Trong các phân môn đó thì phân môn Chính tả dạy cho họcsinh cách dùng từ đúng, cách viết đúng, hay nói cách khác, môn Chính tảdạy cho học sinh ngữ pháp căn bản của Tiếng Việt.. chỉ tên n
Trang 1MỤC LỤCPhần 1: Phần mở đầu
1 Lý do chọn đề tài
2 Mục đích nghiên cứu
3 Khách thể và đối tượng nghiên cứu
4 Giả thuyết khoa học
5 Nhiệm vụ nghiên cứu
1.2.3 Một số lỗi chính tả thường gặp của học sinh
1.2.4 Nguyên nhân dẫn đến tình trạng học sinh dùng sai chính tả
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1CHƯƠNG 2: MỘT SỐ BIỆN PHÁP GÓP PHẦN NÂNG CAO CHẤTLƯỢNG DẠY HỌC LUẬT CHÍNH TẢ TRONG TRƯỜNG TIỂU HỌC2.1 Luyện phát âm
2.2 Phân tích, so sánh
Trang 22.3 Giải nghĩa từ.
2.4 Ghi nhớ mẹo luật chính tả
2.5 Thực hành chính tả
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2CHƯƠNG 3: THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM3.1 Mục đích thực nghiệm
3.2 Đối tượng thực nghiệm
3.3 Khái quát quá trình thực nghiệm
3.4 Nội dung thực nghiệm
KẾT LUẬN CHƯƠNG 3KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
1 Kết luận
2 Kiến nghị
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 3MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Lúc sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng nói rằng: “Vì sự nghiệp
10 năm trồng cây, vì sự nghiệp trăm năm trồng người” Câu nói đầy triết lý
đó của Người như một lời dặn dò, một lời chỉ bảo, một sự vạch lối chỉđường cho tương lai, cho sự suy tồn của đất nước, của quốc gia dân tộc Ởđâu và trong bất kỳ thời đại nào cũng đều cần những vị anh minh, những conngười tài đức vẹn toàn để họ cống hiến cho xã tắc
Ngày nay, Đảng và Nhà nước ta đã thấm nhuần, đã tiếp thu tư tưởng
đó của Người, đã nâng sự nghiệp trồng người - sự nghiệp giáo dục lên thànhquốc sách hàng đầu, là nền móng, là nền tảng cho sự tồn tại và phát triển củađất nước! Giáo dục đào tạo đóng vai trò quan trọng, là nhân tố chìa khoá, làđộng lực thúc đấy nền kinh tế phát triển Không chỉ ở Việt Nam mà hầu hết
các quốc gia trên thế giới đều coi giáo dục là “quốc sách hàng đầu”.
Hệ thống giáo dục ở nước ta được chia thành các cấp học, bắt đầu từnhà trẻ, rồi đến Mầm non, tiếp đó là Tiểu học, Trung học cơ sở, Trung họcphổ thông, Trung cấp - Cao đẳng - Đại học và sau đại học Trong mỗi cấphọc lại chia thành các khối, trong mỗi khối lại chia thành các lớp khác nhautuỳ theo số lượng học sinh Trong hệ thống giáo dục thì cấp 1 - cấp Tiểu học
là cấp quan trọng nhất, là nền tảng cho các cấp học khác đồng thời cũng lànền tảng cho sự phát triển tư duy và nhân cách mỗi người sau này
Theo luật Phổ cập giáo dục Tiểu học nước CHXHCN Việt Nam năm
1991 thì giáo dục Tiểu học là điều kiện cơ bản để nâng cao dân trí, là cơ sởban đầu để đào tạo trẻ em trở thành những công dân tốt của đất nước
Điều 2 bộ luật này quy định: “Giáo dục Tiểu học phải đảm bảo cho học sinh nắm vững các kỹ năng: Nói; đọc; viết; tính toán; có những hiểu biết về tự nhiên xã hội và con người; có lòng nhân ái; hiếu thảo với ông bà
Trang 4cha mẹ; yêu quý anh chị em, kính trọng thầy giáo, cô giáo, lễ phép với người lớn tuổi, giúp đỡ bạn bè, các em nhỏ, yêu lao động, có kỷ luật, có nếp sống văn hoá, có thói quen rèn luyện thân thể, giữ vệ sinh, yêu quê hương đất nước, yêu hoà bình” Như vậy, điều luật trên cho chúng ta thấy rõ nhiệm
vụ của giáo dục bậc Tiểu học Giáo dục Tiểu học vừa phải dạy các em tiếpthu kiến thức, vừa phải dạy các em cách làm người Cái gốc, cái nền tảngcủa sự phát triển tư duy và nhân cách bắt nguồn từ bậc giáo dục Tiểu học.Cái gì cũng phải có nguồn gốc, có khởi sự của nó, gốc có tốt thì cây mới tốt,hoa trái của nó mới xum xuê được Giáo dục có tốt, tri thức các em tiếp thuđược có vững vàng, các chuẩn mực đạo đức các em có lĩnh hội được mộtcách sâu sắc và đầy đủ thì sau này, khi các em lớn lên, các em mới có thể trởthành những người vừa có tài vừa có đức, các em mới trở thành những conngười có ích cho xã hội, mới có nhiều cống hiến cho quê hương đất nước
Ngay từ khi trẻ sinh ra cho đến khi bập bẹ tập nói, ngôn ngữ đầu tiêncác em tiếp xúc chính là tiếng mẹ đẻ của mình Cho dù các em chưa đếntrường, chưa được học chữ, nhưng qua lời nói của mọi người, đứa trẻ hiểunhững gì người ta nói với nó Khi trẻ bập bẹ tập nói, người ta dạy cho các
em biết gọi mẹ, gọi bà, rồi dần dần dạy các câu nói khác Khi đã đến tuổiđến trường, thứ ngôn ngữ đầu tiên mà người ta dạy cho mọi đứa trẻ là TiếngViệt, tiếng mẹ đẻ của mình Ban đầu, giáo viên dạy cho học trò của mìnhbiết đọc biết viết Tiếng Việt, khi học sinh đã biết đọc biết viết thì người tadạy cho các em cách viết đúng, viết đẹp Môn Tiếng Việt trong chương trìnhTiểu học được chia thành các phân môn với nhiệm vụ và chức năng riêng
Đó là các phân môn Tập đọc, Tập viết, Chính tả, Luyện từ và câu, Tập làmvăn, Kể chuyện Trong các phân môn đó thì phân môn Chính tả dạy cho họcsinh cách dùng từ đúng, cách viết đúng, hay nói cách khác, môn Chính tảdạy cho học sinh ngữ pháp căn bản của Tiếng Việt Bất kỳ người Việt Nam
Trang 5nào cũng có khả năng nói Tiếng Việt, nhưng không phải ai cũng có khả năngdùng Tiếng Việt đúng Chúng ta nhìn thấy điều này một cách rõ ràng trongcuộc sống hàng ngày và trong các phương tiện thông tin đại chúng Ngườilớn nói sai chính tả, viết sai chính tả, thậm chí chúng ta có thể thấy nhà báocũng viết sai chính tả nữa Nguyên nhân của tình trạng này là do đâu? Phảichăng nó bắt nguồn từ việc dạy chính tả trong nhà trường, nhất là trườngTiểu học Vì những nguyên nhân đó, chúng tôi mạnh dạn nghiên cứu đề tài:
“Nâng cao chất lượng dạy học luật chính tả trong trường Tiểu học”.
3 Khách thể và đối tượng nghiên cứu
- Khách thể nghiên cứu: Học sinh trường tiểu học…
- Đối tượng nghiên cứu: Vấn đề dạy học luật chính tả trong trườngTiểu học
4 Giả thuyết khoa học
Nếu làm rõ thực trạng việc dạy luật chính tả cho học sinh trong trườngTiểu học thì ta sẽ biết những ưu điểm, những tích cực cần phát huy và nhữnghạn chế cùng các biện pháp khắc phục Đồng thời đề ra một số biện phápgóp phần nâng cao chất lượng dạy và học môn Chính tả trong trường Tiểuhọc
5 Nhiệm vụ nghiên cứu
Xuất phát từ mục đích, khách thể và đối tượng nghiên cứu, chúng tôixác định đề tài này gồm các nhiệm vụ cơ bản sau đây:
Trang 6- Tìm hiểu được thực trạng việc dạy học luật chính tả trong trườngTiểu học
- Tìm hiểu, thống kê, phân loại các lỗi chính tả thường gặp ở học sinhtrong nhà trường
- Tìm hiểu, xác định và làm rõ các nguyên nhân gây ra tình trạng trên
- Đưa ra một số biện pháp góp phần nâng cao chất lượng việc dạy họcluật chính tả trong nhà trường
- Tiến hành thực nghiệm các biện pháp đã đề ra ở một số lớp để đánhgiá tính khả thi của đề tài
6 Phạm vi nghiên cứu.
Chúng tôi tiến hành nghiên cứu trên 890 học sinh Trường Tiểu họcHùng Vương Thị xã Phú Thọ
7 Phương pháp nghiên cứu
7.1 Phương pháp tiếp cận thu thập thông tin.
- Tiếp cận là sự lựa chọn chỗ đứng để quan sát đối tượng nghiên cứu,
là cách xử sự, xem xét đối tượng nghiên cứu
Trang 7- Tiếp nhận lịch sử logic.
+ Xem xét sự vật qua nhiều sự kiện xuất hiện trong quá khứ Với mỗiphương pháp khách quan thu thập thông tin về chuỗi các sự kiện trong quákhứ người nghiên cứu sẽ nhận biết logic tất yếu của quá trình phát triển.+ Tiếp cận lịch sử đòi hỏi thu thập thông tin về các sự kiện Sắp xếp các sựkiện theo một trật tự nhất định nhờ đó làm bộc lộ logic tất yếu của quá trình pháttriển
- Nội dung cần thu thập trong quá trình nghiên cứu tài liệu
+ Cơ sở lý thuyết liên quan đến chủ đề nghiên cứu
+ Thành tựu đã đạt được của chủ đề nghiên cứu
+ Kết quả nghiên cứu của đồng nghiệp đã được công bố trên ấn phẩm.+ Chủ trương chính sách liên quan đến nội dung nghiên cứu
+ Số liệu thống kê
- Nguồn tài liệu
+ Tạp chí và báo cáo khoa học trong ngành
+ Tạp chí và báo cáo khoa học ngoài ngành
+ Sách giáo khoa
+ Tác phẩm khoa học trong ngành
+ Tài liệu lưu trữ số liệu thông kê
Trang 8+ Thông tin đại chúng.
- Phân tích tài liệu
+ Phân tích nguồn tài liệu
+ Phân tích nội dung tài liệu
- Tổng hợp tài liệu
+ Bổ túc tài liệu sau khi phân tích phát hiện thiếu sót, sai lệch
+ Lựa chọn tài liệu, chỉ chọn những cái cần đủ để xây dựng luận cứ.+ Sắp xếp tài liệu
+ Làm tái hiện quy luật
7.3 Phương pháp quan sát sư phạm.
- Khái niệm
+ Quan sát sư phạm là phương pháp thu thập thông tin về quá trìnhgiáo dục trên cơ sở tri giác trực tiếp các hoạt động sư phạm cho những tàiliệu sống về thực tiễn giáo dục để khái quát nên những quy luật nhằm tổchức quá trình giáo dục được tốt hơn
+ Phương tiện để quan sát chủ yếu là tri giác trực tiếp Nếu có khảnăng có thể dùng các phương tiện kỹ thuật hỗ trợ để tài liệu quan sát đượcxem xét kĩ lưỡng hơn
- Chức năng của quan sát
+ Thu thập thông tin, phát hiện vấn đề từ trong thực tiễn quá trình giáodục
+ Kiểm chứng các lý thuyết về giáo dục, kết quả của phương pháp thựcnghiệm giáo dục
+ Mở đầu cho một phương pháp nghiên cứu khoa học giáo dục khác
- Đặc điểm
+ Các hoạt động sư phạm rất phức tạp nên người quan sát phải hết sứctập trung và trung thành với phiếu quan sát
Trang 9+ Kết quả quan sát có thể bị chi phối bởi chủ thể như tình trạng sứckhoẻ, tình cảm, tính chủ quan hoặc ảo giác về tâm lý khi làm việc căngthẳng.
- Phân loại quan sát
+ Quan sát kiểu chụp hình: Ghi nhận có trọng tâm các hoạt động củađối tượng theo thứ tự thời gian
+ Quan sát kiểu tổng hợp: Ghi nhận có trọng tâm các hoạt động của đốitượng Ở kiểu này, người quan sát cũng ghi các hoạt động theo thời giannhưng có thể tổng kết một số hoạt động cùng loại để tính bằng số sau khi kếtthúc mỗi buổi quan sát
- Quy trình quan sát
+ Xác định rõ mục đích quan sát, trả lời câu hỏi “quan sát để làm gì ?”+ Xác định nội dung quan sát và phương pháp quan sát: Cần trả lời tiếpcâu hỏi: “Quan sát cái gì ? Quan sát như thế nào và bằng cái gì ?”
+ Chuẩn bị cho người đi quan sát: Lập phiếu quan sát, kiểm tra phươngtiện quan sát, tập huấn cộng tác viên về nội dung và phương pháp
+ Tiến hành quan sát
+ Xử lý, tập hợp các phiếu quan sát, sắp xếp số liệu, phân tích để điđến một nhận định khoa học
- Những điều cần chú ý khi quan sát
+ Khi quan sát, đối tượng quan sát có thể được báo trước hay khôngtuỳ người chủ đề tài và nội dung quan sát
+ Tránh thời điểm không thuận lợi cho tâm lý, sức khoẻ người quansát
+ Tuyệt đối không ghi nhận giá trị cá nhân vào phiếu quan sát
7.4 Phương pháp điều tra giáo dục.
- Khái niệm:
Trang 10Phương pháp điều tra giáo dục là phương pháp được dùng thườngxuyên trong giáo dục thể hiện qua việc tác động trực tiếp của người nghiêncứu vào đối tượng nghiên cứu thông qua câu hỏi để có những thông tin cầnthiết cho công việc của mình.
- Mục đích
Nhằm mục đích thu nhận số liệu, sự suy nghĩ, quan điểm trên một sốlượng lớn đối tượng nào đó để từ đó có thể phán đoán tìm ra nguyên nhân,tính phổ biến hoặc biện pháp giải quyết một vấn đề trong giáo dục
- Đặc điểm
+ Được thực hiện trên một số lượng lớn đối tượng
+ Tuy số lượng lớn đối tượng và số liệu mang tính thống kê nhưng kếtquả phải là chân lý
- Phân loại điều tra
+ Điều tra cơ bản trong giáo dục: thường điều tra bằng câu hỏi
+ Trưng cầu ý kiến về một quan điểm, cách làm trong giáo dục:Thường điều tra bằng phỏng vấn trực tiếp
- Hình thức điều tra trong giáo dục
+ Phỏng vấn có chuẩn bị trước
+ Phỏng vấn không chuẩn bị trước
+ Nhóm trọng điểm
- Quy trình điều tra
+ Chọn mẫu điều tra: Sử dụng mẫu anket với hệ thống câu hỏi (câu hỏiđóng và câu hỏi mở) để thu thập thông tin
7.5 Phương pháp thực nghiệm sư phạm.
- Khái niệm
Phương pháp thực nghiệm sư phạm là phương pháp thu thập thông tin về
sự thay đổi số lượng trong nhận thức và hành vi của các đối tượng giáo dục do
Trang 11nhà khoa học tác động đến chúng bằng một số tác nhân điều khiển và đã đượckiểm tra.
- Đặc điểm
+ Xuất phát điểm của phương pháp là các giả thuyết (từ thực tế), cácphán đoán (bắng tư duy) để khẳng định hoặc bác bỏ chúng, điều này bắtbuộc phải có
+ Kết quả của phương pháp thực nghiệm sư phạm là có thể khẳng địnhhoặc phủ định cái mới, tìm ra lý thuyết mới, quy luật mới hoặc sự phát triểnmới trong giáo dục
+ Vì đối tượng là con người, là số đông nên các số liệu đo hoặc các mãhóa kết quả đo không hoàn toàn chính xác, cần được xử lý bằng thống kê.+ Vai trò của phương pháp quan sát và phương pháp điều tra vẫn còntiếp tục được sử dụng ở đây nếu nhà nghiên cứu cần một số dữ liệu bổ sunghoặc kiểm tra lần cuối cùng sau khi phương pháp thực nghiệm sư phạm cókết quả
- Tổ chức thực nghiệm sư phạm
+ Nội dung cần thực nghiệm
Nội dung nghiên cứu rút ra từ các kết luận của quan sát sư phạm, của điềutra
Các ý đồ vận dụng phương pháp mới, phương tiện dạy học mới, cáchình thức tổ chức học tập mới
- Quy trình thực nghiệm sư phạm
Bước 1: Chuẩn bị thực nghiệm
+ Chọn nội dung, nơi thực nghiệm
+ Soạn giáo án, chuẩn bị phương tiện
+ Dự kiến phương án và phương pháp đánh giá cụ thể
Bước 2: Chọn lớp thực nghiệm và đối chứng
Trang 12Bước 3: Tiến hành thực nghiệm ở nhóm lớp thực nghiệm và đánh giá.Bước 4: Xử lý số liệu bằng toán thống kê.
Bước 5: Viết bài
- Những yếu tố tác động đến kết quả của phương pháp thực nghiệm sưphạm
+ Nguồn nghiên cứu
+ Việc chọn nhóm nghiên cứu
+ Chủ quan nhà nghiên cứu
7.6 Phương pháp xử lý dữ liệu.
Sử dụng toán thống kê để xử lý số liệu
8 Cấu trúc của đề tài.
Trang 13CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
Chữ quốc ngữ có 29 chữ cái là: A (a), Ă (ă), Â (â), B (b), C (c), D (d),
Đ (đ), E (e), Ê (ê), G (g), H (h), I (i), K (k), L (l), M (m), N (n), O (o), Ô (ô),
Ơ (ơ), P (p), Q (q), R (r), S (s), T (t), U (u), Ư (ư), V (v), X (x), Y (y)
Mỗi chữ cái đều có hai hình thức viết lớn và viết nhỏ Kiểu viết lớngọi là “chữ hoa”, khi dùng ở dạng viết tay còn được gọi là “chữ viết hoa”,khi dùng ở dạng chữ in còn gọi là “chữ in hoa” Kiểu viết nhỏ gọi là “chữthường”, khi dùng ở dạng viết tay còn được gọi là “chữ viết thường”, khidùng ở dạng chữ in còn được gọi là “chữ in thường” Cả hai hình thức “chữhoa” và “chữ thường” của mỗi chữ cái đều có cùng tên gọi, âm vị mà chúngbiểu thị cũng giống nhau
Hình thức chữ hoa của mỗi chữ cái sẽ được gọi bằng công thức: “chữ”+ tên gọi của chữ cái đó + “hoa” Còn hình thức chữ thường sẽ được gọibằng công thức: “chữ” + tên gọi của chữ cái đó + “thường” Ví dụ: “B” và
“b” đều được gọi là “bê” hoặc “bờ”, khi cần phân biệt thì “B” được gọi là
“chữ bê hoa”, “b” được gọi là “chữ bê thường” Chữ hoa được dùng để biểuthị danh từ riêng (tên người, tên địa danh, tên gọi của các đoàn thể, các tổ
Trang 14chức…), điểm bắt đầu của một đoạn văn, nhấn mạnh một đoạn văn ngườiđọc cần chú ý.
Trừ ba chữ cái “đ”, “k”, và “q” ra thì tất cả các chữ cái quốc ngữ biểuthị phụ âm khác đều có hai kiểu tên gọi Kiểu thứ nhất là bắt nguồn từ têngọi của nó trong tiếng Pháp Kiểu thứ hai là ghép phụ âm mà nó biểu thị vớinguyên âm “ơ” và thanh huyền Ví dụ như chữ “c” có hai tên gọi là “xê” và
“cờ”, trong đó “xê” bắt nguồn từ tên gọi của chữ cái “c” trong tiếng Pháp là
“cé” (se) Khi đánh vần từ Tiếng Việt người ta sẽ dùng kiểu tên gọi thứ hai,không dùng kiểu thứ nhất, ví dụ như từ “cá” được đánh vần là “cờ a ca sắccá”, không được đánh vần là “xê a ca sắc cá” Hiện nay trừ trường hợp đánhvần Tiếng Việt đã nêu ở trên ra và ba chữ cái “d”, “k”, “q” thì người tathường gọi tên các chữ cái biểu thị phụ âm bằng kiểu thứ nhất Ví dụ như
“VAT” (tên gọi tắt theo Tiếng Anh của thuế giá trị gia tăng) được đọc là “vê
a tê”, không gọi là “vờ a tờ”
Trong chữ quốc ngữ không phải chữ cái nào cũng biểu thị một “âmvị” duy nhất và cũng không phải âm vị nào cũng được biểu thị bằng mộtcách duy nhất Có một số âm vị của Tiếng Việt được ghi lại bằng nhiều cáchkhác nhau Lại cũng có những chữ cái biểu thị nhiều âm vị khác nhau củaTiếng Việt
Chữ quốc ngữ có 11 chữ cái do hai hoặc ba chữ cái tạo thành dùng đểghi lại các phụ âm của Tiếng Việt: 11 chữ cái ghép của chữ quốc ngữ baogồm:
+ 10 chữ cái ghép đôi do hai chữ cái tạo thành: Ch, gh, gi, kh, ng, nh,
th, ph, tr, qu
+ 1 chữ cái ghép ba do ba chữ cái tạo thành: Ngh
Bốn chữ cái “f”, “j”, “w” và “z” không được dùng để ghi lại âm vị nàocủa Tiếng Việt, nhưng chúng có thể xuất hiện khi biểu thị mẫu danh từ riêng
Trang 15chỉ tên người và danh từ chung chỉ địa danh của dân tộc khác không phảidân tộc Kinh (kể cả tiếng nước ngoài) và tên viết tắt từ nước ngoài.
Nguyên âm
Có sáu nguyên âm đơn chính: A, E, I, O, U, Y nhưng chỉ tính là năm(I và Y phát âm gần giống nhau và có thể thay thế nhau trong một số trườnghợp) và sáu nguyên âm biến thể do được thêm dấu là Â, Ă, Ê, Ô, Ơ và Ư.Như vậy, có 11 nguyên âm đơn
Ngoài các nguyên âm đơn, trong Tiếng Việt còn có: 32 nguyên âmđôi, còn gọi là trùng nhị âm (AI, AO, AU, ÂU, AY, ÂY, EO, ÊU, IA,IÊ/YÊ, IU, OA, OĂ, OE, OI, ÔI, ƠI, OO, ƠU, UA, UĂ, UÂ, ƯA, UÊ, UI,
ƯI, UÔ, UƠ, ƯƠ, ƯU, UY) và 19 nguyên âm ba hay trùng tam âm(IÊU/YÊU, OAI, OAO, OAY, OEO, UAI, UAO, UAU, UÂU, OAY, UÂY,UEO, UÊU, UƠI, ƯƠU, UYA, UYÊ, UYU)
Có 12 nguyên âm: Ă, Â, IÊ, OĂ, OO, UA, UÂ, UĂ, UÔ, ƯƠ, UYÊ,
YÊ bắt buộc phải thêm các phần âm cuối được chia theo quy tắc đối lập bổsung như sau:
Có thể thêm nguyên âm cuối hoặc phụ âm cuối: Â, IÊ, UÂ, UƠ, ƯƠ,YÊ
Chỉ có thể thêm phụ âm cuối: Ă, OĂ, ƯA, OO, UYÊ
Có bốn nguyên âm có thể đứng tự do một mình hoặc thêm âm đầu,cuối hoặc cả đầu lẫn cuối: OA, OE, UÊ, UY
Như vậy ta chỉ có 36 nguyên âm ghép không thêm được phần âm cuốilà: AI, AO, AU, ÂU, AY, ÂY, EO, ÊU, IA, IÊU, IU, OI, ÔI, ƠI, ƠU, OAI,OAY, OEO, ƯA, UI, ƯI, ƯU, UƠ,UAI, UAO, UAU, UÂU, UAY, UÂY,UEO, UÊU, UÔI, ƯƠI, ƯƠU, UYA, và UYU Trong phát âm và viết thànhchữ quốc ngữ thì việc lên xuống, kéo dài âm từ để biểu thị từ tượng thanh,tượng hình và lớn, nhỏ… luôn là việc cần thiết
Trang 16Giữa nguyên âm và cách phát âm của chúng có mối liên hệ phức tạp.Một nguyên âm có thể biểu thị cho vài cách phát âm khác nhau tuỳ theo nónằm trong nguyên âm đơn, đôi hay ba và nhiều khi các cách viết nguyên âmkhác nhau tượng trưng cho cùng một cách phát âm Ví dụ:
Y và I có thể dùng thay cho nhau trong nhiều trường hợp đã có quyếtđịnh của Bộ Gíáo dục Việt Nam vào năm 1984 quy định dùng I thay Y Quychuẩn này không áp dụng cho các nguyên âm đôi và nguyên âm ba cũng nhưngoại trừ tên riêng nhưng vẫn có hạn chế trong việc thực thi trong cuộcsống Trường hợp các từ có phụ âm đầu là qu, sử dụng vần Y thì sẽ đúnghơn
Khi chữ quốc ngữ ra đời thứ Tiếng Việt mà nó ghi lại là Tiếng Việttrung đại không giống với Tiếng Việt hiện đại đang được sử dụng ở ViệtNam hiện nay, do đó một từ được viết giống nhau với ngày nay chưa chắc
đã được phát âm giống nhau Tiếng Việt trung đại khi đó có ba phụ âm kép
là “tl”, “bl”, “ml” Phụ âm kép “ml” về sau biến đổi thành phụ âm kép
“mnh” Tiếng Việt hiện đại không có phụ âm kép nào ngoài phụ âm kép “ts”được một số người miền nam sử dụng (chữ quốc ngữ ghi lại bằng chữ kép
“tr”)
Thanh điệu
Tiếng Việt là ngôn ngữ thanh điệu, mọi âm tiết của Tiếng Việt đềuluôn mang một thanh điệu nào đó Phương ngôn Tiếng Việt miền Bắc có sáu
Trang 17thanh điệu, phương ngôn Tiếng Việt miền Trung và miền Nam có năm thanhđiệu.
Trừ thanh ngang không có phù hiệu riêng để biểu thị (vì vậy mà một
số người gọi là “thanh không dấu”), chữ quốc ngữ dùng sáu phù hiệu gọi là
“dấu thanh” hoặc “dấu” để biểu thị thanh điệu của Tiếng Việt
Trong các nguyên âm đôi và ba có ít nhất hai cách đặt dấu phụ lênchúng, trong đó một cách (“cách mới”) dựa trên lý thuyết ngôn ngữ học
Trong xếp thứ tự chữ cái, các chữ cái được ưu tiên, tiếp sau là dấu âm,dấu thanh điệu và sau cùng là chữ hoa/chữ thường Qúa trình ưu tiên nàyđược thực hiện lần lượt trên các âm tiết Ví dụ một từ điển sẽ xếp “tuân thủ”trước “tuần chay”
Dấu câu
Dưới đây là các dấu câu được dùng trong chữ quốc ngữ
- Dấu chấm còn gọi là dấu chấm câu
- Dấu phẩy còn gọi là dấu phết
- Dấu hỏi còn gọi là dấu chấm hỏi, dấu hỏi chấm
- Dấu chấm than còn gọi là dấu cảm thán
- Dấu chấm lửng còn gọi là dấu ba chấm, dấu tỉnh lược
- Dấu dẫn có hai loại là:
+ Dấu dẫn đơn: Có hai dạng là dấu dẫn đơn kiểu Anh Mĩ (‘ ‘) còn gọi
là dấu nháy đơn, và dấu dẫn đơn kiểu Pháp Nga (< >) còn gọi là dấu ngoặcnhọn Dấu dẫn đơn chủ yếu xuất hiện trong một số văn bản được đánh bằngmáy vi tính và trên sách báo, ít dùng trong kiểu viết tay Dấu dẫn đơn kiểuAnh Mĩ hay được dùng hơn dấu dẫn đơn kiểu Pháp Nga Ngoài chỉ dấu dẫnđơn kiểu Pháp Nga, tên gọi “dấu ngoặc nhọn” còn được dùng để chỉ phùhiệu “ “ và “< >”
Trang 18+ Dấu dẫn kép còn gọi là dấu ngoặc kép: Có hai dạng là dấu dẫn képkiểu Anh Mĩ (“ “) còn gọi là dấu nháy kép, và dấu dẫn kép kiểu Pháp Nga(<< >>) Dấu dẫn kép kiểu Pháp Nga này nay ít dùng Chữ viết tay thườngdùng dấu dẫn kiểu Anh Mĩ.
- Dấu chấm phẩy còn gọi là dấu chấm phết “;”
- Dấu hai chấm “:”
- Dấu ngoặc còn gọi là dấu ngoặc ôm Có ba loại là:
+ Dấu ngoặc tròn còn gọi là dấu ngoặc đơn: “( )”
+ Dấu ngoặc vuông: “[ ]”
+ Dấu ngoặc xoắn: “{}”
- Dấu gạch ngang: “-”
b Nguyên tắc xây dựng chữ quốc ngữ.
So với chữ viết của nhiều ngôn ngữ trên thế giới, chữ quốc ngữ cóphần hợp lý hơn, do đó, chính tả của nó cũng giản tiện hơn rất nhiều.Nguyên nhân sâu xa nhất của điều này là ở chỗ chữ quốc ngữ được xây dựngtheo nguyên tắc âm vị học (hay như vẫn quen gọi là nguyên tắc ngữ âmhọc) Nguyên tắc âm vị học trong chữ viết yêu cầu giữa âm và chữ phải cóquan hệ tương ứng “1-1” Để đảm bảo nguyên tắc này, chữ quốc ngữ phảithoả mãn ít nhất 2 điều kiện:
- Mỗi âm chỉ do một kí hiệu biểu thị
- Mỗi kí hiệu luôn luôn chỉ có một giá trị, tức biểu thị một âm duynhất ở mọi vị trí trong từ
Về căn bản, chữ quốc ngữ chữ được tạo ra có tính đến khá đầy đủ cácđiều kiện đó
c Những bất hợp lý trong chữ quốc ngữ.
Do nhiều nguyên nhân lịch sử, văn hoá, xã hội, ngôn ngữ khác nhau,những người tạo ra chữ quốc ngữ đã không tuân thủ được một cách nghiêm
Trang 19ngặt những yêu cầu của nguyên tắc âm vị học trong chữ viết Do đó, đã đểlại trong lòng cơ cấu chữ quốc ngữ nhiều hiện tượng chính tả trái với nguyêntắc ngữ âm học của chữ viết và đã làm nhức nhối nhiều thế hệ học giả trong
và ngoài nước gần thế kỷ nay Những bất hợp lý của chữ quốc ngữ có thểquy vào hai trường hợp chính:
* Vi phạm nguyên tắc tương ứng “1-1” giữa kí hiệu và âm thanh.
Đìều này thể hiện ở chỗ: dùng nhiều ký hiệu để biểu thị một âmthanh Ví dụ:
- âm /k/ được biểu thị bằng 3 ký hiệu: C, K, Q.
- âm /i/ được biểu thị bằng 2 ký hiệu: I, Y.
- âm /gờ/ được biểu thị bằng: G, GH.
- âm /ngờ/ được biểu thị bằng : NG, NGH.
- âm /iê/ được biểu thị bằng: IÊ, YÊ, IA, YA.
- âm /ươ/ được biểu thị bằng: ƯƠ, ƯA
- âm /uô/ được biểu thị bằng: UÔ, UA
* Vi phạm đơn vị của ký hiệu.
Điều này thể hiện cụ thể ở chỗ: Một ký hiệu biểu thị nhiều âm khácnhau tuỳ thuộc vào vị trí của nó trong quan hệ với những âm trước và saunó
Trên dây là hai trường hợp chính thể hiện các bất hợp lý trong chữquốc ngữ Ngoài ra các nhà nghiên cứu còn phàn nàn về tình trạng dùngnhiều dấu phụ như a, ă, â, ô, ư,… hay ghép nhiều con chữ để biểu thị một
âm như các trường hợp ch, gh, nh, ngh, ph…
1.1.2 Vấn đề chính tả và luật chính tả.
a Khái niệm về chính tả và luật chính tả.
Khái niệm về chính tả: Chính tả là sự chuẩn hoá hình thức chữ viếtcủa ngôn ngữ
Trang 20Khái niệm luật chính tả: Luật chính tả là hệ thống các quy tắc về cáchviết các âm vị, âm tiết, từ, cách dùng các dấu câu, lối viết hoa…
b Đặc điểm của chính tả
Đặc điểm đầu tiên của chuẩn chính tả là tính chất bắt buộc hầu nhưtuyệt đối của nó Đặc điểm này đòi hỏi người viết phải viết đúng chính tả.Chữ viết có thể chưa hợp lý nhưng khi đã được thừa nhận là chuẩn chính tảthì người cầm bút không được tự ý viết khác đi Ai cũng biết rằng “ghê”,
“ghen” không hợp lý và bất tiện hơn “gê”, “gen” nhưng chỉ cách viết thứnhất mới được coi là đúng chính tả Vì vậy, nói đến chuẩn chính tả là nóiđến tính chất pháp lệnh Trong chính tả không có sự phân biệt hợp lý, khônghợp lý, hay, dở mà chỉ có sự phân biệt đúng sai Có lỗi hay không có lỗi Đốivới chính tả, yêu cầu cao nhất là cách viết thống nhất Thống nhất trong mọivăn bản, mọi người, mọi địa phương
Thứ hai, do chuẩn chính tả có tính chất bắt buộc gần như tuyệt đối vớimọi người nên nó ít bị thay đổi hơn các chuẩn mực khác của ngôn ngữ (nhưchuẩn ngữ âm, chuẩn từ vựng, chuẩn ngữ pháp…) Nói cách khác, chuẩnchính tả có tính chất ổn định, tính chất cố hữu khá rõ Sự tồn tại nhất nhấthàng thế kỷ của nó đã tạo nên ấn tượng vì một cái gì đó bất di bất dịch, mộttâm lý rất bảo thủ, chính vì thế, mặc dù biết rằng cách viết “iên nghỉ” hợp lýhơn nhưng đối với chúng ta nó rất gai mắt, khó chịu vì sai với cách viết từbao đời nay Mặt khác, do tính chất trường tồn này mà chính tả thường lạchậu so với sự phát triển của ngữ âm Sự mâu thuẫn giữa chính tả “cổ hủ” vớingữ âm “hiện đại” là một trong những nguyên nhân chính làm cho chính tảtrở nên rắc rối
Thứ ba, ngữ âm phát triển, chính tả không giữ được mãi tính chất cốhữu của mình mà dần dần cũng có sự biến động nhất định Do đó, bên cạnhchuẩn mực chính tả hiện có lại có thể xuất hiện một cách viết mới tồn tại
Trang 21song song với nó Ví dụ: “phẩm zá”, “anh zũng”,… bên cạnh “phẩm giá”,
“anh dũng”,… Tình trạng có nhiều cách viết như vậy yêu cầu phải chuẩnhoá chính tả
c Một số quy tắc về chính tả
* Quy tắc viết “i”, “y”.
Theo quy tắc chính tả của toàn dân, được thống nhất như sau:
- Y đứng một mình, không phải từ láy và bình dân
- “I” đứng sát sau các phụ âm: “h”, “k”, “l”, “m”, “s”, “t”, “v” để tạothành một tiếng (chữ)
- Y đứng sau các nguyên âm ghép: “ay”, “ây”, “uy”, “yê”, “uay”,
“uây”, “uya”, “uyê”, “uy”
Phân biệt: ai/ay, ui/uy/, ia/iê/, uai/uay
* Quy tắc sử dụng “i” và “y” trong sách giáo khoa.
Trong Tiếng Việt, khi đứng sau phụ âm đầu trong âm tiết mở âmchính “i” được viết là “i”, trừ trường hợp đứng liền sau các phụ âm “h, k, l,
m, s, t” hoặc trong các tên riêng có thể viết là “i” hay “y” tuỳ theo ý muốnchủ quan của ngườì viết hay người mang tên riêng đó Năm 1980 để đảmbảo sự thống nhất chính tả trong SGK, Bộ Giáo dục đã phối hợp với Ủy banKhoa học xã hội Việt Nam quy định tất cả các trường hợp âm chính “i”đứng liền sau phụ âm đều viết là “i” Tuy nhiên, quy định này chỉ áp dụngvới SGK phổ thông Trong các văn bản khác: Văn bản quy phạm pháp luật,giấy tờ giao dịch, bản án và sách báo… mỗi người thậm chí mỗi dòng viếtmột khác, nhiều người viết tuỳ tiện thậm chí không có ý thức về việc này
Nguyên âm đứng một mình (âm tiết độc lập) thì sẽ viết “i” nếu là từthuần việt: ỉ (eo), ì (à) ì (ạch), (béo) ị….và “y” nếu là từ hán việt: ý (kiến),(lưu) ý, y (sỹ),…
Trang 22Nguyên âm đứng đầu âm tiết có tổ hợp nguyên âm hoặc nguyên âmđôi, viết “y”: yêu (quý), yểu (điệu), yến (tiệc), yên (bình)…
Trong các âm tiết nửa mở nếu là yếu tố nguyên âm [wi], như trong cáctừ: quy (tắc), (thâm) thuý, (ma) tuý, (xương) tủy… thì viết “y” Nếu là tổhợp nguyên âm [ui], như trong các từ cúi (đầu), túi (quần), túi (bụi), tủi (hổ),xúi (bẩy), (tàn) lụi, (rút) lui, lùi (bước),… thì viết “i”
* Quy tắc đặt, bỏ dấu thanh
Trong Tiếng Việt, các dấu huyền, sắc, hỏi, ngã được đặt trên đầu chữcái ghi âm chính Còn dấu nặng được đặt dưới chân chữ cái ghi âm chính.Căn cứ khoa học của quy định này là sự gắn kết giữa thanh điệu với phầnvần, đặc biệt là với âm chính Tuy nhiên, điều còn chưa thống nhất là vị trícủa dấu thanh trong trường hợp âm chính là nguyên âm đôi được ghi bằnghai chữ cái
Việc đặt dấu thanh cho Tiếng Việt tuân thủ một số quy tắc, dựa trêncách phát âm theo chữ cái Tiếng Việt Hiện nay có ít nhất hai quan điểm vềcách đặt dấu thanh, mỗi quan điểm đều có một số nhà ngôn ngữ học ủng hộ
Quan điểm chính thống.
Kiểu cũ
Hiện nay có hai quan điểm về cách đặt dấu thanh thường được gọi là
“kiểu cũ” và “kiểu mới”, quy tắc kiểu cũ có phần căn cứ trên nhãn quan, giữ
vị trí dấu ở giữa hay gần giữa mỗi từ cho cân bằng
- Nếu có một nguyên âm thì dấu đặt ở nguyên âm: á, tã, nhà, nhãn, gánh,gắng…
- Nếu là hợp hai (2) nguyên âm (nhị trùng âm) thì đánh dấu ở nguyên âmđầu Tập hợp ba (3) nguyên âm (tam trùng âm) hoặc hai nguyên âm + phụ
âm cuối thì vị trí dấu chuyển đến nguyên âm thứ hai Ví dụ như:
Trang 23-“òa” hay “toà” thì dấu huyền đặt trên chữ “o”, nhưng nếu “toàn” thìdấu huyền chuyển đến chữ “a”.
-“ủy” hay “thủy” thì dấu hỏi đặt trên “u” nhưng nếu khuỷu thì dấu hỏichuyển đến “y”
- Ngoại lệ là chữ “ê” và chữ “ơ” chiếm ưu tiên, bất kể vị trí Ví dụ như:
“thuở”, nếu căn cứ vào lệ kể trên thì dấu hỏi đặt trên “u” nhưng nếu có “ơ”thì dấu hỏi chuyển sang “ơ”
- “chuyện”, nếu căn cứ vào lệ kể trên thì dấu nặng để trên “y” nhưngnếu có “ê” thì dấu nặng chuyển sang “ê”
Kiểu cũ dựa trên những từ điển từ trước năm 1950 nên “gi” và “qu”được coi là một mẫu tự riêng Vì vậy “già” và “quạ” không phải là nhị trùng
âm “ia” hay “ua” mà là “gi” + “à”; và “qu” + “ạ” Nếu viết nhị trùng âm “ia”với phụ âm “gi” thì sẽ viết là “giặt giỵa” và đọc là “zịa”
Kiểu mới
Quy tắc “kiểu mới” căn cứ trên ngữ âm học muốn đối chiếu chữ và
âm Quy tắc đó như sau:
- Với các âm tiết [- tròn môi] (âm đệm/zero/) có âm chính là nguyên âm đơn:Đặt dấu thanh điệu vào vị trí của chữ cái biểu diễn cho âm chính đó Ví dụ:
á, tã, nhà, nhãn, gánh,
- Với các âm tiết [- tròn môi] (âm đệm/w/, được biểu diễn bằng “o”, “u”) có
âm chính là nguyên âm đơn thì cũng bỏ dấu thanh điệu vào vị trí chữ cáibiểu diễn cho âm chính Ví dụ: hoà, hoè, quỳ, quà, thuỷ, nguỵ, …
- Với các âm tiết có ba âm chính là nguyên âm đôi
- Nếu là âm tiết [- khép] (nguyên âm được viết là “iê, yê, uô, ươ”; âmcuối được viết bằng: “p, t, c, ch, m, n, ng, nh, o, u, i”) thì bỏ dấu lên chữ cáithứ hai trong tổ hợp hai chữ cái biểu diễn cho âm chính Ví dụ: yếu, uốn,ườn, tiến, chuyến, muốn, mượn, thiện, thuộm, người, viếng, cường…
Trang 24- Nếu là âm tiết [- khép] (nguyên âm viết là: “ia, ya, ua, ưa”) thì nhấtloạt bỏ dấu vào vị trí chữ cái thứ nhất trong tổ hợp hai âm chữ cái biểu diễncho âm chính Ví dụ: ủa, tủa, cứa, thùa, khứa,…
- Phân biệt vị trí đặt dấu thanh điệu ở tổ hợp “ua” và “ ia”
- Với “ia” thì phân biệt bằng sự xuất hiện hay vắng mặt của chữ cái
“g” ở đấu âm tiết Có “g” thì đặt vào “a” (già, giá, giả …), không có “g” thìđặt vào “i” (bịa, chìa, tía,…) Trường hợp đặc biệt: “giạ” (có trong từ “giặtgiạ”) và đọc là “zịa”
- Với “ua” thì phân biệt bằng sự xuất hiện hay vắng mặt của chữ cái
“q” Có “q” thì đặt vào “a” (quán, quà, quạ,…), không có “q” thì đặt vào “u”(túa, múa, chùa,…) Hoặc để giản tiện cho việc làm bộ gõ, có thể coi “qu”như một tổ hợp phụ âm đầu tương tự như “gi, nh, ng, ph, th, tr,…” khi đó sẽcoi “ quán, quà, quạ,…” như là những âm tiết có âm đệm “zero”
* Quy tắc viết hoa
Theo giáo sư, tiến sĩ Nguyễn Minh Thuyết, phó chủ nhiệm Uỷ banVăn hoá, Giáo dục, Thanh niên, Thiếu niên và Nhi đồng của Quốc hội “…Trong khi Việt Nam chưa có văn bản pháp quy nào điều chỉnh việc viết,SGK mới giải quyết vấn đề này theo hai loại: Viết hoa theo quy tắc ngữpháp và viết hoa tu từ…”
Theo quy tắc ngữ pháp, trước hết, các chữ cái đứng đầu câu, đầu tênchương, bài, mục,…đều phải viết hoa Nhưng vấn đề còn bàn cãi là nhữngchữ cái mở đầu cho dòng thơ và mở đầu cho dòng trong một phép liệt kê có
Trang 25nên viết hoa Theo thông lệ, chữ cái mở đầu các dòng thơ đều phải viết hoa.Tuy vậy, nhiều nhà thơ hiện nay không viết hoa tất cả các chữ cái đầu dòngthơ, nhất là khi một dòng thơ phải nối với những dòng trước mới thành mộtcâu trọn vẹn.
Cách trình bày trong một khổ thơ có thể xuất phát từ dụng ý tạo thành.Những cách trình bày độc đáo như thế có thể được giữ nguyên trong SGKTrung học Nhưng trong SGK Tiểu học thì việc không viết hoa các chữ cái
mở đầu dòng thơ có thể gây thắc mắc cho học sinh tuổi nhỏ SGK Tiểu họcđành phải chọn một trong hai giải pháp: Hoặc viết hoa tất cả các chữ cái đầudòng thơ theo thông lệ hoặc để dành những bài thơ có cách trình bày độcđáo như thế cho bậc học trên
Theo quy tắc ngữ pháp, mỗi khi xuống dòng, chữ cái đứng đầu dòngcần được viết hoa Chiếu theo quy tắc chung này, những chữ cái đầu dòngcũng sẽ được SGK viết hoa
Cũng theo quy tắc ngữ pháp Tiếng Việt, các tên riêng (bao gồm danh
từ riêng) đều phải viết hoa Sách giáo khoa mới viết tên riêng theo một quytắc rất đơn giản: Viết hoa tất cả các chữ cái đứng đầu bộ phận cấu thành tênriêng ấy
Trong tên người, tên địa lý Việt Nam thì mỗi bộ phận cấu thành đượcquan niệm là một âm tiết (quan niệm như vậy cho đơn giản, dễ vận dụng)
Do đó, SGK viết hoa các chữ cái đứng đầu mỗi âm tiết tạo tên riêng, bất kể
đó là tên địa lí hay tên người, tên thật hay tên thuỵ, tên tự, tên hiệu, bútdanh, biệt danh như Việt Nam, Hà Nội, Triệu Thị Trinh, Lý Thái Tổ, TrầnHưng Đạo, Tố Như, Đội Cấn
Trong tên người, tên địa lý nước ngoài, mỗi bộ phận cấu thành có thểgồm một hay nhiều âm tiết Chữ cái đứng đầu mỗi bộ phận này được viếthoa Nếu bộ phận cấu thành gồm nhiều âm tiết thì các âm tiết ấy sẽ được
Trang 26phân cách bằng dấu gạch nối cho dễ đọc Ví dụ: Mát –xcơ – va, La Ha – ba– na, An – phông – xơđô – đê,…
Tên các cơ quan, tên địa lý nước ngoài, đơn vị, tổ chức,… thường làcụm từ Áp dụng quy tắc chung, SGK viết hoa chữ cái đứng đầu mỗi bộphận cấu thành tên riêng ấy Ví dụ: Trường Tiểu học Kim Đồng, Sở Giáodục và Đào tạo Hải Phòng, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn,…
Phức tạp nhất trong vấn đề viết hoa tên riêng là trường hợp danh từchung được lấy làm tên riêng của người, vật, sự vât,… Ví dụ: người, hổ, DếMèn, Dê Trắng, Chổi Rơm có người không hiểu vì sao tên loài (nhất là têncon vật, cây cối, đồ vật) lại được viết hoa “trân trọng” như vậy Ngược lại,
có nhiều người nghĩ rằng hễ con vật, cây cối, đồ hoạ,… được nhân hoá làphải viết hoa Sự thật thì đây là chuyện viết hoa tên riêng hoàn toàn khôngphải là để thể hiện thái độ trân trọng, cũng không phải vì các vật ấy đượcnhân hoá Trong đoạn trích dưới đây, tên các loài chim và loài cây khôngđược viết hoa vì đó vẫn là tên loài, mặc dù chúng vẫn được nhân hoá bằngcác từ vốn chỉ người hay hoạt động của người Ví dụ:
“Vườn cây lại đầy tiếng chim và bóng chim bay nhảy Những thím chích choè nhanh nhảu Những chú khiếu lắm điều Những anh chào mào đỏm dáng Những bác cu gáy trầm ngâm.”
(Nguyễn Kiên Mùa xuân đến – Tiếng Việt 2, tập 2, tr.17)SGK chỉ viết hoa tên các con vật, đồ hoạ, đồ vật, cây cối khi đấy làtên riêng, thậm chí trong cả những trường hợp hoàn toàn không có sự nhânhoá, ví dụ: Vẹt, Mướp, Cún Bông,… và một khi đã là tên riêng thì các tênnày phải được viết hoa theo quy tắc viết tên riêng Việt Nam, tức là viết hoacác chữ cái đứng đầu mỗi âm tiết
Những chức vụ như chủ tịch, vua, hay tổng thống bình thường khôngviết hoa, nhưng nếu đặt trước tên một nhân vật cụ thể thì phải viết hoa chữ
Trang 27cái đầu, ngoại trừ những trường hợp ngoại lệ Ví dụ: “Chủ tịch nước Trần Đức Lương” chứ không phải “chủ tịch nước Trần Đức Lương”.
Các chức danh, học hàm, học vị viết hoa chữ cái đầu Ví dụ: Tú tài, Tiến sĩ, Giáo sư, Kiến trúc sư, nhà Sử học, Kỹ sư, Luật gia, Bộ trưởng, Thứ trưởng, Trung tướng, Đại tướng, Công tước, Hậu tước, Bá tước, Tử tước, Nam tước, Hoàng Thái tử, Hoàng hậu, Hoàng Thái hậu, Công chúa, Vua, Hoàng đế, Tổng thống, Thủ tướng, Chủ tịch nước, Tổng bí thư…
Tên tôn giáo, thần thánh, các dòng triết lý, học thuyết và những người
đi theo Thông thường viết hoa chữ cái đầu tiên cho tên tôn giáo, thần thánh,
ví dụ: đạo Phật, đức Phật, Chúa, thánh Alla, vv… Các dòng triết lý, học thuyết nên viết thường Ví dụ: chủ nghĩa cộng sản, trường phái nghệ thuật
ấn tượng, …vv Ngoại trừ danh từ riêng, ví dụ: Đảng cộng sản Trung Quốc hay các trường hợp ngoại lê.
Lưỡng nghi, Tứ tượng, Bát quái, Hà đồ, Lạc thư, Cửu trù, Hồngphạm, Mã phương…
Tên của 10 can và 12 chi, nếu can và chi đi cùng nhau ta viết hoa cả
hai Ví dụ: Quý Mão, Đinh Mùi, Bính Dần…
Tám quẻ trong Bát quái: Càn, Khảm, Cấn, Chấn, Tốn, Ly, Khôn, Đoài
và 64 quẻ trong Kinh Dịch đều viết hoa.
Tên ngày, tháng, mùa trong Tiếng Việt không viết hoa, ngoại trừ các
danh từ riêng Ví dụ: thứ hai, tháng tám, mùa đông, nhưng “Cách mạng tháng Tám”.
Tên các loài động thực vật nên viết thường, kể cả trong phân loại và
danh pháp khoa học, ngoại trừ trong các danh từ riêng đặc biệt Ví dụ: cá chép, voi, nước Triệu Voi…
Tên các hành tinh thông thường viết hoa, ví dụ: sao Chổi, sao Hoả, Mộc Tinh Tuy nhiên, các từ như mặt trăng, trái đất, mặt trời sẽ viết thường
Trang 28ngoại trừ trong văn cảnh khoa học Ví dụ: “Mặt Trời là một định tinh”, và
“trăng tròn vào đêm rằm”.
Tên hướng thông thường không viết hoa ngoại trừ trong danh từ riêng
và những trường hợp đặc biệt Ví dụ: đông, tây, Bến xe Miền Đông, Bờ Tây…
Tên các vùng miền thường viết hoa, trừ những trường hợp đặc biệt:
miền Trung, mặt trận Dân tộc Giải phóng Miền Nam Việt Nam…
Tên các kiểu trường, viện (bệnh viện, đại học, học viện,…) thường
không viết hoa ngoại trừ khi đi với danh từ riêng, ví dụ: “danh sách các bệnh viện” như “Viện Goethe”.
Tên người viết hoa cả tên đệm và tên lót
Viết hoa tên các con sông, các ngọn núi, các ngôi đình, ngôi đền Ví
dụ: Sông Hồng, Sông Kim Ngưu, Núi Sưa, Đền Bạch Mã, Đình Kim Liên…
Viết hoa tên các đường phố khi đi kèm tên phố, ví dụ: Đường Nguyễn Chí Thanh, Đường Bưởi, Phố Hàng Lược, …
Viết hoa tên các châu lục, ví dụ: Châu Âu, Châu Á, Châu Phi,
Viết hoa tên các làng, xã, tỉnh, huyện, thành phố,
Ví dụ: Thành phố Hà Nội, Tỉnh Hà Nam, Thôn Mỹ Trọng, Huyện Thanh Trì, ….
Riêng trường hợp thủ đô, các triều đại luôn luôn phải viết hoa, ví dụ:
Thủ đô Hà Nội, triều Trần, triều Lý,
Các từ Thế kỷ, Thiên niên kỷ, Tr.CN, S.CN Riêng thế kỷ phải dùng
số La Mã
Đằng sau dấu hai chấm (:) luôn luôn phải viết hoa
Cuối cùng, cần chú ý đến trường hợp viết hoa theo quy tắc tu từ Viếthoa tu từ là để thể hiện sự tôn trọng đặc biệt đối với người hay sự vật nhất
Trang 29định Tuy nhiên, viết hoa tu từ thường không theo quy định chặt chẽ, mà tuỳ
ở người viết
Ví dụ: Chữ vua có thể được viết hoa để tỏ ý tôn trọng đặc biệt, nhưngcũng có thể không viết hoa, nhất là khi chữ ấy chỉ “vua nói chung” nhưtrong chú thích: “Thuyền rồng: Thuyền của vua, có chạm hình con rồng”(Tiếng Việt 2, tập hai, tr.125)
* Quy tắc dùng dấu câu
Dấu câu là phương tiện ngữ pháp dùng trong Tiếng Việt Tác dụngcủa nó là làm rõ trên mặt chữ viết một cấu tạo ngữ pháp, bằng cách chỉ ranhgiới giữa các câu, giữa các thành phần của câu đơn, giữa các vế của câughép, giữa các yếu tố của ngữ và của liên hợp Nói chung, nó thể hiện ngữđiệu lên trên câu văn, câu thơ Cho nên, có trường hợp nó không chỉ là mộtphương tiện ngữ pháp mà còn là phương tiện để biểu thị những sắc thái tếnhị về nghĩa của câu, về tư tưởng, tình cảm, thái độ của người viết
Dấu câu dùng thích hợp thì được người đọc hiểu rõ hơn, nhanh hơn.Không dùng dấu câu có thể gây ra hiểu nhầm, có trường hợp dùng sai dấucâu mà thành ra sai ngữ pháp, sai nghĩa Vì thế, quy tắc về dấu câu cần đượcthực hiện nghiêm túc
Tuy vậy, cũng có trường hợp vận dụng dấu câu ít nhiều có tính chấtlinh hoạt Nói chung, đó là khi mà dù không dùng dấu câu, ranh giới cũng đã
rõ và không gây hiểu lầm
Hiện nay, Tiếng Việt dùng mười dấu câu là: Dấu chấm (.), dấu hỏi (?),dấu cảm (!), dấu lửng (…), dấu phẩy (,), dấu chấm phẩy (;), dấu hai chấm(:), dấu ngang (-), dấu ngoặc đơn (()), dấu ngặc kép (“ ”), dấu ngoặcvuông([ ])
Dấu chấm (.)
Dấu chấm dùng ở cuối câu tường thuật Ví dụ:
Trang 30“Dòng sông lào xào vỗ sóng Gió chạy loạt soạt trong cỏ, trăng đã lên cao, đêm đã khuya lắm.”
(Nguyễn Đình Thi)Khi đọc, phải ngắt đoạn ở dấu chấm Dấu chấm là nơi có quãng ngắttương đối dài hơn so với dấu phẩy, dấu chấm phẩy
Dấu hỏi (?)
Dấu hỏi dùng ở cuối câu nghi vấn
Thường gặp là trường hợp dấu hỏi dùng trong đoạn văn đối thoại, cóngười hỏi, có người đáp Ví dụ:
- Anh ốm sao lại đi làm ?
“Văn học nghệ thuật là gì, xưa nay người ta định nghĩa nhiều rồi.”
(Phạm Văn Đồng)Khi đọc, phải ngắt giọng ở dấu hỏi, và nói chung có lên giọng
Dấu hỏi có thể đặt trong dấu ngoặc đơn (?) để biểu thị thái độ hoàinghi đối với một lời trích thuật Nếu dấu chấm (hay tương đương) ngắt ởcùng một chỗ thì dấu này (?) đặt sau dấu chấm Ví dụ:
Trang 31Bọn xâm lược Mỹ làm ra vẻ ngạc nhiên Chúng chối biến rằng chúng không hề biết gì.(?)
(Báo Nhân Dân)
Dấu cảm (!)
Dấu cảm dùng:
- Ở cuối câu cảm xúc Ví dụ:
“Hỡi anh Người đồng chí quang vinh !”
(Sóng Hồng)
- Hay ở cuối câu cầu khiến Ví dụ:
“Hãy yêu quý thanh niên! Hãy trân trọng và tích cực đào tạo, bồi dưỡng cán bộ trẻ !”
(Tạp chí Học tập)Khi đọc, phải ngắt đoạn ở dấu cảm và có thể lên hoặc xuống giọng tuỳhoàn cảnh
Dấu cảm có thể đặt trong dấu ngoặc đơn: (!), để biểu thị thái độ mỉamai; hay dùng kết hợp với dấu hỏi rồi đặt trong dấu ngoặc đơn: (!?),để biểuthị thái độ vừa mỉa mai vừa hoài nghi Ví dụ:
“Y còn đòi các nước sản xuất dầu mỏ “hợp tác” với Mỹ để giải quyết
cả vấn đề dầu mỏ lẫn vấn đề lương thực (!)
(Báo Nhân Dân)
AFF đưa tin theo cách ỡm ờ của AFF.
“…họ là 80 người sức lực khá tốt nhưng hơi gầy…” (!?)
(Nguyễn Tuân)
Dấu lửng (…)
Dấu lửng dùng ở cuối câu (hay giữa câu, hay có khi ở đầu câu) đểbiểu thị rằng người viết đã không diễn đạt hết ý Ví dụ:
Trang 32“Lũ làng đi rửa tay thật sạch rồi cầm lên từng thứ, coi đi coi lại, coi Bok Hồ đi làm rẫy, coi cái áo Bok Hồ mặc…”
(Nguyên Ngọc)Dấu lửng còn được dùng:
- Để biểu thị lời nói bị đứt quãng vì xúc động hay vì lý do khác Vídụ:
“Sâm đè tay lên ngực, hít lấy mấy hơi mới nói được:
- Quên… rút chốt…
(Phan Tứ)
- Để biểu thị một chỗ ngắt đoạn dài giọng với ý châm biếm, hài hước
Ví dụ:
“Giơ tay hàng tuốt quân ta
Té ra công sự chỉ là…công toi.”
Hiện nay có dùng dấu lửng trong ngoặc đơn: (…) để chỉ ra rằng ngườitrích dẫn có lược bớt câu văn trích dẫn
Trang 33“Mẹ ơi, có khách đấy!
Cuối cùng, Mỹ đã thua to.
Tôi trở về thành phố Hồ Chí Minh, thành phố thân yêu của tôi.
Thong thả, anh ấy bước ra.
Bài hát ấy, tôi nghe nhiều lần.”
Đáng chú ý là:
- Khi thành phần tình huống đặt ở đầu câu, dấu phẩy có thể được lượcbớt, nếu thành phần đó là một danh từ có cấu tạo đơn giản dùng để chỉ thờigian, nơi chốn Ví dụ:
“Lúc ấy Mai cũng về tới bản Đáy.”
“Sự nghiệp cách mạng là một sự nghiệp lâu dài và gian khổ, song nhất định thắng lợi.”
(Hồ Chí Minh)Đáng chú ý là:
- Giữa các yếu tố của một liên hợp song song, khi đã dùng kết từ thìthường lược bớt dấu phẩy Ví dụ:
“Đảng viên và đoàn viên thanh niên lao động cần phải xung phong
gương mẫu trong sản xuất và công tác”.
Trang 34- Giữa các yếu tố của cùng một liên hợp song song có tính chất ổnđịnh hoá, dấu phẩy cũng thường được lược bớt Ví dụ:
“Hầm chông hố chông trong ruộng lúa tựa như được nước lụt che,
thằng giặc chẳng biết đâu mà mò”.
(Anh Đức)
Dấu phẩy dùng để chỉ ranh giới giữa các vế trong câu ghép (song songhay qua lại) Ví dụ:
“Hễ còn một tên xâm lược trên đất nước ta, thì ta còn phải tiếp tục
chiến đấu, quét sạch nó đi”.
(Hồ Chí Minh)Đáng chú ý là:
Khi có dùng kết từ trong câu ghép song song hay qua lại thì có thểlược bớt dấu phẩy giữa các vế Ví dụ:
“Chú Hai đã đi làm phu cao su ở Hớn Quản, lại ra làm thợ mỏ ở
Đông Dương và chú còn đi những chân trời góc bể đâu khác”.
(Tô Hoài)
“Hễ còn một người Việt Nam bị bóc lột, bị nghèo nàn thì Đảng vẫn
đau thương, cho đó là vì mình chưa làm tròn nhiệm vụ”.
(Hồ Chí Minh)Dấu phẩy dùng để chỉ ranh giới giữa phần đề và phần thuyết trongnhững trường hợp sau đây:
- Khi phần đề là một đoạn văn khá dài Ví dụ:
“Một trong những công việc cần phải thực hiện cấp tốc lúc này, là
nâng cao dân trí”.
(Hồ Chí Minh)
- Khi lược bớt động từ “là” trong câu luận Ví dụ:
Trang 35“Tre giữ làng, giữ nước, giữ mái nhà tranh, giữ đồng lúa chín Tre hy
sinh để bảo vệ con người Tre, anh hùng lao động Tre, anh hùng chiến
đấu”.
(Thép Mới)
- Khi phần thuyết được đặt trước phản đề Ví dụ:
“Trong lịch sử có hai loại chiến tranh: Chiến tranh chính nghĩa và
chiến tranh phi nghĩa Chính nghĩa, những cuộc chiến tranh chống bọn áp bức, bọn xâm lược, giành tự do, độc lập Phi nghĩa, những cuộc chiến tranh
xâm lược hoặc bình định cốt chiếm nước ngoài hoặc cướp tự do, hạnh phúc của một số người.”
(Trường Trinh)Ngoài những trường hợp vừa kể thì giữa phần đề và phần thuyết củanòng cốt câu đơn, nói chung, không dùng dấu phẩy
Dấu phẩy còn dùng vì lẽ nhịp điệu trong câu, nhất là khi nhịp điệutrong câu có tác dụng biểu cảm Ví dụ:
“Bộ tư lệnh, những lớp tóc hoa râm
Những mái đầu trắng xoá
Vẫn có Bác, ung dung, trông xuống, dịu dàng.”
(Tố Hữu)Khi đọc, phải ngắt đoạn ở dấu phẩy Nói chung, quãng ngắt ở dấuphẩy tương đối ngắn so với các dấu đã nới ở trên
Dấu chấm phẩy (;)
Dấu chấm phẩy thường dùng để chỉ ranh giới giữa các vế trong câughép song song, nhất là giữa các vế khi có sự đối xứng về nghĩa, về hìnhthức Ví dụ:
“Chị Thuận nấu cơm cho anh em ăn, làm người chị nuôi tần tảo; chị chăm sóc anh em ốm và bị thương, làm người hộ lý dịu dàng, ân cần…”
Trang 36(Nguyễn Trung Thành)Trong câu ghép song song mà vế sau có tác dụng bổ sung cho vếtrước, cũng có thể dùng dấu chấm phẩy giữa hai vế Ví dụ:
“Sáng tạo là vấn đề rất quan trọng; không sáng tạo không làm cách mạng được.”
(Lê Duẩn)Dấu chấm phẩy cũng có thể dùng để chỉ ranh giới giữa các yếu tốtrong một liên hợp song song bao gồm những ngữ Ví dụ:
“Phải thực hiện bằng được chủ trương hoàn thiện các hệ thống thuỷ nông; đẩy mạnh tốc độ cơ giới hoá nông nghiệp; đẩy mạnh cải tạo giống gia súc và cây trồng nhằm thực hiện thâm canh trên toàn bộ diện tích trồng trọt.”
(Báo Nhân Dân)Khi đọc, phải ngắt quãng ở dấu chấm phẩy; quãng ngắt dài hơn so vớidấu phẩy nhưng ngắn hơn so với dấu chấm
Dấu hai chấm (:)
Nói chung, dấu hai chấm dùng để báo hiệu một điều trình bày tiếptheo sau và có tác dụng thuyết minh đối với một điều đã trình bày trước
- Điều thuyết minh là một lời thuật lại theo lối trực tiếp Ví dụ:
“Khoa kêu to:
Mình về đây!”
(Nguyễn Khải)Hay theo lối gián tiếp: Ví dụ:
“Kha nghĩ: Ba giờ đi.”
(Nguyễn Đình Thi)
- Điều thuyết minh có tác dụng bổ sung, giải thích một từ hay một vế
ở trước Ví dụ:
Trang 37“Chiến công kỳ diệu mùa xuân 1975 đã diễn ra trong thời gian rất ngắn: 55 ngày đêm.”
(Võ Nguyên Giáp & Văn Tiến Dũng)
“Hoa bưởi thơm rồi: Đêm đã khuya…”
(Xuân Diệu)Khi đọc phải ngắt đoạn ở dấu hai chấm, và cần có ngữ điệu thích hợpđối với điều thuyết minh
Dấu ngang (-)
Dấu ngang dùng để chỉ ranh giới của thành phần chú thích Ví dụ:
“Chồng chị - anh Nguyễn Văn Dậu – tuy mới hai sáu tuổi nhưng đã học nghề làm ruộng tới mười bảy năm.”
(Ngô Tất Tố)Dấu ngang còn dùng để:
- Đặt trước những lời đối thoại Ví dụ:
- Hai bác đã đặt tên cho cháu chưa?
- Diệt giặc đói
- Diệt giặc ngoại xâm
(Hồ Chí Minh)
- Đặt ở giữa hai hay ba, bốn tên riêng, hay ở giữa con số để ghép lại,
để chỉ một liên danh, một liên số Ví dụ:
Đường Hà Nội - Huế - Sài Gòn
Xô viết Nghệ - Tĩnh.
Trang 38Thời kỳ 1939 – 1945
Cần phân biệt dấu ngang là một dấu câu với dấu gạch nối không phải
là một dấu câu
Dấu gạch nối, hiện nay, thường được dùng trong những trường hợp
phiên âm tên người, tên địa phương nước ngoài Ví dụ: Lê-nin, Lê-nin-grát,
…
Dấu gạch nối còn được dùng trong những từ chung phiên âm từ tiếng
nước ngoài, ví dụ: Pô-pơ-lin,…
Cho nên, có khi cần phân biệt dấu ngang với dấu gạch nối bằng độ dài
của dấu đó (dấu ngang dài hơn) Ví dụ: Chủ nghĩa Mác – Lê-nin.
Dấu ngoặc đơn {()}
Dấu ngoặc đơn dùng để chỉ ranh giới của phần chú thích Ví dụ:
“Ngay sau chiến tranh thế giới lần thứ nhất, tôi làm thuê ở Pa-ri, khi thì làm cho một cửa hàng phóng đại ảnh, khi thì vẽ “đồ cổ mỹ nghệ Trung Hoa” (do một xưởng của Pháp làm ra).”
(Hồ Chí Minh)
Sự khác nhau giữa dấu ngang và dấu ngoặc đơn có khi không được rõ;theo thói quen người dùng dấu này, người dùng dấu kia, đối với thành phầnchú thích
Tuy vậy, cũng có thể nhận thấy giữa hai loại dấu đó có sự khác nhausau đây:
Khi thành phần chú thích có quan hệ rõ với một từ, một ngữ ở trước
nó, thì thường dùng dấu ngang, nếu quan hệ đó không rõ thì thường dùngdấu ngoặc đơn Ví dụ:
“Tôi vừa gặp anh Thân - người chỉ huy đơn vị của tôi, hồi chiến tranh chống thực dân Pháp.
Trang 39Anh ấy không đến dự tiệc cưới của Lan (bảo là bận!) nhưng mọi người đều hiểu anh ấy không tán thành đám cưới này.”
Một trường hợp đáng chú ý là dấu ngoặc đơn có thể dùng để đóngkhung cho một từ hay một ngữ có tác dụng chú thích cho một từ khôngthông dụng (từ cổ, từ địa phương,…) Ví dụ:
“Tiếng trống của phìa (lý trưởng) thúc giục nộp thuế vẫn rền rĩ.”
(Tô Hoài)Một loại dấu đôi nữa, có mở ra rồi có đóng vào giống như dấu ngang
và dấu ngoặc đơn, và cũng được dùng để chú thích thêm trong một số trườnghợp đặc biệt, là dấu móc: [] Ví dụ:
“Mậu thân Thuận Thiên năm thứ nhất [1428] … người Minh đã về nước, vua bèn thống nhất thiên hạ, lấy năm ấy là năm dẹp yên.”
(Dịch “Đại Việt Sử ký toàn thư”)Khi đọc phải ngắt đoạn ở dấu ngoặc đơn và cũng như trong trườnghợp dấu ngang, ngữ điệu phải thích hợp đối với thành phần chú thích
Trang 40(Hồ Chí Minh)Dấu ngoặc kép còn dùng để dẫn lại với thái độ mỉa mai một từ haymột ngữ do người khác dùng; trong trường hợp này, dấu ngoặc kép cònđược gọi là dấu “nháy nháy” Ví dụ:
“Chúng đề xướng nào là văn nghệ “chủ quan”, “viễn kiến”, nào là tiết lý “duy linh”.