- Giám sát sự lưu hành của virus cúm H5N1 trong đàn gà, vịt được tiêm phòng vaccine tại tỉnh Hà Tây cũ thông qua việc xác định hàm lượng kháng thể virus cúm trên gia cầm, thủy cầm.. Ý ng
Trang 1MẠC PHƯƠNG THANH
ĐÁNH GIÁ ĐÁP ỨNG MIỄN DỊCH TRÊN ĐÀN GIA CẦM SAU
PHÒNG CHỐNG DỊCH CÚM GIA CẦM TẠI HÀ NỘI
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC NÔNG NGHIỆP
Thái Nguyên, năm 2010
Trang 2MẠC PHƯƠNG THANH
ĐÁNH GIÁ ĐÁP ỨNG MIỄN DỊCH TRÊN ĐÀN GIA CẦM SAU
PHÒNG CHỐNG DỊCH CÚM GIA CẦM TẠI HÀ NỘI
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC NÔNG NGHIỆP
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các số liệu
và kết quả nghiên cứu được trình bày trong luận văn là trung thực, khách quan
và chưa từng được ai công bố trong bất cứ công trình nào khác
Tôi xin cam đoan rằng mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này
đã được cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn đều đã được ghi rõ nguồn gốc
Tác giả luận văn
Mạc Phương Thanh
Trang 4PGS.TS Tô Long Thành và TS Nguyễn Quang Tính là người hướng dẫn khoa học trực tiếp, đã hướng dẫn nhiệt tình, tạo mọi điều kiện thuận lợi
và đóng góp nhiều ý kiến quan trọng qua từng bước nghiên cứu trong quá trình hoàn thành luận văn
Ban lãnh đạo, cán bộ công nhân viên trong bộ môn virus, Trung tâm Chẩn đoán Thú y Trung Ương đã tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong thời gian thực tập
Tập thể cán bộ, nhân viên Chi cục Thú y Hà Nội đã giúp đỡ tôi trong quá trình thu thập số liệu và lấy mẫu xét nghiệm để thực hiện luận văn
Nhân dịp này tôi xin được bày tỏ lời cảm ơn sâu sắc tới gia đình, người thân và bạn bè đã động viên, giúp đỡ tôi vượt qua mọi khó khăn trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu, thực hiện đề tài
Một lần nữa tôi xin được bày tỏ lòng biết ơn chân thành tới những tập thể, cá nhân đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi hoàn thành chương trình học tập
Tác giả luận văn
Mạc Phương Thanh
Trang 5MỤC LỤC
Trang
Lời cam đoan i
Lời cảm ơn ii
Mục lục iii
Danh mục ký hiệu, chữ viết tắt vi
Danh mục bảng vii
Danh mục các hình ix
MỞ ĐẦU 1
1 Đặt vấn đề 1
2 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài 2
3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn 2
Chương I: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3
1.1 Tổng quát về bệnh cúm gia cầm 3
1.1.1 Giới thiệu chung về bệnh cúm gia cầm 3
1.1.2 Lịch sử bệnh cúm gia cầm 3
1.2 Tình hình dịch cúm gia cầm trong nước và trên thế giới 5
1.2.1 Tình hình dịch cúm gia cầm ở Việt Nam 5
1.2.2 Tình hình dịch cúm gia cầm trên thế giới 8
1.3 Đặc điểm sinh học của virus cúm typ A 12
1.3.1 Đặc điểm cấu trúc chung của virus thuộc họ Orthomyxoviridae 12
1.3.2 Đặc điểm hình thái, cấu trúc của virus cúm typ A 13
1.3.3 Đặc tính kháng nguyên của virus cúm typ A 15
1.3.4 Thành phần hóa học 17
1.3.5 Quá trình nhân lên của virus 17
1.3.6 Độc lực của virus 19
1.3.7 Danh pháp 20
Trang 61.3.8 Nuôi cấy và lưu giữ virus cúm gà 21
1.4 Dịch tễ học bệnh cúm gà 21
1.4.1 Phân bố dịch bệnh 21
1.4.2 Động vật cảm nhiễm 21
1.4.3 Động vật mang virus 21
1.4.4 Sự truyền lây 22
1.4.5 Sức đề kháng của virus cúm 23
1.4.6 Mùa vụ phát bệnh 23
1.5 Triệu chứng, bệnh tích của bệnh cúm gia cầm 24
1.5.1 Triệu chứng lâm sàng của bệnh cúm gia cầm 24
1.5.2 Bệnh tích đại thể của bệnh cúm gia cầm 25
1.5.3 Bệnh tích vi thể 25
1.6 Chẩn đoán bệnh 25
1.7 Kiểm soát bệnh 26
1.8 Vaccine cúm gia cầm 27
1.9 Nghiên cứu trong nước về bệnh cúm gia cầm 29
1.10 Các chiến lược phòng chống bệnh cúm gia cầm 31
1.11 Tình hình sử dụng vaccine cúm gia cầm trên thế giới 32
Chương II: VẬT LIỆU, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 34 2.1 Vật liệu dùng trong nghiên cứu 34
2.2 Nội dung nghiên cứu 34
2.3 Phương pháp nghiên cứu 34
2.4 Đối tượng, thời gian, địa điểm nghiên cứu 42
Chương III: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 43
3.1.1 Tình hình chăn nuôi gia cầm của tỉnh Hà Tây cũ một số năm vừa qua 43
3.1.2 Diễn biến dịch cúm gia cầm tại tỉnh Hà Tây cũ 47
3.2 Kết quả tiêm phòng vaccine cúm gia cầm H5N1 tại tỉnh Hà Tây cũ 51
Trang 73.2.1 Công tác chỉ đạo tiêm phòng vaccine cúm gia cầm của tỉnh Hà
Tây cũ 51
3.2.2 Kết quả tiêm phòng vaccine cúm gia cầm H5N1 tại tỉnh Hà Tây cũ trong năm 2008 và 2009 51
3.3 Kết quả khảo sát độ an toàn của vaccine cúm gia cầm H5N1 qua lâm sàng 54
3.4 Đáp ứng miễn dịch và độ dài miễn dịch của gà và vịt được tiêm phòng vaccine cúm H5N1 56
3.4.1.Đáp ứng miễn dịch của gia cầm được tiêm phòng vaccine trong năm 2008 và 2009 56
3.4.2 Độ dài miễn dịch của gia cầm sau khi tiêm phòng vaccine cúm H5N1 60
3.5 So sánh hiệu giá kháng thể trung bình và tỷ lệ bảo hộ đàn gia cầm năm 2008, 2009 và 2010 69
3.6 Kết quả giám sát virus trên đàn gia cầm đã được tiêm phòng 72
KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 75
Kết luận 75
Đề nghị 75
TÀI LIỆU THAM KHẢO 76
Trang 8DANH MỤC KÝ HIỆU, CHỮ VIẾT TẮT
ARN: Acid ribonucleic
NN0 & PTNN: Nông nghiệp và phát triển Nông thôn
OIE: Office International Epizooties
PBS: Phosphate Buffered Saline
RT - PCR: Reverse Transcription - Polymerase Chain Reaction RTRT - PCR: Real time Reverse Transcription - Polymerase Chain
Reaction WHO: World Health Organization
Trang 9DANH MỤC BẢNG
Trang
Bảng 1 Trình tự chuỗi của mẫu dò và Primer cho RTRT – PCR phát hiện
cúm gia cầm 37Bảng 2 Chu kỳ nhiệt của bước phiên mã ngược (RT) dùng cho Quiagen
one step RT - PCR kit 40Bảng 3 Chu kỳ nhiệt cho tổng hợp gen và các cặp mồi 41Bảng 3.1: Số gia cầm ở các huyện của tỉnh Hà Tây cũ trong một số năm
vừa qua 44Bảng 3.2: Thiệt hại do bệnh cúm gia cầm gây ra ở tỉnh Hà Tây cũ 48Bảng 3.3: Kết quả tỷ lệ tiêm phòng vaccine cúm gia cầm H5N1 năm 2008
và 2009 52Bảng 3.4: Kết quả theo dõi độ an toàn của vaccine trên đàn gia cầm sau khi
tiêm năm 2008 và 2009 55Bảng 3.5: Tần số phân bố các mức kháng thể của gia cầm sau khi tiêm
vaccine H5N1 năm 2008 57Bảng 3.6: Tần số phân bố các mức kháng thể của gia cầm sau khi tiêm
vaccine H5N1 năm 2009 59Bảng 3.7: Kết quả giám sát đàn gia cầm trước khi tiêm vaccine H5N1 đợt 1
năm 2010 61Bảng 3.8: Tần số phân bố các mức kháng thể của gia cầm sau khi tiêm
vaccine H5N1 30 ngày của đợt 1 năm 2010 62Bảng 3.9: Tần số phân bố các mức kháng thể của gia cầm sau khi tiêm
vaccine H5N1 60 ngày của đợt 1 năm 2010 64Bảng 3.10: Tần số phân bố các mức kháng thể của gia cầm sau khi tiêm
vaccine H5N1 90 ngày của đợt 1 năm 2010 65Bảng 3.11: Tần số phân bố các mức kháng thể của gia cầm sau khi tiêm
vaccine H5N1 120 ngày của đợt 1 năm 2010 67
Trang 10Bảng 3.12: Tần số phân bố các mức kháng thể của gia cầm sau khi tiêm
vaccine H5N1 150 ngày của đợt 1 năm 2010 68Bảng 3.13: Kết quả so sánh tỷ lệ bảo hộ của các đàn gia cầm sau khi tiêm
vaccin năm 2008, 2009 và 2010 70Bảng 3.14: So sánh hiệu giá kháng thể trung bình của các đàn gia cầm sau
khi tiêm vaccine năm 2008, 2009 và 2010 71Bảng 3.15: Kết quả giám sát lưu hành virus cúm gia cầm trong dịch ngoáy
của gia cầm trên các đàn đã được tiêm phòng cúm H5N1 năm
2008, 2009 và 2010 73
Trang 11DANH MỤC CÁC HÌNH
Trang
Hình 1.1: Dạng virus cúm H5N1 14Hình 2.1: Kết quả đọc bằng máy Cepheid® Smart Cycler 42Hình 3.1: Biểu đồ tổng đàn gia cầm của tỉnh Hà Tây cũ qua các năm
từ 2001 đến 2009 47Hình 3.2: Biểu đồ thiệt hại về gia cầm ở các huyện của tỉnh Hà Tây cũ do
dịch cúm gia cầm 50Hình 3.3: Biểu đồ tỷ lệ tiêm phòng vaccine cúm H5N1 năm 2008 54Hình 3.4: Biểu đồ tỷ lệ tiêm phòng vaccine cúm H5N1 năm 2009 54Hình 3.5: Biểu đồ phân bố hiệu giá kháng thể trong huyết thanh của đàn gia
cầm sau tiêm khi tiêm vaccine H5N1 30 ngày 63Hình 3.6: Biểu đồ phân bố hiệu giá kháng thể trong huyết thanh của đàn gia
cầm sau tiêm khi tiêm vaccine H5N1 60 ngày 65Hình 3.7: Biểu đồ phân bố hiệu giá kháng thể trong huyết thanh của đàn gia
cầm sau tiêm khi tiêm vaccine H5N1 90 ngày 66Hình 3.8: Biểu đồ phân bố hiệu giá kháng thể trong huyết thanh của đàn gia
cầm sau tiêm khi tiêm vaccine H5N1 120 ngày 68Hình 3.9: Biểu đồ phân bố hiệu giá kháng thể trong huyết thanh của đàn gia
cầm sau tiêm khi tiêm vaccine H5N1 150 ngày 69
Trang 12MỞ ĐẦU
1 Đặt vấn đề
Chăn nuôi gia cầm giữ một vị trí quan trọng trong ngành chăn nuôi của nước ta, nó cung cấp khối lượng sản phẩm lớn thứ hai sau chăn nuôi lợn Hiện nay, đàn gia cầm nước ta có 261 triệu con, trong đó có 192 triệu gà; 68,8 triệu vịt, ngan, ngỗng cung cấp 372,7 nghìn tấn thịt và 4,79 tỷ quả trứng mỗi năm Đây là một trong những ngành phục vụ tiêu dùng thế mạnh ở nước ta, đem lại lợi nhuận cao cho người chăn nuôi Do đó các dịch bệnh xảy ra đối với gia cầm đều ảnh hưởng lớn tới ngành chăn nuôi và thu nhập quốc dân, nhất là các bệnh dịch xảy ra trên quy mô khu vực và quốc tế thì không chỉ là vấn đề của riêng nước ta mà còn là mối lo ngại của toàn thế giới
Bệnh cúm gia cầm đã được biết đến từ lâu sau những vụ đại dịch gây ra cho các đàn gia cầm ở nhiều nước Hiện nay, bệnh cúm gia cầm thể độc lực cao (HPAI) đang là mối quan tâm hàng đầu của tất cả các nước trên thế giới Dịch bệnh xảy ra đã giết chết hàng chục triệu gia cầm, đồng thời kéo theo đó
là hàng tỷ gia cầm khác bị tiêu hủy bắt buộc để tránh lây lan, gây thiệt hại nghiêm trọng cho ngành chăn nuôi và kinh tế của các nước có dịch
Ở Việt Nam, dịch cúm gia cầm xảy ra vào cuối năm 2003 đầu năm
2004 đã gây thiệt hại lớn cho ngành chăn nuôi gia cầm (khoảng trên 40 triệu gia cầm bị tiêu hủy, thiệt hại kinh tế lên tới hàng nghìn tỷ đồng) Không những thế, bệnh còn có thể truyền sang các động vật có vú khác và đặc biệt nguy hiểm hơn là bệnh có thể lây sang người, gây tử vong và ảnh hưởng đến sức khỏe cộng đồng (trên thế giới có 328 người mắc bệnh cúm gia cầm và 200 người đã tử vong (trong đó Việt Nam có 47 trường hợp)), (Phạm Sỹ Lăng và cs, 2004) [19]
Để dập dịch cũng như khống chế dịch tiến tới thanh toán bệnh cúm gia cầm Chính phủ và địa phương đã áp dụng hàng loạt các biện pháp như: Ban hành các văn bản pháp quy; giám sát phát hiện bệnh; tiêu hủy triệt để đàn gia cầm nhiễm bệnh; vệ sinh tiêu độc; kiểm dịch vận chuyển; kiểm soát giết mổ
Trang 13Tuy nhiên, do tập quán chăn nuôi nhỏ lẻ và ý thức chấp hành pháp lệnh thú
y của người dân còn thấp nên dịch bệnh vẫn liên tục xảy ra Vì vậy, bên cạnh những biện pháp trên thì việc sử dụng vaccine để phòng bệnh cúm gia cầm được coi là một biện pháp tích cực để bảo vệ đàn gia cầm Để có thể đưa ra những đánh giá sát thực về hiệu quả của việc tiêm vaccine phòng bệnh cúm gia cầm và khảo sát khả năng bảo hộ của vaccine trong điều kiện thực địa, từ
đó có thể đưa ra những chiến lược phù hợp trong phòng chống và tiến tới thanh toán dịch cúm gia cầm ở Việt Nam Xuất phát từ tình hình và yêu cầu
thực tế đó, chúng tôi tiến hành thực hiện đề tài: “Đánh giá đáp ứng miễn dịch
chống dịch cúm gia cầm tại Hà Nội"
2 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài
- Đánh giá thiệt hại của dịch cúm gia cầm năm 2008 - 2009 tại tỉnh Hà Tây cũ
- Đánh giá đáp ứng miễn dịch và độ dài miễn dịch của gia cầm đối với vaccine cúm được sử dụng trong giai đoạn 2008 - 2010 tại tỉnh Hà Tây cũ
- Giám sát sự lưu hành của virus cúm H5N1 trong đàn gà, vịt được tiêm phòng vaccine tại tỉnh Hà Tây cũ (thông qua việc xác định hàm lượng kháng thể virus cúm trên gia cầm, thủy cầm)
- Đánh giá tính khả thi của chương trình tiêm phòng vaccine cúm gia cầm tại tỉnh Hà Tây cũ
3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn
- Các kết quả nghiên cứu đáp ứng miễn dịch sau tiêm phòng vaccine cúm gia cầm H5N1 cho đàn gà, vịt tại một số hộ chăn nuôi ở các huyện của tỉnh
Hà Tây cũ có thể dùng làm tài liệu tham khảo, bổ sung thêm số liệu vào đánh giá hiệu quả của việc tiêm phòng trong công tác phòng chống dịch cúm gia cầm ở Việt Nam
- Các kết quả thu được là cơ sở định hướng và xây dựng kế hoạch cho chương trình tiêm phòng vaccine cúm gia cầm trong phạm vi cả nước
Trang 14Chương I TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Tổng quát về bệnh cúm gia cầm
1.1.1 Giới thiệu chung về bệnh cúm gia cầm
Bệnh cúm gia cầm hay bệnh cúm gà (Avian Influenza), là một bệnh
truyền nhiễm gây ra bởi virus cúm typ A thuộc họ Orthomyxoviridae với
nhiều subtyp khác nhau (Ito T and Kawaoka Y, 1998) [36]
Trước đây bệnh được gọi là bệnh dịch tả gà (Fowl plague), nhưng từ hội nghị quốc tế lần thứ nhất về bệnh cúm gia cầm tại Beltsville, Mỹ năm
1981 đã thay thế tên này bằng tên bệnh cúm truyền nhiễm cao ở gia cầm (HPAI) để chỉ virus typ A có độc lực mạnh (Cục thú y, 2004) [6]
Bệnh cúm gia cầm là bệnh truyền nhiễm nguy hiểm có tốc độ lây lan nhanh với tỷ lệ chết cao trong đàn gia cầm nhiễm bệnh Virus gây bệnh cúm gia cầm chủ yếu là loại H5, H7 và H9, gây bệnh cho gà, vịt, ngan, ngỗng, đà điểu, các loại chim Virus còn gây bệnh cho cả con người và có thể thành đại dịch, vì thế bệnh cúm gia cầm đang ngày càng trở nên nguy hiểm hơn bao giờ hết (Cục Thú y, 2005) [7], Lê Văn Năm, 2004) [20]
Năm 1878, ở Italy đã xảy ra một bệnh gây tử vong rất cao ở đàn gia cầm
và được gọi là bệnh dịch tả gà (Fowl plague), bệnh lần đầu tiên được Porroncito mô tả và ông nhìn nhận một cách sáng suốt rằng tương lai sẽ là một bệnh quan trọng và nguy hiểm Năm 1901, Centani và Savunozzi đã đề cập đến
ổ dịch này và xác định được căn nguyên siêu nhỏ qua lọc (Filterable agent) là
Trang 15yếu tố gây bệnh Đến năm 1955 Achafer đã xác định căn nguyên gây bệnh thuộc nhóm virus cúm typ A thông qua kháng nguyên bề mặt là H7N1 và H7N7
gây chết nhiều gà, gà tây và chim hoang ở Bắc Mỹ, Châu Phi, Trung Cận Đông (Lê Văn Năm, 2004) [20]
Năm 1963, virus cúm typ A được phân lập từ gà tây ở Bắc Mỹ do loài thủy cầm di trú dẫn nhập virus vào đàn gà Cuối thập kỷ 60, phân typ H1N1 thấy
ở lợn và có liên quan đến những ổ dịch ở gà tây Mối liên hệ giữa lợn và gà tây là dấu hiệu đầu tiên về virus cúm ở động vật có vú có thể lây nhiễm và gây bệnh cho gia cầm Những nghiên cứu đều cho rằng virus cúm typ A phân typ H1N1 đã ở lợn và truyền cho gà tây, ngoài ra phân typ H1N1 ở vịt còn truyền cho lợn (Cục thú y, 2004) [6]
Năm 1971, Beard đã mô tả khá kỹ virus gây bệnh và đặc điểm bệnh lý lâm sàng của gà trong các ổ dịch cúm gà, gà tây khá lớn xảy ra ở Mỹ mà chủng gây bệnh là H7N1 Từ năm 1960 - 1979, bệnh được phát hiện ở Canada, Mêhicô, Achentina, Braxin, Nam Phi, Ý, Pháp, Anh, Hà Lan, Australia, Hồng Kông, Nhật Bản, các nước vùng Trung Cận Đông, các nước thuộc liên hiệp Anh và Liên Xô cũ (Phạm Sỹ Lăng, 2004) [17]
Các công trình nghiên cứu có hệ thống về bệnh cúm gia cầm lần lượt được công bố ở Australia năm 1975, ở Anh năm 1979, ở Mỹ năm 1983 - 1984, ở Ailen năm 1983 - 1984 về đặc điểm sinh học, bệnh học và dịch tễ học, các phương pháp chẩn đoán miễn dịch và biện pháp phòng chống bệnh (Phạm Sỹ Lăng, 2004) [17]
Sự lây nhiễm từ chim hoang dã sang gia cầm đã có bằng chứng từ trước năm 1970 nhưng chỉ được công nhận khi xác định được tỷ lệ nhiễm virus cúm cao ở một số loài thủy cầm di cư (Cục Thú y, 2004) [6]
Từ sau khi phát hiện ra virus cúm typ A, các nhà khoa học thấy rằng virus cúm có ở nhiều loài chim hoang dã và gia cầm nuôi ở những vùng khác
Trang 16nhau trên thế giới Bệnh xảy ra nghiêm trọng nhất đối với gia cầm thuộc phân typ H5 và H7 như ở Scotland năm 1959 là H5N1, ở Mỹ năm 1983 - 1984 là
H5N2 (Cục thú y, 2004) [6]
Đến nay, dịch cúm gia cầm đã xảy ra ở khắp các châu lục với mức độ ngày càng nguy hiểm hơn đối với các loại gia cầm và sức khỏe của cộng đồng, đã thôi thúc Hiệp hội các nhà chăn nuôi gia cầm tổ chức hội thảo chuyên đề về bệnh cúm gà Hội thảo lần đầu tiên tổ chức vào năm 1981, lần thứ hai tại Ailen năm 1987, lần thứ ba cũng tại Ailen năm 1992 Từ đó đến nay trong các hội nghị về dịch tễ trên thế giới, bệnh cúm gia cầm luôn là một trong những nội dung được coi trọng (Lê Văn Năm, 2004) [20]
1.2 Tình hình dịch cúm gia cầm trong nước và trên thế giới
1.2.1 Tình hình dịch cúm gia cầm ở Việt Nam
Ngày 27/12/2003, dịch cúm gia cầm đã xảy ra tại trại gà giống của Công ty C.P (Thái Lan) ở xã Thủy Xuân Tiên, huyện Chương Mỹ, tỉnh Hà Tây (cũ) gây ốm chết 8.000 gà trong 4 ngày Ngày 2/1/2004, Công ty đã tiến hành tiêu hủy 117.000 gà Dịch đã nhanh chóng lây lan ra hầu hết các tỉnh trong
cả nước Tính đến nay, đã có 6 lần dịch cúm gia cầm bùng phát tại Việt Nam:
* Đợt dịch thứ nhất từ tháng 12/2003 đến 30/3/2004: Lần đầu tiên
trong lịch sử nước ta dịch cúm gia cầm xuất hiện vào cuối tháng 12 năm 2003
ở tỉnh Hà Tây (cũ), Long An và Tiền Giang Dịch lây lan rất nhanh, chỉ trong vòng 2 tháng, đến ngày 27/2/2004 dịch đã xuất hiện ở 2.574 xã, phường (chiếm 24,6% số xã, phường), 381 huyện, quận, thị xã (60%) thuộc 57 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung Ương Các tỉnh xảy ra dịch nặng là Long
An, Tiền Giang, Đồng Tháp, Hà Tây, Hải Dương Tổng số gà và thuỷ cầm mắc bệnh, chết và tiêu huỷ hơn 43,9 triệu con, chiếm 16,79% tổng đàn, trong
đó gà chiếm 30,4 triệu con, thuỷ cầm chiếm 13,5 triệu con Ngoài ra còn có
Trang 1714,76 triệu con chim cút và các loại chim khác bị chết và tiêu huỷ.
* Đợt dịch thứ hai từ tháng 4 đến tháng 11/2004: Trong giai đoạn này,
dịch phát ra rải rác với quy mô nhỏ ở các hộ gia đình; bệnh xuất hiện ở 46 xã, phường tại 32 huyện, quận, thị xã thuộc 17 tỉnh Thời gian cao điểm nhất là tháng 7 sau đó giảm dần, đến tháng 11 cả nước chỉ có 1 điểm phát dịch Tổng
số gia cầm tiêu huỷ trong giai đoạn này là 84.078 con, trong đó 55.999 gà, 8.132 vịt và 19.947 chim cút
*Đợt dịch thứ ba từ tháng 12/2004 đến tháng 5/2005: Trong khoảng
thời gian này dịch đã xuất hiện ở 670 xã tại 182 huyện thuộc 36 tỉnh, thành phố (15 tỉnh phía Bắc, 21 tỉnh phía Nam) Số gia cầm tiêu huỷ là 470.495 gà, 825.689 vịt, ngan và 551.029 chim cút Bệnh xuất hiện ở tất cả các tỉnh, thành phố thuộc vùng Đồng bằng sông Cửu Long; những tỉnh bị dịch nặng là Long
An, Tiền Giang, Bạc Liêu, Đồng Tháp
* Đợt dịch thứ tư từ tháng 10/2005 đến tháng 1/2006: Dịch xảy ra ở cả 3
miền với 24 tỉnh, thành tái phát Trong đó miền Nam có 3 tỉnh (Bạc Liêu, Đồng Tháp, Long An), miền Trung có 3 tỉnh (Thanh Hóa, Nghệ An, Quảng Trị) và 18 tỉnh thuộc miền Bắc (Hà Nội, Bắc Giang, Hòa Bình, Thái Bình, Hưng Yên, Hải Dương, Phú Thọ, Bắc Ninh, Bắc Kạn, Vĩnh Phúc, Hải Phòng, Sơn La, Quảng Ninh, Yên Bái, Thái Nguyên, Ninh Bình, Cao Bằng và Hà Giang) Tổng số gia cầm tiêu hủy là 3.972.763 con, trong đó 1.338.378 gà, 2.135.081 thuỷ cầm và loài khác
* Trong 10 tháng đầu năm 2006 ở Việt Nam không xảy ra dịch, do sự chỉ đạo phòng dịch quyết liệt của Chính Phủ, Ban chỉ đạo quốc gia và hiệu quả của chiến dịch tiêm phòng Đến cuối năm lại xuất hiện các ổ dịch trên đàn vịt chăn nuôi nhỏ lẻ, chưa tiêm phòng vaccine Đợt thứ năm bắt đầu và kéo dài trong suốt năm 2007 Dịch không tập trung mà rải rác, lẻ tẻ ở khắp nơi và có thể chia thành nhiều đợt Từ ngày 6/12/2006 đến 7/3/2007 dịch xảy
Trang 18ra trên 83 xã, phường của 33 quận, huyện thuộc 10 tỉnh, thành gồm Cà Mau, Bạc Liêu, Hậu Giang, Cần Thơ, Trà Vinh, Vĩnh Long, Kiên Giang, Sóc Trăng, Hà Nội và Hải Dương Tổng số gia cầm mắc bệnh, chết và tiêu hủy là 103.094 con, trong đó có 13.622 gà; 89.472 ngan, vịt Từ 1/5/2007 đến 23/8/2007, dịch xảy ra ở 167 xã, phường của 10 huyện thị thuộc 23 tỉnh, thành là Nghệ An, Quảng Ninh, Cần Thơ, Sơn La, Nam Định, Đồng Tháp, Bắc Giang, Hải Phòng, Ninh Bình, Bắc Ninh, Hà Nam, Vĩnh Phúc, Hưng Yên, Quảng Nam, Thái Bình, Phú Thọ, Hà Tĩnh, Cao Bằng, Cà Mau, Điện Biên, Quảng Bình, Thái nguyên và Trà Vinh Tổng số gia cầm mắc bệnh, chết
và tiêu hủy là 294.894 con (21.525 gà; 264.549 vịt và 8.775 ngan) Sau khi bị khống chế trong vòng 1 tháng, đến tháng 10/2007 dịch lại tái phát trên địa bàn các tỉnh Trà Vinh, Quảng Trị, Nam Định, Cao Bằng, Hà Nam và Bến Tre
* Từ đầu năm 2008 đến nay, đợt dịch thứ 6 xảy ra lẻ tẻ, rải rác với 74 đàn gia cầm tại 57 xã, phường của 40 huyện thị thuộc 21 tỉnh phát dịch Tổng
số gia cầm tiêu hủy là 60.090 con, trong đó có 23.498 gà, 36.592 thủy cầm (Văn Đăng Kỳ, 2008) [16]
* Nhận xét về tình hình dịch tễ học:
- Về phân bố địa lí: Các đợt dịch phát ra tập trung ở khu vực Đồng bằng
Sông Cửu Long và Đồng bằng Sông Hồng Những vùng này có nhiều hệ thống sông ngòi, kênh rạch, mật độ chăn nuôi cao, tổng đàn gia cầm lớn và việc buôn bán, vận chuyển, tiêu thụ gia cầm cao hơn các vùng khác
- Về thời gian xảy ra dịch: Dịch phát ra nặng vào vụ Đông Xuân, cao
điểm vào cuối tháng 1 đầu tháng 2 Trong thời gian này thời tiết thay đổi, độ
ẩm cao, nhiệt độ thường xuống thấp, tạo điều kiện thuận lợi cho virus tồn tại, phát triển và lây lan Đồng thời giai đoạn này là lúc mật độ chăn nuôi gia cầm
và hoạt động vận chuyển gia cầm, sản phẩm gia cầm diễn ra sôi động nhất trong năm cũng là điều kiện thuận lợi cho sự bùng phát và lây lan dịch
Trang 19- Về loài mắc bệnh: Ở đợt dịch thứ nhất và thứ hai tỷ lệ gà mắc bệnh
cao hơn vịt, ngan Nhưng đợt dịch thứ 3 đó có sự thay đổi lớn khi các thống
kê cho thấy tỷ lệ mắc bệnh chết và tiêu hủy ở vịt cao gần gấp hai lần gà Điều này cho thấy mầm bệnh đã lây lan, tồn tại trong đàn thủy cầm, có thể tăng độc lực và bột phát thành đợt dịch thứ ba Tỷ lệ dương tính huyết thanh ở đàn thủy cầm tăng từ 15% trong đợt 2 lên 39,6% trong đợt 3
- Về loại hình, quy mô và mức độ dịch: Dịch phát ra ở tất cả các loại
hình chăn nuôi, tỷ lệ mắc bệnh cao nhất ở loại hình chăn nuôi hỗn hợp các loài gia cầm (đặc biệt chăn nuôi gà lẫn với vịt) và giảm dần ở những trại chăn nuôi gà có số lượng lớn Quy mô của dịch đợt 1 là lớn nhất, trong đợt
2, 3 và 4 mặc dù dịch vẫn xảy ra nhiều tỉnh, thành phố nhưng quy mô đã giảm nhiều (Trần Hữu Cổn, Bùi Quang Anh, 2005) [5]
1.2.2 Tình hình dịch cúm gia cầm trên thế giới
Dịch cúm gia cầm đã xảy ra ở rất nhiều nơi trên thế giới Vụ dịch xảy
ra lần đầu tiên ở gia cầm được ghi nhận vào năm 1878 với tỷ lệ chết cao được gọi là bệnh “ Dịch tả gia cầm”
Năm 1959 bệnh xảy ra trên đàn gà ở Scotland do virus cúm A H5 gây ra (Văn Đăng Kỳ, 2008) [6] Nhiều tác giả đã cho rằng bệnh dịch nghiêm trọng nhất xảy ra đối với gia cầm là những chủng gây bệnh có độc lực cao thuộc subtyp H5 và H7, như ở Scotland năm 1959 là H5N1, ở Mỹ năm 1983 - 1984 là
H5N2 (Swayne D E and Suarez D L, 2003) [50]
Năm 1963, virus cúm typ A được phân lập từ gà tây ở Bắc Mỹ do loài thuỷ cầm di trú lây truyền virus vào đàn gà
Từ cuối năm 2003, dịch cúm gia cầm đã xảy ra với quy mô lớn, diễn biến hết sức phức tạp và tốc độ bùng phát rất nhanh ở các nước Châu Á và đã lan sang các quốc gia khác
Cuối tháng 02/2004 đó có rất nhiều nước và vùng lãnh thổ công bố dịch cúm gia cầm do virus H5N1 gây ra trong đó có: Hàn Quốc, Thái Lan,
Trang 20Nhật Bản, Lào, Campuchia, Indonesia, Malaysia, Trung Quốc, Hồng Kông và Việt Nam (Tô Long Thành, 2004) [22]
Bên cạnh các ổ dịch do virus cúm H5N1 nêu trên, còn có một số nước
và vùng lãnh thổ cũng có các ổ dịch cúm gia cầm do các chủng virus khác gây ra như Pakistan do chủng H7N3 và H9N2, Canada do chủng H7N3, Mỹ do chủng H7N2, Nam Phi do chủng H6 và H5N2, Triều Tiên do chủng H7, Ai Cập
do chủng H10N7
Sau khi dịch cúm gia cầm bùng phát một số nước công bố khống chế được dịch, một số nước lại bị tái phát trở lại, đây là lần đầu tiên trong lịch sử dịch cúm gia cầm xảy ra nhanh trên diện rộng và diễn biến phức tạp ở các nước Châu Á
Đến giữa năm 2005, dịch cúm gia cầm do H5N1 bắt đầu xuất hiện tại Kazăkstan, Nga rồi nhanh chóng lan rộng sang các nước khác ở khu vực Châu Âu như Rumani, Hy Lạp, Thổ Nhĩ Kỳ, Azecbaijan, rồi tràn sang Châu Phi và các nước khác thuộc khu vực Châu Á như ở vùng Vịnh, Trung Quốc
và Iraq Theo Đỗ Ngọc Thuý (2007) [27], chính dòng virus mới Âu - Phi là thủ phạm đã gây ra các trường hợp tử vong cho người Ai Cập và Iraq vào năm 2006
Theo thống kê của Tổ chức Dịch tễ Thế giới - OIE (2006) [47], tính đến ngày 2 tháng 8 năm 2006 chủng virus độc lực cao H5N1 đã có mặt tại 51 quốc gia và vùng lãnh thổ trên hầu hết các Châu lục, tập trung chủ yếu ở Châu Á và Châu Âu
Năm 1977, ở Minesota đã phát hiện dịch trên gà tây do chủng H7N7 Năm 1983 - 1984, ở Mỹ, dịch cúm gà xảy ra do chủng virus H5N2 ở 3 bang Pensylvania, Virginia, Newtersey làm chết và phải tiêu huỷ hơn 19 triệu gia cầm Cũng trong thời gian này, tại Ireland người ta đã phải tiêu huỷ 270 nghìn con vịt tuy không có triệu chứng lâm sàng nhưng đã phân lập được virus cúm chủng độc lực cao để loại trừ bệnh một cách hiệu quả, nhanh chóng
Trang 21Năm 1986, ở Australia dịch cúm gà xảy ra tại bang Victoria do chủng H5N2
Năm 1997, ở Hồng Kông dịch cúm gà xảy ra do virus cúm typ A subtyp H5N1 Toàn bộ đàn gia cầm của lãnh thổ này đã bị tiêu hủy vì đã gây
tử vong cho con người (Cục thú y, 2004) [6] Như vậy đây là lần đầu tiên virus cúm gia cầm đã vượt “rào cản về loài” để lây cho người ở Hồng kông làm cho 18 người nhiễm bệnh, trong đó có 6 người chết
Năm 2003, ở Hà Lan dịch cúm gia cầm xảy ra với quy mô lớn do chủng
H7N7, 30 triệu gia cầm bị tiêu huỷ, 83 người lây nhiễm và 1 người chết, gây thiệt hại về kinh tế hết sức nghiêm trọng (Phạm Sỹ Lăng, 2004) [18]
Cuối năm 2003 đầu năm 2004 đã có 11 quốc gia ở Châu Á thông báo
có dịch cúm là Nhật Bản, Hàn Quốc, Thái Lan, Lào, Campuchia, Inđônêxia, Trung Quốc, Hồng Kông, Đài loan, Việt Nam và Pakistan
Từ cuối năm 2003 đến nay dịch cúm gia cầm diễn biến hết sức phức tạp, đã có hơn 50 nước trên thế giới phát hiện thấy virus cúm gia cầm, dịch đã tái xuất hiện trở lại ở một số quốc gia như Việt Nam, Thái Lan
- Hàn Quốc: Dịch cúm gia cầm xảy ra từ ngày 12/12/2003 đến ngày 24/3/2004 do chủng virus H5N1 gây bệnh cho gà Đợt dịch thứ 2 kết thúc ngày 10/12/1004 do chủng virus H5N2 gây ra
- Nhật Bản: Dịch cúm gia cầm H5N1 phát ra ngày 12/1/2004 đến ngày 5/3/2004, đã tiêu huỷ 275.000 gà Đợt dịch thứ 2 xảy ra từ ngày 1/7/2005 đến ngày 9/12/2005 do chủng virus H5N2 gây bệnh cho gà
- Thái Lan: Ổ dịch đầu tiên được xác định vào ngày 23/1/2004 ở tỉnh Chiang Ma do chủng virus H5N1 gây bệnh cho gà, vịt, ngỗng, chim cút, gà tây,
cò, hổ Đợt dịch thứ 2 từ ngày 3/7/2004 đến 14/2/2005 Sau đó dịch vẫn xảy ra rải rác, ngày 17/3/2005 dịch xảy ra trên một đàn gà 50 con ở tỉnh Sukhothai Tháng 8/2006 dịch đã tái phát trở lại ở gia cầm và ở người
Trang 22- Campuchia: Dịch H5N1 xảy ra từ ngày 24/1/2004, ổ dịch cuối cùng được ghi nhận vào tháng 4/2005, virus gây bệnh cho gà, vịt, ngỗng, gà tây, gà nhật, chim hoang
- Lào: Dịch H5N1 bắt đầu xuất hiện từ 27/1/2004 đến 13/2/2004 ở 3 tỉnh, đã tiêu huỷ hơn 155.000 gà
- Inđônêxia: Ổ dịch đầu tiên xuất hiện ngày 6/2/2004, đợt dịch thứ hai xảy ra ngày 25/11/2005 do chủng virus H5N1 gây bệnh cho gà, vịt, chim cút
và lợn (lợn không có triệu chứng lâm sàng)
- Trung Quốc: Ổ dịch đầu tiên phát hiện ngày 6/2/2004, virus phân lập
từ gà, vịt, ngỗng, chim cút, bồ câu, chim trĩ, thiên nga đen, ngỗng đầu khoang, mòng đầu đen, mòng đầu nâu, vịt lông đỏ và chim cốc
- Malaysia: Ổ dịch đầu tiên phát hiện ngày 19/8/2004 ở tỉnh Kalantan, đợt dịch thứ hai phát ra ngày 22/11/2004, số gia cầm tiêu huỷ trên 18.000 con Trong tháng 7 và tháng 8 năm 2006, dịch xảy ra rất nặng nề trên người
- Hồng Kông: Dịch xảy ra ngày 26/1/2004, ca bệnh cuối cùng ghi nhận vào ngày 10/1/2005, virus được phân lập từ chim cắt, diệc xám, diệc Trung Quốc
- Pakistan: Ổ dịch đầu tiên ghi nhận ngày 28/1/2004 do các subtyp H7N3 và
H9N2 xảy ra trên gà tây, ổ dịch cuối cùng được ghi nhận vào tháng 11/2005
- Canada: Dịch cúm gia cầm xảy ra do các subtyp H7N3, H3, H5, H5N2 ở
gà, gà tây vào các ngày 19/2/2004 và 9/3/2004 Ca bệnh cuối cùng được ghi nhận vào ngày 22/11/2005
- Hoa Kỳ: Một ổ dịch cúm gia cầm H7N2 (chủng virus độc lực thấp) duy nhất xảy ra trên gà vào ngày 11/2/2004 tại bang Delaware
- Nam Phi: Một ổ dịch cúm H6 xảy ra ở gà công nghiệp và kết thúc ngày 25/3/2004; một ổ dịch khác do H5N2 xảy ra ngày 6/8/2004 ở đà điểu và kết thúc vào đầu tháng 12/2004
- Ai Cập: Trong năm 2004, đã phát hiện một ổ dịch H10N7 trên vịt hoang dã
Trang 23- Cộng hoà dân chủ nhân dân Triều Tiên: Từ ngày 25/2 - 26/3/2005 dịch cúm gia cầm H7 đã xảy ra ở Bình Nhưỡng
- Cuối tháng 3/2005, tại Myanmar đã phát hiện hàng ngàn gà chết nghi bệnh cúm gia cầm, tuy nhiên đến nay chưa có báo cáo xác định bệnh cúm xảy ra
- Kazăctan: Ổ dịch đầu tiên được ghi nhận ngày 2/8/2005 do subtyp
H5N1 gây bệnh cho ngỗng, vịt Ổ dịch cuối cùng được ghi nhận vào ngày 19/8/2005
- Nga: Ổ dịch đầu tiên được ghi nhận ngày 24/7/2005 do subtyp H5N1
gây bệnh cho gà, gà tây, ngỗng, vịt Ổ dịch cuối cùng được ghi nhận vào ngày 19/12/2005
- Rumani: Ổ dịch đầu tiên được ghi nhận ngày 22/10/2005 do subtyp
H5N1 gây bệnh cho gà, gà tây, vịt, thiên nga, diệc Ổ dịch cuối cùng được ghi nhận vào ngày 21/12/2005
- Ukraina: Ổ dịch đầu tiên được ghi nhận ngày 8/12/2005 do subtyp H5N1 gây bệnh cho gà Ổ dịch cuối cùng được ghi nhận vào ngày 17/12/2005 (Tô Long Thành, 2004 [22], Tô Long Thành, 2006 [23])
1.3 Đặc điểm sinh học của virus cúm typ A
1.3.1 Đặc điểm cấu trúc chung của virus thuộc họ Orthomyxoviridae
Virus cúm gia cầm thuộc họ Orthomyxoviridae, có vỏ với bộ gen là
ARN cực âm một sợi Sợi ARN chia làm 8 mảnh và nối với nhau nhờ các protein có vỏ bọc Virus được bọc bên ngoài bằng các Protein và có màng Lipid ở ngoài cùng Bề mặt ngoài màng phủ bằng 2 hệ thống Protein có các phản ứng ngưng kết hồng cầu và phản ứng trung hoà được kết hợp với nhau một cách riêng biệt (Kawaoka, 1991[38], Kawaoka, 1988 [39])
Họ Orthomyxoviridae gồm có 3 nhóm virus là:
+ Nhóm virus cúm A: Gây bệnh cho mọi loài chim, một số động vật có
vú và cả con người
+ Nhóm virus cúm B: Chỉ gây bệnh cho người
+ Nhóm virus cúm C: Gây bệnh cho người, lợn
Trang 24Virus thuộc họ Orthomyxoviridae có đặc tính cấu trúc chung là hệ gen
chứa ARN một sợi, có cấu trúc là sợi âm được kí hiệu là ss (-) ARN (Negative Single Stranded ARN) Sợi âm ARN của hệ gen có độ dài từ 10.000 - 15.000 nucleotid (tùy loại virus), mặc dù nối với nhau thành một sợi ARN liên tục, nhưng hệ gen lại chia thành 6 - 8 phân đoạn (segment), mỗi phân đoạn là một gen chịu trách nhiệm mã hóa cho mỗi loại protein của virus Hạt virus (virion) có cấu trúc hình khối, độ dài đường kính khoảng 80 - 120
nm Vỏ virus có bản chất protein, có nguồn gốc từ nguồn tế bào mà virus đó gây nhiễm, bao gồm một số protein được Glycosyl hóa (Glycoprotein) và một số protein dạng trần không được Glycosyl hóa (non Glycosylated protein) Protein bề mặt có cấu trúc từ các loại Glycoprotein, đó là những gai, mấu có độ dài 10 - 14 nm, đường kính 4 - 6 nm Nucleocapsid bao bọc lấy nhân virus là tập hợp của nhiều protein phân đoạn, cấu trúc đối xứng xoắn, kích thước 130 -
150 nm, tạo viền (lớp) ở giới hạn cuối của mỗi phân đoạn và liên kết với nhau qua cầu nối peptid Phân tử lượng của hạt virus vào khoảng 250 triệu dalton (Lê Thanh Hoà, 2004 [13], Muphy B and Webter R G., 1996 [45])
1.3.2 Đặc điểm hình thái, cấu trúc của virus cúm typ A
Phân bố trên bề mặt của virus là loại protein gây ngưng kết hồng cầu có tên gọi là Hemagglutinin (HA) và một loại enzyme phá hủy thụ thể của virus có tên gọi Neuraminidae (NA), chúng là các glycoprotein riêng biệt (Kawaoka, 1988) [39]
Hạt virion có cấu trúc là acid ribonucleic sợi âm ở dạng đơn, độ dài 13.500 nucleotid chứa 8 phân đoạn kế tiếp nhau mã hóa cho 10 loại protein khác nhau của virus là HA, NA, NP, M1, M2, BP1, BP2, PA, NS1, NS2 Tám phân đoạn của sợi ARN có thể tách và phân biệt rõ ràng nhờ phương pháp điện di (Muphy B and Webter R G., 1996) [45]
Qua kính hiển vi điện tử, các virus họ Orthomyxoviridae có dạng gần như
hình cầu hoặc các hạt mỏng, đường kính chung của hạt virus từ 80 - 100 nm
Trang 25Hình 1.1: Dạng virus cúm H 5 N 1
- Phân đoạn 1 - 3: Mã hóa cho protein PB1, PB2 và PA là enzyme polymerase tổng hợp acid ribonucleic nguyên liệu cho hệ gen và các ARN thông tin tổng hợp protein của virus (Biswas S K and Nayak D P., 1996) [28]
- Phân đoạn 4: Mã hóa cho protein Hemagglutinin (HA) là một protein
bề mặt cắm gốc vào bên trong, có chức năng bám dính vào thụ thể của tế bào,
có khả năng gây ngưng kết hồng cầu, có khả năng hợp nhất vỏ virus với màng tế bào nhiễm và tham gia vào phản ứng trung hòa virus HA là polypeptid gồm 2 chuỗi HA1 và HA2 nối với nhau bằng đoạn Oligopeptid ngắn, thuộc loại hình mô typ riêng đặc trưng cho các subtyp H (H1 - H16) trong tái tổ hợp tạo nên biến chủng Mô typ của chuỗi Oligopeptid này chứa một số acid amin cơ bản làm khung, thay đổi đặc hiệu theo từng loại hình subtyp H Sự thay đổi thành phần của chuỗi nối quyết định độc lực của virus thuộc biến chủng mới (Lê Thanh Hoà, 2004 [13], Bosch F X at al, 1979 [29], Horimoto T and Kawaoka Y., 1995 [35], Vey M at al, 1992 [51])
- Phân đoạn 5: Mã hóa cho protein Nucleoprotein (NP) một loại protein được Phosphoryl hóa, có biểu hiện tính kháng nguyên đặc hiệu theo nhóm (Group - Specific), tồn tại trong hạt virion trong dạng liên kết với mỗi phân đoạn ARN nên loại NP còn được gọi là Ribonucleoprotein (Lê Thanh Hoà,
2004 [13], Bucker White and Muphy B R., 1998 [30])
Trang 26- Phân đoạn 6: Mã hóa cho protein Neuraminidae (NA) là một enzyme phân cắt HA sau khi virus vào bên trong tế bào nhiễm
- Phân đoạn 7: Mã hóa cho 2 tiểu phần protein đệm (Matrix protein) M1
và M2 là protein màng không được Glycosyl hóa, có vai trò làm đệm bao bọc lấy ARN hệ gen M2 là một Tetramer có chức năng tạo khe H+ giúp cởi bỏ virus sau khi xâm nhập vào tế bào cảm nhiễm M1 có chức năng tham gia vào quá trình tổng hợp và nảy mầm của virus (Holsinger L J et al, 1994) [34]
- Phân đoạn 8: Có độ dài ổn định (890 nucleotid) mã hóa cho 2 tiểu phần protein không cấu trúc NS1 và NS2 có chức năng chuyển ARN từ nhân
ra kết hợp với M1, kích thích phiên mã, chống Interferon (Luong G and Palese P., 1992) [42]
1.3.3 Đặc tính kháng nguyên của virus cúm typ A
Các loại kháng nguyên được nghiên cứu nhiều nhất là protein nhân (Nucleoprotein, NP), protein đệm (matrix protein, M1), protein gây ngưng kết hồng cầu (Hemagglutinin, HA) và protein enzyme cắt thụ thể (Neuraminidase, NA)
NP và M1 là protein thuộc loại hình kháng nguyên đặc hiệu giống (genus- specific antigen), kí hiệu là gs kháng nguyên; HA và NA là protein thuộc loại hình kháng nguyên đặc hiệu typ và dưới typ (typ - specific antigen), ký hiệu
là ts kháng nguyên
Một đặc tính quan trọng là virus cúm có khả năng gây ngưng kết hồng cầu của nhiều loài động vật Đó là sự kết hợp giữa mấu lồi kháng nguyên HA trên bề mặt của virus cúm với thụ thể có trên bề mặt hồng cầu, làm cho hồng cầu ngưng kết với nhau tạo thành mạng ngưng kết thông qua cầu nối virus, gọi là phản ứng ngưng kết hồng cầu HA (Hemagglutination test)
Kháng thể đặc hiệu của kháng nguyên HA có khả năng trung hòa các loại virus tương ứng, chúng là kháng thể trung hòa có khả năng triệt tiêu virus gây bệnh Nó có thể phong tỏa sự ngưng kết bằng cách kết hợp với
Trang 27kháng nguyên HA Do vậy thụ thể của hồng cầu không bám vào được để liên kết tạo thành mạng ngưng kết Người ta gọi phản ứng đặc hiệu KN -
KT có hồng cầu tham gia là phản ứng ngăn cản ngưng kết hồng cầu HI (Hemagglutination inhibition test)
Phản ứng ngưng kết hồng cầu (HA) và phản ứng ngăn cản ngưng kết hồng cầu (HI) được sử dụng trong chẩn đoán cúm gia cầm
Theo Ito và Kawaoka (1998), sự phức tạp trong diễn biến kháng nguyên của virus cúm là sự biến đổi và trao đổi trong nội bộ gen dẫn đến sự biến đổi liên tục về tính kháng nguyên Có 2 cách biến đổi kháng nguyên của virus cúm:
+ Đột biến điểm (đột biến ngẫu nhiên hay hiện tượng trôi trượt, lệch lạc
về kháng nguyên - antigenic drift) Đây là kiểu đột biến xảy ra liên tục thường xuyên trong quá trình tồn tại của virus mà bản chất là do có sự thay đổi nhỏ về trình tự nucleotid của gen mã hóa, đặc biệt đối với kháng nguyên H và kháng nguyên N Kết quả là tạo ra các phân typ cúm hoàn toàn mới có tính thích ứng loài vật chủ khác nhau và mức độ độc lực gây bệnh khác nhau Chính nhờ sự biến đổi này mà virus cúm A tạo nên 16 biến thể gen HA (H1- H16) và 9 kháng nguyên N (N1 - N9) (Cục thú y, 2005) [7]
+ Đột biến tái tổ hợp di truyền (hiện tượng thay ca - antigenic shift) Hiện tượng tái tổ hợp gen ít xảy ra hơn so với hiện tượng đột biến điểm Hiện tượng này chỉ xảy ra khi 2 hoặc nhiều loại virus cúm khác nhau cùng nhiễm vào một tế bào chủ do sự trộn lẫn 2 bộ gen của virus Điều này tạo nên sự sai khác cơ bản về bộ gen của virus cúm đời con so với virus bố mẹ Khi hiện tượng tái tổ hợp gen xuất hiện có thể sẽ gây ra các vụ dịch lớn cho người và động vật với mức độ nguy hiểm không thể lường trước được Vụ dịch năm
1918 - 1919 làm chết 40 - 50 triệu người mà tác nhân gây bệnh là virus H1N1
từ lợn lây sang người kết hợp với virus cúm người tạo ra chủng virus mới có độc lực rất mạnh (Phạm Sỹ Lăng, 2004) [18]
Trang 28Do hạt virus cúm A có cấu trúc là 8 đoạn gen nên về lý thuyết từ 2 virus
có thể xuất hiện 256 kiểu tổ hợp của virus thế hệ sau (Cục thú y, 2004) [6]
Khi nghiên cứu về đặc tính kháng nguyên của virus cúm thấy giữa các biến thể tái tổ hợp và biến chủng subtyp về huyết thanh học không hoặc rất ít
có phản ứng chéo Đây là điểm trở ngại lớn cho việc nghiên cứu nhằm tạo ra vaccine cúm để phòng bệnh cho người và động vật (Ito T et al, 1998 [37], Kawaoka Y., 1991 [38])
Khi xâm nhập vào cơ thể động vật, virus cúm A kích thích cơ thể sản sinh ra kháng thể đặc hiệu, trong đó quan trọng hơn cả là kháng thể kháng
HA, chỉ có kháng thể này mới có vai trò trung hòa virus cho bảo hộ miễn dịch Một số kháng thể khác có tác dụng kìm hãm sự nhân lên của virus, kháng thể kháng M2 ngăn cản chức năng M2 không cho quá trình bao gói virus xảy ra (Lu X et al, 1999 [41], Seo S and Webter R G., 2001[48])
1.3.4 Thành phần hóa học
ARN của virus chiếm 0,8 - 1,1%; protein chiếm 70 - 75%; lipid chiếm
20 - 24%; hydratcacbon chiếm 5 - 8% khối lượng hạt virus
Lipid tập trung ở màng virus và chủ yếu là lipid có gốc phospho, số còn lại là cholesterol, glucolipid và một ít hydrocacbon gồm các loại men galactose, ribose, fructose, glucosamin Thành phần chính protein của virus chủ yếu là glycoprotein (Lê Văn Năm, 2004) [20]
1.3.5 Quá trình nhân lên của virus
Theo Kingrbury 1985, Fenner và cộng sự mô tả quá trình nhân lên (sinh sản) của virus được tóm tắt như sau:
Virus xâm nhập vào tế bào nhờ chức năng của protein HA thông qua hiện tượng ẩm bào (endocytosis) qua cơ chế trung gian tiếp hợp thụ thể Thụ thể liên kết tế bào của virus cúm có bản chất là acid sialic cắm sâu vào glycoprotein hay glycolipid của vỏ virus Trong khoang ẩm bào, khi nồng độ
Trang 29pH được điều hòa để giảm xuống mức thấp sẽ xảy ra quá trình hợp nhất màng
tế bào và virus, sự hợp nhất này phụ thuộc vào sự cắt rời protein HA nhờ enzyme peptidase và enzyme protease của tế bào Lúc này nucleocapsid của virus đi vào trong nguyên sinh chất rồi vào trong nhân tế bào, chuẩn bị thực hiện quá trình tổng hợp ARN nguyên liệu hệ gen cho các virion mới
Hệ thống enzyme sao chép của virus ngay lập tức tạo nên các ARN thông tin Các phân đoạn ARN hệ gen được mã hóa ở 10 - 13 nucleotid đầu 5’ với nguyên liệu mã hóa lấy từ ARN tế bào, nhờ vào hoạt tính enzyme PB2
của virus ARN thông tin của virus sao chép trong nhân được chuyển vận ra nguyên sinh chất, được riboxom trợ giúp tổng hợp nên protein cấu trúc và protein nguyên liệu Protein H, N, M2, ở lại trong nguyên sinh chất, được vận chuyển xuyên qua hệ thống võng mạc nội mô và hệ Golgi sau đó được cắm lên màng tế bào nhiễm Protein NS1, NP, M1 được chuyển vận vào nhân để bao bọc đệm lấy nguyên liệu ARN hệ gen mới được tổng hợp (Lê Thanh Hoà, 2004 [13], Kingrbuy, 1985 [40])
Song song với quá trình sao chép ARN thông tin và tổng hợp protein cấu trúc, protein nguyên liệu, virus tiến hành tổng hợp nguyên liệu di truyền
là các sợi ARN mới Từ sợi ARN âm đơn của virus ban đầu, một sợi dương ARN toàn vẹn được tạo ra theo cơ chế bổ sung, sợi dương mới này lại làm khuôn để tổng hợp nên sợi âm ARN mới làm nguyên liệu Các sợi âm ARN mới, một số vừa làm nguyên liệu để lắp ráp virion mới, số khác lại làm khuôn
để tổng hợp ARN theo cơ chế như với sợi ARN của virus đầu tiên Các sợi ARN hệ gen được tạo ra là một sợi hoàn chỉnh về độ dài và được các protein đệm (NS1, M1, NP) bao gói tạo nên ribonucleocapsid (nucleoriboprotein) ngay trong nhân tế bào nhiễm, sau đó được chuyển vận ra nguyên sinh chất rồi được chuyển vận đến vị trí màng tế bào có sự biến đổi đặc hiệu với virus
Sự kết hợp cuối cùng của tổ hợp nucleoriboprotein với các protein cấu
Trang 30trúc (HA, NA, M2) tạo nên các hạt virus hoàn chỉnh mới và được giải phóng
ra khỏi tế bào nhiễm theo hình thức nảy chồi
1.3.6 Độc lực của virus
Độc lực của virus cúm gia cầm có sự dao động lớn, phụ thuộc vào nhiều yếu tố, trước hết là protein HA Các nghiên cứu ở mức độ phân tử cho thấy khả năng lây nhiễm của virus phụ thuộc vào tác động của men protease vật chủ đến
sự phá vỡ của liên kết hóa học sau khi dịch mã của phân tử ngưng kết, thực chất là sự cắt rời protein HA thành 2 tiểu phần HA1 và HA2 Tính thụ cảm của ngưng kết tố và sự phá vỡ liên kết của men protease lại phụ thuộc vào số lượng các amino axit cơ bản tại điểm bắt đầu phá vỡ các liên kết Các enzym giống trypsin có khả năng phá vỡ liên kết khi chỉ có một phân tử Arginin, trong khi
đó các enzym protease khác lại cần nhiều amino acid cơ bản
Tại Hội thảo thế giới lần đầu tiên về bệnh cúm gà 1981, Bankowski và cộng sự thông báo virus cúm gà có kháng nguyên bề mặt H7 thuộc loại có độc lực cao Nhưng Pensyvania (Mỹ) đã chứng kiến trận dịch cúm gà gây chết 75% số gà, khi phân lập virus có kháng nguyên bề mặt H5 mà không phải là
H7 Để đánh giá độc lực của virus cúm một cách khoa học, các nhà khoa học
sử dụng phương pháp gây bệnh cho gà 3 - 6 tuần tuổi bằng cách tiêm tĩnh mạch 0,2 ml nước trứng đã được gây nhiễm virus (pha loãng ở nồng độ 1/10) Sau đó đánh giá mức độ nhiễm bệnh của gà để cho điểm (chỉ số IVPI) Điểm tối đa là 3 điểm và đó là virus có độc lực cao nhất Theo quy định của Tổ chức Thú y Thế giới (OIE), virus nào có chỉ số IVPI từ 1, 2 trở lên thuộc loại
có độc lực cao (Nguyễn Tiến Dũng, 2004 [9], OIE, 1992 [46]) và các nhà khoa học đã thống nhất chia độc lực của virus ra 3 loại:
- Virus có độc lực cao: Nếu sau khi tiêm tĩnh mạch 10 ngày phải làm chết 75 - 100% số gà thực nghiệm Virus gây bệnh cúm gà (có thể là typ phụ)
Trang 31phải làm chết 20% số gà mẫn cảm thực nghiệm và phát triển tốt trên tế bào xơ phôi trong môi trường nuôi cấy không có Trypsin
- Virus có độc lực trung bình: Là những chủng virus gây dịch cúm gà với triệu chứng lâm sàng rõ rệt nhưng gây chết gà không quá 15% số gà bị nhiễm bệnh tự nhiên hoặc không gây quá 20% số gà mẫn cảm thực nghiệm
- Virus có độc lực thấp (nhược độc): Là những virus phát triển tốt trong
cơ thể gà, có thể gây ra dịch nhưng không có triệu chứng lâm sàng rõ rệt, không tạo ra bệnh tích đại thể và không làm chết gà
Trong thực tế người ta chia virus cúm gà ra làm 2 loại: Loại virus có độc lực thấp - LPAI (Low Pathogenic Avian Influenza) và loại virus có độc lực cao - HPAI (Highly Pathgennic Avian Influenza)
Cho đến nay người ta thừa nhận chỉ có 2 biến chủng virus có cấu trúc kháng nguyên H5, H7 được coi là loại có độc lực cao gây bệnh ở gia cầm, nhưng không phải tất cả các chủng mang gen H5, H7 đều gây bệnh
Thực tế chứng minh rằng các chủng có độc lực thấp trong quá trình lưu hành trong thiên nhiên và trong đàn thủy cầm có thể đột biến nội gen hoặc đột biến tái tổ hợp để trở thành các chủng có độc lực cao - HPAI (Collins R A.,
Trang 321.3.8 Nuôi cấy và lưu giữ virus cúm gà
Virus cúm gà phát triển tốt trên phôi gà 9 - 11 ngày tuổi, trong nước phôi gà tập trung khá nhiều virus và có thể lưu giữ virus được vài tuần ở điều kiện 40C Khả năng tồn tại và gây bệnh của virus rất cao nếu ta bảo quản nước phôi đó ở -700C hoặc cho đông khô (Lê Văn Năm, 2004) [20]
Virus cúm gà cũng phát triển tốt trong tế bào xơ phôi gà (CEF) và tế bào thận chó MDCK (Madin- Darby Canine Kidney cell) với điều kiện môi trường nuôi cấy tế bào không chứa Trypsin (Lê Văn Năm, 2004) [20]
1.4 Dịch tễ học bệnh cúm gà
1.4.1 Phân bố dịch bệnh
Virus cúm gia cầm phân bố khắp thế giới trong các loài gia cầm, dã cầm, động vật có vú Sự phân bố và lưu hành của virus cúm khó xác định chính xác vì chịu ảnh hưởng bởi các loài vật nuôi, tập quán chăn nuôi gia cầm, đường di trú của dã cầm, mùa vụ và hệ thống báo cáo dịch bệnh, phương pháp nghiên cứu (Cục Thú y, 2004) [6]
1.4.2 Động vật cảm nhiễm
Tất cả các loài gia cầm (gà, vịt, ngan, chim cút, vẹt, bồ câu), chim hoang
dã (đặc biệt thủy cầm di trú) đều mẫn cảm với virus Phần lớn các loài gia cầm non đều mẫn cảm với virus cúm typ A Ngoài ra virus cúm typ A còn gây bệnh cho nhiều loài động vật có vú như: lợn, ngựa, chồn, hải cẩu, thú hoang dã và cả con người Lợn mắc bệnh cúm thường do phân typ H1N1 và H3N2
Vịt nuôi bị nhiễm virus nhưng ít phát thành bệnh do vịt có sức đề kháng với virus gây bệnh Tuy nhiên, năm 1961 Nam Phi đã phân lập được virus cúm typ A (H5N1) gây bệnh cho cả gà và vịt (Bùi Quang Anh, Văn Đăng Kỳ, 2004 [1], Cục Thú y, 2004 [6])
1.4.3 Động vật mang virus
Virus cúm đã được phân lập ở hầu hết các loài chim hoang dã như vịt
Trang 33trời, thiên nga, hải âu, mòng biển, vẹt, vẹt đuôi dài, vẹt mào, chim thuộc họ
sẻ, diều hâu Tần suất và số lượng virus phân lập được ở thủy cầm (đặc biệt vịt trời) đều cao hơn các loài khác (Bùi Quang Anh, Văn Đăng Kỳ, 2004) [1]
Kết quả điều tra thủy cầm di trú ở Bắc Mỹ cho thấy trên 60% chim non
bị nhiễm virus do tập hợp đàn trước khi di trú
Sự kết hợp các kháng nguyên bề mặt H và N của các phân typ virus cúm A diễn ra ở chim hoang dã Những virus này không gây độc đối với vật chủ, được nhân lên ở đường ruột những chim này khiến cho các loài này mang virus là nguồn reo rắc virus cho các loài khác, đặc biệt gia cầm
Đã có nghiên cứu phát hiện nhiều virus cúm từ những loài vịt đi đầu trong mùa di trú, sau khi xuất hiện đã gây ra dịch ở gà tây Vịt từ khi bị nhiễm đến khi bắt đầu thải virus trong vòng 30 ngày Dường như virus được duy trì trong số đông vịt trời cho tới mùa sinh sản tiếp theo lại truyền cho các con non theo đường tiêu hóa do virus bài thải theo phân, gây ô nhiễm ao, hồ (Bùi Quang Anh, Văn Đăng Kỳ, 2004 [1], Cục Thú y, 2004 [6])
ăn, nước uống bị nhiễm virus
- Lây gián tiếp: Qua các hạt khí dung trong không khí với khoảng cách gần hoặc những dụng cụ chăn nuôi, phân, thức ăn, nước uống, quần áo, giầy dép, phương tiện vận chuyển, lồng nhốt, chim, thú, côn trùng có mang mầm bệnh
Như vậy, virus cúm dễ dàng truyền tới vùng khác do con người, phương tiện vận chuyển, dụng cụ và thức ăn chăn nuôi Bệnh chủ yếu truyền
Trang 34ngang (do tiếp xúc), chưa có bằng chứng cho thấy bệnh có thể truyền dọc (qua phôi thai) vì những phôi bị nhiễm virus thường chết mà không phát triển được Đối với gia cầm nuôi, nguồn dịch đầu tiên thường thấy là:
+ Từ các loài gia cầm nuôi khác nhau trong cùng một trang trại hoặc các trang trại khác liền kề như vịt lây sang gà
+ Từ gia cầm nhập khẩu
+ Từ chim di trú đặc biệt thuỷ cầm được coi là đối tượng chính dẫn nhập virus vào quần thể đàn gia cầm nuôi
+ Từ người và các động vật có vú khác, phần lớn các ổ dịch cúm gia cầm gần đây đã có sự lây lan thứ cấp thông qua con người (Bùi Quang Anh, Văn Đăng Kỳ, 2004 [1], Cục Thú y, 2004 [6])
1.4.5 Sức đề kháng của virus cúm
Virus mất độc lực ở nhiệt độ 56 - 600C trong vài phút, ở nhiệt độ 40
C virus tồn tại được 30 - 35 ngày, ở 200C tồn tại được 7 ngày Tuy nhiên virus tồn tại khá lâu trong các vật chất hữu cơ như phân gà ít nhất 3 tháng Trong thức ăn, nước uống bị ô nhiễm virus có khả năng tồn tại hàng tuần Đây chính
là nguồn bệnh nguy hiểm và tiềm tàng để làm lây lan dịch bệnh
Trong nước ao hồ virus vẫn có thể duy trì đặc tính gây bệnh tới 4 ngày
ở nhiệt độ 220
C và trên 30 ngày ở nhiệt độ 00C
Do cấu trúc vỏ ngoài của virus là lipid nên chúng mẫn cảm với các chất dung môi và chất tẩy rửa như formalin, axit, ete, β - propiolacton; sau khi tẩy
vỏ, các hóa chất như phenolic, NH4+
, axit loãng, natrihypochlorit và hydroxylanine có thể phá hủy virus cúm gia cầm Người ta thường dùng các hóa chất này như các chất sát trùng hữu hiệu để tẩy uế chuồng trại, dụng cụ
và các thiết bị chăn nuôi
1.4.6 Mùa vụ phát bệnh
Bệnh cúm gia cầm xảy ra quanh năm nhưng thường tập trung vào vụ
Trang 35đông xuân từ tháng 10 năm trước đến tháng 2 năm sau Khi có những biến đổi bất lợi về điều kiện thời tiết như nhiệt độ lạnh, độ ẩm cao, thời tiết có những thay đổi đột ngột, làm giảm sức đề kháng tự nhiên của con vật Mặt khác thời điểm này có mật độ chăn nuôi cao nhất trong năm, các hoạt động vận chuyển, giết mổ gia cầm diễn ra cao nhất trong năm cũng là điều kiện thuận lợi để dịch bệnh phát sinh lây lan (Bộ NN0 & PTNT, 2005) [3].
1.5 Triệu chứng, bệnh tích của bệnh cúm gia cầm
1.5.1 Triệu chứng lâm sàng của bệnh cúm gia cầm
Các biểu hiện triệu chứng lâm sàng của bệnh diễn biến rất đa dạng và phức tạp, nó phụ thuộc vào nhiều yếu tố như độc lực, số lượng virus, loài nhiễm bệnh, mật độ chăn nuôi, tiểu khí hậu chuồng nuôi
Thời gian ủ bệnh ngắn thường chỉ vài giờ đến 21 ngày Các triệu chứng
về hô hấp thường xuất hiện đầu tiên và khá điển hình như khẹc, lắc đầu, vẩy
mỏ, khó thở, chảy nước mũi, nước mắt Tiếp theo là mí mắt viêm, sưng mọng, phù mặt, phù đầu Mào và tích dầy lên do phù thũng, tím tái, xuất huyết Thịt
gà bị bệnh thâm tím Xuất huyết dưới da chân là đặc điểm đặc trưng của bệnh cúm gia cầm
Ngoài các triệu chứng trên còn thấy các triệu chứng về thần kinh như đi lại không bình thường, siêu vẹo, run rẩy, mệt mỏi, nằm li bì tụm đống với nhau Gia cầm tiêu chảy mạnh, phân loãng trắng, trắng xanh Với gia cầm đang đẻ thì tỉ lệ đẻ giảm rất nhanh Bệnh lây lan nhanh, gia cầm chết đột ngột Với chủng virus độc lực cao gây chết với tỷ lệ từ 70 - 100%, với chủng virus độc lực thấp tỷ lệ gây chết thấp hơn và mức độ biểu hiện triệu chứng cũng nhẹ hơn Tuy nhiên, trong trường hợp gà nhiễm virus chủng độc lực thấp khi có sự bội nhiễm hoặc điều kiện chăn nuôi bất lợi tỷ lệ tử vong cao hơn có thể tới 60
- 70% với các biệu hiện triệu chứng nặng hơn (Lê Văn Năm, 2004) [20]
Trang 361.5.2 Bệnh tích đại thể của bệnh cúm gia cầm
Mức độ biến đổi bệnh tích đại thể bệnh cúm gia cầm cũng đa dạng và rất khác nhau trong cùng một đàn, phụ thuộc rất nhiều vào độc lực virus, quá trình diễn biến của bệnh Những biến đổi mang tính tổng quan như sau:
+ Mào và tích thâm tím, phù nề, xuất huyết dưới da và rìa tích Xuất huyết dưới da ống chân thành vệt, nốt
+ Khí quản viêm xuất huyết, chứa nhiều đờm Túi khí phù nề, thành túi khí dầy và có nhiều fibrin bám dính Phổi viêm cata, xuất huyết đến viêm fibrin làm phổi dính vào lồng ngực
+ Viêm xuất huyết đường ruột, đặc biệt vùng hậu môn, van hồi manh tràng, dạ dày tuyến và niêm mạc tá tràng
+ Bao tim tích nước vàng, xuất huyết màng bao tim, mỡ vành tim, cơ tim Lách biến màu lốm đốm vàng, rắn chắc hơn bình thường tụy khô, xuất huyết
+ Viêm xuất huyết buồng trứng, ống dẫn trứng, nhiều trường hợp trứng non dập vỏ, xoang bụng tích nước vàng lợn cợn
+ Xuất huyết màng treo ruột, màng bao dạ dày tuyến, dạ dày cơ, màng xương lồng ngực có thể coi là đặc điểm riêng của bệnh cúm gia cầm (Lê Văn Năm, 2004) [21]
1.5.3 Bệnh tích vi thể
Các biến đổi đặc trưng về tổ chức học bao gồm: Phù nề, xung huyết, xuất huyết và thâm nhập limpho đơn nhân ở cơ vân, cơ tim, lách, phổi, mào, tích, gan, thận, mắt và thần kinh
1.6 Chẩn đoán bệnh
* Phân lập virus:
Bệnh phẩm có thể là dịch ngoáy hầu họng, dịch ổ nhớp hoặc các tổ chức phổi, khí quản, não, gan, lách, tim Mẫu sau khi lấy được bảo quản trong dung dịch PBS ở 40C và phải tiến hành phân lập trong vòng 48 giờ, nếu muốn
Trang 37bảo quản dài hơn phải giữ ở - 700
C
Phương pháp phân lập virus thường sử dụng là tiêm truyền qua phôi trứng 9 - 11 ngày hoặc môi trường tế bào thận chó MDCK Mẫu thu được kiểm tra bằng phản ứng HA để xác định virus
- Đối với nguồn bệnh: Tiêu hủy triệt để gia cầm nhiễm bệnh, thực hiện tốt công tác vệ sinh khử trùng để tiêu diệt mầm bệnh Tăng cường công tác giám sát phát hiện bệnh Khi phát hiện thấy gia cầm mang virus phải tiêu hủy ngay
- Đối với yếu tố truyền lây: Thực hiện tốt kiểm dịch vận chuyển, kiểm dịch gia cầm nhập khẩu, không vận chuyển gia cầm từ các nước hoặc các khu vực có dịch vào địa phương Thực hiện nuôi nhốt, nuôi cách ly, hạn chế người
và phương tiện ra vào khu vực chăn nuôi Không nuôi chung các loại gia cầm (gà, vịt, ngan) trong cùng chuồng nuôi Ngăn chặn sự xâm nhập của dã cầm tiếp xúc với gia cầm Quản lý chặt chẽ việc buôn bán, giết mổ gia cầm, quy hoạch khu vực buôn bán giết mổ gia cầm riêng Thực hiện tốt công tác vệ sinh, khử trùng, tiêu độc Tuyên truyền hướng dẫn các biện pháp chăn nuôi an toàn sinh học, các biện pháp phòng chống dịch cúm gia cầm để người chăn nuôi và
Trang 38nhân dân tự giác, chủ động thực hiện
- Đối với động vật cảm thụ: Tích cực tuyên truyền để thay đổi dần tập quán chăn nuôi nhỏ lẻ sang chăn nuôi trang trại, chăn nuôi công nghiệp Quy hoạch khu vực chăn nuôi gia cầm ra xa khu dân cư Xây dựng chuồng trại đúng tiêu chuẩn kỹ thuật, không gây ô nhiễm môi trường Thực hiện tốt quy trình vệ sinh thú y Chăm sóc nuôi dưỡng tốt để nâng cao sức đề kháng tự nhiên cho gia cầm Trong điều kiện chăn nuôi gia cầm của Việt Nam hiện nay, để kiểm soát dịch cúm gia cầm, một biện pháp rất quan trọng là tạo miễn dịch chủ động bằng cách tiêm vaccine cho đàn gia cầm
Như vậy để kiểm soát dịch cúm gia cầm có hiệu quả cần thực hiện đồng
bộ các biện pháp để tác động vào cả 3 khâu của quá trình sinh dịch
1.8 Vaccine cúm gia cầm
Để khống chế dịch cúm gia cầm, chúng ta đã áp dụng hàng loạt các biện pháp như tiêu hủy đàn gia cầm nhiễm bệnh, thực hiện kiểm dịch vận chuyển, kiểm soát giết mổ và vệ sinh khử trùng tiêu độc Tuy nhiên dịch cúm gia cầm vẫn liên tiếp xảy ra, trước tình hình đó ngày 14/7/2005 Bộ NN0 & PTNT đã ban hành quyết định số 1715 QĐ/BNN - TY về việc ban hành Quy định tạm thời về sử dụng vaccine cúm gia cầm
Phòng hộ chống lại bệnh cúm gia cầm là kết quả của đáp ứng miễn dịch chống lại protein Haemaglutinin (HA) mà hiện nay đã xác định được 16 subtyp khác nhau (H1 - H16) và ở mức độ nào đó chống lại protein Neuraminidae (NA) mà đã xác định được 9 subtyp (N1 - N9) Các đáp ứng miễn dịch kháng lại protein bên trong như Nucleoprotein (NP) và protein Matrix (M) của virus
đã được chứng minh là không đủ để tạo phòng hộ trên thực địa Trong thực tế
sự phòng hộ được tạo ra nhờ các subtyp Haemaglutinin
* Vaccine đƣợc sử dụng đúng sẽ đạt đƣợc một số mục đích nhƣ:
- Bảo hộ cho con vật không xuất hiện các triệu chứng lâm sàng và chết
Trang 39- Giảm bài thải virus cường độc nếu gia cầm bị nhiễm virus đó >1000 lần
so với gia cầm không được tiêm, ngưng hẳn sự bài thải virus vào ngày 13 - 18 sau tiêm
- Phòng được sự lây lan virus cường độc do tiếp xúc
- Phòng hộ, chống lại công cường độc bằng virus thực địa dù liều gây nhiễm cao hay thấp
- Phòng hộ, chống lại virus luôn thay đổi
- Tăng sức đề kháng của gà, chống lại sự nhiễm virus cúm gia cầm
* Các loại vaccine phòng bệnh hiện nay:
- Vaccine vô hoạt đồng chủng (H5N1): Vaccine vô hoạt H5N1 của Weike (Trung Quốc) Ban đầu được sản xuất như các vaccine tại chỗ (autogenous), nghĩa là vaccine chứa cùng những virus cúm giống như chủng gây bệnh trên thực địa Loại vaccine này được sử dụng rộng rãi ở Mehico và Pakistan (Haria Capua, Stefano Marangon, 2004 [14], Swayne D E and Suarez D L., 2000 [49]) Nhược điểm của này là không phân biệt được gia cầm được tiêm chủng với gia cầm nhiễm virus thực địa qua kiểm tra kháng thể
- Vaccine vô hoạt dị chủng (H5N2): Vaccine vô hoạt H5N2 của Intervet (Hà Lan) và của Weike (Trung Quốc) Vaccine này được sản xuất tương tự như vaccine vô hoạt đồng chủng Điểm khác biệt là chủng virus sử dụng trong vaccine có kháng nguyên H giống chủng virus trên thực địa còn kháng nguyên N
dị chủng Khi nhiễm virus trên thực địa bảo hộ lâm sàng và giảm thải trừ virus ra ngoài môi trường được đảm bảo bằng phản ứng miễm dịch sản sinh bởi kháng nguyên nhóm H đồng chủng, trong khi kháng thể chống N sản sinh bởi virus thực địa có thể sử dụng như chất đánh dấu sự lây nhiễm trên thực địa (Haria Capua, Stefano Marangon, 2004 [14], Capua I et al, 2000 [31])
Đối với vaccine dị chủng, mức độ bảo hộ không tỷ lệ chặt chẽ với mức
độ đồng chủng giữa gen ngưng kết tố hồng cầu trong vaccine và chủng trên
Trang 40thực địa Đây là một ưu điểm lớn cho phép thành lập ngân hàng bởi vì giống gốc không chứa virus có mặt trên thực địa
- Vaccine tái tổ hợp: Một vài loại vaccine tái tổ hợp virus đậu gà chứa kháng nguyên H5, H7 đã được sử dụng, ở đây virus đậu gà được sử dụng như một vector dẫn truyền Ngoài ra, người ta cũng đã sử dụng virus viêm thanh khí quản truyền nhiễm làm vector dẫn truyền (Luschow D et al, 2001) [43]
Các nhà khoa học thuộc Viện nghiên cứu Thú y Cáp Nhĩ Tân đã sản xuất thành công vaccine tái tổ hợp phòng chống cúm gia cầm và Newcastle, vaccine
có thể dùng đường tiêm, đường miệng, đường mũi hoặc theo phương pháp khí dung Đến cuối tháng 12/2005 Trung quốc đã sản xuất được một tỷ liều Sử dụng vaccine tái tổ hợp có vector dẫn truyền cho phép phân biệt được con vật nhiễm bệnh tự nhiên và con vật được tiêm chủng
1.9 Nghiên cứu trong nước về bệnh cúm gia cầm
Trong tiếng chuông cảnh báo của dịch cúm gia cầm ở Hồng Kông, ý thức được khả năng của virus trong cơ chế kinh tế mở, Viện Thú y Quốc gia
đã chủ động quan hệ với Trung tâm Kiểm soát dịch bệnh Hoa Kỳ (CDC) Sự hợp tác giữa Viện Thú y và CDC nhằm tạo cơ sở hỗ trợ kỹ thuật phát hiện virus H5N1, phân lập virus, tập huấn kỹ thuật Nhờ đó đến cuối tháng 8/2003 Viện Thú y đã có đủ khả năng về con người và vật liệu để xác định chủng H5 virus cúm gia cầm
Cục Thú y, Viện Thú y đã chẩn đoán xác định sự có mặt của virus cúm gia cầm chủng H5 tại Việt Nam, là cơ sở khoa học để Bộ Nông nghiệp và phát triển Nông thôn công bố dịch vào ngày 8/1/2004
Với sự giúp đỡ của CDC, chủng virus cúm gia cầm lưu hành ở Việt Nam được xác định là chủng H5N1
Chủng H5N1 không chỉ có mặt ở đàn gà mà còn gây bệnh cho cả ngan Việc xác định H5N1 ở ngan đã chỉ rõ rằng thủy cầm cũng nhiễm bệnh và trở