Hệ thống canh tác lúa nước SRI SRI System of Rice Intensification - Hệ thống thâm canh lúa cải tiến là hệ thống thâm canh lúa cải tiến áp dụng 5 nguyên tắc giúp cây lúa phát triển một c
Trang 1ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
Thái Nguyên - Năm 2014
Trang 2ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
-*** -
NGUYỄN VĂN ĐẠT
“§¸nh gi¸ CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN SỰ PHÁT TRIỂN CỦA CÁC MÔ HÌNH CANH TÁC LÚA NƯỚC SRI VÀ FDP t¹i HUYÖn v¨n chÊn - tØnh Yªn B¸i”
Chuyên ngành : Phát triển nông thôn
Mã số ngành : 60.62.01.16
LUẬN VĂN THẠC SĨ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS ĐÀO THANH VÂN
Thái Nguyên - Năm 2014
CHỮ KÝ PHÒNG QLĐTSĐH CHỮ KÝ KHOA CHUYÊN MÔN CHỮ KÝ GIÁO VIÊN HƯỚNG DẪN
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu do chính tôi thực hiện Các số liệu và kết quả nghiên cứu trong Luận văn là trung thực và chƣa đƣợc công bố trong bất kỳ công trình nào khác
Tác giả
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Tôi xin trân trọng cảm ơn Ban Giám Hiệu trường Đại Học Nông Lâm Thái Nguyên, Phòng Quản lý đào tạo Sau Đại Học, các thầy cô giáo thuộc khoa Khuyến Nông và Phát triển nông thôn đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành và sâu sắc tới Phó Giáo Sư – Tiến Sỹ Đào Thanh Vân, người Thầy tâm huyết đã tận tình hướng dẫn, động viên, dành nhiều thời gian định hướng và chỉ bảo tôi trong quá trình thực hiện Luận văn
Tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành tới Ủy ban nhân dân huyện Văn Chấn, Phòng Nông nghiệp, Trạm Khuyến nông, Trạm Bảo vệ thực vật, Chi cục thống kê huyện Văn Chấn, Ủy ban nhân dân xã Thanh Lương, Ủy ban nhân dân xã Sơn A, Ủy ban nhân dân xã Nậm Lành, Ủy ban nhân dân xã Đồng Khê đã giúp đỡ và tạo điều kiện cho tôi tiến hành nghiên cứu
Cuối cùng, tôi xin gửi tấm lòng ân tình tới Gia đình của tôi, Gia đình đã thực sự là nguồn động viên lớn lao và truyền nhiệt huyết để tôi hoàn thành Luận văn
Tác giả
Nguyễn Văn Đạt
Trang 5MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1
2 Mục tiêu 2
3 Yêu cầu 3
4 Câu hỏi nghiên cứu 3
Chương 1 4
TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4
1.1 Hệ thống canh tác lúa nước SRI 4
1.2 Hệ thống canh tác lúa nước FDP 6
1.3 Tình hình nghiên cứu và ứng dụng phân viên nén dúi sâu (FDP) trên thế giới và trong nước 10
1.4 Tình hình nghiên cứu và ứng dụng hệ thống thâm canh lúa cải tiến (SRI) trên thế giới 13
1.4.1 Những nghiên cứu SRI ở Ấn Độ 14
1.4.2 Tình hình nghiên cứu ở Trung Quốc 15
1.4.3 Tình hình nghiên cứu ở Thái Lan 17
Trang 61.5 Tình hình nghiên cứu và ứng dụng hệ thống thâm canh lúa cải tiến
(SRI) ở Việt Nam 18
Chương 2 26
NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 26
2.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 26
2.1.1 Đối tượng nghiên cứu 26
2.1.2 Phạm vi nghiên cứu 26
2.2 Nội dung nghiên cứu 26
2.3 Phương pháp nghiên cứu 26
2.3.1 Phương pháp thu thập số liệu 26
2.3.2 Phương pháp so sánh 29
2.3.3 Phương pháp tham khảo ý kiến chuyên gia 29
2.3.4 Phương pháp xử lý số liệu, tính toán, đánh giá hiệu quả kinh tế 29
2.3.5 Phương pháp đánh giá 31
Chương 3 32
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 32
3.1 Kết quả nghiên cứu về điều kiện tự nhiên – kinh tế xã hội 32
3.1.1 Điều kiện tự nhiên 32
3.1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội 36
3.1.3 Đánh giá chung về điều kiện tự nhiên 40
3.1.4 Tình hình phát triển ngành nông nghiệp của huyện Văn Chấn trong 3 năm qua 41
3.1.4.1 Tình hình kinh tế chung 41
Trang 7Bảng 3.1: Tình hình sản xuất nông lâm nghiệp huyện Văn Chấn 41
3.1.4.2 Tình hình sản xuất một số cây trồng chính trên địa bàn 43
Bảng 3.2: Diện tích sản xuất của một số cây trồng chính trên địa bàn huyện Văn Chấn, tỉnh Yên Bái 44
Bảng 3.3 Năng suất của một số cây trồng chính trên địa bàn huyện Văn Chấn, tỉnh Yên Bái 46
3.1.4.3 Tình hình phát triển ngành chăn nuôi 47
Bảng 3.4 Tình hình phát triển ngành chăn nuôi tại huyện Văn Chấn, tỉnh Yên Bái 48
3.1.4.4 Tình hình phát triển ngành lâm nghiệp 48
Bảng 3.5 Tình hình phát triển rừng tại huyện Văn Chấn, tỉnh Yên Bái 49
3.2 Chấn - tỉnh Yên Bái 49
3.2.1 Hệ thống canh tác lúa cải tiến SRI 49
Bảng 3.6: Hiện trạng của mô hình canh tác lúa nước SRI tại Văn Chấn 51
3.2.2 Hệ thống canh tác lúa FDP 52
Bảng 3.7: Hiện trạng của mô hình canh tác lúa FDP tại Văn Chấn 53
Văn Chấn 53
Bảng 3.8: So sánh kết quả sản xuất của các mô hình 54
Bảng 3.9 Mức độ đầu tư và hiệu quả sử dụng vốn của các mô hình 55
Bảng 3.10: Hiệu quả lao động của các mô hình 57
3.2.4 Ảnh hưởng của các mô hình canh tác đến tính chất đất 58
Trang 83.2.5 Ảnh hưởng của các mô hình canh tác đến khả năng bảo vệ
môi trường 60
Bảng 3.12: Khả năng bảo vệ môi trường của 3 hệ thống canh tác 61
63
3.3.1 Đánh giá những thuận lợi và khó khăn của 2 mô hình SRI và FDP 63
Bảng 3.13: Bảng đánh giá tính bền vững, hạn chế và lợi thế của 2 hệ thống canh tác lúa nước SRI và FDP 64
3.3.2 Kết quả phân tích SWOT 68
3.3.2.1 Kết quả phân tích SWOT cho mô hình SRI 69
3.3.2.2 Kết quả phân tích SWOT cho mô hình FDP 70
3.3.2.3 Ma trận SWOT cho 2 mô hình canh tác lúa SRI và FDP 71
3.4 Giải pháp phát triển và mở rộng các mô hình canh tác lúa theo SRI và FDP 71
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 74
1 Kết luận 74
2 Kiến nghị 75
TÀI LIỆU THAM KHẢO 77
Trang 10Danh mục các từ viết tắt
ANLT An ninh lương thực
BĐKH Biến đổi khí hậu
BVTV Bảo vệ thực vật
FAO Food and Agriculture Organization of the United Nations - Tổ
chức Lương thực và Nông nghiệp Liên hiệp quốc FDP Rice cultivation model used fertilizer tablets shoved deep -
IDE International Development Enterprises - Tổ chức Phát triển
Quốc tế IFDC International Fertilizer Development Center - Trung tâm Phát
triển phân bón Quốc tế MCC Multiple Cropping Center - Trung tâm Nhiều Cắt xén
NN&PTNT Nông nghiệp và Phát triển nông thôn
SRI System of Rice Intensification (Hệ thống thâm canh lúa cải tiến) TTNT Thị trấn nông trường
UBND Ủy ban nhân dân
WWF World Wide Fund For Nature - Quỹ Quốc tế Bảo vệ thiên nhiên
TNHH Trách nhiệm hữu hạn
Trang 11MỞ ĐẦU
1.
B
.SRI là phương pháp canh tác lúa sinh thái và hiệu quả, tăng năng suất nhưng lại giảm chi phí đầu vào như giống, phân bón, thuốc trừ sâu và nước tưới Những nguyên tắc, kỹ thuật cơ bản của phương pháp này bao gồm: cấy mạ non, cấy một dảnh, cấy thưa, quản lý nước, làm cỏ sục bùn và bón phân hữu cơ Hệ thống SRI được Bộ Nông nghiệp & Phát triển nông thôn công nhận là tiến bộ kỹ thuật Chương trình SRI là một chương trình phù hợp để ứng phó với biến đổi khí hậu trong sản xuất lúa, do Cục BVTV và tổ chức OXFAM Hoa Kỳ hỗ trợ về kỹ thuật và kinh phí, đã được mở rộng ứng dụng trên nhiều tỉnh thành trong cả nước, trong đó có tỉnh Yên Bái
, đây là một cách làm phù hợp, vừa tiết kiệm đầu vào, tăng được năng suất, dễ làm, dễ nhớ
thiểu tác động tiêu cực đến môi trường đất và nước bởi dùng phân nén dúi sâu sẽ tiết kiệm được 80% lượng phân bón hóa học, thuốc trừ sâu, thuốc diệt cỏ cũng như hạn chế được 35% lượng phân urê và chất hóa học khác thâm nhập vào nguồn nước Việc sản xuất sản phẩm phân viên nén dúi sâu đơn giản, các địa phương có thể tự sản xuất ra sản phẩm chất lượng Đây cũng là một giải pháp khả thi cho việc thực hiện chiến lược tăng trưởng và xoá đói giảm nghèo, bảo vệ môi trường của chính quyền địa phương
Biến đổi khí hậu là một trong những thách thức lớn nhất đối với nhân
Trang 12đến sản xuất, đời sống và môi trường trên phạm vi toàn thế giới Nhiệt độ tăng, mực nước biển dâng gây ngập lụt, gây nhiễm mặn nguồn nước, ảnh hưởng đến nông nghiệp, gây rủi ro lớn đối với công nghiệp và các hệ thống kinh tế - xã hội trong tương lai
Vấn đề đặt ra là làm thế nào để
núi phía Bắc để đem lại hiệu quả kinh tế cao, giảm khí phát thải, đảm bảo an ninh lương thực, ổn định xã hội và bền vững?
Thời gian qua tại nhiều địa phương trong cả nước, trong đó có tỉnh
đã và đang tiến hành xây dựng 2 mô hình
và đã thu được kết quả ban đầu về kinh tế và bảo vệ môi trường Để đánh giá một cách khách quan tính hiệu quả và khả năng mở rộng mô hình
đề tài “Đánh giá các yếu tố ảnh
hưởng đến sự phát triển của các
Trang 13-3 Yêu cầu
Phâ
Khuyến cáo khả năng nhân rộng trong sản xuất đối với các mô hình có hiệu quả góp phần nâng cao đời sống người dân và bảo vệ môi trường sinh thái
4 Câu hỏi nghiên cứu
Chấn? đối tượng áp dụng? Các cải tiến hoặc kiến thức bản địa đã được lồng ghép/áp dụng tại các mô hình?
- Ý kiến đánh giá của người dân về Ưu nhượ
? Tại sao người nông dân lại áp dụng hoặc từ chối các kỹ thuật này?
-o ý kiến của người dân ở vùng nghiên cứu n
thuận của khí hậu như thế nào?
Trang 14Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 Hệ thống canh tác lúa nước SRI
SRI (System of Rice Intensification - Hệ thống thâm canh lúa cải tiến)
là hệ thống thâm canh lúa cải tiến áp dụng 5 nguyên tắc giúp cây lúa phát triển một cách tốt nhất, đó là cấy mạ non, cấy 1 rảnh/khóm, cấy thưa vuông mắt sàng, rút nước xen kẽ 3 - 4 lần trong vụ nhất là sau khi bón phân lần đầu, giữ đất ẩm, kết hợp làm cỏ sục bùn, bón phân theo nhu cầu của cây, khuyến khích bón phân hữu cơ, phân chuồng hoại mục SRI được đưa vào Việt Nam
từ cuối năm 2003 nhưng chủ yếu dưới hình thức thí nghiệm, mô hình nhỏ, có khoảng 3.500 nông dân tham gia sau 3 năm thực hiện Cuối năm 2006, Oxfam
Mỹ tài trợ chính phối hợp cùng Cục Bảo vệ thực vật (Bộ NN&PTNT), Trung tâm Phát triển Nông thôn bền vững (SRD) và Oxfam Québec triển khai Chương trình Hệ thống canh tác lúa cải tiến (SRI) - Nâng cao năng lực cho người dân trồng lúa quy mô nhỏ ở miền Bắc Việt Nam (chương trình SRI) tập trung vào 6 tỉnh điểm là Hà Nội, Phú Thọ, Yên Bái, Thái Nguyên, Nghệ An
và Hà Tĩnh Tính đến cuối vụ Đông - Xuân 2009, có 115.713 nông dân ứng dụng SRI trên diện tích 36.903 ha ở 6 tỉnh điểm này, chiếm gần 50% tổng số nông dân và diện tích áp dụng SRI trên 21 tỉnh thành toàn quốc [15]
SRI được nhiều nông dân tự nguyện và nhiệt tình hưởng ứng vì bà con thấy hay thì làm SRI đánh trúng vào những vấn đề nông dân đang nhức nhối trong sản xuất lúa gạo là chi phí sản xuất cao và thu nhập thấp SRI làm ruộng nhỏ hay lớn đều được, không cần đầu tư giống mới hay phân bón đặc biệt SRI chỉ cần nông dân thay đổi cách nghĩ, cách làm
So với biện pháp canh tác truyền thống, thực hiện mô SRI giúp nông dân giảm chi phí sản xuất, tăng thu nhập thêm khoảng 1,8-3,5 triệu đồng trên
Trang 15còn góp phần giảm ô nhiễm môi trường do nông nghiệp gây ra như bón phân, phun thuốc trừ sâu bừa bãi SRI tiết kiệm được 80-90% giống, giảm được 50% lượng phân bón, thuốc trừ sâu, 40% nước, giảm phát thải khí mê tan từ đất do phơi ruộng khô nẻ vài lần trong vụ trồng [15] Tất cả những lợi ích trên người nông dân trực tiếp hưởng lợi ngay như lợi ích kinh tế và lợi ích lâu dài
về cải thiện môi trường
- Kỹ thuật cấy và chăm sóc lúa nước giai đoạn đầu theo SRI [9]
Làm đất gieo mạ và đất cấy cần cày sâu, bừa kỹ, bón lót với lượng phân chuồng là 200 - 300 kg/sào, kết hợp với 15 - 20 kg/sào vôi bột, bón trước khi bừa vỡ Trước khi bừa cấy cần bón lót phân NPK 5:10:3 với lượng
15 - 20 kg/sào Đất sau khi bừa kỹ được san phẳng, đánh rãnh thoát nước Gieo mạ nên gieo thưa, thông thường gieo 0,5 – 0,7kg thóc/m2, để cây
mạ đanh rảnh, sau cấy cây nhanh bén rễ hồi xanh nhanh Khi mạ có từ 2 - 2,5
lá (sau gieo khoảng 7 - 10 ngày) tiến hành cấy; nên xúc mạ cấy, đảm bảo có đất bám ở rễ, hạn chế bị đứt rễ, giúp lúa nhanh hồi xanh Cần cấy thưa với mật độ 30 - 35 khóm/m2
(đối với lúa lai), 35 - 40 khóm/m2 (đối với lúa thuần); cấy 1 - 2 dảnh, cấy nông tay, đặt nhẹ mạ và cấy thẳng hàng để tiện chăm sóc Cần duy trì nước ở trong ruộng 2 - 3 cm sau khi cấy Sau cấy khoảng 5 - 7 ngày cần tiến hành chăm sóc đợt 1 cho lúa Bón phân thúc đẻ ngay, nhằm cung cấp dinh dưỡng kịp thời giúp cho lúa đẻ nhánh nhanh, tập trung, cho số dảnh hữu hiệu tối đa Không nên bón phân nhiều lần trong giai đoạn này để hạn chế cây lúa đẻ lai rai, sinh nhiều dảnh vô hiệu Lượng bón từ
10 - 12 kg/sào phân NPK 12.5.10; nếu dùng phân đơn, cần bón với lượng Đạm Urê là từ 3 - 4 kg, Kali clorua từ 2 - 3 kg, trộn đều rồi bón Tiến hành sục bùn, làm cỏ để vùi phân vào đất, nhằm hạn chế việc rửa trôi phân bón, giải phóng chất độc trong đất, tăng cường oxy cho rễ, giúp bộ rễ phát triển, đồng thời hạn chế đáng kể cỏ dại phát triển
Trang 16Sau khi bón phân thúc đẻ khoảng 5 ngày tiến hành tháo cạn nước, giữ cho ruộng đủ ẩm và chỉ tưới nước khi mặt ruộng khô nẻ, theo phương pháp tưới tràn Biện pháp rút nước ở thời điểm đẻ nhánh có ý nghĩa lớn trong việc tiết kiệm nước Bên cạnh việc tạo cho oxy tiếp xúc trực tiếp với đất, làm giảm
độ chua, giảm chất độc trong đất, tăng cường sự chuyển hóa các chất từ khó tiêu thành dễ tiêu; đồng thời giúp bộ rễ cây lúa phát triển khỏe, tăng khả năng lấy dinh dưỡng Rút cạn nước ở giai đoạn này tạo cho ánh sáng chiếu trực tiếp vào gốc lúa, kích thích và thúc đẩy khả năng đẻ nhánh tối đa
Việc chăm sóc, bón phân, làm cỏ, tưới nước đúng kỹ thuật giúp cây lúa sinh trưởng phát triển khỏe, tăng khả năng chống chịu sâu bệnh và điều kiện bất lợi của môi trường Tuy nhiên, để đảm bảo năng suất lúa thì việc phòng trừ sâu bệnh hại rất quan trọng Vì vậy, bà con cần phải thường xuyên kiểm tra thăm đồng nhằm phát hiện sớm và phòng trừ kịp thời các đối tượng sâu bệnh Chỉ phun thuốc khi mật độ sâu, tỷ lệ bệnh vượt ngưỡng, theo khuyến cáo của Chi cục Bảo vệ thực vật
tư mà hiệu quả lại cao hơn nhiều Bón phân viên dúi sâu là một kỹ thuật mới xuất hiện ở nước ta, từ việc tham quan trao đổi sản xuất, các nhà khoa học ở nước ta đã nghiên cứu triển khai thí nghiệm kỹ thuật này ở
Trang 17trong nước Qua thời gian kể từ khi thực nghiệm đến nay, kỹ thuật dúi phân viên đã chứng minh được tính ưu việt, hiệu quả kinh tế xã hội của
nó Với những lợi ích về nhiều mặt nên kỹ thuật bón phân viên dúi sâu cho lúa đã được hội đồng khoa học quốc gia công nhận là tiến bộ khoa học kỹ thuật Tùy thuộc vào ruộng lúa gieo cấy hay lúa gieo thẳng mà có cách dúi phân viên khác nhau
- Kỹ thuật cấy và chăm sóc lúa nước theo FDP [8]
Chuẩn bị ruộng: Chuẩn bị dây hoặc các thanh gỗ, trên đó chia băng ruộng, băng ruộng rộng 105cm, chia làm 8 điểm, mỗi điểm cách nhau 15 cm, giữa các băng ruộng là đường công tác rộng 20cm Đặt dây 2 thanh gỗ trên ruộng rồi cấy hàng mẫu theo các điểm trên dây
Cấy lúa: Sau khi có hàng mẫu đầu tiên, tiến hành cấy lúa thẳng hàng
theo chiều ngang và chiều dọc, cây cách cây 15cm, hàng cách hàng 15cm, mật độ 40 khóm/m2, lưu ý phải cấy lúa thẳng hàng, bởi cấy lúa thẳng hàng sẽ giúp cho cây sử dụng phân bón và ánh sáng một cách đồng đều, ruộng thông thoáng nên giảm sâu bệnh và tăng năng suất, giúp xác định điểm rõ ràng để bón phân chính xác, vì thế, bón sẽ dễ dàng và nhanh hơn Lưu ý để đạt năng suất cao, không nên cấy quá 5 dảnh trên 1 khóm mà chỉ nên cấy từ 2 - 3 dảnh/khóm Điều này giúp tiết kiệm giống, đồng thời sau này, ruộng lúa sẽ phát triển tốt hơn
Kỹ thuật bón phân viên cho lúa cấy: Để nâng cao hiệu lực cho phân
viên nén sâu thì ta nên chú ý: Điểm thứ nhất là thời điểm chúng ta bón phân viên nén sâu cho lúa sau khi lúa cấy 2 - 3 ngày Lúc đó, cây lúa bắt đầu bén rễ
và hồi xanh Điểm lưu ý thứ hai mà chúng ta cần lưu ý đó là kiểm soát mực nước trên ruộng lúa Khi bón phân viên sâu thì tốt nhất ta nên giữ mực nước trên ruộng từ 1 - 2cm là tốt nhất Nếu như mực nước quá sâu thì khi chúng ta đưa viên phân xuống, 1 phần viên phân sẽ bị hòa tan vào trong nước và sẽ giảm hiệu lực Trường hợp không có nước, nó sẽ bị dính tay và rất khó nâng
Trang 18cao được hiệu lực của phân viên nén sâu Điểm thứ ba, chúng ta cần lưu ý là chuẩn bị phân trước khi bón, lấy phân cho vào túi hoặc cho vào giỏ Sau đó, đeo theo người, khi lấy phân, nên nhớ lượng phân lấy phải đủ bón để đảm bảo được kỹ thuật bón phân viên nén sâu Thứ tư, khi bón phân viên sâu, khi bón xong, viên phân phải nằm định vị 1 chỗ Vì vậy, trong quá trình bước chân, bước tiến tránh không đạp trúng vào cây lúa mới cấy.
Phương pháp bón phân: Tay thuận bón phân dúi xuống sâu, tay còn
lại luôn luôn khô ráo để lấy phân ra khỏi giỏ phân, bón với độ sâu khoảng từ 7
- 8cm, để tính được đúng độ sâu như thế thì ta tính từ đầu ngón tay đến khi bùn chấm mu bàn tay là đảm bảo được độ sâu Sau khi bón xong, bà con dùng bàn tay thoa nhẹ bùn để lấp viên phân tại vị trí vừa bón, bởi vì khi bà con không thoa bùn, không lấp viên phân thì viên phân có thể nổi lên và lượng phân bay hơi và hoà tan vào trong nước, sẽ làm giảm hiệu lực của viên phân khi chúng ta bón sâu
Những lưu ý khi bón phân viên cho lúa cấy: Bón phân viên sau khi cấy
từ 2 - 3 ngày Mực nước trên ruộng khi bón từ 1 - 2cm Bước theo hướng đi tới để bón phân và đi trên đường công tác Bón phân viên giữa 4 khóm lúa, bón sâu xuống ruộng từ 7 - 8cm Bón xong, lấy tay thoa nhẹ bùn để lấp kín viên phân
Kỹ thuật bón phân viên cho lúa gieo thẳng: Lúa gieo thẳng hay còn
gọi là lúa sạ, bà con lưu ý nên áp dụng bón phân viên dúi sâu với các giống lúa cao sản, thấp cây và ruộng chủ động nước Bón phân viên dúi sâu cho lúa gieo thẳng tốn ít công mà năng suất vẫn đạt bằng, thậm chí cao hơn lúa cấy
Làm đất: Để áp dụng kỹ thuật bón phân viên, bà con nên chọn ruộng
thâm canh lúa gieo thẳng, chủ động tưới tiêu, làm kỹ đất bằng cách tăng số lần bừa cho mặt ruộng bằng phẳng
Lên luống: Sau khi làm phẳng mặt ruộng, để cho lắng bùn rồi chia
thành từng luống hay từng băng theo chiều dọc của ruộng, mỗi luống rộng
Trang 191,75m Giữa các luống, chừa đường công tác rộng khoảng 15cm Sau đó dùng cào gỗ có bảy răng, khoảng cách giữa các răng là 25cm, kéo dọc theo băng luống để tạo thành 7 đường rãnh, tạo dấu trên mặt luống Khi kéo, bà con lưu
ý 2 rãnh ngoài cùng cách mép luống 12,5cm và khi dúi phân, chỉ dúi trên các đường rãnh Thời điểm bón phân, ngay sau khi làm luống xong, đất ráo và vẫn còn mềm thì có thể tiến hành bón phân viên
Chuẩn bị phân viên: Có thể bỏ sẵn phân viên vào ca nhựa, xô hoặc thao,
lưu ý lượng phân viên trong ca phải đủ bón ít nhất 1 luống Vì nếu nửa chừng hết phân, quay lại lấy, khi trở lại, bà conkhông nhớ mình đã bón đến đâu
Cách dúi phân: Nên bước chân vào trong luống để dúi, dúi cho hết
hàng ngang đầu tiên, lưu ý, các điểm dúi phải đúng vào vị trí cách đường rãnh làm dấu Khi dúi xong hàng ngang, dùng mắt thường ước tính khoảng cách 25cm để dúi hàng tiếp theo cho đến khi hết ruộng Đối với hàng lúa sạ, thì đi lùi để dúi phân Lưu ý, 1 tay chuyên dùng để dúi phân, tay kia phải giữ khô ráo để lấy phân viên ở trong thao ra, dúi đến đâu, kéo thao đến đó, dúi phân viên sâu xuống ruộng từ 7 - 8cm tức là khoảng từ đầu ngón tay đến mu ngón tay, dúi xong, dùng tay xoa nhẹ bùn, lấp kín viên phân ngay tại điểm đó Sau
đó, đi trên đường công tác, dùng thanh gỗ cào nhẹ bùn để lấp hết các vết chân thẳng mặt luống để nó không đọng nước Sau đó, tiến hành xạ giống
Đối với đất cát hoặc đất cát pha thì bà con không nên áp dụng kỹ thuật bón phân viên dúi sâu, bởi vì đất này khả năng giữ phân rất kém nên khi chúng ta bón phân viên dúi sâu, phân sẽ bị rửa trôi xuống dưới và cây lúa không hút được phân Phải kiểm soát mực nước trong ruộng, nếu như trong điều kiện ruộng bị khô, nứt nẻ, không chủ động được nước thì không nên áp dụng kỹ thuật phân viên nén dúi sâu Bởi vì, trong điều kiện nứt nẻ như vậy thì phân sẽ bay hơi và không phát huy được hiệu lực của biện pháp kỹ thuật này Trong 30 ngày đầu, sau khi bà con bón phân, tuyệt đối không nên lội vào trong ruộng Nếu lội vào trong ruộng, chúng ta sẽ làm xê dịch vị trí viên phân
Trang 20mà trong kỹ thuật bón phân viên dúi sâu thì việc viên phân nằm đúng vị trí để phân bố dinh dưỡng cho cây lúa là rất cần thiết Trong trường hợp bà con vào ruộng chăm sóc lúa thì đi theo đường công tác chứ tuyệt đối không được lội vào trong ruộng trong khoảng thời gian 30 ngày sau khi chúng ta bón phân viên dúi sâu
Không nên bón phân viên dúi sâu sớm 2 ngày và muộn quá 7 ngày sau khi cấy đối với vụ Đông Xuân và muộn quá 3 ngày đối với vụ Mùa Vì lúa rất cần phân, nhất là phân đạm trong giai đoạn đầu Nếu dúi phân viên muộn sau
7 ngày, phân không kịp tan và lúa sẽ thiếu dinh dưỡng trong thời kỳ đầu Phân viên dúi sâu không bị mất đi do rửa trôi nên mới gieo cấy mà lúa ngập chết ngay, khi gieo cấy lại, không cần bón phân
Hiện nay, phân viên có các dạng như phân viên NPK, tức là phân viên
có chứa 3 nguyên tố đạm, lân và kali Phân viên NK là phân viên chỉ chứa đạm và kali, tuỳ tình hình điều kiện đất đai và sở thích, tập quán của từng nơi
mà sử dụng cho phù hợp
Đối với loại đất thông thường, bón viên nhỏ loại 2,4g tương đương với 14kg phân viên NPK/500m2 Nếu đất xấu, bón viên lớn loại 3,4g tương đương với 19kg phân viên NPK/500m2
Ngoài phân viên, bà con có thể bón thêm phân hữu cơ, phân chuồng, phân xanh hay phân vi sinh Đối với đất có độ mùn trung bình, bón thêm ít nhất 20kg lân và 7kg kali/500m2
Về nguyên tắc, lượng phân viên bón đủ cho cả vụ, vì thế lúa không tốt không phải do phân bón mà cần xác định do nguyên nhân gì có thể do các nguyên nhân như sâu bệnh, quản lý nước không tốt, ruộng bị khô hạn hoặc ngập úng, đất xấu, quá chua hay do thời tiết không thuận lợi Tuỳ trường hợp
mà có biện pháp xử lý thích hợp
1.3 Tình hình nghiên cứu và ứng dụng phân viên nén dúi sâu (FDP) trên thế giới và trong nước
Trang 21Theo nghiên cứu của Trung tâm Phát triển phân bón Quốc tế (IFDC), với cách bón vãi thông thường chỉ có khoảng 30-40% lượng phân urê được giữ lại trong đất và cung cấp cho cây lúa sử dụng, 60-70% lượng phân urê bị tổn thất do bị rửa trôi và bay hơi [13]
Phương pháp bón phân đạm dúi sâu được thực hiện ở Nhật Bản từ những năm 1930 và ở Ấn Độ từ những năm 1950 Sau đó, phương pháp này
đã được phát triển và áp dụng nhiều vùng trồng lúa khác nhau trên thế giới
Kỹ thuật bón phân viên nén dúi sâu cho lúa đã được áp dụng rất thành công ở nhiều nước châu Á như: Nhật Bản, Băngladesh, Nepal trong nhiều năm qua [11]
Về bản chất và kỹ thuật bón phân sâu có thể chia có thể chia làm hai phương pháp:
Phương pháp 1: Bón phân sâu không theo điểm, trong và ngay sau khi làm đất
Phương pháp 2: Bón phân sâu theo điểm ở dạng viên, viên trộn bùn và viên lớn, sau hoặc trong thời gian cấy
Mặc dù bón phân sâu không theo điểm đã nâng cao hiệu quả sử dụng phân bón và tương đối đơn giản nhưng phương pháp bón phân này không phát triển được trên diện rộng ở Nhật là do khó xác định được thời gian tưới (vùi sâu trước khi tưới) và khó vùi được toàn bộ đạm xuống sâu [11]
Bón phân viên theo điểm ở dạng viên lớn cho ruộng lúa cấy là một phương pháp bón mang lại hiệu quả sử dụng phân bón cao và là phương pháp tương đối mới Phương pháp này đã được nhiều tổ chức quốc tế đề nghị áp dụng trên diện rộng ở các nước đang phát triển trồng lúa Phương pháp này được nhiều nông dân ở các nước Nam và Đông Nam Á trồng lúa chấp nhận Mức độ chấp nhận phụ thuộc vào: Điều kiện khí hậu và điều kiện kinh tế xã hội; mối quan tâm của xã hội về vấn đề môi trường và giá phân bón Nhìn chung những vùng mưa tập trung, đất dốc, điều kiện kinh tế nông hộ còn khó
Trang 22khăn và nhất là khi giá phân bón tăng cao thì nông dân đều mong muốn chấp nhận biện pháp này để giảm lượng phân bón Nhiều vùng xung quanh thành phố lớn cũng mong muốn áp dụng phương pháp này chỉ vì bón có một lần, có điều kiện để cơ giới hóa, tiết kiệm thời gian cho các hoạt động tăng thu nhập khác [1]
Ở nước ta phương pháp này đã được áp dụng cho 18 tỉnh, thành phố gồm có: Quảng Nam, Thừa Thiên Huế, Quảng Trị, Quảng Bình, Nghệ An, Thanh Hóa, Ninh Bình, Hưng Yên, Hà Nội, Lào Cai, Yên Bái, Lai Châu, Sơn
La, Điện Biên, Cao Bằng, Hà Giang, Bắc Ninh, Bắc Giang Loại phân viên dúi sâu rất phù hợp với ruộng bậc thang, không bị rửa trôi, bốc hơi
Năm 2000, PGS TS Nguyễn Tất Cảnh đã thực hiện nghiên cứu sản xuất sản phẩm phân bón viên nén bằng nguồn kinh phí tự có, về sau có sự hỗ trợ kinh phí của Trung tâm Phát triển phân bón quốc tế (IFDC) và sự hỗ trợ của Tổ chức Phát triển quốc tế (IDE) trong việc thử nghiệm phân viên nén ở các tỉnh Từ năm 2004 đến năm 2006 đã tiến hành dự án sản xuất thử nghiệm
để hoàn chỉnh quy trình áp dụng và sản xuất phân viên nén Các loại phân viên nén (Urê nén, NK và NPK viên nén) được ép từ các loại phân đạm, phân lân và phân kali có dạng hình quả bàng, trọng lượng viên phân biến động từ 1,8g đến 4,1g tùy loại phân và chất phụ gia trộn vào trong phân Viên phân cứng, dễ dàng vận chuyển và đóng gói Phân cần bảo quản nơi khô ráo và đựng trong túi ni lon kín, nếu để ẩm các viên phân dễ gắn kết với nhau, dễ vỡ nát khi bón [2]
Phân Urê viên nén, NK và NPK viên nén đã được Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn công nhận là tiến bộ kỹ thuật theo quyết định số 1046 QĐ/BNN-KHCN ngày 11 tháng 5 năm 2005
Các loại phân viên nén bón cho lúa bằng hình thức bón sâu vào lớp đất
7 - 8cm, bón sau khi cấy lúa từ 1 - 5 ngày hoặc bón theo điểm trước khi gieo
sạ Lúa cần được cấy thẳng hàng, khi bón không có lớp nước trên mặt ruộng
Trang 23Tuỳ từng giống lúa và từng chân đất để sử dụng lượng phân viên nén khác nhau [2]
Kỹ thuật sử dụng phân viên nén này đã được in thành sách do NXB Nông nghiệp phát hành năm 2005 và đã được phát nhiều lần trên kênh truyền hình VTV2 và đài truyền hình các địa phương Hiện nay nghiên cứu vẫn đang được tiếp tục mở rộng theo hướng sản xuất ra phân viên tròn để dễ cơ giới hoá, tăng thời gian bảo quản viên phân, bổ sung các nguyên tố dinh dưỡng khác vào phân viên nén, mở rộng việc áp dụng phân viên nén cho các loại cây trồng khác
1.4 Tình hình nghiên cứu và ứng dụng hệ thống thâm canh lúa cải tiến (SRI) trên thế giới
Hệ thống thâm canh lúa cải tiến SRI do nhà khoa học người Pháp Fr.Laulaniere giới thiệu tại Madagasca vào những năm 1980, sau đó được Tiến sỹ Norman Uphoff thuộc Viện Quốc tế lương thực, nông nghiệp và phát triển của Trường Đại học Cornell (Hoa Kỳ) phổ biến rộng rãi
Theo Norman Uphoff (2009), hệ thống thâm canh lúa cải tiến làm giảm chế độ nước tưới cho cây lúa, ảnh hưởng tích cực đến đất và chất dinh dưỡng trong đất, có thể làm tăng năng suất 50 - 100% và có thể nhiều hơn SRI làm giảm lượng giống, phân bón, hóa chất nông nghiệp và thậm chí là lao động [20]
Phương pháp canh tác theo SRI đã chứng minh được rằng chúng có lợi thế khi áp dụng với các giống địa phương cũng như các giống lúa lai Năng suất cao hơn đã được khẳng định ở hàng loạt các quốc gia như Trung Quốc, Gambia, Ấn Độ, Indonexia, Mianma, Xrilanca Thực tế thì SRI bị chậm lại một phần là do ảnh hưởng bởi cuộc cách mạng xanh ở châu Á, cuộc cách mạng dựa trên giống mới và đòi hỏi đầu tư nhiều phân bón, nhiều nước [20] Phương pháp SRI trái ngược lại là không yêu cầu việc sử dụng giống mới và đầu tư nhiều từ bên ngoài Nông dân có thể tăng sản lượng của mình bằng cách tiếp tục trồng bất cứ giống gì mà họ đang sử dụng, làm giảm lượng hạt
Trang 24giống, nước tưới, phân bón và công lao động Tuy nhiên điều này khá đối lập với khả năng suy nghĩ và nhận thức của nhiều người nông dân
Phương pháp cach tác theo SRI đạt được năng suất cao hơn với ít cá thể cây trồng hơn, theo truyền thống những cánh đồng lúa được cấy 3-4 dảnh/khóm, khoảng cách giữa các hàng 10-20cm Với SRI chỉ cấy 1 dảnh thì khoảng cách giữa các cây ít nhất là 25cm với 18-25 cây/m2
thay vì 50-100 cây/m2 Rễ cây có thể lan đi mọi hướng, và tất cả các lá đều nhận được ánh sáng mặt trời đủ để bộ máy quang hợp hoạt động Việc trồng dầy là cơ sở thực tế dẫn đến hiện tượng lá sớm bị già cỗi, đặc biệt là ở sau giai đoạn sinh trưởng sinh dưỡng [20]
1.4.1 Những nghiên cứu SRI ở Ấn Độ
Ấn Độ là quốc gia có diện tích trồng lúa lớn nhất thế giới, và đứng thứ hai về sản lượng sau Trung Quốc Hơn một nửa diện tích trồng lúa nước, cung cấp hơn 75% sản lượng lúa gạo, đã tiêu tốn hết 50-60% nguồn nước ngọt rất hạn chế của đất nước này Dân số Ấn Độ được dự kiến sẽ tăng từ 1,15 tỷ lên 1,6 tỷ vào năm 2050, gây ra những sức ép mạnh mẽ đối với nguồn tài nguyên đất đai và tài nguyên nước [16]
SRI được đưa vào Ấn Độ từ năm 2000 khi các nhà nghiên cứu thuộc trường Đại học Nông nghiệp Tamil Nadu (TNAU) khởi xướng thí nghiệm liên quan đến các nguyên tắc của SRI trong một dự án hợp tác về trồng lúa sử dụng ít nước Năm 2003, một gói các biện pháp SRI đã được hình thành và thử nghiệm tại cánh đồng của 200 nông dân tại lưu vực sông Cauvery và Tamiraparani Kết quả ở hai lưu vực sông cho thấy sản lượng bình quân tăng 1,5 tấn/ha trong khi giảm chi phí sản xuất, thậm chí nhu cầu lao động giảm 8%/ha Đánh giá này tạo nền tảng cho việc chính thức khuyến cáo
áp dụng phương thức thâm canh lúa cải tiến cho nông dân vào năm 2004 [16]
Đồng thời, trường Đại học Nông nghiệp quốc gia tại Andhra Pradesh- Đại học Nông nghiệp Acharya N.G Ranga (ANGRAU), giới thiệu phương
Trang 25pháp SRI trên các ruộng lúa của nông dân trong vụ mùa năm 2003 Thử nghiệm so sánh đã được tiến hành trên các huyện của toàn bang Việc so sánh này đã tạo ra sự quan tâm chú ý trong toàn quốc khi kết quả chỉ ra rằng năng suất trung bình của ruộng lúa SRI tăng 2,5 tấn/ha - tăng 50% so với ruộng canh tác nước tập quán [16]
Năm 2005 và 2006, SRI tiếp tục được đánh giá tại Viện nghiên cứu về nông nghiệp Ấn Độ Trong tất cả các phương pháp canh tác thì phương pháp canh tác theo SRI cho nhiều cây cao là 82,5cm, sự tích lũy vật chất khô là 558 gr/m2, số lượng rễ là 312,27 cái Năng suất hạt đạt 47 tấn/ha, năng suất sinh vật học là 7,66 tấn/ ha Sản lượng của phương thức canh tác theo SRI tăng lên
so với các phương pháp khác là 5,2% Tuy nhiên SRI đã tiết kiệm được 14,5% lượng nước so với phương pháp thông thường [17]
Hiện nay, SRI được biết đến ở tất cả các bang trồng lúa tại Ấn Độ Ước tính, có khoảng 600.000 nông dân đang trồng lúa sử dụng toàn bộ hoặc từng phần các biện pháp SRI trên diện tích khoảng 1 triệu hecta thuộc 300 trong số
564 huyện trồng lúa của Ấn Độ SRI cũng đang được điều chỉnh để áp dụng tại những khu vực canh tác nhờ nước mưa tự nhiên [16], [17]
Đây có lẽ là tiến bộ nông nghiệp được triển khai áp dụng nhanh nhất ở quốc gia này, điều đó làm cho SRI trở thành một hiện tượng quốc gia rất điển hình với chi phí ít nguồn lực cho việc nhân rộng Hiện nay, WWF đang hướng đến việc áp dụng SRI trên những loại cây trồng khác đang “ khát” nước như mía và lúa mì
1.4.2 Tình hình nghiên cứu ở Trung Quốc
SRI bắt đầu được nghiên cứu và đánh giá ở Trung Quốc bắt đầu từ năm
1999 - 2000 sau khi các nhà nghiên cứu Trung Quốc đã được tiếp cận với SRI
từ bài viết ILEIA bởi Justin Rabenandrasana, vào năm 1999, và hội thảo của N.Uphoff về SRI tại Đại học Nam Ninh - Trung Quốc trong tháng 12 năm
1998 Thử nghiệm đầu tiên về SRI được thực hiện tại Đại học Nông nghiệp
Trang 26Nam Ninh của Tiến sỹ Cao Weixing, và Trung tâm Nghiên cứu và Phát triển lúa lai bởi Giáo sư Yuan Longping [21]
Chủ nhiệm khoa tài nguyên và môi trường tại Đại học Nông nghiệp Trung Quốc tại Bắc Kinh đã thử nghiệm kỹ thuật SRI trên cả hai nền đất trũng và đất cao đều đạt hiệu quả rất tốt Trung tâm Hội nhập và Phát triển nông nghiệp ở CAU có làm một đánh giá về tính kinh tế, xã hội, và chấp nhận của SRI tại cộng đồng Shichuan Vào năm 2003 chỉ có 7 nông dân ở làng Xinsheng là sử dụng phương pháp của SRI, nhưng đến năm 2004 đã có 398
hộ áp dụng (chiếm 65% tổng số dân ở đó) Năm 2003 là một năm mà hạn hán kéo dài, nhưng những ruộng lúa ứng dụng SRI thì cho năng suất cao hơn hẳn năng suất của vụ năm 2002 với phương pháp canh tác thông thường Trong khi đó với phương thức canh tác theo truyền thống năng suất bị giảm đi 1/3 Điều này đã giải thích tại sao mà SRI được chấp nhận nhanh đến vậy Năm
2004, SRI đã làm tăng năng suất lên 35,2%, tiết kiệm nước tưới tới 43,2% Theo những người nông dân thì nét đặc biệt hấp dẫn của SRI là giảm bớt được sức lao động theo cách cấy thông thường [21]
Năng suất bình quân của những ruộng lúa canh tác theo SRI đạt 10 tấn/ha, cao hơn so với phương pháp sản xuất truyền thống (năng suất 6 - 7,5 tấn/ha) Thậm chí với mô hình trình diễn ở tỉnh Zhejing, canh tác theo phương thức của SRI đã làm tăng năng suất lên 11,5 tấn/ha, những người nông dân ở đây đã cấy với khoảng cách hàng cách hàng là 50x50cm, và họ đã giảm được 30-40% lượng nước tưới sử dụng, 70% sâu bệnh hại [21]
Học viện Khoa học nông nghiệp Trung Quốc đã bắt đầu thử nghiệm về SRI từ năm 2001, trong năm này đã có hơn 100 địa điểm được tiến hành thử nghiệm, và sau khi thu hoạch thì có hơn 60 nơi có năng suất trung bình là 10,5 tấn/ha, so với phương pháp thông thường là 7,5 tấn/ha, tăng hơn 3 tấn/ha Đặc biệt phương thức canh tác theo SRI sử dụng ít nước hơn và giảm công lao động của người nông dân
Trang 27Cuộc họp chiến lược về phát triển lúa gạo được tổ chức tại Bắc Kinh - Trung Quốc, tham gia hội nghị có đại biểu của các viện nghiên cứu Sản lượng gạo của Trung Quốc trong 5 năm trở lại đây là vấn đề được nhấn mạnh tại hội nghị Vấn đề đặt ra là phải khôi phục lại sản xuất lúa gạo tại Trung Quốc Kỹ thuật SRI đã được đề nghị đẩy mạnh tại 12 tỉnh, và sẽ được mở rộng tới tất cả người nông dân Cho đến năm 2007 tại tỉnh Tứ Xuyên - Trung Quốc đã có 120.000 ha trồng lúa áp dụng phương pháp thâm canh lúa cải tiến SRI, tại tỉnh Chiết Giang là 110.000 ha [21]
Phương pháp SRI được áp dụng rộng rãi ở Trung Quốc là: cấy mạ non, tiết kiệm được lao động và hạt giống, giảm thủy lợi, tiết kiệm nước,
sử dụng nhiều phân bón hữu cơ, sử dụng ít phân bón vô cơ, góp phần nhiều vào nền nông nghiệp bền vững
1.4.3 Tình hình nghiên cứu ở Thái Lan
Thử nghiệm ban đầu về SRI tại Thái Lan do Trung tâm MCC (Multiple Cropping Center) tại Đại học Chiangmai, nhưng thử nghiệm ban đầu đã không thành công MCC tiếp tục làm thí nghiệm với phương pháp SRI cùng với MRC (Mcken Rehabilitation Center) tại Chiangmai cùng với các tổ chức khác tại Thái Lan Một mạng lưới về SRI quốc gia đã được hình thành
Thí nghiệm SRI đầu tiên tại MCC bằng việc sử dụng hai giống lúa nếp
và ba giống lúa tẻ, với đặc điểm sinh trưởng mẫn cảm với ánh sáng, đã được trồng theo phương pháp canh tác truyền thống và theo chế độ quản lý của SRI, cấy mạ non 7 ngày tuổi Cấy theo khoảng cách rộng 25x25cm, và cấy 1 dảnh/khóm Một cuộc hội thảo đầu bờ đã diễn ra ngày 10/05/2001, những người nông dân đã nhìn thấy hiệu quả cuả việc mạ non và cấy 1 dảnh với năng suất đạt được là 5,11 tấn/ha so với phương pháp truyền thống chỉ đạt 4,3 tấn/ha [18]
Đội ngũ cán bộ nông nghiệp của MCC đã chia sẻ những báo cáo kinh nghiệm có được về SRI từ Madagasca và Xrilanca với các thành viên khác
Trang 28của mạng lưới nông nghiệp bền vững miền Bắc Thái Lan (Northern Thai Sustainable Agriculture Network) Đội ngũ này cũng bắt đầu dự thảo một cuốn sách giáo khoa nhỏ bằng tiếng Thái để phổ biến về SRI được dễ dàng Khi kỹ thuật SRI đã trở nên nổi tiếng thì những người nông dân địa phương
đã quan tâm rất nhiều đến các vấn đề như: nguồn cung cấp dinh dưỡng hữu
cơ, sâu bệnh hại, kiểm soát ốc biêu vàng, , đặc biệt người dân quan tâm đến các chế độ quản lý nước và diệt trừ cỏ dại [19], [22]
1.5 Tình hình nghiên cứu và ứng dụng hệ thống thâm canh lúa cải tiến (SRI) ở Việt Nam
Ở Việt Nam vụ Xuân năm 2003, ông Ngô Tiến Dũng - Cục Bảo vệ thực vật bắt đầu nghiên cứu về kỹ thuật SRI đầu tiên thông qua chương trình IPM tại Hà Nội, bao gồm mật độ gieo mạ và mật độ cấy đối với giống lúa thuần và lúa lai Kết quả cho thấy ở đất tốt mật độ cấy thưa lúa tốt hơn so với kỹ thuật thông thường Kết quả nghiên cứu năm 2006 cho thấy số nhánh đẻ hữu hiệu tăng trong vụ Mùa (26,7%) cao hơn so với vụ Xuân (25%), năng suất lúa đạt cao nhất ở tỉnh Hà Tây, vụ Mùa tăng 42% và vụ Xuân tăng 41%, mặc dù mật
và cần được phổ biến, áp dụng rộng rãi [3], [4]
Trang 29Từ vụ Xuân 2004 tại Thái Nguyên và Bắc Giang, PGS.TS Hoàng Văn Phụ và cộng sự đã tiến hành nghiên cứu thí nghiệm SRI trong hai năm trên cả giống lúa thuần và lúa lai [5], [6]
Qua thời gian nghiên cứu đã cho những kết quả:
- Sinh trưởng của cây lúa: Sự khác biệt giữa kỹ thuật SRI và các biện
pháp kỹ thuật thông thường hiện đang áp dụng đó là cấy mạ non hơn, mật độ cấy thưa hơn, chế độ tưới nước hợp lý đã cung cấp đầy đủ Oxy trong đất làm
bộ rễ lúa phát triển mạnh ngay sau khi cấy, sự sinh trưởng mạnh thể hiện rõ nhất ở khả năng đẻ nhánh cao Mặc dù mật độ cấy ở các công thức SRI rất thưa, chỉ bằng 30 - 40% so với đối chứng, nhưng do cây lúa ít bị cạnh tranh
về dinh dưỡng và ánh sáng nên cây lúa đẻ nhánh sớm, đẻ khỏe và đạt số nhánh/khóm rất cao và kết quả là số nhánh/m2 ở các công thức SRI không thấp hơn nhiều so với đối chứng Đồng thời không thấy có sự sai khác có ý nghĩa về tỷ lệ đẻ nhánh hữu hiệu giữa công thức đối chứng và các công thức SRI [5], [6]
- Khả năng chống chịu bệnh khô vằn: Với mật độ cấy thưa, chế độ
nước cạn xen kẽ, kỹ thuật SRI đã tạo môi trường thông thoáng hơn trong quần thể ruộng lúa do đó đã làm giảm tỷ lệ mắc bệnh khô vằn rõ rệt Trong thí nghiệm vụ Xuân 2005 tại Thái Nguyên, tỷ lệ bệnh khô vằn của lúa từ 70% ở công thức đối chứng giảm xuống còn 50,8% và 17,9% ở các công thức có mật
độ là 17 - 13 khóm/m2 Ưu thế này cũng được quan sát trên đồng ruộng của nông dân huyện Yên Dũng - Bắc Giang khi áp dụng kỹ thuật SRI Như vậy việc giảm mật độ cấy có thể làm giảm nhiệt độ, độ ẩm tương đối trong quần thể ruộng lúa và làm giảm các tác nhân gây hại của bệnh khô vằn, làm hiệu suất quang hợp và hệ số kinh tế tăng lên [5], [6]
- Năng suất lúa: các yếu tố kỹ thuật của SRI đã tạo một điều kiện
thuận lợi cho các đặc điểm di truyền của cây lúa phát huy tác dụng, được thể hiện ở các yếu tố cấu thành năng suất Các công thức SRI mặc dù có số
Trang 30bông/m2 thấp hơn so với đối chứng, nhưng lại có ưu thế vượt trội về bông to
và số hạt chắc/bông Chính những điều này đã quyết định năng suất của lúa khi áp dụng SRI cao hơn hẳn so với đối chứng (vụ 2004 - 2005) Tùy theo việc áp dụng các biện pháp đơn lẻ hay tổng hợp kỹ thuật SRI mà năng suất lúa hơn so với đối chứng từ 4 - 24% Tại Thái Nguyên vụ Xuân 2005 giống Khang Dân 18 được cấy ở tuổi mạ 14 ngày, mật độ 11 khóm/m2 và áp dụng chế
độ nước tưới theo SRI năng suất đạt 8,53 tấn/ha, vượt đối chứng 23,2% và giống Khang Dân 18 cấy trong vụ Mùa ở tuổi mạ 14 ngày, mật độ cấy 17 khóm/m2 chế
độ nước tưới theo SRI năng suất đạt 6,23 tấn/ha, vượt đối chứng 24,3% [5], [6]
- Hiệu qủa kinh tế: Áp dụng kỹ thuật SRI làm chi phí hạt giống
giảm từ 56 - 76%, tiết kiệm nước 62%, giảm công cấy và thuốc trừ sâu, trong khi đó năng suất lúa tăng lên Do đó kỹ thuật SRI làm tăng hiệu quả
sử dụng đất, lao động, đầu tư và tăng thu nhập Kết quả này cũng phù hợp với kết qủa nghiên cứu SRI ở Đông Trù, Đông Anh, Hà Nội giảm chi phí giống 85%, thuốc trừ sâu 50%, năng suất tăng 21% [5], [6]
- Bảo vệ môi trường và phát triển nông nghiệp bền vững: Phân tích vài
đặc điểm của SRI về khía cạnh môi trường cho thấy để đạt năng suất lúa cao, SRI không yêu cầu tăng cường phân bón hóa học, trong khi đó lại giảm thuốc trừ sâu do cây lúa sinh trưởng và phát triển mạnh nên có thể chống chịu tốt hơn về sâu bệnh hại Điều này có thể giảm việc sử dụng thuốc trừ sâu bệnh và thuốc trừ cỏ, do đó nâng cao chất lượng đất và nước
Các biện pháp quản lý cây trồng, đất, nước, dinh dưỡng của SRI góp phần tăng cường sự hoạt động và đa dạng của hệ vi sinh vật đất, làm cho đất
“sống và khỏe” hơn, đó là nhân tố quyết định đến tính bền vững trong hệ thống sản xuất lúa [5], [6]
Theo ông Brian Lund, trưởng đại diện tổ chức Ofram tại Việt Nam, chương trình “tăng cường năng lực cho nông dân trồng lúa quy mô nhỏ ở miền Bắc” là một hợp phần quan trọng trong chương trình sinh kế cấp vùng
Trang 31do Oxfam thực hiện tại Campuchia, Việt Nam và Lào với sự hợp tác của Cục BVTV, Tổ chức Oxfam Quebec, Trung tâm Phát triển nông thôn bền vững và Đại Học Nông Nghiệp Hà Nội
Với việc tăng cường năng lực kỹ thuật cho người nông dân, chương trình đã hỗ trợ mở rộng ứng dụng SRI tại 6 tỉnh là: Hà Nội, Yên Bái, Phú Thọ, Bắc Giang, Thái Nguyên, Nghệ An và Hà tĩnh Tới thời điểm vụ Xuân
2009 trên toàn quốc đã có 264.000 nông dân áp dụng toàn phần và từng phần SRI trên 85.422 ha tại 21 tỉnh miền Bắc, trong đó tại 6 tỉnh chương trình hỗ trợ, số nông dân áp dụng và diện tích áp dụng chiếm 43% Việc áp dụng SRI làm giảm chi phí đầu vào, tăng năng suất làm lợi thêm cho nông dân từ 1,8 – 3,5 triệu đồng/ha/vụ [14]
Ứng dụng SRI mang lại hiệu quả về mọi mặt kinh tế, xã hội và môi trường, ngoài ra canh tác theo SRI còn thể hiện rất tốt ưu thế đối phó của cây lúa đối với những tác động của BĐKH như: tăng khả năng chống đổ của cây lúa, cây lúa khỏe hơn có thể chống chịu tốt hơn trong điều kiện bão gió; tăng khả năng kháng sâu bệnh giúp cho cây lúa có thể chống chịu được tốt hơn sự tấn công của dịch bệnh, đặc biệt là những loại mới xuất hiện, nông dân chưa
có kinh nghiệm đối phó; Canh tác theo SRI có thể tiết kiệm được 30% lượng nước tưới, điều này rất hữu ích trong điều kiện khan hiếm nguồn nước tưới Ngoài ra, canh tác theo SRI có thể góp phần hạn chế tác động gây hiệu ứng nhà kính [14]
Tại Hà Nội năm 2008 đã tổ chức 73 lớp tập huấn nông dân và 103 mô hình ứng dụng SRI trên diện rộng, tổ chức tập huấn cấp huyện cho lãnh đạo
xã, hợp tác xã và khuyến nông cơ sở, tổ chức 4 trung tâm đào tạo 120 giảng viên nông dân, in và cấp 20.000 tờ rơi và 360 đĩa hình hướng dẫn về SRI Được sự hỗ trợ và khuyến khích vụ Xuân đã có 33.433 ha ứng dụng SRI, vụ Mùa 35.150 ha Khi áp dụng phương pháp này lượng hạt giống đã giảm từ 62 kg/ha xuống còn 14,3 kg/ha, giảm gần 48 kg Lượng đạm giảm từ 164 kg/ha
Trang 32xuống còn 125 kg/ha, giảm 3 - 4 lần nước tưới/vụ, tương đương với 30 - 40 chi phí tưới Nhờ ruộng thông thoáng, lúa được bón phân cân đối nên sâu bệnh ít, cụ thể bệnh khô vằn giảm 2,8 lần, sâu cuốn lá nhỏ giảm 3,7 lần, rầy nâu giảm 6 lần Do tất cả diện tích ứng dụng SRI những vụ qua đều không phải sử dụng thuốc BVTV Nỗi lo về ô nhiễm môi trường, độc hại do sử dụng thuốc BVTV cũng được giảm tới mức tối đa Trong khi giảm hẳn những chi phí đầu vào như vậy mà năng suất tăng 7,4 tạ/ha/vụ, chi phí sản xuất giảm 2,1
tr đồng/ha/vụ Hiệu quả kinh tế tăng 6,17 tr đồng /ha/vụ [12]
Nhờ có sự tác động của cơ chế chính sách, sự hỗ trợ của nhà nước nên chỉ chưa đầy 3 năm đã có trên 40 % diện tích gieo trồng của Hà Nội được áp dụng SRI và sẽ tăng mạnh trong những năm tới Theo Chi cục BVTV Hà Nội, nếu thành phố có những chính sách khuyến khích thỏa đáng, từ nay đến 2015, thành phố Hà Nội sẽ cơ bản thay thế được cách thâm canh truyền thống của nông dân Điều đó đồng nghĩa với việc cho dù diện tích cấy lúa của Thủ đô
có bị thu giảm nhưng sản lượng vẫn sẽ đảm bảo [12]
Tại tỉnh Phú Thọ nhằm giúp nông dân giảm chi phí đầu vào trong canh tác sản xuất lúa, tăng năng suất bảo vệ môi trường sinh thái và sức khỏe con người Năm 2008, được sự giúp đỡ của Trung tâm Phát triển nông thôn bền vững (SRD), Chi cục Bảo vệ thực vật Phú Thọ đã triển khai xây dựng mô hình áp dụng biện pháp thâm canh lúa cải tiến (SRI) tại 20 khu của 2 xã Cao
Xá và Kinh Lệ của huyện Lâm Thao Diện tích mô hình gần 3 ha với 67 hộ tham gia Trên mô hình đã tiến hành các công thức thí nghiệm như: mật độ cấy/m2, liều lượng bón phân đạm, kali, và so sánh đối chứng với ruộng canh tác theo tập quán của nông dân Kết quả bước đầu cho thấy, áp dụng các biện pháp kỹ thuật của SRI đã giảm lượng giống, lượng nước tưới, lượng đạm bón thừa và thuốc bảo vệ thực vật từ đó hiệu quả kinh tế cao hơn so với tập quán canh tác của nông dân
Trang 33Về giống: tại mô hình cấy giống KD18 và BTST Lượng giống làm
theo SRI là 11 kg/ ha, giảm 66 - 80% so với tập quán; trong đó KD18 giảm là 44,5 kg/ha, BTST giảm 22 kg/ha
Về phân bón: bón phân theo SRI thì lượng đạm giảm so với tập quán
nông dân là 33% (tương đơng 84 kg/ha), NPK giảm 25% (tương đương 139 kg/ha), tăng lượng kali 50% (tương đương 55,5 kg/ha)
Về nước tưới: lượng nước tưới theo SRI giảm 2 - 3 lần tưới/ vụ, tương
đương giảm 20 - 30% chi phí bơm nước Bên cạnh đó, việc điều tiết nước theo giai đoạn phát triển của cây lúa sẽ làm giảm độ chua, giảm chất độc có trong đất, kích thích bộ rễ phát triển, tăng khả năng đẻ nhánh, tạo điều kiện cây trồng sinh trưởng phát triển tốt
Về thuốc BVTV: làm theo SRI ruộng lúa thông thoáng hơn, cứng cây
hơn, ít sâu bệnh hơn do số lần phun thuốc BVTV giảm 1,6 lần so với làm theo tập quán
Về hiệu quả kinh tế: làm theo SRI chi phí giảm so với tập quán từ 377.000 - 1.759.000 đồng/ha Lãi tăng hơn so với tập quán từ 2.414.000 - 4.971.000 đồng/ha, giá thành sản phẩm giảm từ 317 - 477 đồng/kg thóc
Để đạt được năng suất cũng như hiệu quả kinh tế cao trong sản xuất thâm canh cây lúa, kỹ thuật đòi hỏi phải cấy mạ non từ 1,8 – 2,5 lá, cấy thưa
35 - 40 khóm/m2, cấy 1 dảnh/ khóm, cấy nông tay Thực hiện quản lý điều tiết nước như rút nước giai đoạn sinh trưởng dinh dưỡng, giữ nước nông 3 - 5
cm, giai đoạn sinh trưởng sinh thực Cầy bừa, làm đất kỹ, làm cỏ sớm khi cỏ chưa mọc kết hợp sục bùn phá váng Bón phân đầy đủ, cân đối và hợp lý Thường xuyên kiểm tra thăm đồng phát hiện sớm để chủ động phòng trừ kịp thời khi sâu bệnh đến ngưỡng [10]
Vĩnh Phúc là một tỉnh trung du, nền nông nghiệp tương đối phát triển với đủ các loại cây trồng, rau màu, cây ăn quả,… nhưng chủ yếu vẫn là cây lúa Diện tích gieo trồng hai vụ khoảng 70.000 ha đã cho sản lượng lúa từ 330
Trang 34- 350 nghìn tấn lương thực Vụ Mùa 2005, chi cục BVTV Vĩnh Phúc đã triển khai được 8 mô hình trình diễn “3 giảm 3 tăng” mỗi mô hình 1 ha với 20 hộ tham gia Kết quả năng suất mô hình đạt 5,71 tấn/ha cao hơn ruộng đối chứng 13% Vụ Mùa 2009, Chi cục cho triển khai ba mô hình SRI Kết quả cho thấy lượng thóc giống giảm 22 - 28 kg/ha, thuốc BVTV giảm 1,2 lần, giảm công lấy nước vào ruộng, năng suất đạt 5,7 – 6,46 tấn/ha trong khi ruộng nông dân năng suất đạt 5,23 – 5,89 tấn/ha
Thấy được lợi ích của việc áp dụng SRI, vụ Mùa 2010, Chi cục BVTV tỉnh Vĩnh Phúc đã thực hiện đề tài cấp tỉnh nhằm nhân rộng mô hình SRI trên diện rộng Mô hình đã được triển khai trên toàn tỉnh với diện tích thử nghiệm
là 50 ha Qua triển khai, đề tài đã thu được một số kết quả như: năng suất lúa tăng 13% và tăng hiệu quả kinh tế 10 - 15%; giảm 50% thuốc BVTV; tiết kiệm 40 - 50% nước tưới Như vậy, hiệu quả trung bình của mô hình áp dụng SRI tăng so với canh tác theo tập quán là 3 triệu đồng/ha [7]
1.6 Đánh giá chung
Kết quả tổng quan về vấn đề nghiên cứu và ứng dụng mô hình canh tác lúa cải tiến SRI và mô hình canh tác lúa sử dụng phân viên nén dúi sâu FDP cho thấy:
- Ở nước ngoài, đã có những nghiên cứu áp dụng canh tác lúa cải tiến SRI, đã có những nghiên cứu áp dụng phân viên nén dúi sâu trong canh tác lúa, nhưng lại chưa có nghiên cứu nào như vậy tại huyện Văn Chấn – tỉnh Yên Bái
- Tại Việt Nam, đã có không ít những nghiên cứu về mô hình canh tác lúa cải tiến SRI, nghiên cứu về canh tác lúa áp dụng phân viên nén dúi sâu FDP, nhưng chưa có những nghiên cứu đánh giá các yếu tố ảnh hưởng đến sự phát triển của các mô hình này cũng như đánh giá những tác động của các mô hình này đến môi trường và vấn đề nông nghiệp thích ứng với BĐKH, đảm bảo ANLT
Trang 35- Các nghiên cứu về mô hình canh tác lúa cải tiến SRI và canh tác lúa
sử dụng phân viên nén dúi sâu FDP, có nghiên cứu thiên về yếu tố kỹ thuật,
có nghiên cứu thiên về yếu tố kinh tế, cũng có tác giả chỉ nghiên cứu về nhân
tố xã hội,… song chƣa có nghiên cứu nào vừa kết hợp giữa phân tích định lƣợng và định tính, đồng thời đề cập một cách toàn diện tới tác động của tất
cả các nhân tố kể trên Đó chính là sự cần thiết phải tiến hành nghiên cứu này tại huyện Văn Chấn – tỉnh Yên Bái
Trang 36Chương 2 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
2.1.1 Đối tượng nghiên cứu
2.1.2 Phạm vi nghiên cứu
* Phạm vi về không gian: huyện Văn Chấn
* Phạm vi về thời gian: từ tháng 7/2013 – tháng 08/2014
2.2 Nội dung nghiên cứu
- Nội dung 1: Đánh giá điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội và tình hình sản
xuất nông nghiệp của huyện Văn Chấn
- Nội dung 2: Đánh giá tình hình hiện trạng và hiệu quả kinh tế - xã hội – môi
lương thực và bảo vệ môi trường
2.3 Phương pháp nghiên cứu
2.3.1 Phương pháp thu thập số liệu
2.3.1.1 Phương pháp tham khảo kế thừa tài liệu
- Kế thừa các tài liệu, số liệu có sẵn về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của khu vực nghiên cứu từ các cơ quan nhà nước, chính quyền địa phương
- Các số liệu được kế thừa một cách có chọn lọc, đảm bảo tính chính thống, cập nhật, đáp ứng được độ chính xác yêu cầu
Trang 372.3.1.2 Phương pháp đánh giá nhanh nông thôn (PRA)
- Điều tra phỏng vấn trực tiếp người dân địa phương, chủ hộ sản xuất bằng bộ câu hỏi và phiếu điều tra lập sẵn (phụ biểu 01) để thu thập các thông tin, số liệu sơ cấp đánh giá hiệu quả kinh tế, tác động xã hội và khả năng bảo
- Sử dụng ma trận SWOT (Strengths, Weaknesses, Opportunities and
Threats): phân tích đánh giá các điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội và thách thức
khi áp dụng các kỹ thuật canh tác lúa cải tiến
2.3.1.3 Phương pháp điều tra ngoại nghiệp
- Đầu tiên tiến hành điều tra sơ bộ khu vực nghiên cứu, xác định hiện trạng các mô hình canh tác lúa trên địa bàn nghiên cứu (số lượng, quy mô, phạm vi phân bố)
- Xác định năng suất và hiệu quả kinh tế (của các cây trồng ở các công thức, mô hình nghiên cứu)
2.3.1.4 Phương pháp lấy mẫu đất phân tích
- Mẫu đất nông hóa dùng để nghiên cứu phân tích các thành phần trong đất tại các địa điểm nghiên cứu, có so sánh với mẫu đối chứng
- Mẫu đất nông hóa là mẫu hỗn hợp, lấy được bằng cách trộn đều nhiều mẫu riêng biệt lấy từ nhiều vị trí khác nhau trên vùng đất mà mẫu đó đại diện
- Mẫu đất lấy ở độ sâu canh tác, tùy theo đặc điểm cây trồng, độ sâu bón phân và yêu cầu nghiên cứu để quy định độ sâu lấy mẫu thích hợp Ở đây
ta lấy ở hai tầng : 0 – 20 cm
Trang 38- Mỗi mẫu đất trồng lấy theo kiểu hỗn hợp gồm từ 15 - 25 mẫu đất riêng biệt trộn đều với nhau Lấy mẫu hỗn hợp có khối lượng khoảng 0,5 kg
- Lấy mẫu theo quy tắc đường thẳng góc: lấy một điểm A ở trung tâm đám đất, kẻ 2 đường thẳng vuông góc với nhau qua A Theo 2 đường thẳng vuông góc, lấy mẫu thứ nhất ở A và tùy theo diện tích và số mẫu định lấy để xác định khoảng cách giữa vị trí hai mẫu (Hình 1)
Hình 1: Vị trí lấy mẫu đất
- Mẫu đất được gói bằng túi polyetylen Mỗi mẫu đất đều phải có nhãn ghi rõ:
- Số hiệu hoặc ký hiệu của mẫu
- Địa điểm lấy mẫu
- Vị trí lấy mẫu
- Độ sâu lấy mẫu
- Ngày, tháng, năm lấy mẫu
- Tên họ người lấy mẫu
- Thời gian và địa điểm lấy mẫu đất: Lấy mẫu đất tại các mô hình trồng lúa theo SRI, FDP và ruộng canh tác truyền thống Chia làm 2 đợt, trước vụ gieo cấy và sau khi thu hoạch
- Số lượng: 16 mẫu
Mẫu phân tích gửi về phòng phân tích hóa học của Viện Khoa học sự sống – Trường Đại học Nông lâm Thái Nguyên Phân tích chỉ tiêu: PH đất, N tổng số, P tổng số, K tổng số và OM (theo các phương pháp của các phòng
Trang 39để từ đó có những đánh giá chung nhất, những kiến nghị và giải pháp hiệu quả nhất nhằm phát triển mở rộng mô hình, nâng cao hiệu quả của mô hình
2.3.3 Phương pháp tham khảo ý kiến chuyên gia
Đánh giá hiệu quả các mô hình canh tác lúa tại địa phương, đồng thời tham khảo ý kiến của các cán bộ khoa học, cán bộ quản lý, cán bộ kỹ thuật và những chủ hộ có kinh nghiệm để rút ra những kết luận cần thiết phục vụ cho quá trình nghiên cứu
2.3.4 Phương pháp xử lý số liệu, tính toán, đánh giá hiệu quả kinh tế
Số liệu điều tra được tổng hợp, tính toán và xử lý trên phần mềm Excel
2.3.4.1 Các chỉ tiêu phản ánh kết quả
- Tổng giá trị sản xuất (GO)
Là toàn bộ của cải vật chất và dịch vụ được tạo ra trong một kỳ nhất định (thường là một năm hoặc một vụ) Đối với hệ thống cây trồng, tổng giá trị sản xuất chính là giá trị sản lượng trên đơn vị diện tích (ha)
GO = tổng xích ma (Di x Ni x Gi)
Di là diện tích cây trồng loại i
Ni là năngsuất cây trồng loại i
Gi là đơn giá tương ứng
Trang 40- Chi phí trung gian (IC)
Là toàn bộ chi phí vật chất và dịch vụ bỏ ra trong quá trình sản xuất
- Tổng chi phí (TC): là toàn bộ các khoản chi phí vật chất bằng tiền bao gồm cả khấu hao tài sản cố định tham gia vào trong quá trình sản xuất tạo ra sản phẩm đó Trong sản xuất trồng trọt chi phí vật chất thường bao gồm chi phí trung gian cộng với lao động, khấu hao tài sản cố định
- Giá trị gia tăng (VA): Là giá trị tăng thêm của người sản xuất khi đầu
tư vào trong sản xuất Và được tính bằng hiệu số giữa giá trị sản xuất với chi phí trung gian:
VA = GO - IC Đây là chỉ tiêu luôn nhận được sự quan tâm của ngưới sản xuất Đặc biệt là trong các quyết định ngắn hạn Bởi lẽ nó phản ánh các kết quả của việc đầu tư các chi phí vật chất và lao động của từng hộ và khả năng quản lý của chủ hộ
- Thu nhập hỗn hợp (MI): Là phần chi trả cho lao động chân tay, lao đông quản lý của hộ nông dân cùng phần tiền lãi thu được trên mỗi mô hình kinh tế hoặc từng loại cây trồng vật nuôi
2.3.4.2 Các chỉ tiêu phản ánh hiệu quả kinh tế
- Nhóm chỉ tiêu phản ánh hiệu quả sản xuất trên một đơn vị diện tích + GO/ha + VA/ha
- Nhóm chỉ tiêu phản ánh hiệu quả của vốn đầu tư
+ MI/IC GO/TC + VA/IC
- Nhóm chỉ tiêu phản ánh hiệu quả lao động
+ GO/lao động (Lđ) MI/lao động (Lđ) VA/lao động(Lđ) + GO/TC, Giá trị sản xuất trên 1 đồng chi phí sản xuất
Là chỉ tiêu phản ánh kết quả của một đồng chi phí sản xuất