Một số tổ chức và chương trình tài chính vi mô bán chính thức đang trải qua quá trình đổi mới quan trọng để có thể mở rộng hoạt động, nâng cao kỹ năng quản lý, giảm chi phí, đa dạng hóa
Trang 1Đồng tác giả PGS.TS NGUYỄN KIM ANH PGS.TS NGÔ VĂN THỨ
TS LÊ THANH TÂM ThS NGUYỄN THỊ TUYẾT MAI
NGHIÊN CỨU
TÀI CHÍNH VI MÔ VỚI GIẢM NGHÈO TẠI VIỆT NAM - KIỂM ĐỊNH VÀ SO SÁNH
Trang 2Bản quyền
Báo cáo nghiên cứu này được hoàn thành bởi Nhóm Công tác Tài chính vi mô Việt Nam (MFWG) với sự hợp tác của Nhóm tác giả nghiên cứu do PGS.TS Nguyễn Kim Anh làm trưởng nhóm tác giả nghiên cứu, và nguồn hỗ trợ tài chính của Qũy Citi – Ngân hàng Citi
Sự đóng góp này là yếu tố quan trọng góp phần quyết định thành công của Báo cáo nghiên cứu Các ý kiến trong Nghiên cứu này mang tính chất độc lập và không nhất thiết phản ánh quan điểm của Nhóm Công tác Tài chính vi mô Việt Nam (MFWG) Bản báo cáo nghiên cứu này thuộc quyền sở hữu trí tuệ của Nhóm Công tác Tài chính vi mô Việt Nam (MFWG) Việc sao chép một phần hoặc tái bản Bản báo cáo nghiên cứu này chỉ được thực hiện khi có
sự đồng ý chính thức bằng văn bản của Nhóm Công tác Tài chính vi mô Việt Nam (MFWG) trước khi thực hiện sao chép hoặc tái bản.
Ngân hàng Citi
Citi, công ty cung cấp các dịch vụ tài chính hành đầu thế giới, có khoảng 200 triệu tài khoản khách hàng và kinh doanh tại hơn 140 quốc gia Thông qua các bộ phận kinh doanh, gồm Citicorp and Citi Holdings, Citi cung cấp cho người tiêu dùng, doanh nghiệp, các chính phủ
và tổ chức rất nhiều các dịch vụ và sản phẩm tài chính, trong đó có dịch vụ ngân hàng và tín dụng cá nhân, dịch vụ ngân hàng cho doanh nghiệp và đầu tư, chứng khoán và môi giới,
và quản lý tài sản Thông tin đầy đủ về Citi có tại trang web www.citigroup.com hoặc www citi.com.
Quỹ Citi
Quỹ Citi tập trung những khoản tài trợ của mình để hỗ trợ 3 lĩnh vực chính: giáo dục tài chính, giáo dục cho thế hệ trẻ, hỗ trợ cộng đồng và doanh nhân Citi là một trong những nhà tài trợ lớn nhất thế giới cho ngành tài chính vi mô thông qua việc tài trợ 40 triệu đô la
Mỹ nhằm hỗ trợ các chương trình tài chính vi mô và các tổ chức ở trên 50 quốc gia Riêng ở khu vực châu Á, từ năm 1997, Quỹ Citi cam kết tài trợ trên 13 triệu đô la Mỹ cho các chương trình có liên quan đến tài chính vi mô Để biết thêm thông tin xin truy cập trang web www citigroupfoundation.org
Nhóm Công tác Tài Chính Vi Mô Việt Nam
Nhóm Công tác Tài chính vi mô Việt Nam (MFWG) được thành lập như một diễn đàn dành cho các nhà thực hành tài chính vi mô để chia sẻ kinh nghiệm và giải quyết các vấn đề khó khăn của ngành, góp phần đưa tiếng nói của ngành đến với các nhà làm chính sách Ra đời năm 2004, với tư cách là một tổ chức trực thuộc Trung tâm Nguồn các Tổ chức Phi chính phủ - VUFO, MFWG đã đưa ra một chính sách “mở” đối với tất cả các cá nhân và tổ chức quan tâm tới ngành tài chính vi mô tại Việt Nam Tháng 09 năm 2011, MFWG đã chính thức trở thành Trung tâm trực thuộc Hiệp hội Doanh nghiệp nhỏ và vừa Việt Nam (VINASME) theo Quyết định số 238/QĐ-CTHH của Hiệp hội doanh nghiệp nhỏ và vừa Việt Nam ngày 5/9/2011 về việc thành lập Trung tâm tư vấn nguồn lực tài chính vi mô doanh nghiệp nhỏ và vừa (tiền thân là Nhóm công tác Tài chính vi mô Việt Nam) Để biết thêm thông tin xin truy cập trang web: www.microfinance.vn
Trang 3Đồng tác giả PGS.TS Nguyễn Kim Anh PGS.TS Ngô Văn Thứ
TS Lê Thanh Tâm ThS Nguyễn Thị Tuyết Mai
NGHIÊN CỨU
TÀI CHÍNH VI MÔ VỚI GIẢM NGHÈO TẠI VIỆT NAM - KIỂM ĐỊNH VÀ SO SÁNH
Trang 4LỜI NÓI ĐẦU
Trải qua hơn 25 năm đổi mới, toàn diện đất nước, với đường lối đúng đắn, sáng tạo của Đảng và Nhà nước, Việt Nam đã đạt được nhiều thành tích ấn tượng về phát triển kinh tế và xóa đói giảm nghèo Trong những thành tựu quan trọng đó,
có phần đóng góp đáng khích lệ của hoạt động tài chính vi
mô, với sự tham gia tích cực của các tổ chức, chương trình tài chính vi mô trên khắp mọi miền đất nước Thông qua việc trợ giúp người nghèo và những nhóm người bị thiệt thòi, các hoạt động tài chính vi mô đã giúp họ vượt qua khó khăn, thách thức để không ngừng vươn lên phát triển kinh tế gia đình và đóng góp vào sự phát triển kinh tế địa phương Thực tế đã chứng minh rằng, tài chính vi mô là hoạt động có ý nghĩa xã hội sâu sắc và ngày càng lớn mạnh ở nhiều quốc gia trên khắp các châu lục, đặc biệt là ở các nước đang phát triển trong đó
Trang 5thể khẳng định, hoạt động tài chính vi mô ở Việt Nam trong hai thập kỷ qua đã và đang có những đóng góp nhất định vào công cuộc xóa đói giảm nghèo của quốc gia, tuy hoạt động này chưa phát huy hết tiềm năng và tầm ảnh hưởng của nó đối với xã hội nói chung và các tầng lớp dân cư nghèo nói riêng Hoạt động tài chính vi mô đã và đang có tác động tích cực tới việc tạo thu nhập và gây dựng tài sản của những người nghèo
và nghèo nhất, những người không có đủ điều kiện tiếp cận nguồn vốn vay chính thức Được các tổ chức tài chính vi mô
hỗ trợ vốn vay và trang bị kiến thức về sản xuất, kinh doanh,
vị trí của họ trong xã hội từng bước được cải thiện Trên thực
tế, khách hàng của các tổ chức cung cấp dịch vụ tài chính vi
mô thuộc các phân đoạn khác nhau Vì vậy, mức độ tác động đến giảm nghèo cũng khác nhau và mức sống chung cũng đã
và đang được tăng lên bởi nhiều nhân tố tác động khác nhau Hiện nay ngành tài chính vi mô Việt Nam đang bắt đầu phát triển theo hướng chuyên nghiệp hóa, hướng tới sự phát triển bền vững Một số tổ chức và chương trình tài chính vi mô bán chính thức đang trải qua quá trình đổi mới quan trọng
để có thể mở rộng hoạt động, nâng cao kỹ năng quản lý, giảm chi phí, đa dạng hóa sản phẩm và dịch vụ nhằm đáp ứng nhu cầu của khách hàng để đạt được sự phát triển lành mạnh và bền vững với mục tiêu tiếp tục đóng góp vào công cuộc giảm nghèo và phát triển nền kinh tế
Mặc dù hoạt động tài chính vi mô đã phần nào được ghi nhận như là một trong những công cụ hữu hiệu góp phần tích cực cho công tác giảm nghèo nhưng cho đến nay Việt Nam chưa
có nghiên cứu nào đánh giá tác động của tài chính vi mô trong
Trang 6công cuộc xóa đói giảm nghèo, đổi mới đất nước Xuất phát
từ đặc trưng của thị trường tài chính vi mô tại Việt Nam và các tổ chức tham gia trên thị trường tài chính vi mô trong thời gian qua, nhằm làm rõ hơn những đóng góp quan trọng của hoạt động tài chính vi mô trong công cuộc đổi mới đất nước
và phát triển kinh tế, trên cơ sở thực tiễn hoạt động tài chính
vi mô ở Việt Nam, đề tài “Tài chính vi mô với giảm nghèo tại Việt Nam: Kiểm định và so sánh”, đã được lựa chọn để nghiên cứu Với sự tham gia của một số nhà nghiên cứu, chuyên gia giàu kinh nghiệm và am hiểu về hoạt động tài chính vi mô thuộc Học viện Ngân hàng và Trường đại học Kinh tế quốc dân, cùng với sự phối hợp của Nhóm Công tác Tài chính vi
mô Việt Nam (MFWG) và nguồn tài trợ của Quỹ Citi, sau quá trình nghiên cứu tài liệu, khảo sát thực địa, tổ chức hội thảo chuyên đề , bằng phương pháp phân tích, thu thập thông tin thứ cấp và thông tin trực tiếp từ khách hàng của các tổ chức cung cấp dịch vụ tài chính vi mô (bao gồm các tổ chức tài chính vi mô; Quỹ Tín dụng nhân dân; Ngân hàng Chính sách
xã hội), nhóm nghiên cứu đã hoàn thành đề tài mà kết quả được thể hiện trong cuốn sách này nhằm tập trung cung cấp thông tin về hoạt động tài chính vi mô Việt Nam; Tác động của tài chính vi mô đối với giảm nghèo ở Việt Nam thông qua kết quả kiểm định và so sánh trên cơ sở đó đã đưa ra một số đánh giá và khuyến nghị khi nhìn lại qua trình hình thành, phát triển và những đóng góp của tài chính vi mô Việt Nam trong công cuộc xóa đói giảm nghèo; đồng thời đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả của hoạt động tài chính vi mô Việt Nam trong quá trình hội nhập và phát triển
Chúng tôi hy vọng, kết quả nghiên cứu này sẽ góp phần tăng
Trang 7cường hiểu biết về hoạt động tài chính vi mô tại Việt Nam với
tư cách là một trong những công cụ hữu hiệu trong công cuộc xóa đói giảm nghèo, phát triển đất nước Có thể, những nội dung được thể hiện trong cuốn sách này không thể tránh khỏi hạn chế và thiếu sót nhất định do thời gian và quy mô của nghiên cứu có hạn, nhóm nghiên cứu rất mong nhận được ý kiến góp ý của quý vị độc giả
Thay mặt nhóm tác giả PGS.TS Nguyễn Kim Anh
Trang 8LỜI CẢM ƠN
Nghiên cứu này được hoàn thành với sự giúp đỡ của rất nhiều
cơ quan, tổ chức và cá nhân
Trước hết, chúng tôi xin chân thành cảm ơn Nhóm Công tác Tài chính vi mô Việt Nam đã tạo điều kiện để báo cáo được thực hiện, cũng như cung cấp các dữ liệu và sự trợ giúp quan trọng Đặc biệt chúng tôi xin chân thành cảm ơn Quỹ Citi đã khuyến khích và tài trợ cho đề tài nghiên cứu này
Nhóm tác giả bày tỏ sự cảm ơn sâu sắc tới các cơ quan, tổ chức gồm Ngân hàng Nhà nước (NHNN), Tổ chức Tài chính quy mô nhỏ Tình Thương (TYM), Quỹ Hỗ trợ Phụ nữ phát triển kinh tế Tiền Giang (MOM), Ngân hàng Chính sách xã hội (NHCSXH), Quỹ Tín dụng nhân dân Trung ương đã hỗ trợ số liệu thứ cấp cũng như tạo điều kiện cần thiết cho nhóm nghiên cứu thực tiễn khảo sát, điều tra sơ cấp Đặc biệt, xin chân thành cảm ơn chi nhánh NHNN và chi nhánh NHC-SXH, các Quỹ Tín dụng Nhân dân cơ sở, khách hàng tài chính
vi mô tại hai tỉnh Hải Dương và Tiền Giang đã dành nhiều thời gian cũng như công sức giúp chúng tôi hoàn thành công việc điều tra đạt hiệu quả cao nhất
Chúng tôi xin chân thành cám ơn các thành viên của Trung tâm xử lý dữ liệu kinh tế xã hội và dự báo - Đại học Kinh tế Quốc dân đã hỗ trợ công tác thu thập và xử lý dữ liệu điều tra thứ cấp - sơ cấp
Lời cảm ơn chân thành cũng xin được gửi tới các nhà quản
lý, nghiên cứu, tư vấn, các nhà thực hành đã đóng góp cho
Trang 9dự thảo báo cáo tại hội thảo về tài chính vi mô, và các phản biện đọc nghiên cứu này Các ý kiến hữu ích đã được đưa ra
để đóng góp cho nhóm tác giả nghiên cứu và hoàn thiện nội dung
Các ý kiến trong nghiên cứu này mang tính chất độc lập và không nhất thiết phản ánh quan điểm của Nhóm Công tác Tài chính vi mô Việt Nam và Quỹ Citi
Nhóm tác giả
Trang 10MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU
LỜI CẢM ƠN
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
DANH MỤC BẢNG BIỂU
DANH MỤC CÁC HỘP
1 TỔNG HỢP KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 20
2 GIỚI THIỆU VỀ NGHIÊN CỨU 26
2.1 Lý do và mục đích thực hiện nghiên cứu 26
2.2 Mục đích, đối tượng và phạm vi nghiên cứu 27
2.3 Mẫu điều tra và phương pháp thực hiện .30
2.4 Khung phân tích và các giả thuyết để kiểm định .32
3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU .34
3.1 Tổng quan về ngành tài chính vi mô Việt Nam cho khách hàng thu nhập thấp/nghèo 34
3.1.1.Vấn đề nghèo đói tại Việt Nam và chính sách giảm nghèo 34
3.1.2.Các tổ chức cung cấp dịch vụ tài chính vi mô chính trên phân đoạn thị trường khách hàng thu nhập thấp 34
3.1.3.Môi trường hoạt động của tài chính vi mô Việt Nam 38
Trang 113.1.4.Phân đoạn thị trường tài chính vi mô Việt Nam 45
3.1.5.Một số kết quả hoạt động tài chính vi mô cho khách hàng nghèo/thu nhập thấp .48
3.2 Kết quả phân tích số liệu điều tra sơ cấp .52
3.2.1.Thông tin chung về khách hàng .53
3.2.2.Thông tin về các khoản vay .61
3.2.3.Đánh giá về hiệu quả/tác động của tài chính vi mô đến kinh tế đời sống của khách hàng 74
3.2.4 Đánh giá về các hiệu quả/tác động khác của tổ chức .96
3.2.5 Mong muốn và nhận định của khách hàng về tổ chức 102
4 KHUYẾN NGHỊ 106
4.1 Đối với các tổ chức cung cấp tài chính vi mô .106
4.1.1.Đa dạng hóa sản phẩm tài chính .106
4.1.2.Kết hợp cung cấp sản phẩm tài chính và phi tài chính 110
4.1.3.Phát huy hơn nữa sức mạnh của mình, giảm thiểu các điểm yếu 110
4.1.4.Chuyển đổi và chính thức hóa hoạt động là cơ hội tốt cho tổ chức tài chính vi mô 113
4.2 Đối với cơ quan quản lý nhà nước .116
Trang 124.2.1.Quan tâm hơn nữa đến việc quản lý vấn đề chồng nợ 116
4.2.2.Kết hợp tài chính vi mô với các chương trình đào tạo, nâng cao năng lực lớn và các chương trình tạo việc làm đa dạng 116
5 HẠN CHẾ CỦA NGHIÊN CỨU .117
6 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO .119
7 PHỤ LỤC 122
Trang 13DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
AGRIBANK: Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn
CTTKBD: Công ty tiết kiệm bưu điện
HSSV: Học sinh - Sinh viên
MFWG: Nhóm Công tác Tài chính vi mô Việt Nam
MOM: Quỹ Hỗ trợ Phụ nữ phát triển kinh tế Tiền Giang
(Mekong Organization of Microfinance)
NHCSXH: Ngân hàng Chính sách xã hội Việt Nam
QTDNDCS: Quỹ tín dụng nhân dân Cơ sở
QTDNDTW: Quỹ tính dụng nhân dân Trung ương
ROA: Lợi nhuận trên tổng tài sản
ROE: Lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu
TCCU TCVM: Tổ chức cung ứng dịch vụ tài chính vi mô
Trang 16Bảng 3.16: Hình thức trả lãi của các khoản vay 68
Bảng 3.17: Hình thức vay vốn 69
Bảng 3.18: Nguồn trả nợ của các khoản vay 71
Bảng 3.19: Có/ Không khó khăn khi trả nợ? 71
Bảng 3.20: Số lượng khách hàng vay ở nơi khác 73
Bảng 3.21: Lãi suất (%/ tháng) khi vay ở nơi khác 74
Bảng 3.22: Ý kiến của khách hàng NHCSXH xếp hạng hoạt động mang lại thu nhập chính trước và sau khi tham gia tổ chức 75
Bảng 3.23: Ý kiến của khách hàng QTDND xếp hạng hoạt động mang lại thu nhập chính trước và sau khi tham gia tổ chức .76
Bảng 3.24: Ý kiến của khách hàng TCVM xếp hạng hoạt động mang lại thu nhập chính trước và sau khi tham gia tổ chức 77
Bảng 3.25: Sự thay đổi tỷ lệ đóng góp (%) vào tổng thu nhập của các hoạt động trước và sau khi tham gia tổ chức 78
Bảng 3.26: Đánh giá về thu nhập trước và sau khi tham gia tổ chức 80 Bảng 3.27: Đánh giá về chi tiêu trước và sau khi tham gia tổ chức 81
Bảng 3.28: Đánh giá về tiết kiệm trước và sau khi tham gia tổ chức 82 Bảng 3.29: Đánh giá về đầu tư cho sản xuất kinh doanh trước và sau khi tham gia tổ chức 83
Bảng 3.30: Đánh giá về mức sống của gia đình so với hàng xóm/ dân làng trước khi tham gia tổ chức và hiện nay 85
Bảng 3.31: Mức sống chung của địa phương hiện nay so với trước khi có các tổ chức cung cấp dịch vụ TCVM 87
Bảng 3.32: Sự thay đổi cuộc sống chung trong vòng 5 năm và 10 năm qua 89
Trang 17Bảng 3.33: So sánh sự thay đổi về mức sống của gia đình với mức sống chung trong địa phương 90Bảng 3.34: Tác động của việc tham gia tổ chức đối với mức sống gia đình 91Bảng 3.35: Tổng tài sản của gia đình trước khi tham gia dự án và hiện nay (triệu đồng) 93Bảng 3.36: Điều quan trọng nhất địa phương cô/chị đã đạt được trong thời gian qua 95Bảng 3.37: Tác động của việc vay vốn và tham gia tổ chức tín dụng 97Bảng 3.38: Các lợi ích cụ thể khi tham gia tổ chức 99Bảng 3.39: Mức độ hài lòng về hoạt động của các tổ chức 104
II HÌNH, HỘP
Hình 2.1: Khung kiểm định tác động của tài chính vi mô đến kinh tế - xã hội khách hàng 33Hình 3.1: Các đơn vị cung cấp tài chính vi mô ở Việt Nam 35Hình 3.2: Các TCTCVM dẫn đầu trên thị trường Việt Nam đến 2010 36Hình 3.3: Các tổ chức chính phục vụ khách hàng nghèo/thu nhập thấp 37Hình 3.4: Phân đoạn thị trường tài chính vi mô Việt Nam hiện nay 46Hình 3.5: Phân chia khách hàng theo giới tính 53Hình 3.6: Phân chia khách hàng theo trình độ học vấn 55Hình 3.7: Phân chia khách hàng theo trình độ chuyên môn kỹ thuật 56
Trang 18Hình 3.8: Tỷ lệ khách hàng là hộ nghèo trong danh sách nghèo tại địa phương 57Hình 3.9: Tỷ lệ hộ nghèo phân chia theo tỉnh 58Hình 3.10: Tỷ lệ của từng mục đích vay trên tổng các khoản vay và tổng giá trị vay 67Hình 3.11: Phân chia khách hàng có khó khăn khi trả nợ theo từng tổ chức 72Hình 3.12: Đánh giá về thu nhập của khách hàng trước và sau khi tham gia tổ chức 80Hình 3.13: Đánh giá về chi tiêu của khách hàng trước và sau khi tham gia tổ chức 82Hình 3.14: Đánh giá về tiết kiệm của khách hàng trước và sau khi tham gia tổ chức 83Hình 3.15: Đánh giá về đầu tư cho sản xuất kinh doanh của khách hàng trước và sau khi tham gia tổ chức 84Hình 3.16: Sự thay đổi mức sống của khách hàng trước và sau khi tham gia tổ chức 86Hình 3.17: Tỷ lệ hộ tự đánh giá cuộc sống của gia đình năm 2008 so với 2001 88Hình 3.18: Tác động của việc tham gia tổ chức tín dụng đối với mức sống gia đình 92Hình 3.19: Tác động của việc vay vốn và tham gia tổ chức tín dụng 98Hình 3.20: Mức độ hài lòng về hoạt động của các tổ chức 104Hình 3.21: Khách hàng có muốn tiếp tục vay không? 105
Trang 19Hộp 3.1: Một số nội dung trong Đề án xây dựng và phát triển hệ thống tài chính vi mô Việt Nam đến năm 2020 44Hộp 3.2: Khách hàng tài chính vi mô với câu chuyện thoát nghèo 94Hộp 3.3: Giải thưởng Doanh nhân vi mô Citi (CMA) nhằm vinh danh các khách hàng, cán bộ tín dụng và tổ chức tài chính vi mô tiêu biểu giai đoạn 2007-2011 100Hộp 4.1: TYM sau chính thức hóa hoạt động: Cơ hội và thách thức 115
Trang 20Tài chính vi mô đóng vai trò hết sức quan trọng đối với việc phát triển kinh tế - xã hội, đặc biệt trong công cuộc giảm nghèo đói và phát triển
xã hội tại các quốc gia đang phát triển như Việt Nam Sự phát triển mạnh mẽ của tài chính vi mô về phạm vi tiếp cận và các dịch vụ cung ứng, đặc biệt là các dịch vụ về tín dụng và tiết kiệm trong những năm qua đã đáp ứng được phần lớn nhu cầu vốn cho phát triển kinh tế và công cuộc giảm nghèo Nhà nước và Chính phủ đã có những động thái hết sức tích cực đối với sự phát triển tài chính vi mô ở Việt Nam.Nhóm nghiên cứu bao gồm các chuyên gia trong lĩnh vực tài chính vi
mô và lĩnh vực xử lý dữ liệu thuộc Học viện Ngân hàng, Đại học Kinh
tế Quốc dân, và Nhóm Công tác Tài chính vi mô Việt Nam đã thực hiện nghiên cứu “Tài chính vi mô với giảm nghèo Việt Nam: Kiểm định và so sánh’’ Nhằm kiểm định 5 giả thuyết (H) về tác động của tài chính vi mô đến giảm nghèo và nâng cao mức sống như sau:
(H1) Tài chính vi mô có tác động tích cực tới thu nhập và tài sản của khách hàng;
(H2) Tài chính vi mô giúp khách hàng tăng cường năng lực xã hội; (H3) Khách hàng của các tổ chức cung cấp dịch vụ TCVM thuộc các phân đoạn khác nhau, vì vậy mức độ tác động đến giảm nghèo khác nhau;
(H4) Mức sống chung của người dân tăng lên theo thời gian, do nhiều nhân tố tác động khác nhau;
(H5) Khách hàng của các tổ chức tài chính vi mô có mức độ hài lòng
về dịch vụ cao hơn các tổ chức khác
Kết luận thông qua nghiên cứu số liệu thực tế và điều tra sơ cấp 971 khách hàng tài chính vi mô tại 2 tỉnh Tiền Giang và Hải Dương là: tất
cả các giả thuyết trên đều đúng Cụ thể như sau:
1 TỔNG HỢP KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
Trang 21• Mặc dù đã đạt được những thành tựu ấn tượng về giảm nghèo và phát triển kinh tế, Việt Nam vẫn đang đối mặt với nguy cơ giảm nghèo chưa bền vững Một trong những trở ngại lớn là thiếu các dịch vụ tài chính phù hợp và sẵn sàng trong khu vực nông thôn.
• Ba tổ chức chính cung cấp tài chính vi mô cho đối tượng khách hàng thu nhập thấp là: Các tổ chức tài chính vi mô, NHCSXH, hệ thống Quỹ Tín dụng nhân dân Trong đó, các TCTCVM và NHCSXH tập trung nhiều hơn vào đối tượng khách hàng nghèo Tính đến cuối năm 2010, thị phần tín dụng của TCTCVM là 0,8% theo dư nợ và 4,4% theo số lượng khách hàng NHCSXH là đơn vị có thị phần tín dụng lớn nhất (46,5% dư nợ và 59,6% khách hàng) Hoạt động tài chính vi mô hiện vẫn tập trung chủ yếu vào hoạt động tín dụng Ngoại trừ QTDND với hoạt động huy động tiết kiệm tương đối tốt, đáp ứng được yêu cầu về sử dụng vốn, hầu hết các tổ chức khác đều chưa phát triển hoạt động huy động tiết kiệm và dịch vụ khác
• Môi trường pháp lý cho hoạt động tài chính vi mô Việt Nam đã được cải thiện đáng kể Chính phủ đã xây dựng và ban hành nhiều luật
và văn bản dưới luật khuyến khích quá trình tăng trưởng và phát triển bền vững của ngành TCVM nhằm cung cấp dịch vụ tài chính đáp ứng nhu cầu của khách hàng nghèo và thu nhập thấp, đặc biệt
là Luật các TCTD 2010 Đề án xây dựng và phát triển hệ thống tài chính vi mô Việt Nam đến năm 2020 cũng đã được Chính phủ phê duyệt vào tháng 12/2011 Đây là cơ sở quan trọng cho việc phát triển tài chính vi mô Việt Nam trong thời gian tới
• Hiệu quả của tài chính vi mô đến thu nhập và tài sản: Có 89,75% khách hàng đánh giá thu nhập đã tăng lên sau khi vay vốn Tuy vậy, tài chính vi mô có tác động giúp thay đổi tổng mức thu nhập chứ hầu như không làm thay đổi cơ cấu đóng góp của các hoạt động vào tổng thu nhập So sánh giữa quy mô vốn vay và mức độ tăng lên của thu nhập, một đồng vốn cho vay trung bình của TCTCVM có tác động đến tăng thu nhập cao hơn các tổ chức khác Tài sản, chi tiêu
và tiết kiệm cũng có mức tăng khá đáng kể Tổng tài sản trung bình
Trang 22của các hộ gia đình sau khi vay vốn ít nhiều đã tăng lên so với trước khi được tiếp cận nguồn vốn.
• Tài chính vi mô góp phần hỗ trợ cho khách hàng có việc làm tốt hơn, hoặc công việc hiện tại tốt hơn,
• Tác động của tài chính vi mô đến mức sống: Tỷ lệ khách hàng khá giả tăng lên (7,37%), và tỷ lệ hộ nghèo giảm xuống (31,64% hộ nghèo
và 6,95 % hộ rất nghèo trước khi vay vốn; 16,61% hộ nghèo và 1,25
% hộ rất nghèo sau khi vay vốn Khách hàng tài chính vi mô thoát nghèo tạo được dấu ấn, nhưng không có sự bứt phá nhiều về sự giàu
có Hầu hết số người được phỏng vấn(chiếm 94,28%) đều nhận định mức sống chung của địa phương hiện nay tốt hơn so với trước khi
có các tổ chức cung cấp dịch vụ TCVM; 5,61 % cho rằng mức sống không thay đổi, và hầu như không ai nói mức sống của địa phương kém hơn kể từ khi có sự xuất hiện các tổ chức này Đa số khách hàng (63,54%) cho rằng sự thay đổi mức sống của gia đình tương đương với sự thay đổi mức sống chung trong địa phương Gần 1/4 số khách hàng được phỏng vấn đánh giá là có thay đổi nhanh hơn, trong khi 13,43% cho rằng mức sống của họ thay đổi chậm
• Hầu hết khách hàng được phỏng vấn khẳng định việc tham gia các
tổ chức tín dụng có tác động tích cực đến mức sống của gia đình họ Tuy nhiên, một số khác lại cho rằng tác động chỉ ở mức trung bình Hầu như không có ý kiến nào khẳng định việc tham gia vay vốn là không có tác động hoặc tác động tiêu cực
• Nhìn chung, mức sống của người dân Việt Nam nói chung, khách hàng tài chính vi mô nói riêng đã được nâng cao Các thay đổi chính trong cộng đồng được đánh giá cao chủ yếu tập trung vào vấn đề cơ
sở hạ tầng cứng như đường sá, điện nước… Điều này hoàn toàn phù hợp với thực tế đầu tư công tăng cao cho cơ sở hạ tầng Việt Nam trong 10 năm qua Khi có cơ sở hạ tầng tốt, việc đầu tư, sản xuất kinh doanh của từng cá nhân sẽ đạt hiệu quả cao hơn Do vậy, tài chính vi
mô góp phần tạo việc làm (4,2% khách hàng được phỏng vấn đánh
Trang 23giá có sự thay đổi lớn trong 5 năm qua), hoặc phát triển việc làm thuận lợi hơn.
- So sánh giữa các tổ chức cung ứng dịch vụ tài chính vi mô, tỷ lệ khách hàng có lợi ích về đào tạo, hướng dẫn và các lợi ích xã hội là cao nhất đối với khách hàng TCTCVM (trên 37%) Mặc dù cùng cung cấp tài chính vi mô theo hình thức tổ, nhóm và thông qua các đoàn thể, NHCSXH không nhận được sự đánh giá cao như vậy
- Hầu hết các khách hàng đều đánh giá cao về các lợi ích xã hội do tài chính vi mô mang lại, như sự hiểu biết tốt hơn, tự tin hơn, tham gia nhiều hơn vào sinh hoạt cộng đồng, cũng như bình đẳng giới và chất lượng cuộc sống gia đình Đây là những tác động khó có thể đong đếm, nhưng thực sự tạo nên sự thay đổi rất lớn trong cuộc sống Và đây cũng là lý do tại sao tài chính vi mô có sức hấp dẫn lớn, được đánh giá cao, được coi như một trong những công cụ chủ chốt trong giảm nghèo và phát triển kinh tế
• Khách hàng mong muốn các phương thức trả gốc và lãi linh hoạt hơn, đa dạng hơn
• Thông tin từ cuộc điều tra sơ cấp cho thấy: Có khoảng 13% khách hàng vay tại nhiều tổ chức khác nhau Mặc dù nguy cơ chồng nợ hiện tại chưa cao, sự tiềm ẩn rủi ro vỡ nợ do khách hàng vay cùng lúc từ nhiều tổ chức khác nhau đang hiện hữu Đây cũng là lý do
Trang 24Cam-pu-chia, Ấn Độ trong thời gian qua Do vậy, các tổ chức cần quan tâm hơn nữa đến việc quản lý vấn đề chồng nợ, có thể thực hiện chia sẻ thông tin về khách hàng giữa các tổ chức cung cấp tài chính vi mô trên cùng một địa bàn.
• Sự hài lòng của khách hàng: Phần lớn khách hàng được hỏi đều có đánh giá tích cực về tất cả các khía cạnh hoạt động của các tổ chức, hầu như không có sự khác biệt giữa ba tổ chức trong đánh giá này Như vậy, các TCTCVM thực sự đã đạt được kết quả tốt trong việc gây dựng uy tín và hình ảnh trong lòng khách hàng Mặc dù không phải là đơn vị trực thuộc Nhà nước như NHCSXH, hoặc đã tham gia bảo hiểm tiền gửi và là một phần trong hệ thống TCTD chính thức như QTDND, các TCTCVM vẫn tạo được uy tín rất tốt Nếu xét riêng với từng tổ chức tín dụng, phần lớn khách hàng của NHCSXH
và TDND cảm thấy rất hài lòng, tỷ lệ khách hàng rất hài lòng của hai
tổ chức này lần lượt là 50,31% và 59,76% Với TCTCVM, tỷ lệ khách hàng hài lòng lại chiếm ưu thế hơn với 51,26%; trong khi số khách hàng rất hài lòng thấp hơn một chút với 45,91%
• Chỉ mình tài chính vi mô không đủ cho công cuộc giảm nghèo Tài chính vi mô tạo điều kiện để khách hàng có thêm cơ hội việc làm hoặc phát triển việc làm hiện tại, tăng thu nhập, tăng thêm các kỹ năng và năng lực xã hội thông qua các hoạt động phi tài chính
• Để tăng cường hiệu quả hoạt động tài chính vi mô, các khuyến nghị sau được đưa ra đối với các tổ chức cung ứng dịch vụ tài chính vi mô:
- Đa dạng hóa các dịch vụ tài chính truyền thống, phát triển các dịch
vụ tài chính mới, kết hợp cung cấp sản phẩm tài chính và phi tài chính
- Phát huy hơn nữa sức mạnh của mình, giảm thiểu các điểm yếu của từng tổ chức Cụ thể: Các TCTCVM phi chính phủ phát huy hơn nữa sức mạnh gắn kết giữa các thành viên, cân bằng giữa mục tiêu phát triển xã hội và bền vững; xem xét và nắm lấy cơ hội chuyển đổi
Trang 25và chính thức hóa hoạt động; tăng cường tiềm lực tài chính và năng lực quản trị hoạt động NHCSXH tận dụng tối đa sức mạnh của hệ thống toàn quốc và sự gắn kết với các cơ quan đoàn thể; nâng cao hiệu quả hoạt động, hướng tới bền vững về hoạt động và tài chính, giảm sự phụ thuộc vào nguồn vốn của Chính phủ cho hoạt động QTDND tiếp tục phát triển theo định hướng tự chủ trong hoạt động và tài chính, áp dụng các thông lệ quốc tế của mô hình hợp tác
xã tài chính điển hình; QTDND Trung ương nhanh chóng tái cấu trúc thành Ngân hàng Hợp tác xã theo Luật các TCTD (2010); các QTDND cơ sở củng cố hoạt động, tăng cường khả năng quản trị rủi
ro và quản lý điều hành; tăng cường mối liên kết chặt chẽ trong hệ thống
ba nhóm tổ chức chính: Các tổ chức tài chính vi mô, NHCSXH, Hệ thống Quỹ Tín dụng nhân dân, cũng như các ngân hàng thương mại đang có xu hướng phát triển hoạt động này); Thứ ba, từ các khách hàng tài chính vi mô Tuy vậy, những khó khăn và thách thức cho
sự phát triển tài chính vi mô trong thời gian tới tại Việt Nam còn rất lớn Để tăng cường hiệu quả của tài chính vi mô, tác động tốt tới vấn đề giảm nghèo và nâng cao chất lượng cuộc sống, có rất nhiều việc phải làm trong thời gian tới Cả khách hàng, nhà quản lý và các
tổ chức cung ứng dịch vụ tài chính vi mô đều cần nỗ lực nhằm tận dụng cơ hội và vượt qua thách thức
Trang 262.1 Lý do và mục đích thực hiện nghiên cứu
Tài chính vi mô đóng vai trò hết sức quan trọng đối với việc phát triển kinh tế - xã hội, đặc biệt là công cuộc giảm nghèo đói và phát triển
xã hội tại các quốc gia đang phát triển Vai trò của TCVM đối với giảm nghèo cũng được khẳng định thông qua các nghiên cứu lý thuyết (Legerwood, 1999; ADB, 2000; Morduch and Haley, 2002; Khandker, 2003) Tầm quan trọng của tài chính vi mô đối với phát triển kinh tế-
xã hội cũng đã được khẳng định trong thực tế thông qua việc Liên hiệp quốc chọn năm 2005 là Năm quốc tế về tài chính vi mô, và giải thưởng Nobel Hòa bình năm 2006 đã được trao cho Giáo sư Mohamet Yunus- người sáng lập ra Grameen Bank - ngân hàng vi mô dành cho người nghèo nổi tiếng tại Băng-la-đét
Tài chính vi mô tại Việt Nam được coi là một trong những biện pháp giảm nghèo quan trọng Khoảng 72% dân số đang sống trong khu vực nông thôn, nơi có tới 94% người nghèo đang sinh sống, và nông nghiệp là ngành kinh tế chủ chốt với sự tham gia của 54% lực lượng lao động của cả nước Một trong những trở ngại lớn trong việc đạt được các mục tiêu giảm nghèo thiên niên kỷ tại Việt Nam là thiếu các dịch
vụ tài chính phù hợp và đáp ứng nhu cầu Sự phát triển mạnh mẽ của tài chính vi mô về phạm vi tiếp cận và các dịch vụ cung ứng, đặc biệt
là các dịch vụ về tín dụng và tiết kiệm trong những năm qua đã đáp ứng được phần lớn nhu cầu vốn cho phát triển kinh tế và công cuộc giảm nghèo Nhà nước và Chính phủ đã có những động thái hết sức tích cực đối với sự phát triển tài chính vi mô ở Việt Nam Luật tổ chức tín dụng được Quốc hội thông qua năm 2010 là một mốc son lịch sử khi coi TCTCVM là một TCTD, với các quy định được luật hóa Điều này còn chưa được thực hiện tại nhiều quốc gia, kể các ở các quốc gia có TCVM phát triển như In-đô-nê-xi-a, Phi-líp-pin, Băng-la-đét Ngày 6/12/2011, Thủ tướng Chính phủ đã chính thức phê duyệt Đề án
2 GIỚI THIỆU VỀ NGHIÊN CỨU
Trang 27xây dựng và phát triển hệ thống tài chính vi mô tại Việt Nam đến năm
2020
Các tổ chức cung cấp dịch vụ tài chính vi mô tại Việt Nam tương đối
đa dạng, tập trung vào các nhóm chính, đó là: Ngân hàng chính sách
xã hội Việt Nam, Quỹ Tín dụng nhân dân, các tổ chức tài chính vi mô,
và một số ngân hàng thương mại (Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông Thôn, Ngân hàng Bưu điện Liên Việt, Ngân hàng Đông Á) Mỗi nhóm tổ chức có phân đoạn thị trường riêng, nhưng đều tham gia vào thị trường tài chính vi mô Ba tổ chức chính tham gia vào việc cung cấp dịch vụ tài chính vi mô cho người thu nhập thấp/người nghèo là NHCSXH, QTDND và các TCTCVM Mỗi tổ chức có những đánh giá riêng của mình về việc trợ giúp khách hàng thu nhập thấp/ nghèo và sự hài lòng của họ Tuy vậy, chưa có nghiên cứu nào thực hiện so sánh tác động và thái độ khách hàng của các tổ chức này trên giác độ khách quan
Theo yêu cầu của Nhóm Công tác Tài chính vi mô Việt nam- tổ chức với sứ mệnh là đại diện mạng lưới tài chính vi mô quốc gia hàng đầu nhằm thúc đẩy sự phát triển và tăng trưởng bền vững ngành tài chính
vi mô Việt Nam theo thực tiễn tốt nhất trong một môi trường thuận lợi, Nhóm nghiên cứu bao gồm các chuyên gia tài chính vi mô và xử
lý dữ liệu thuộc Học viện Ngân hàng và Đại học Kinh tế Quốc dân đã thực hiện trong khoảng thời gian từ tháng 6-12/2011 đề tài nghiên cứu
“Tài chính vi mô với giảm nghèo Việt Nam: Kiểm định và so sánh”
2.2 Mục đích, đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Mục đích của nghiên cứu
(i) Khái quát tổng quan về ngành tài chính vi mô Việt Nam trong công cuộc giảm nghèo và phát triển, các đặc trưng của ba tổ chức chính trên thị trường: NHCSXH, QTDND và các TCTCVM
(ii) Phân tích và đánh giá khách quan trên giác độ khách hàng về:
Trang 28- Tác động của tài chính vi mô đối với các khía cạnh kinh tế (thu nhập, tài sản, tiết kiệm…)
- Tác động của tài chính vi mô đối với các khía cạnh xã hội (việc làm, đào tạo, sức khỏe, nâng cao năng lực xã hội…)
- Sự hài lòng của khách hàng đối với ba tổ chức này
(iii) Đưa ra một số khuyến nghị cho sự phát triển của các tổ chức cung cấp tài chính vi mô trong tương lai
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: Mối liên hệ giữa tài chính vi mô và giảm nghèo tại Việt Nam Trước khi tiến hành đánh giá, nhóm nghiên cứu đã dự định phân tích tác động của tài chính vi mô đến vấn đề giảm nghèo đói Tuy vậy, điều này khó thực hiện được vì vấn đề giảm nghèo phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố, trong đó tài chính vi mô chỉ là một trong các công cụ giúp người nghèo có thu nhập và nâng cao vị thế xã hội Không thể tách biệt hoàn toàn tác động ròng của TCVM, định lượng hóa và tính toán mức độ đóng góp của TCVM
Phạm vi nghiên cứu
Về bản chất, có nhiều quan điểm khác nhau về người nghèo và tổ chức tài chính vi mô Về quan điểm người nghèo, nếu chỉ tập trung vào người nghèo trong danh sách nghèo đói của địa phương, chúng ta sẽ
bỏ qua rất nhiều khách hàng cận nghèo và có thu nhập thấp, có thể dễ dàng rơi xuống mức nghèo khổ bất kỳ lúc nào Do vậy, nhóm nghiên cứu đã tập trung vào khách hàng thu nhập thấp hơn là người nghèo
“có sổ”
Hơn nữa, cũng có nhiều quan niệm khác nhau về tài chính vi mô và
tổ chức tài chính vi mô Theo Nhóm tư vấn hỗ trợ những người nghèo nhất (CGAP), thì “TCVM là việc cung cấp các dịch vụ tài chính cơ bản đáp ứng nhu cầu của người nghèo bao gồm: dịch vụ gửi tiết kiệm, tín dụng, lương hưu, chuyển tiền, bảo hiểm ” Theo J.Ledgerwood,
“TCVM là một phương pháp phát triển kinh tế nhằm mang lại lợi ích
Trang 29cho dân cư có thu nhập thấp ” Còn theo quan điểm của Ngân hàng Phát triển Châu Á (ADB) “TCVM là việc cung cấp các dịch vụ tài chính như tiền gửi, cho vay, dịch vụ thanh toán, chuyển tiền và bảo hiểm cho người nghèo và hộ gia đình có thu nhập thấp và các doanh nghiệp nhỏ của họ ” Tổng hợp những khái niệm trên có thể hiểu TCVM là một trong những cách thức phát triển kinh tế nhằm cung cấp các dịch
vụ tài chính và dịch vụ khác cho các đối tượng có thu nhập thấp trong
xã hội để phục vụ nhu cầu chi tiêu và đầu tư Quan điểm này cũng đã được Chính phủ nhất trí, thông qua việc mở rộng từ một chương trình cho vay hộ nghèo khi thành lập NHCSXH thành 18 chương trình khác nhau để hỗ trợ những đối tượng có thu nhập thấp hoặc làm việc tại các vùng khó khăn1
Các đơn vị cung cấp dịch vụ tài chính vi mô thuộc ba nhóm: nhóm chính thức, nhóm bán chính thức và nhóm phi chính thức Có ba quan điểm khác nhau về TCTCVM Quan điểm thứ nhất cho rằng, TCTCVM bao gồm tất cả các tổ chức cung cấp dịch vụ tài chính vi mô,
kể cả ngân hàng, hợp tác xã tài chính, TCTC quy mô nhỏ bán chính thức và chính thức Quan điểm thứ hai chỉ tập trung vào các TCTC quy mô nhỏ, kể cả chính thức và bán chính thức Quan điểm thứ ba cho rằng TCTCVM “là loại hình tổ chức tín dụng chủ yếu thực hiện một số hoạt động ngân hàng nhằm đáp ứng nhu cầu của các cá nhân,
hộ gia đình có thu nhập thấp và doanh nghiệp siêu nhỏ” (theo Luật TCTCD, 2010, điều 4 khoản 5) Theo quyết định 2195/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ về Phê duyệt đề án phát triển hệ thống tài chính
vi mô tại Việt Nam đến 2020 ký ngày 6/12/2011, tổ chức tài chính vi
mô bao gồm: các TCTCVM được NHNN cấp phép; các chương trình,
dự án tài chính vi mô của các tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức xã hội,
tổ chức xã hội - nghề nghiệp Trong đề tài này, quan điểm thứ nhất được sử dụng để phân tích Quan điểm này cũng tương đồng với quyết
1 Các chương trình chính hiện tại do NHCSXH cung cấp bao gồm: (1) Hộ nghèo; (2) Cho vay HSSV có hoàn cảnh khó khăn; (3) Cho vay giải quyết việc làm; (4) Cho vay xuất khẩu lao động; (5) Cho vay sản xuất kinh doanh vùng khó khăn; (6) Cho vay nước sạch và vệ sinh môi trường; (7) Cho vay mua nhà trả
Trang 30định 2195 /QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ ở trên.
2.3 Mẫu điều tra và phương pháp thực hiện
Nhóm nghiên cứu đã thực hiện thu thập và phân tích các bộ dữ liệu thứ cấp và sơ cấp khác nhau
Dữ liệu thứ cấp là các báo cáo về ngành tài chính nói chung, ngành tài chính vi mô nói riêng của Ngân hàng Phát triển Châu Á (ADB), Ngân hàng Thế giới (WB), các tổ chức quốc tế, điều tra mức sống dân cư Việt Nam 2002-2008, các tổ chức cung cấp dịch vụ tài chính vi mô, từ Chương trình Giải thưởng Doanh nhân vi mô Citi (CMA) giai đoạn 2007-2011 do Quỹ Citi tài trợ, và một số cuộc điều tra về nông nghiệp, nông thôn có liên quan tới tài chính, tín dụng (Bộ Lao động TBXH, Hội LHPN…)
Dữ liệu sơ cấp được thu thập và xử lý trên phần mềm SPSS Cuộc điều tra được tiến hành tại 2 tỉnh Hải Dương và Tiền Giang, mỗi tỉnh chọn
2 huyện điển hình (một huyện phát triển hơn (thành thị) và một huyện kém phát triển hơn về kinh tế (nông thôn), mỗi huyện chọn 2-4 xã có hoạt động của cả 3 tổ chức chính tham gia vào thị trường tài chính vi mô cho
Bảng 2.1 Quy mô và cơ cấu mẫu điều tra theo tỉnh
Tỉnh Huyện NHCSXH TDND TCTCVM người được Tổng số
người có thu nhập thấp/nghèo là NHCSXH, QTDND và TCTCVM Lý
do chọn 2 tỉnh Hải Dương và Tiền Giang chủ yếu dựa trên tính đại diện của các tổ chức cung cấp dịch vụ tài chính vi mô trên cả ba phương diện:
Trang 31địa lý, quy mô khách hàng, phân khúc thị trường và sự tương đồng của khách hàng giữa các tổ chức để thực hiện so sánh
Tại Tiền Giang, MOM là TCTCVM được khảo sát, còn TYM là đại diện cho TCTCVM ở Hải Dương Hai tổ chức này tương đối nổi trội trong nhóm các TCTCVM, vì vậy việc đánh giá chung các TCTCVM
so với NHCSXH hoặc QTDND sẽ có sự nổi trội hơn Mặc dù hệ thống QTDND có những quỹ rất lớn (như ở An Giang, Lâm Đồng, Hà Nội), các QTDND ở Hải Dương và Tiền Giang tập trung hơn vào khách hàng thu nhập thấp Nhóm nghiên cứu không chọn được tỉnh miền núi nơi
có cả hoạt động của cả 3 tổ chức trong 2 huyện, vì thông thường các QTDND không hoạt động ở các vùng miền núi, mặc dù NHCSXH hoạt động hầu hết các xã trên toàn quốc
Phương pháp phỏng vấn tập trung vào cách thức hồi tưởng tức là so sánh của chính khách hàng hiện nay so với trước khi tham gia vay vốn của tổ chức Trước khi thực hiện nghiên cứu này, chúng tôi định dùng phương pháp đánh giá sử dụng nhóm đối chứng, tức là chọn các khách hàng của tổ chức cung cấp dịch vụ tài chính vi mô và những người không phải khách hàng của bất kỳ tổ chức nào có điều kiện tương tự về kinh tế - xã hội trước khi vay vốn để so sánh tác động ròng Tuy vậy, khi đi khảo sát thử, chúng tôi thấy điều này là không khả thi Hiện tại, rất khó để tìm được nhóm khách hàng đối chứng Hơn nữa, hầu như không tổ chức nào thực hiện điều tra từ ban đầu trước khi thực hiện cung cấp dịch vụ tài chính vi mô với các dữ liệu được mã hóa và lưu trữ Sự phân tách tác động của từng tổ chức cung cấp tài chính vi mô cũng tương đối khó khăn, vì trong một số trường hợp một số khách hàng đang hoặc đã từng vay hoặc gửi tiết kiệm tại các tổ chức tín dụng khác Vì vậy, nghiên cứu tập trung hơn vào việc phân tích chung về tác động của tài chính vi mô nói chung tới cuộc sống kinh tế và tinh thần, chứ không đánh giá tác động ròng của từng tổ chức cung cấp tài chính vi mô
Câu hỏi phỏng vấn được thực hiện trực tiếp tại hiện trường, do các cán
bộ phỏng vấn nhiều kinh nghiệm của Trung tâm Phân tích và xử lý dữ
Trang 32liệu kinh tế - xã hội thuộc Đại học Kinh tế Quốc dân thực hiện Bảng câu hỏi được thiết kế tương tự cho khách hàng của 3 tổ chức, bao gồm
4 phần (i) thông tin về khách hàng vay vốn; (ii) thông tin về vay vốn và tiết kiệm; (iii) đánh giá sản xuất, tài sản và thu nhập trước khi tham gia
dự án/tổ chức và hiện nay; và (iv) đánh giá các tác động khác trước và sau khi tham gia dự án/tổ chức Nội dung cụ thể của bảng câu hỏi được trình bày chi tiết trong phụ lục số 2
2.4 Khung phân tích và các giả thuyết để kiểm định
Theo các tài liệu nghiên cứu và thực tiễn từ hoạt động, tài chính vi mô không trực tiếp thay đổi cuộc sống của khách hàng mà thông qua việc tiếp vốn cho sản xuất kinh doanh, tài chính vi mô giúp tạo thu nhập cũng như giảm thiểu các ảnh hưởng của khu vực phi chính thức đắt
đỏ Bên cạnh đó, khách hàng có cơ hội được nâng cao nhận thức cũng như các kỹ năng xã hội thông qua các hoạt động phi tài chính do các tổ chức cung cấp dịch vụ tài chính vi mô thực hiện Nghiên cứu này được thực hiện dựa trên khung phân tích tại hình 2.1
Dựa trên khung phân tích này, các giả thuyết được kiểm định trong nghiên cứu là:
(H1) Tài chính vi mô có tác động tích cực tới thu nhập và tài sản của khách hàng;
(H2) Tài chính vi mô giúp khách hàng tăng cường năng lực xã hội;(H3) Khách hàng của các tổ chức cung cấp dịch vụ TCVM thuộc các phân đoạn khác nhau, vì vậy mức độ tác động đến giảm nghèo khác nhau;
(H4) Mức sống chung của người dân tăng lên theo thời gian, do nhiều nhân tố tác động khác nhau;
(H5) Khách hàng của các tổ chức tài chính vi mô có sự hài lòng về dịch
vụ cao hơn các tổ chức khác
Trang 33Hình 2.1 Khung kiểm định tác động của tài chính vi mô đến
kinh tế - xã hội khách hàng
GIA ĐÌNH TÀI CHÍNH
ĐẦU TƯ - SẢN XUẤT
- Chớp lấy những cơ hội đầu tư có lợi hơn
- Tăng khả năng tự đầu tư
- Tăng khả năng đầu tư vào các công nghệ kỹ thuật tốt hơn
- Tạo cơ hội mở rộng các tiểu doanh nghiệp
- Đa dạng hoá các hoạt động kinh tế
- Khuyến khích việc chấp nhận rủi ro trong kinh doanh
- Nâng cao khả năng lợi nhuận từ đầu tư TIÊU DÙNG CỦA HỘ
- Cho phép chi tiêu đều đặn hơn
- Tăng khả năng mua được những tài sản hữu ích
- Giảm áp lực bán tài sản vì túng quẫn
THU NHẬP Thu nhập tăng lên, thu nhập
đa dạng hoá hơn, ổn định hơn
SẢN XUẤT, ĐẦU TƯ Nguồn lực đầu tư tốt hơn CHI TIÊU
- Tăng mức chi tiêu của hộ
- Giảm chi tiêu bất thường, không ổn định
XÃ HỘI
- Giảm nghèo đói hoặc thoát nghèo
- Học hành của trẻ em trong gia đình tốt hơn
- Nâng cao năng lực cá nhân
- Tăng cường vai trò phụ nữ trong gia đình, góp phần bình đẳng giới
- Nâng cao uy tín, giảm sự loại trừ và coi thường trong xã hội
- Giảm tổn thương của hộ gia đình với các khủng hoảng/ rủi ro bên ngoài
- Các tác động khác
KINH TẾ HỘ
- Tăng trưởng kinh tế tăng
- Cải thiện sự phân bố nguồn lực
- Thu nhập từ tiết kiệm
- Tiết kiệm tài chính nhiều hơn
- Nâng cao khả năng đương đầu với những khủng hoảng bên ngoài
HỆ THỐNG TÀI CHÍNH PHI CHÍNH THỨC
Giảm phụ thuộc vào các nguồn PCT đắt đỏ
Nguồn: David Hulme (2000), Impact Assessment Methodologies for Microfinance: Theory, Experience and Better Practice, CGAP và USAID’s AIM Project; Ngân hàng Thế giới (2002), Báo cáo đánh giá tác động của
dự án Tài chính nông thôn I.
Trang 343.1 Tổng quan về ngành tài chính vi mô Việt Nam cho khách hàng thu nhập thấp/nghèo
3.1.1 Vấn đề nghèo đói tại Việt Nam và chính sách giảm nghèo
Việt Nam có khoảng 72% dân số sống ở khu vực nông thôn, nơi đây có 94% người nghèo của cả nước sinh sống, chiếm tới 54% lực lượng lao động quốc gia, trong đó nông nghiệp là nguồn kinh tế chủ yếu Kết quả giảm nghèo rất đáng ghi nhận, với tỷ lệ nghèo đói giảm từ 58% năm
1993 xuống còn 14,5% năm 2008, và Việt Nam đang sẵn sàng cho việc đạt được các mục tiêu Thiên niên kỷ vào năm 2015
Chương trình giảm nghèo của Chính phủ là sự tiếp cận đa hướng gồm: Hiện đại hóa nông nghiệp và chế biến nông nghiệp để tăng giá trị gia tăng; thúc đẩy kinh doanh phi nông nghiệp; tăng cơ hội việc làm thông qua việc khuyến khích các doanh nghiệp nhỏ và vừa, công nghiệp hóa phân bổ rộng khắp các vùng địa lý Tuy nhiên, vẫn có sự chênh lệch phân bố người nghèo với 45% người nghèo là người dân tộc thiểu số sống ở vùng sâu vùng xa, trong khi đó họ chỉ chiếm có 14% dân số Một trong những trở ngại lớn trong việc đạt được các mục tiêu giảm nghèo là thiếu các dịch vụ tài chính phù hợp và sẵn sàng trong khu vực nông thôn2
3.1.2 Các tổ chức cung cấp dịch vụ tài chính vi mô chính trên phân đoạn thị trường khách hàng thu nhập thấp
Các dịch vụ tài chính, đặc biệt là tín dụng đã được sử dụng như một trong những công cụ quan trọng cho công cuộc giảm nghèo, thông qua các biện pháp khuyến khích hoạt động của các tổ chức tài chính
vi mô phi chính phủ, mở rộng hoạt động của NHCSXH đến từng thôn
3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
2 Các chương trình chính hiện tại do NHCSXH cung cấp bao gồm: (1) Hộ nghèo; (2) Cho vay HSSV có hoàn cảnh khó khăn; (3) Cho vay giải quyết việc làm; (4) Cho vay xuất khẩu lao động; (5) Cho vay sản xuất kinh doanh vùng khó khăn; (6) Cho vay nước sạch và vệ sinh môi trường; (7) Cho vay mua nhà trả chậm, (8) và 11 chương trình khác Nguồn: Báo cáo thường niên của NHCSXH, www.vbsp.org.vn.
Trang 35bản…Tuy vậy, chất lượng các dịch vụ này và mức độ đáp ứng nhu cầu khách hàng vẫn còn là một vấn đề lớn Các tổ chức tham gia cung cấp dịch vụ tài chính vi mô chính ở Việt Nam được chia thành ba nhóm chính như sau:
Các đơn vị cung cấp TCVM thuộc 3 nhóm: TCTCVM chính thức bao gồm các Ngân hàng thương mại tham gia cung cấp dịch vụ tài chính vi
mô, đặc biệt là AGRIBANK và Ngân hàng thương mại cổ phần Bưu điện Liên Việt (vừa mua lại Công ty Tiết kiệm bưu điện vào cuối năm 2010); NHCSXH; QTDND và Tổ chức Tài chính quy mô nhỏ Tình Thương (Quỹ TYM) là TCTCVM bán chính thức đầu tiên được NHNN cấp phép Khu vực bán chính thức gồm các TCTCVM bán chính thức, chủ yếu theo
mô hình, và khu vực phi chính thức
Ba tổ chức dẫn đầu thị trường tài chính vi mô Việt Nam về cả quy mô hoạt động và số lượng khách hàng là: AGRIBANK, QTDND và NHC-
6 TC/50% khách hàng của TCTCVM
Trang 36SXH Hiện nay Ngân hàng Liên Việt (Postal Bank) vẫn chưa có động thái rõ ràng trong việc sử dụng hệ thống huy động tiết kiệm bưu điện Tuy vậy, trong tương lai, đây là một tổ chức rất có tiềm năng trong việc cung cấp dịch vụ tài chính vi mô do quy mô phòng/điểm giao dịch trải rộng trên địa bàn tất cả các xã/phường trong cả nước
Năm 2003, Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, hoạt động như một ngân hàng thương mại hoàn toàn mặc dù vẫn tập trung vào các hộ gia đình nông thôn và các doanh nghiệp nông nghiệp nhỏ
và vừa Đến nay, ngân hàng này đã có 2.300 chi nhánh và phòng giao dịch trên khắp các tỉnh, thành trong cả nước, với tổng số trên 3 triệu khách hàng vay vốn nhỏ và 5 triệu khách hàng gửi tiết kiệm vi mô Tuy vậy, AGRIBANK tập trung nhiều hơn vào thị trường khách hàng thu nhập cao, hộ nông dân không nghèo và các doanh nghiệp Vì thế, thị trường tài chính vi mô cho khách hàng thu nhập thấp và khách hàng nghèo chủ yếu do ba nhóm tổ chức cung cấp: NHCSXH, QTDND, và các TCTCVM
AGRIBANK
Nguồn: ADB
Hình 3.2 Các tổ chức TCVM dẫn đầu trên thị trường
Việt Nam đến 2010
Trang 37Hình 3.3 Các tổ chức chính phục vụ khách hàng nghèo/thu nhập
QTDND, một dạng hợp tác xã tài chính, được thành lập năm 1993 để cung cấp dịch vụ tài chính cho cấp xã/phường Quỹ Tín dụng Nhân dân Trung ương cũng được thành lập và hoạt động như một tổ chức trung ương của các QTDND và hỗ trợ cho các QTDND cơ sở Đến năm 2010,
cả nước có 1.042 QTDND cơ sở hoạt động trên 10% xã , phường và phục
vụ khoảng 1,7 triệu thành viên, trong đó khoảng 50% là các hộ nghèo Các QTDND đã luôn và tiếp tục được định hướng theo cơ chế thị trường
và tuân theo các nguyên tắc cơ bản của hợp tác xã là tự giúp đỡ và hỗ trợ lẫn nhau, chỉ có chưa đến 15% nguồn vốn của các Quỹ được tài trợ từ các nguồn bên ngoài, chủ yếu là từ QTDNDTW
AGRIBANK và mạng lưới các QTDND được phân bố rộng khắp cả nước để phục vụ các hộ gia đình có thu nhập thấp ở nông thôn, nhưng định hướng thương mại của các tổ chức đó tạo ra mối lo ngại của Chính phủ về việc các hộ nghèo và các nhóm thiệt thòi bị loại trừ Vì vậy, Ngân hàng Người nghèo được thành lập vào năm 1995 dưới dạng một quỹ do Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông
Nguồn: ADB
Trang 38gia đình nghèo Năm 2002, NHNg được tách ra khỏi AGRIBANK và chuyển đổi thành NHCSXH, một tổ chức phi lợi nhuận tập trung vào trợ cấp “Cho vay theo chính sách xã hội” dành cho các hộ nghèo
và nhóm thiệt thòi theo quy định của Chính phủ Đến năm 2010, NHCSXH đã có khoảng 8.000 cán bộ công nhân viên làm việc tại tất
cả các huyện với mức độ bao phủ là 98% tất cả các xã trên cả nước
Từ những năm 1990 đến nay, có khoảng 50 tổ chức tài chính vi mô (TCTCVM) bán chính thức được thành lập thông qua các chương trình tín dụng và tiết kiệm hoặc do các tổ chức đoàn thể xã hội và tổ
chỉ có 3 tổ chức có trên 40.000 khách hàng, và 3 tổ chức khác có được
từ 20.000 đến 40.000 khách hàng 6 tổ chức hoạt động hiệu quả nhất này chiếm khoảng 50% tổng số khách hàng của tất cả các tổ chức bán chính thức Hoạt động của các tổ chức này chỉ chiếm tỷ trọng nhỏ
3.1.3 Môi trường hoạt động của tài chính vi mô Việt Nam
a Môi trường kinh tế
Trước tiên, cần phải khẳng định rằng, môi trường kinh tế – xã hội tổng thể cho các doanh nghiệp Việt Nam nói chung và các TCTCVM nói riêng nhìn chung là tương đối ổn định và ngày càng được cải thiện Tuy vậy, những thách thức đặt ra từ các vấn đề bên trong (thiên tai dịch bệnh, lạm phát cao, nợ công có chiều hướng gia tăng), cũng như bên ngoài (khủng hoảng kinh tế thế giới, đặc biệt tại Mỹ và Châu Âu) đang có những tác động xấu tới môi trường kinh tế nói chung, và môi trường hoạt động của tài chính vi mô Việt Nam nói riêng Công cuộc đổi mới năm 1986 đã giúp Việt Nam giảm nhanh được tình trạng đói nghèo, bước đầu xây dựng nền kinh tế theo hướng
Trang 39công nghiệp, đạt được tốc độ tăng trưởng kinh tế cao đi đôi với sự công bằng tương đối trong xã hội Luật đầu tư nước ngoài năm 1987
là một trong những văn bản luật đầu tiên góp phần tạo ra khung pháp luật cho việc hình thành nền kinh tế thị trường tại Việt Nam Tiếp theo đó, hàng loạt các đạo luật của nền kinh tế thị trường đã được hình thành tại Việt Nam như Luật đất đai, Luật thuế, Luật phá sản, Luật môi trường, Luật lao động và hàng trăm văn bản của các
cơ quan quản lý nhà nước đã được ban hành nhằm cụ thể hóa việc thực hiện luật phục vụ phát triển kinh tế – xã hội Chiến lược cải cách hành chính giai đoạn 2001 - 2010 là một quyết tâm của Chính phủ, trong đó nhấn mạnh việc sửa đổi các thủ tục hành chính, luật pháp,
cơ chế quản lý kinh tế nhằm tạo ra một thể chế năng động, hiệu quả đáp ứng nhu cầu phát triển của đất nước trong giai đoạn mới
Từ năm 1998 đến 2006 tỷ lệ lạm phát được duy trì ở một con số đã tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp, đặc biệt là các doanh nghiệp vi mô, doanh nghiệp nhỏ đạt được sự bền vững về tài chính Lạm phát năm 2007 – 2011 ở mức cao (luôn trên 2 con số với 12,63% năm 2007 và 19% năm 2011) thực sự là thách thức cho nền kinh
tế Việt Nam và ảnh hưởng đáng kể đến tình hình tài chính của các doanh nghiệp, trong đó các TCTCVM
Trong giai đoạn 2001 - 2007 GDP tăng trung bình gần trên 7,5%/ năm Trong bối cảnh khủng hoảng tài chính toàn cầu và kinh tế suy giảm, khủng hoảng nợ công lan rộng, Việt Nam là một trong số những nước vẫn duy trì được tốc độ tăng trưởng dương trong giai đoạn 2008 - 2011 Tăng trưởng kinh tế tạo điều kiện cho phát triển kinh tế hộ gia đình và tạo cơ hội cho các doanh nghiệp vi mô, doanh nghiệp nhỏ tham gia thị trường và tăng thu nhập Tuy vậy, vấn đề tồn tại và đạt được bền vững về tài chính trong điều kiện mức lạm phát cao, cạnh tranh với các tổ chức tín dụng chính thức với lãi suất huy động cao… đang gây ra những khó khăn rất lớn cho cả khách hàng
và bản thân các tổ chức cung cấp tài chính vi mô Hàng loạt trở ngại như thiên tai (lũ lụt, sâu bệnh…), dịch bệnh (trâu bò, cúm gia cầm
Trang 40H5N1…), thị trường nước ngoài bị thu hẹp (đối với các ngành xuất khẩu sang châu Âu, Mỹ, Nhật Bản ) đã làm cho nhiều khách hàng vay vốn kinh doanh của tài chính vi mô bị thua lỗ, thậm chí phá sản.
Nhìn chung, những cải cách kinh tế mạnh mẽ trong 25 năm đổi mới
vừa qua đã mang lại cho nền kinh tế những thành quả bước đầu đáng khích lệ Việt Nam đã tạo ra được một môi trường kinh tế thị trường
có tính cạnh tranh và năng động, hội nhập với thế giới Nền kinh tế tăng trưởng tạo ra nhu cầu về dịch vụ tài chính đối với khu vực nông nghiệp nông thôn, do vậy tạo ra thị trường cho tài chính vi mô Hiện nay, một số ngân hàng thương mại đã bắt đầu quan tâm đến phân khúc thị trường rộng lớn và đầy tiềm năng này Môi trường kinh tế thuận lợi tạo điều kiện cho hoạt động tài chính vi mô phát triển cả
về chất và về lượng Tuy vậy, những thách thức đối với nền kinh tế nói chung, với các tổ chức cung cấp tài chính vi mô và khách hàng nói riêng vẫn còn ở phía trước, trong điều kiện kinh tế Việt Nam và thế giới có nhiều biến động khôn lường và vẫn chưa hoàn toàn thoát khỏi khủng hoảng kép
b Môi trường pháp lý
Mạng lưới cung ứng dịch vụ TCVM tại Việt Nam gồm ba khu vực: khu vực chính thức, khu vực bán chính thức và khu vực phi chính thức Mặc dù cùng phục vụ cho một nhóm đối tượng khách hàng, nhưng mỗi khu vực lại có mục tiêu, tính chất hoạt động riêng Chính
vì lý do này nên hoạt động của mỗi khu vực được điều chỉnh bởi khuôn khổ pháp lý riêng, cụ thể:
• Khu vực chính thức bao gồm hoạt động của các tổ chức tín dụng
có cung cấp các dịch vụ TCVM và các TCTCVM Các tổ chức thuộc khu vực này hoạt động trên cơ sở giấy phép do NHNN cấp và chịu sự quản lý, giám sát an toàn của NHNN
Đối với các ngân hàng thương mại: Văn bản pháp luật cao nhất chi phối hoạt động của các ngân hàng thương mại là Luật Các Tổ chức tín dụng số 47/2010-QH-12 ngày 15/6/2010 và có hiệu lực ngày 1/1/2011 Dưới Luật