mà chỉ nhận-định vào sự vật trước mắt, đi thẳng vào cái hiện-trạng tinh-thần của mình đúng lúc có câu hỏi đặt ra Đấy là tất cả bí-quyết của Thiền, là đạt tới cái tâm-trạng hồn-nhiên khi chưa có hình-ảnh hay ý-niệm nào nổi hiện, gọi là tư-tưởng thình-
Sư-lình " Đương hạ nhất niệm " vì chỉ ở cái lúc hồn-nhiên vô-tâm ấy nhà
Thiền-học mới giải-thoát khỏi tất cả trói buộc và đau khổ
Trang 22
" Thiền, như Erich Fromm đã toát-yếu lời giới-thuyết của D.T.Sujuki, là nghệ-thuật nhìn vào tự-tính của mình, nó là một con
đường giải-phóng hệ-lụy ; nó khai-phóng năng-lực tự-nhiên của
chúng ta ; nó ngăn cản ta đi vào điên khùng hay là trở nên
bệnh-hoạn ; và khuyến-khích chúng ta biểu-diễn khả-năng yêu-thường và
hạnh-phúc của chúng ta "
( Zen is the art of seeing into the nature of one's being ; It is a way from bondage to freedom ; It liberates our natural energies ; It
prevents us from going crazy or being crippled ; And it impels us to
express our faculty for happiness and love )
_ ( Psycho-analysis and Zen Buddhism _ by Erich Fromm _ ed Ruskin House ) ( Phân-Tâm-Học và Phật-Giáo Thiền )
Xem thế thì đủ biết phương-pháp Thiền rất độc-đáo và đặc-tính của
Thiền có vẻ bất-định, khó bắt được nó, không cho phép hệ-thống-hóa vào
một triết-học suy-luận nào hết Thiền-học chỉ nhằm đạt tới cái thực-tại
tuyệt-đối là Chân-Không ( Sunyata ), ở tại ngay nội-tại nơi ý-thức
giác-ngộ, cho nên có ba lý-do để cho nó có tính-cách bất-định, khó giới-hạn,
khó bắt được nó Cái chân-lý tối-cao Bát-nhã hay Giác-ngộ ấy mà Thiền
cố đạt tới và diễn-tả là chính cái tự-tính vô-hạn, vô-biên ở ngoài hay vượt
quá ý-thức cảm nghĩ, như Lão-Tử viết :
" Đạo khả đạo phi thường đạo Danh khả danh phi thường danh "
( Chân-lý có thể thuyết-lý thì chẳng phải chân-lý vĩnh-cửu Tên có thể gọi ra được thì không phải tên còn mãi )
Đấy là Chân-lý tuyệt-đối, bất di bất dịch, không giới-hạn vào các
phạm-trù danh-lý của trí-thức, vừa nội-tại vừa siêu-nhiên
Lục Tổ Huệ-Năng hỏi Hoài-Nhượng :
_ " Thâm xứ lai ? Viết : _ " Tung-sơn "
Trang 33
Sư viết : _ " Thậm ma vật, nhẫm ma lai ?"
Viết : _ " Thuyết tự nhất vật tức bất trúng "
Sư viết : _ " Hoàn cả tu chứng phủ ? "
Viết : _ " Tu chứng tức bất vô, ô nhiễm tức bất đắc ! "
Sư viết : _ " Chỉ thử bất ô nhiễm, chư Phật chi sở hộ niệm Nhữ ký
như thị, ngô diệc như thị Tây thiên Bát-nhã Ba-la sấm : “ Nhữ túc hạ xuất nhất mã câu, đạp sát thiên hạ nhơn.” Ứng tại chữ Tâm, bất tu tốc thuyết
" Nhượng khoát nhiên khế hội Toại chấp thị tả, hữu nhứt thập ngũ tái, nhứt chăn huyền ảo Hậu vãng Nam-Nhạc, đại xiển Thiền-tông, sắc thụy : Đại Tuệ Thiền-sư "
Dịch : _ ( Ở đâu lại đây ? )
Bạch rằng : _ ( Ở núi Tung-sơn ! )
Sư hỏi : _ ( Đem vật gì lại đây thế ? )
Bạch rằng : _ ( Nói tựa như là một vật tức là không đúng ! )
Sư hỏi : _ ( Còn có thể tu chứng được không ? )
Bạch rằng : _ ( Tu chứng thì tức có, nhiễm ố thì không được )
Sư dạy : _ ( Chỉ điều chẳng nhiễm ố ấy là được các Phật hộ-niệm
Nhà ngươi đã như thế, ta cũng như thế Câu sấm của ngài Tổ thứ 27 Bát-Nhã Đa-lai, người Tây-Thiên rằng : “ Dưới chân nhà ngươi xuất-hiện ra con ngựa con ( Tức Mã-tổ sau này thụ-giáo Hoài-Nhượng ) đã giết người trong thiên-hạ ” Ứng ở tâm nhà ngươi, không nên vội nói
( Hoài-Nhượng khoát-nhiên hiểu ý, bèn giữ lễ hầu-hạ bên
sư một thời 15 năm, dần dần tới nơi huyền ảo Sau về Nam-
Trang 4" Khi Tì-Ni mới gặp Tăng-Sán ẩn cư ở núi Tư-Không bên Tầu, thấy cử-chỉ khác thường trong lòng nẩy ra kính-trọng bèn đến trước mặt chắp tay đứng ba lần, Tăng-Sán đều ngồi nhắm mắt không nói Tì-Ni trong lúc đứng chờ, suy-tư, rồi chợt tỉnh thình-lình như có được cái gì, liền cúi lạy ba lần Tăng-Sán chỉ gật đầu lại ba lần mà thôi Tì-Ni lùi lạy ba bước thưa : “ Trước nay con không gặp cơ-hội tiện-lợi, Hòa-Thượng có lòng từ-bi rộng lớn, nên xin hầu-hạ bên cạnh ”
" Khi Tì-Ni mới từ Quảng-Châu sang Bắc-Ninh đến nghỉ ở chùa Pháp-Vân, thấy nhà sư Pháp-Hiền, nhìn lâu mà nói :
_ Anh họ gì ?
" Pháp-Hiền đáp : _ Hòa-Thượng họ gì ?
" Tì-Ni lại hỏi : _ Anh không có họ à ?
" Pháp-Hiền nói : _ Họ hẳn là có, Hòa-Thượng làm sao biết được ?
" Tì-Ni mắng : _ Biết để làm gì ?
" Pháp-Hiền chợt tự tỉnh, liền vái lễ, bèn được yếu chỉ Thiền-tông " _ ( Theo Thiền-Uyển Truyền Đăng Tập )
Trang 5
5
Xem thế đủ thấy Thiền-tông có một lối giảng-dạy và biểu-diễn đáo lạ-kỳ về chân-lý hay đạo lý của nó Cái đạo-lý ấy là đạo-lý Phật-giáo, nhưng Thiền-học chỉ nhằm có phương-diện thực-nghiệm tâm-linh của Thích-Ca khi đạt Chính-giác ( Mahasambodhi ) dưới gốc Bồ-đề (Bodhi) lúc bình-minh Bởi thế mà Thiền-sư Thông-Biện thời Lý đã trả lời Phù-Thánh Cảm-Linh-Nhân Hoàng-Thái-Hậu :
độc-_ " Phật giả giác dã Thử giác bản lai trám nhiên thường trụ Nhất thiết hữu sinh giai đồng thử lý Dãn vi tình trần sở tế, tùy nghiệp phiêu-lưu chuyển thành chư thú "
Nghĩa : _ ( Phật là giác vậy Cái giác-tính ấy vốn thâm sâu vĩnh-cửu
thường-tại Hết thẩy có sinh đều cùng có cái nguyên-lý ấy Nhưng vì tục-trần che lấp, nên tùy theo nghiệp trôi nổi chuyển thành các ý hướng )
_ ( Theo Thiền Uyển Truyền Đăng Tập )
Cái tâm-giác ấy là một trình-độ ý-thức thâm sâu, bản-thể tồn-tại luôn luôn không biến-đổi, vượt quá giới-hạn của tư-duy như kinh-nghiệm trong lúc ngủ-say, như gương sáng, như nước trong không bị sóng làm vẩn đục Cái giác ấy chính là ý-thức đại-đồng, là bản-thể của thế-giới hiện-tượng ví như nước đối với sóng Sóng có lên có xuống, có thấp có cao, thiên hình vạn trạng nhưng nước thì vẫn như thế, đồng-nhất-tính Sóng muốn thấy nước, tức là tự thấy mình, thấy chân-tướng của mình là nước thì không thể đối-tượng-hóa nước với mình mà chỉ phải dời khỏi hình-tướng sóng để trở
về với nước Sự trở về ấy không phải là vấn-đề thuyết-lý mà là một sự biến-hóa từ bình-diện ý-thức này sang bình-diện ý-thức khác, một sự chuyển thành Cho nên Thông-Biện bảo Phật Thích-Ca khi Ngài sắp vào Niết-bàn có nói với Văn-Thù rằng :
_ " Ngô tứ thập cửa niên vị tàng thuyết nhất tự
" Tướng vị hữu sở thuyết da ?
" Nhân niêm khởi hoa chi, chứng giai võng thố, độc Gia-Diếp Tôn-giả, phá nhan vi tiếu Phật tri kỳ hữu khế, toại dĩ chính pháp nhãn tạng phó chi Thị vi nhất Tổ Thử sở vị giáo ngoại biệt truyền chi tâm tông dã "
Trang 66
Nghĩa : _ ( Ta suốt bốn mươi chín năm chưa từng nói một chữ
( Sắp sửa bảo rằng ta có thuyết-lý sao ? ( Nhân lúc ấy Ngài giơ cành hoa lên, quần-chúng đều ngơ-ngác bối-rối, chỉ một mình Ca-Diệp Tôn-giả nở mặt mỉm cười Phật biết ông ta đã khế-hội thông-cảm, mới đem giáo-lý " Chính pháp nhãn tạng " truyền cho Đấy là Tổ Thiền-tông thứ nhất, gọi là Tâm-tông truyền riêng ngoài giáo thuyết )
Như thế là đi thẳng vào Tuyệt-đối và cái thực-tại tuyệt-đối ấy là Giác-ngộ, là Bodhi, là Prajna, là Chân-Như, là Sunyata = Không-Hư vậy
Như thế là " Giáo ngoại biệt truyền ", đặc-biệt của Thiền-tông phương
Nam, như Huệ-Năng đã tự phân-biệt với Thần-Tú qua hai bài kệ sau đây :
" Thân thị Bồ-đề thụ, Tâm như minh kính đài
Thời thời cần phất thức, Vật sử nhạ trần ai "
Dịch nghĩa : ( Thân-thể ví như là cây Bồ-đề, tức Giác-ngộ,
Tâm ví như đài gương sáng
Luôn luôn chăm lau chùi, Chớ để cho bụi trần bám vào ) _ ( Thần-Tú )
Trang 77
" Bồ-đề bản vô thụ, Minh kính diệc phi đài
Bản lai vô nhất vật,
Hà xứ nhạ trần ai "
Dịch nghĩa : ( Bồ-đề ( Bodhi ) là tâm giác vốn không phải cây,
Gương sáng cũng chẳng phải đài gương
Nguyên-lai khởi-thủy không có một vật chi hết,
Ở chỗ nào mà bụi trần bám được ? )
Trên đây là hai trình-độ của ý-thức thực-hiện Thần-Tú còn ở diện ý-thức triết-học tri-thức khái-niệm danh-lý, so với Huệ-Năng đã đạt tới bình-diện ý-thức giác-ngộ thuần-túy Thiền, nghĩa là thực-nghiệm tâm-linh không đối-tượng, năng-tri và sở-tri nhập làm một
bình-CÁC BÌNH-DIỆN Ý-THỨC _
Kinh-nghiệm toàn-diện của sinh-tồn trải qua nhiều bình-diện ý-thức : Ý-thức thức-tỉnh phổ-thông ; Ý-thức ngủ mộng ; Ý-thức ngủ say Kinh-nghiệm thức-tỉnh là khi giác-quan tiếp-xúc với một thế-giới sự vật như có thật ở bên ngoài Kinh-nghiệm ngủ mộng là khi các cửa giác-quan đóng lại, tinh-thần tự đối-tượng-hóa ra một thế-giới sự-vật cũng thật đối với người đang mộng như sự-vật của giác-quan đối với chính người ấy một khi thức-tỉnh Kinh-nghiệm ngủ say thì người ta như chết nếu không còn điệu thở nhẹ-nhàng, và sau một giấc ngủ say khi người ta tỉnh dậy khoan-khoái, phảng-phất nhớ lại mình đã trải qua một giấc ngủ ngon Đời sống hàng ngày của mỗi người đều trải qua ba điều-kiện phân-biệt trên đây là : Thức ; Mộng ; Ngủ say, mỗi bình-diện đều có luận-lý riêng của nó, nhưng đều là hoạt-động của sinh sống cả, đều là các trình-độ của thực-tại
Trang 88
Một trong các phương-pháp căn-bản của triết-học Phật-giáo và Veda
là để khám-phá thực-chất của chân-lý, của thực-tại tuyệt-đối, bắt đầu không phải từ " Je pense donc je suis " ( Tôi tư-duy vậy thì tôi có thực ),
mà bắt đầu bằng sự phân-tích nghiệm toàn-diện, nghĩa là nghiệm trong cảnh thức, cảnh mộng và cảnh ngủ say, thụy-miên hay muộn-tuyệt
" Ý thức thường hiện khởi Trừ sinh vô tưởng thiên Cập vô tâm nhị định Thụy miên dữ muộn tuyệt "
Nghĩa là : ( Ý-thức thường hiện lên tác-dụng
Trừ phi khi sinh lên cõi vô-tưởng
Và khi vào hai cõi thiền-định vô-tâm Khi ngủ say và khi chết ngất )
_ ( Duy Thức Tam Thập Luận tụng )
Ở Tây-phương, người ta chỉ để ý phân-tích kinh-nghiệm trong cảnh thức-tỉnh, nhưng sự thực ai nấy hàng ngày đều trải qua các cảnh, ngủ say
và ngủ mộng nữa Như vậy thì cái biết thu-hoạch trong cảnh thức chẳng qua chỉ là một phần kinh-nghiệm sinh-tồn mà thôi, mặc dầu nó có chính-xác mấy đi nữa Chân-lý triết-học phải bao-hàm toàn-thể kinh-nghiệm của
sự sống, không có quyền gạt bỏ một loại kinh-nghiệm nào hết Một người ngủ cũng biểu-thị sinh-tồn nhân-loại như một người ở cảnh thức, làm sao
có thể bỏ qua các loại kinh-nghiệm ấy, cũng là một phần chân-lý ?
Trong khi ngủ, hình như chúng ta mất hết ý-thức Nhưng tỉnh dậy chúng ta vẫn còn nhớ đã ngủ một giấc ngủ ngon Sự nhớ lại ấy chứng tỏ có cái gì ở nơi ta đã chứng-kiến chúng ta ngủ say Đấy là ý-thức ở một hình-thức khác vậy, bởi vì sự nhớ lại ấy chứng-minh trong lúc ngủ say vẫn có cái ý-thức tiềm-tàng để ý-thức hay là nhận biết điều chúng ta không biết,
Trang 99
vô ý-thức, khi ngủ say, bằng không thì chúng ta không có thể dựng lại
liên-hệ giữa cảnh ngủ say và thức tỉnh để biết rằng chúng ta đã ngủ Làm
thế nào chúng ta còn có thể nhớ lại sự việc trước khi ngủ để xếp đặt có
thự-tự với sự việc sau một giấc ngủ say khi tỉnh dậy, nếu tinh-thần không
hiện-tại ở hình-thức này, hình-thức khác trong khi giấc ngủ làm gián- đoạn ?
Sự thực về ý-thức đồng-nhất-tính cá-nhân với tất cả trào-lưu
tư-tưởng, dục-vọng, tính-tình họp thành cái bản-ngã, cái nhân-cách, mỗi khi
ngủ dậy lại xuất-hiện tỉnh-táo, đủ chứng-minh là giấc ngủ không thực làm
gián-đoạn giòng tinh-thần Nếu không có sự tồn-tục ấy thì chẳng hóa ra
trước khi ngủ ta là một người, tỉnh dậy lại là một người khác ? Cái gì đã
ngừng hoạt-động trong giấc ngủ say thì không phải tinh-thần mà chỉ là một
phương-diện tác-dụng của nó mà thôi Ở trường-hợp mộng-du mà
niên-lịch y-học ghi chép sự-kiện quan-sát, thì người mộng-du như người ngủ
say, không nhìn bằng mắt, làm những việc phi-thường, chứng-minh có
khả-năng tinh-thần vượt xa khi nó tỉnh thức ngày thường, nhưng nó không
nhớ lại được những kinh-nghiệm ở ngoại-giới của nó như người ngủ
mộng Vậy thì cái gì đã tự bên trong điều-khiển hoạt-động của nó ? Chúng
ta phải kết-luận là tinh-thần hoạt-động ở hai bình-diện, bình-diện ý-thức và
bình-diện vô-ý-thức Trong lúc ngủ say tinh-thần không phải vô-ý-thức mà
là yên-tĩnh, hoạt-động của ý-thức lúc thức chưa phát-biểu hết khả-năng của
tinh-thần và tư-tưởng Cái phần thâm-trầm nhất của tinh-thần không
lệ-thuộc hay bị giới-hạn vào giác-quan mới có thể ý-thức được Vậy có một
trạng-thái ý-thức khác với ý-thức ở cảnh mộng hay cảnh thức Vậy thì một
siêu-hình-học hoàn-hảo không thể giới-hạn chữ tinh-thần vào tư-tưởng
ý-thức Tinh-thần còn vượt xa hơn ý-ý-thức Câu mệnh-đề của triết-học Duy-lý
Âu-Tây cận-đại : " Je pense donc je suis " ( Tôi tư-duy vậy là tôi có thật ),
đối với triết-học Phật-giáo, mắc phải hai bệnh là cái bệnh Tôi và cái bệnh
Tư-duy Căn-cứ vào nghiệm ngủ say và mộng-du cũng như
thực-nghiệm tâm-linh ở Thiền-định thì chính Tôi với Tư-duy là nhà tù mê-vọng
mà người tìm thực-hiện chân-lý phải giải-thoát mới gọi là Giác-ngộ vậy
Trang 10Phật-giáo cũng như Veda, quan-niệm thế-giới hiện-tượng là
huyền-ảo không có thật, chỉ có tương-đối với cái ngã giả, pháp giả :
" Do giả thuyết ngã pháp Hữu chủng chủng tưởng chuyển
Bỉ ỷ thức sở biến "
( Vì giả nói có ngã, có pháp Liền có các thứ giả tưởng biến hiện ra Những tưởng ấy dựa vào thức mà biến ra cả ) _ ( Thế Thân " Duy Thức Tam Thập tụng " )
Nay thử so-sánh cảnh thức và cảnh mộng xem cái thực-tại ở đấy có chi khác nhau về tính-chất :
1/ Cả hai cảnh thức và mộng đều chung tính-chất về thực-tại _
Thông thường các văn-sĩ thế-giới cũng như ở Việt-Nam, người ta cho đời người là một giấc mộng Nhưng phần lớn nhân-loại, nếu chẳng phải hầu hết mắc phải cái bệnh " Chấp thực ", quen với luận-lý A là A không thể vừa là A vừa là B, cho nên chúng tin ở sự-vật chỉ có ở cảnh thức mới
có thực, còn trong cảnh mộng thì không có thực Nhưng thực-nghiệm cho
ta thấy rằng suốt trong khi ta mộng, ta có cảm-tưởng về thực-tại cũng rõ rệt như trong cảnh thức Thực vậy, ở trong mộng chúng ta cũng biết phân-biệt cái thực với cái gì không thực, như vậy thì khả-năng phân-biệt là chung cho cả hai cảnh thức và mộng Chừng nào người ta còn đang mộng, thì không những sự vật mộng đối với người đang mộng là có thực mà cả cảnh mộng cũng cho nó cảm-tưởng thực như ở cảnh thức vậy Sở dĩ như thế là vì người mộng trong chính cảnh mộng biết phân-biệt cảnh mộng, ví như nó mộng trong mộng một lần nữa hay là nó đi vào cảnh ngủ say Một
Trang 1111
giấc mộng như thế, gồm nhiều kiện khác nhau thì có khác gì kiện thức tỉnh, vì nó cũng ngụ sự thay đổi và di chuyển từ cảnh này sang cảnh khác
điều-Người ta thường cho rằng cảnh thức có thật, bởi vì sau khi tỉnh mộng hay tỉnh ngủ người ta lại trở về với cảnh thật như trước khi ngủ mộng hay ngủ say, còn như cảnh vật mỗi giấc mộng lại là cảnh vật khác
Nhưng suy-luận như thế là lầm, không phải đứng ở quan-điểm cảnh thức để xét-đoán cảnh mộng, chúng ta phải nghiên-cứu cảnh mộng ở tự thân nó, như nhà khoa-học nghiên-cứu một vật mẫu trong phòng thí-nghiệm, trước hết y phải cô-lập-hóa nó đã Nghiên-cứu mộng cũng thế, phải tách ra khỏi các trạng-thái khác, như thế chúng ta thấy rằng cảnh mộng bao giờ còn mộng thì chẳng khác gì một thực-nghiệm của cảnh thức
cả Nó cũng cho ta trở lại cùng một điểm giữa cảnh mộng như khi ta mộng một giấc mộng trong khi ta đang mộng Vậy chúng ta ở trong mộng đi qua các điều-kiện khác nhau, bấy giờ chúng ta cũng có cảm-tưởng về sự thực,
và cả cảm-tưởng về sự không thực khi chúng ta, trong mộng thấy mất một vật gì
2/ Ở cả hai trường-hợp, mộng và thức người ta đều thấy các vật tượng và các tư-tưởng Thông thường người ta coi như vật chủ-quan người
đối-ta thấy trong mộng, và khách-quan vật người đối-ta tri-giác ở cảnh thức vì ở đấy có giác-quan chứng-nhận Nhưng ở trong mộng người ta cũng tri-giác, cũng nhìn, cũng nghe, cũng sờ thấy các vật, cũng lý-luận như thường, cũng tìm giải-pháp cho các vấn-đề Vậy thì về điểm này, trạng-thái mộng giống hệt với trạng-thái thức Cả hai cảnh đều có thế-giới vật-chất với thế-giới tinh-thần, và ở mỗi cảnh, giác-quan hình như thuộc về ngoại-giới Cảnh mộng cũng có cả một thế-giới, trời đất, núi sông, xã-hội nhân-quần, trong cái thế-giới tiểu vũ-trụ ấy, mỗi nhân-vật sinh sống cũng như chúng ta sinh sống ở cảnh thức Vũ-trụ mộng đối với người mộng bầy ra cùng một tính-cách đại-đồng phổ-biến như thế-giới lúc thức vậy
Trang 1212
3/ Ý-niệm thời-gian trong cảnh mộng và cảnh thức._
Ở thế-giới lúc thức, sự vật có một tính-chất tồn-tục, chúng ta tri-giác núi, sông như có từ lâu và còn mãi mãi trong thời-gian Nhưng nếu chúng
ta không dùng đồng-hồ ở thế-giới thức để đo thời-gian, thì trong mộng người ta cũng có ý-niệm về tốn-tục, chúng ta mộng cảnh mộng kéo dài suốt mấy năm Như vậy thì ý-niệm về thời-gian ở hai trường-hợp đều như nhau, nghĩa là sự vật tri-giác cũng tồn-tục Cả đến liên-hệ nhân quả cũng
có ở cả hai cảnh
Trong mộng chúng ta vẫn ý-thức về thời-gian và cái trò nhân-quả của
sự vật trong mộng Thế-giới mộng có những hậu-quả hợp-lý riêng của nó, tuy so với thế-giới lúc thức thì nó có vẻ hỗn-độn Nhưng nếu xét thế-giới mộng ở tại bản thân mộng của nó thì sự vật hiện ra ở đấy rất bình-thường Chúng chỉ tỏ ra mộng, phi lý chừng nào chúng ta ra khỏi mộng, tỉnh dậy
mà nhìn lại chúng thôi Trong mộng thấy rơi xuống vực thẳm, chúng ta cũng sợ chết, bị giặc đuổi, chúng ta cũng chạy, bị bắn, chúng ta cũng chết như chết thật
4/ Ở trạng-thái thức cũng như ở trạng-thái mộng cả hai chỉ là một tràng những tri-giác ; và như thế thì chúng qui về những ý-tưởng
Ở trạng-thái thức, những kinh-nghiệm quá-khứ đối với chúng ta chỉ
là kỷ-niệm Một kỷ-niệm khác với một giấc mộng ở chỗ nào ? Trong tưởng triết-học Phật-giáo người ta thông dụng cái thí-dụ " trong bóng tối người ta nhận lầm cái thừng làm con rắn " kinh-nghiệm về sau tỏ cho người ta thấy rằng đấy chỉ là tri-giác sai lầm, nhưng con rắn huyễn-tưởng trong khoảng-khắc trước thì bây giờ ở đâu ? Nó chỉ còn là một kỷ-niệm Những kinh-nghiệm mộng cũng như những kỷ-niệm trong cảnh thức, một khi đã đi qua rồi thì chỉ là một loại kỷ-niệm Cả hai loại kỷ-niệm đều là những ý-tưởng
tư-Người ta có thể vặn lại rằng huyễn-tưởng con rắn ở chỗ cái thừng chỉ
là kinh-nghiệm cá-nhân phần-bộ của một trạng-thái thức, còn như trong mộng thì kinh-nghiệm ở cả một cảnh-giới Nhưng chính đấy là huyễn-tưởng của một quần-chúng trước nhà quỷ-thuật Nếu chứng-cứ thực-tại về
Trang 1313
một vật ở tại sự-kiện nhiều người chứng-kiến nó, thì sự vật mà chúng ta tri-giác trong khi nhà quỷ-thuật làm trò cũng có chứng-cứ đó Nhưng mà trò quỷ-thuật mất hết giá-trị chính-xác sau khi chúng ta đem so-sánh với một trạng-thái thực có khác Vậy mà trong một lúc lâu, cái huyễn-tưởng đã làm mê-hoặc một số đông khán-giả coi trò quỷ-thuật là có thực, là chính-xác Như thế đủ cho ta cái quyền bảo rằng những kinh-nghiệm mộng cũng như những kinh-nghiệm thức, một khi những kinh-nghiệm thức thuộc về quá-khứ, không hơn không kém chỉ là những kỷ-niệm, và như thế thì chỉ là những " ý-tưởng ", những hình-ảnh trong tinh-thần
Tổng chi, thế-giới ở cảnh thức và thế-giới ở cảnh mộng đều có thể thu về một kiến-trúc tinh-thần Ở trường-hợp mê-vọng huyền-ảo lấy cái thừng làm con rắn thì lúc ấy con rắn thật có cho đến khi chân-lý tự biểu-lộ Con rắn kia làm cho ta hoảng sợ vì giữa lúc ấy chúng ta không nghĩ gì về con rắn là một giả-tạo Những kinh-nghiệm như thế đủ chứng-minh cái chân-lý này là những ý-tưởng chủ-quan không có thật, ảnh-hưởng vào chúng ta chẳng khác gì những sự vật khách-quan có thật Khi mới lên ba tuổi, chúng ta đã có một thân-thể, lớn lên, về già, cái thân-thể ấy đã biến-đổi Cái thân-thể lên ba, lên mười, hai mươi, ba mươi nay còn đâu ? Hình-ảnh ấy chỉ còn trong ký-ức Tất cả những gì ta tri-giác lúc này như có thật cũng sẽ theo thời-gian chìm vào ký-ức, cũng chỉ là những hình-ảnh của tinh-thần, những ý-tưởng Như vậy chúng ta lầm coi sự vật trước mắt là có thật và những ý-tưởng là không thật Tư-tưởng cũng như sự vật đều là những biểu-diễn khác nhau của thực-tại, những phương-diện bổ-túc cho nhau của sự biểu-hiện Vậy thì chúng đều có giá-trị thực-tại như nhau
Nhìn ở quan-điểm kinh-nghiệm thức tỉnh, chúng ta không có thể bảo được rằng cảnh thức với cảnh mộng như nhau, đồng-nhất Nội-dung của mộng là những ý-tưởng, tình-thần tự đối-tượng-hóa ra sự vật bên ngoài Nội-dung của cảnh thức tỏ ra một tính-cách thực-tại ; Mộng luôn luôn là một kinh-nghiệm đã qua, còn thức luôn luôn là ở trong hiện-tại
Muốn nhận-thức được rằng ở thực-chất nội-dung của mộng và của thức đều chỉ là ý-tưởng, là biểu-hiện của tinh-thần, thì chúng ta phải tự đặt mình ra ngoài cả hai trạng-thái, hoặc mộng hoặc thức để phán-đoán Chúng ta phải đứng ở ngoài cảnh-ngộ để quan-sát nội-dung của một cảnh-
Trang 1414
ngộ, có như thế mới khách-quan chính-xác vậy Làm thế nào mà chúng ta
có thể lột bỏ cái ý-thức lúc thức của chúng ta ?
Trong khi ta đương mộng êm-đềm, ta thường tiếp-tục ngủ, nhưng
nếu giấc mộng đưa ta đến một cảnh hãi-hùng thì ta hoảng-sợ mà tỉnh-dậy
Trong cuộc đời thức của chúng ta cũng thế, chừng nào yên-ổn, phú-quý,
giầu sang, chức cao, sung-sướng, ta sống êm-đềm như giòng nước trôi qua,
chẳng để ý đến ai, chẳng bận lòng suy-tư cảm nghĩ đến cảnh-ngộ nào khác
hay tìm hiểu ý-nghĩa của đời sống Nhưng chợt xẩy ra việc gì ghê-gớm,
tai-họa chiến-tranh hay cách-mệnh loạn-ly, vợ đẹp chết, con khôn chết,
thân bị tàn-tật v.v Bấy giờ ta mới " tỉnh mộng " bấy giờ ta mới suy-nghĩ
về ý-nghĩa của sự sống, của thân-phận làm người, để rồi tìm đến tôn-giáo,
đến tâm-linh-học, đến triết-học Vậy thử hỏi có cách gì để ta tự " tỉnh
mộng " đối với cuộc đời thức tỉnh hiện-tại, cũng như ta đang ngủ mộng
chợt tỉnh dậy ví như Đức Phật đã giác mê khải ngộ đối với cuộc đời
Hoàng-tử ( Siddhartha ), có vợ đẹp ( Yasodhara ), con khôn ( Rahula ), gác
tía lầu vàng, tuyệt-vời sung-sướng Như thế là thoát xác, là bỏ bình-diện
ý-thức nọ sang bình-diện ý-ý-thức kia mà nhà đạo-học Đông-phương gọi là
" Biến hóa khí chất " Học có đến " Biến-hóa khí-chất " thì mới gọi là
" Đạt đạo "
***
TRIẾT-LY THỤY-MIÊN
( Ngủ Say )
Như trên kia, Thế-Thân nói đến bình-diện của tinh-thần hầu như
không có ý-thức hay là đúng hơn chúng ta hiện-tại không ý-thức được, ấy
là cảnh " Trời vô tưởng ", " Vô tâm ", " Thụy-miên " và " Muộn-tuyệt "
Như thế là ta đã sẵn có cái trạng-thái vượt ra ngoài cảnh thức và cảnh
mộng Nay hãy xét-cứu cảnh ngủ say mà mỗi người chúng ta hàng ngày
vẫn trải qua Chúng ta đều biết rằng ba-động âm-thanh hay ánh-sáng mau
Trang 15nay gọi là tiềm-thức hay vô-thức Sách Trung-Dung viết : " Tiềm tuy phục
hy, diệc khổng chi chiếu " ( Chìm tuy náu ẩn vậy, cũng còn sáng tỏ rõ
ràng ) là để nói về trạng-thái tiềm-tàng của tinh-thần Tinh-thần ví như ánh-sáng làm cho các vật hiển-hiện mà tự-thân của ánh-sáng thì vô-hình Tinh-thần cho ta ý-thức về tất cả cái gì không phải là nó, chúng ta không thể thấy được nó bên trong những kinh-nghiệm biến-đổi của ta vì chính nó không biến-đổi Chúng ta tri-giác tất cả mọi vật trong tinh-thần như trong tấm gương, nhưng đứng ở ngoài giới-hạn của giác-quan, chúng ta quan-sát hình-ảnh sự vật mà không quan-sát thấy tấm gương phản-chiếu sự vật
Nhưng gương vẫn ở đấy ! " Tâm như minh kính, hoa lai kiến hoa, nguyệt
lai kiến nguyệt " Đấy là khẩu-hiệu của nhà Phật khi quan-sát nội-tâm hay
ví ( Tâm như gương sáng, bông hoa phản-chiếu thấy bông hoa, vầng trăng phản chiếu thấy vằng trăng ) nhưng còn chính Tâm thì không thấy vì không thể đối-tượng-hóa nó được Nó là như thế, đến đâu cũng không ra khỏi được cái ý-thức ấy Nhà khoa-học có thể thấy tất cả thế-giới bao-la bên ngoài, nhưng không khám-phá ra cái bí-quyết về khởi-thủy của chính tâm mình, chính ý-thức của mình, bởi vì y chỉ có thể khảo-sát sau khi chính tâm của y, ý-thức của y đã nẩy sinh mà thôi Chỉ nhờ có ánh-sáng tiên-quyết của tâm mình, cái ý-thức mà nhà khoa-học hoạt-động hay suy-
tư Y không thể quan-sát trực-tiếp được ý-thức của y, chính vì cái ý-thức
ấy y không thể đối-tượng-hóa với nó được Tất cả tư-tưởng có ở trạng-thái
Trang 1616
tiềm-năng trong tâm, và có ở trạng-thái hiện-thực trong ý-thức Tâm là tinh-thần còn ý-thức là tác-dụng của tâm Chúng ta chỉ biết tâm, tinh-thần thường thường hiện-tại ( thường tại ) qua những tác-dụng, những tư-tưởng
nó tạo-tác, và qua ý-thức nó phát-xuất trên mặt, cái mà sách Trung-Dung
( Mừng giận thương vui chưa phát xuất thì gọi là " Trung " bên trong, phát-xuất đều trúng tiết-điệu vận-hành điều-lý thì gọi là hòa-điệu " Trung " ấy là chỗ gốc lớn của thế-giới, " Hòa " ấy là cho thế-giới đạt tới đạo-lý Đến trọn Trung Hòa thì vũ-trụ yên vị, muôn vật nẩy nở vậy )
Và sách Duy-Thức của Thế-Thân cũng gọi đến cái trạng-thái của tâm vô-thức ấy, là Alaya = Tạng-thức, nghĩa là kho-tàng chứa đựng :
" Sơ Ai-lại-da-thức
Dị thực, nhất thiết chủng "
Nghĩa là : ( Bắt đầu là cái thức A-lại-da
Thức dị-thực, thức hết thảy các loại )
Trang 1717
Vậy, ý-thức cảnh thức, ý-thức cảnh mộng không phải là tất cả " Tâm
thức " Đằng sau và bên trong cái ý-thúc đầu tiên về mình, cái kết-quả đầu
tiên về nhận-thức ngoại-giới, cái hoạt-động đầu tiên của tư-tưởng còn có
một cái " Tâm " mà ý-thức không biết, vì đã có dụng hay tác-dụng thì hẳn
phải có bản-thể trước cả ý-thức cá-nhân trong thời-gian và không-gian
Chính cái bình-diện tinh-thần ấy mà phân-tâm-học gọi là tiềm-thức ( unconscious ) hay vô-thức, nhờ đấy chúng ta mới có được những hình-
ảnh quá-khứ, những hình-thức tư-tưởng trở lại trong ý-thức để nhớ lại
dĩ-vãng " Thần tri lai, trí tàng dĩ-vãng " _ ( Dịch Truyện ) ( Thần-thức biết
lai, lý-trí chứa dĩ-vãng ) Cái gì đã liên-hệ bất đoạn quá-khứ, hiện-tại,
vị-lai, nếu chẳng phải cái bản-thể tục-tồn bên trong cảnh thứ, ngủ mộng và
ngủ say, nghĩa là trong lúc ngủ say, tuy vô-ý-thức nhưng vẫn có Tâm
hoạt-động vậy Chính cái Tâm ấy là nguồn của trực-giác và cảm-hứng
nghệ-thuật
***
NGUỒN TRỰC-GIÁC VÀ CẢM-HỨNG SÁNG-TẠO
Cái khu-vực tiềm-thức ấy, nơi chưa phát-động của tâm gọi là
"Trung" ấy, phải chăng hoàn-toàn yên-lặng, bất-động ? Ở đấy tinh-thần
vẫn hoạt-động, gọi là tâm-linh, hay như Trần-Thái-Tông thường gọi là
" Tâm tịch nhi tri " ( Tâm yên-lặng mà biết ), như thế thì vẫn hoạt-động
bằng cách-thức khác với lúc thức hay mộng Nhà toán-lý trứ-danh Pháp
Henri Poincaré đã từng giải đáp cho nhiều bài toán khó-khăn nan-giải bằng
cách quên đi sau khi tập-trung tất cả ý-thức vào chúng Và sau một giấc
ngủ say, tỉnh dậy ông ta thấy hiện ra giải-đáp cho những bài toán kia tại
trong tinh-thần mình Chúng ta cũng có khi tìm nhớ lại điều gì đã quên mất
mà không tài nào tìm thấy để rồi thình-lình xuất-hiện trong tinh-thần đang
lúc không nghĩ đến nó nữa Đấy là trực-giác, nó lóe sáng như chớp nhoáng
trong đêm tối, không có liên-hệ gì hợp-lý với tư-tưởng có trước cả Nó
không phải kết-quả của thực-nghiệm giác-quan hay là trí-thức suy-luận Vị
tổ triết-học Tây-phương là Socrate đã hoàn-toàn tin-tưởng vào trực-giác
Trang 1818
của mình Ông kể lại vận-động trực-giác của ông trong cái án ông bị xử-tử,
nó có một giá-trị triết-học bi-hùng như sau :
" Ông thường đã được nghe tôi nói về lời sấm hay về một cái điềm gì nó đến cho tôi Tôi luôn luôn đã được nghe thấy nó từ thời thơ-ấu Cái điềm ấy là một tiếng nói nó luôn luôn cấm tôi làm điều gì tôi đã định làm Cho tới nay, cái lời sấm thân-mật ấy thường hay chống-đối tôi, cả đối với những điều vô-nghĩa-lý mà tôi sắp làm sai hay làm lạc Hôm nay như ông thấy, nó lại rơi xuống đầu tôi, điều
mà người ta có thể coi như là thông thường người ta tin là tai-vạ cùng-cực Nhưng lời sấm không hề chống-đối Cả từ lúc buổi sớm tôi
ra khỏi nhà cho đến lúc tôi ra tòa án, nó không chống đối một điều gì
mà tôi đã nói, thường có khi nó bắt tôi ngừng giữa câu nói, vậy mà bữa nay nó không hề chống-đối một điều nào tôi đã nói cả Tôi giải-thích ra là điều ấy ? Tôi sẽ nói cho ông hay Tôi thấy ở đấy bằng chứng về tất cả điều tôi tuyên-bố, bởi vì điềm thường xẩy ra chắc-chắn sẽ biểu-lộ nếu tôi đã làm điều gì ác, chứ không phải điều thiện."
Đấy là một lời thống-thiết bi-kịch có quan-hệ đến tính-mạng của mình để chứng-tỏ cái hiện-diện của lương-tâm, của Thiên-lương tại trong lòng người ta vậy Và hơn hai ngàn năm sau, về lời tuyên-bố của nhà tư-tưởng Mỹ là Emerson, cũng một giọng chân-thành đối với tiếng nói nơi
thâm-tâm, là cái " Tâm tịch nhi tri " ấy :
" Tôi không dám bảo rằng đã nhận được mệnh-lệnh liêng hay là một đại thiên-khải Nhưng, thời hồi khi tôi lập một dự-định, khi tôi tính đi du-lịch hay làm một việc gì, tôi khám-phá ở trong tinh-thần tôi có một sự chống-đối âm-thầm mà tôi không sao giải-thích được Tôi bèn dựng lại, nghĩ rằng để cho sự chống-đối ấy
thiêng-có thể thôi đi ; nếu nó không biến đi thì tôi phải cúi đầu tuân theo nó vậy "
Đến như cảm-hứng nghệ-thuật cũng chẳng kém lạ-lùng như hợp Ôn-Như-Hầu ở việt-Nam : " Một hôm ông cùng các bạn rượu uống nhiều quá, say li-bì, ai cũng phải sợ, có người đưa việc đến xin ông, ông vẫn không trả lời, đến lúc Hòa-Trai là em thứ ba của ông, thử đến xin ông
trường-đề cho bài thơ " Túy Trung Ngâm Thi ", hốt nhiên ông đọc ra câu :
Trang 19Và cái nguồn cảm-hứng ấy đã đem lại cho Nguyễn-Huy-Hổ (
1783-1841 ) tác-phẩm văn-nghệ " Mai Đình Mộng Ký " mà ông đã tuyên-bố
tư nhân dã, khả dư ngôn mộng dã dĩ hỷ
" Mai đình mộng ký, ký mộng dã Mộng chi tiểu dã giả Tiểu tiểu mộng tất hữu tiểu tiểu giác Dư thường vị chúng nhân mộng dã, chí nhân giác dã Y ! Dung cự tri ngô chi sở vị mộng giả, vi phi mộng giả Dung cự tri ngô chi sở vị phi mộng giả, vi mộng dã ? Thử Mai đình chi sở dĩ tác dã
" Kỳ mộng dã da ? Kỳ phi mộng dã da ? Duy đại giác giả kỳ chỉnh chư ?"
_ Linh-Đài lang Nguyễn-Liên-Pha trước )
( Ta nghe nói : Người có tính lớn mới có mộng lớn, lời nói mầu-nhiệm thay ! Lời nói mầu-nhiệm thay !
(Ôi ! Việc lớn như đầu cuối của trời đất, nhỏ như sống chết của nhân vật, xa như thế biến của xưa nay, đều là giác trong mộng cả Như thế thì những kẻ gọi là mộng-ảo, gọi là trần giới, gọi là hành khách, gọi là qua đường mới có thể nói chuyện mộng được mà thôi
( Tập Mai Đình Mộng Ký để ghi chép giấc mộng Mộng ấy bé Mộng be bé, ắt giác be bé Ta thường bảo kẻ đại chúng mộng, người đạt đạo là giác Há biết đâu là kẻ ta cho là mộng lại không mộng, kẻ
ta cho là không mộng lại là mộng hay sao ?
Trang 2020
( Vì thế mà làm ra tập Mai Đình Mộng Ký này vậy ! Đó là mộng chăng ? Đó chẳng phải là mộng chăng ? Duy chỉ có người đại
giác mới định được )
_ ( Chàng Linh-Đài - Nguyễn-Liên-Pha tác ) - Nguyễn-Huy-Hổ
Bậc Đại-Giác Hiện-Đại Với Thực-Nghiệm Ngủ Say Ramana Maharshi
Đương thời hiện-đại của chủ-nghĩa Khoa-học duy-vật và nghi, một thực-nghiệm tâm-linh Đại-giác của Ramana Maharshi ( mất
hoài-1950 ) ấn-chứng lại cho thực-kiện tôn-giáo tâm-linh của Đức Phật
Thích-Ca dưới gốc Bồ-đề hơn hai ngàn năm về trước, là một việc hãn-hữu trên
đời
Trước khi mang tên thành đạo, Ramana-Maharshi có tên là
Venkataraman, một thanh-niên bình-thường miền Nam Ấn, tỉnh Madura
Một tính nết phi-thường ở người thanh-niên ấy, theo Arthur Osbone là
trong những năm niên-thiếu ông có những giấc ngủ-say lạ lùng Một trong
hàng tín-đồ của ông, sau này ghi lại trong nhật-ký của mình, chính những
lời nói của Venkataranam mấy năm sau về giấc ngủ ấy khi thấy một người
bà con bước vào tư-thất :
" Thấy ông tôi lại nhớ lại việc xẩy đến cho tôi ở tỉnh Dindigul khi tôi nhỏ tuổi Người chú của ông là Periappa Seshaỳar cũng ở tỉnh
ấy Trong nhà lúc ấy người ta đương sửa-soạn làm cái lễ gì mà tất cả
mọi người đều tham-dự, rồi đến tối thì người ta kéo nhau ra đền Tôi
ở nhà một mình Tôi ngồi đọc sách ở gian nhà đàng trước, nhưng
được một lúc thì tôi khoá cửa trước và cửa sổ để đi ngủ Khi đám
người nhà ở đền kéo về, một lúc sau, họ gọi, họ gào, họ đập cửa,
không gì làm tôi tỉnh dậy được cả Sau cùng người ta mượn được
chìa khóa ở nhà bên cạnh mở cửa vào, tìm cách đánh đập tôi cho tôi
tỉnh dậy Tất cả những người trai trẻ tha hồ đánh đập cũng không làm
được tôi tỉnh dậy, cả chú ông cũng đánh thức tôi dậy không được
Tôi chẳng biết chi hết cho tới sáng hôm sau họ mới kể lại cho tôi hay