Tìm hiểu về Ngân hàng thương mại
Trang 1NHẬN XÉT CỦA CƠ QUAN THỰC TẬP
Nha Trang, ngày tháng năm 2006
Giám đốc
NHẬN XÉT CỦA GIÁO VIÊN HƯỚNG DẪN
Đà Lạt, ngày tháng năm 2006
Giáo viên hướng dẫn
NHẬN XÉT CỦA KHOA QUẢN TRỊ KINH DOANH
Trang 2Đà Lạt, ngày tháng năm 2006
LỜI NÓI ĐẦU
Để đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế của nước ta trong giai đoạn mới,hiện đại hóa và công nghiệp hóa đất nước, ngành ngân hàng cần phải pháttriển bền vững, ổn định, thành công trong cạnh tranh và hội nhập
Tuy nhiên, hoạt động Ngân hàng nước ta hiện đang gặp nhiều khó khănvà còn không ít tồn tại nhất là hoạt động tín dụng còn chưa an toàn, có nhiềurủi ro, chất lượng tín dụng chưa tốt
Có nhiều nguyên nhân dẫn đến tình trạng trên: Điều kiện kinh tế – xãhội, môi trường pháp lý chưa đồng bộ, khách hàng vay Ngân hàng; bản thâncác Ngân hàng TMCP, sự kiểm tra, kiểm soát của Ngân hàng Nhà Nước và các
cơ quan chức năng…
Trang 3Ở nước ta, từ 1996 – 1998, nếu theo tiêu chuẩn Việt Nam, tỷ lệ nợ quá hạnkhoảng 13%, song theo tiêu chuẩn quốc tế lại không dưới 30% (báo cáo củaIMF, quý IV/2001) nghĩa là tương đương với những nước có tỷ lệ nợ quá hạnđặc biệt cao
Theo số liệu của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, năm 2002, tổng số nợ xấucủa các ngân hàng thương mại và tổ chức tín dụng là hơn 20.000 tỷ đồng,chiếm hơn 7,2% tổng dư nợ, chiếm khoảng 7,78% tổng dư nợ (nếu tính cả cáckhoản chờ xử lý, nợ phải trả thay, nợ thanh toán…)
Đến năm 2004 tổng số nợ xấu giảm xuống còn trên 13.000 tỷ đồng, chiếm tỷ lệdưới 4%, thấp hơn tỷ lệ an toàn cho phép theo thông lệ quốc tế là 5% Đếnnăm 2005, tổng số nợ xấu lại tăng lên con số 17.500 tỷ đồng, nhưng tỉ lệ chỉchiếm 3,18% tổng dư nợ, riêng khối ngân hàng thương mại nhà nước thì tỷ lệnày trên 5%
Đến hết tháng 9/2006, thực trạng nợ quá hạn của các ngân hàng thương mại vàtổ chức tín dụng chưa có con số công bố từ ngân hàng Nhà nước nhưng nhiềuchuyên gia cho rằng, con số tuyệt đối là hơn 20.000 tỷ đồng, tỷ lệ không biếnđổi nhiều, vẫn dưới mức 5% do tổng dư nợ cho vay và đầu tư cũng tăng nhanhnhưng không phải không đáng quan tâm
Song một số chuyên gia của một số tổ chức tiền tệ quốc tế và chuyên gia ngânhàng thương mại trong nước cho rằng, tỷ lệ nợ xấu của các ngân hàng thươngmại thực tế luôn luôn cao gấp khoảng 2 lần số liệu do Ngân hàng Nhà nướccông bố, hiện nay đang ở mức 7-8%, riêng cacù ngân hàng thương mại Nhà nướcđang ở mức trên 10%, thậm chí có chuyên gia cho rằng phải ở mức trên 15%
Trang 4Từ đó, chúng ta thấy việc nợ quá hạn phát sinh đã và đang đe dọa tình hình anninh tài chính trong hoạt động ngân hàng Do đó, xử lý nợ quá hạn trở thànhmục tiêu sống còn của ngành ngân hàng cần được ưu tiên và tập trung chỉ đạotrong hoạt động của mình.
Xuất phát từ tình hình thực tiễn của hệ thống ngân hàng Việt Nam hiện naycũng như sự yêu thích của bản thân đối với lĩnh vực này, nên khi bước vào giaiđoạn thực tập, có điều kiện tiếp xúc thực tế, bản thân không ngần ngại đi vàotìm hiểu và viết chuyên đề tốt nghiệp về đề tài này dẫu biết rằng đây là vấnđề lớn và khó khăn Tất nhiên với tầm hiếu biết còn hạn chế của mình, tôi biếtrằng bài viết sẽ chắc chắn còn nhiều thiếu sót Do vậy rất mong nhận được sựchỉ bảo và đóng góp tận tình của quý thầy cô và mọi người Nhân đây, kính xinquý thầy cô trường Đại Học Nha Trang cũng như các anh chị hiện đang côngtác tại Ngân hàng TMCP Á Châu – Phòng Giao Dịch Chợ Đầm nhận nơi tôilòng tri ân sâu sắc, những người đã giúp đỡ tôi trong việc hoàn thành chuyênđề này
Trân trọng!
Trang 5M
1234
9991111
Trang 630
30303030
Trang 7ục lục Trang
Nhận xét của cơ quan thực tập
Nhận xét của giáo viên hướng dẫn Nhận xét của khoa quản trị kinh doanh Lời nói đầu
Trang 8Phần I: Lý luận chung về tín dụng ngân hàng
Tìøm hiểu về Ngân hàng thương mại
1 Sự hình thành và phát triển
2 Định nghĩa
3 Chức năng của ngân hàng thương mại
Tín dụng ngân hàng
1 Nguồn gốc của tín dụng ngân hàng
2 Khái niệm
3 Phân loại tín dụng
4 Nguyên tắc của tín dụng ngân hàng
5 Đặc trưng của tín dụng ngân hàng
6 Vai trò của tín dụng ngân hàng
Nợ quá hạn
1 Nợ quá hạn là gì?
2 Bản chất của nợ quá hạn
3 Phân loại nợ quá hạn
4 Tầm quan trọng của việc hạn chế nợ quá hạn
Phần II: Thực trạng nợ quá hạn trong hoạt động tín dụng tại
ACB – Phòng Giao Dịch Chợ Đầm
I Giới thiệu về Khánh Hòa và NH ACB – Phòng Giao Dịch ChợĐầm
1 Tình hình đặc điểm chung của Tỉnh Khánh Hòa
1.1 Tình hình xã hội
1.2 Tình hình kinh tế
1.3 Tình hình phát triển các hoạt động NH trên địa bàn tỉnh KH
Trang 92 Ngân hàng TMCP ACB - Phòng Giao Dịch Chợ Đầm
2.1 Quá trình hình thành
2.2 Cơ cấu tổ chức và quản lý
2.3 Chức năng các phòng ban
2.3.1 Phòng hành chính
2.3.2 Phòng kinh doanh
2.3.3 Phòng kế toán
Trang 1171
.3.4 Phòng Giao dịch ngân qũy
II Tình hình hoạt động tín dụng tại ACB - Phòng Giao Dịch Chợ
Đầm
III Thực trạng nợ quá hạn
IV Các nguyên nhân làm phát sinh nợ quá hạn
1 Về phía khách hàng
2 Bản thân ngân hàng
3 Nguyên nhân khác
V Các biện pháp hạn chế nợ quá hạn đã và đang được
áp dụng trong thời gian qua
Phần III: Những đề xuất nhằm quản lý nợ quá hạn trong hoạt động tíndụng tại ACB Phòng Giao Dịch Chợ Đầm
I Nhận định và đánh giá thực trạng hoạt động tại ACBPhòng Giao Dịch Chợ Đầm
II Những đề xuất Các biện pháp thuộc về quản lý vĩ mô
1 Môi trường pháp lý
1.2.Hoàn thiện và nâng cao quy mô của “TT thông tin TD” (CIC)
2 Những biện pháp thuộc về nghiệp vụ ngân hàng
2.1 Thực hiện quy trình cho vay đầy đủ và chặt chẽ
2.2 Đầu tư phân tán
2.3 Vấn đề bảo hiểm tín dụng
Trang 122.4 Vấn đề tiêu chuẩn hoá đội ngũ cán bộ tín dụng
3 Giải pháp cho phòng giao dịch
3.1 Định kỳ hạn trả nợ chính xác
3.2 Tăng cường thẩm định sau khi cho vay
3.3 Nâng cao kỹ năng, giảm tình trạng quá tải của cán bộ tín dụng3.4 Tăng cường thu hút nguồn vốn trung dài hạn
4 Giải pháp cho những năm tới
4.1 Cần xác định rõ quan điểm
4.2 Quản lý khách hàng bằng tài khoản sec
4.3 Sử dụng nghiệp vụ hoán đổi tín dụng (Credit Swaps)4.4 Thực hiện quy trình cho vay đầy đủ và chặt chẽ
Kết luận
Phụ lục
Bốn bài học từ vụ án Epco – Minh Phụng
cho hoạt động quản lý rủi ro tín dụng Tài liệu tham khảo
Trang 13PHẦN I: LÝ LUẬN CHUNG VỀ TÍN DỤNG NGÂN HÀNG
I Tìøm hiểu về Ngân hàng thương mại
1 Sự hình thành và phát triển
Thuật ngữ “Ngân hàng” đã có từ rất lâu thế nhưng không phải bỗngdưng ngân hàng đột nhiên xuất hiện trong nền kinh tế, ngân hàng đã đi từbước hình thành cực kỳ thô sơ và chính nhu cầu phát triển của xã hội và nềnkinh tế đã là tác nhân thúc đẩy hoạt động ngân hàng không ngừng được cảithiện nâng cao cả về thực hành lẫn lý thuyết để có được như ngày hôm nay.Từ 3500 trước Công nguyên trở về trước, có rất ít tư liệu của một cái gìmang tính chất giống như ngân hàng Thời gian này cho đến năm 1800 trướcCông nguyên tư liệu cho biết là đã có một vài hoạt động mang tính chất khátương tự như hoạt động của ngân hàng, lịch sử gọi đây là “giai đoạn của cácngân hàng sơ khai” Hoạt động của các ngân hàng sơ khai này rất đơn giản:bảo quản, giữ hộ tiền và đổi tiền hưởng hoa hồng Cùng với thời gian, hoạtđộng và vai trò của ngân hàng cũng liên tục phát thiển theo các điều kiệnkinh tế xã hội Thế nhưng, từ thế kỷ thứ XVII trở về trước, ngân hàng chưaphát triển và chưa giữ vai trò quan trọng, nó chỉ là một nghề mua bán vàlàm dịch vụ thông thường, một loại hình thương nghiệp giống như các loại
Trang 14thương nghiệp thuần túy khác Trong thời gian này, người vay tiền nhiềunhất của các tổ chức buôn tiền này là các vua chúa để thỏa mãn cuộc sống
xa hoa của mình Trong khi đó, các nhà tư bản nông, công, thương nghiệpthông chịu vay vốn của các ngân hàng này vì lãi suất quá cao, nuốt hết toànbộ lợi nhuận và một phần vốn tự có của họ Thay vào đó, họ áp dụng cáchbán chịu hàng hóa cho nhau hoặc cho vay với mức lãi suất thấp hơn lợinhuận bình quân Bên cạnh hai cách thức trên, họ góp vốn với nhau tạo racác ngân hàng, hội tín dụng để cho vay vốn với mức lãi suất có thể chấpnhận được Loại ngân hàng này đã ra đời ở các thành phố Venise (Ý) vàonăm 1589, Milan (Ý) vào năm 1593, Amsterdam (Hà Lan) vào năm 1600,Nuremberg (Đức) vào năm 1621 Mãi đến cuối thế kỷ XVII mới xuất hiệnngân hàng lớn nhất thế giơi, đó là ngân hàng Anh ở Luân Đôn Ngân hàngAnh là một công ty cổ phần lớn kinh doanh tín dụng tư bản với mức lãi suấtcho vay là 6%/năm làm cho các ngân hàng cho vay nặng lãi từ thời Trungcổ bắt buộc phải hạ lãi suất theo và chuyển sang kinh doanh như ngân hàng
tư bản
Trong suốt những thế kỷ sau đó, các ngân hàng tư bản khác ở khắp lụcđịa Châu Aâu, Bắc Aâu, Bắc Mỹ lần lượt ra đời và cùng với sự bành trướngcủa các thế lực đế quốc, thực dân… các ngân hàng ở các nước thuộc địacũng lần lượt ra đời như: ngân hàng Đông Phương của Anh thành lập tạiTrung Quốc, ngân hàng Đông Dương của Pháp thành lập năm 1875 tại SàiGòn của Việt Nam…
Thuật ngữ “ngân hàng” đã có từ lâu, tại thành Athene (Hy Lạp) các nhàđổi tiền được gọi là các Trapezita (xuất phát từ tiếng Hy Lạp “Trapeza” có
Trang 15nghĩa là cái bàn) Các Trapezita ngồi trước các bàn đổi tiền để nhận tiềncủa giai cấp quý tộc, người giàu có… và cho các thương gia vay Ơû Ý cáchoạt động mua bán, trao đổi, vay tiền được tiến hành trên các ghế dài gọi làBanca Đây cũng là xuất phát điểm cho các từ Banque (Pháp), Bank (Anh,Mỹ, Đức), Banco (Ý)… có ý nghĩa là ngân hàng cho tới ngày nay.
Trong thời đại ngày nay, việc kinh doanh tiền tệ không còn là loại hìnhđộc quyền riêng có của ngân hàng Cùng với ngân hàng còn có những tổchức tài chính khác kinh doanh các loại hình tương tự như công ty bảo hiểm,quỹ tiết kiệm, quỹ tín dụng, hợp tác xã tín dụng… Tuy nhiên, dù ở đâu,NHTM vẫn là tổ chức tài chính lớn nhất, quan trọng nhất của giới kinhdoanh tiền tệ
Mặc dù có một lịch sử lâu dài và một vai trò cực kỳ quan trọng đối vớinền kinh tế, đến nay vẫn chưa có một sự nhất trí giữa các nhà nghiên cứu,nhà kinh doanh trong việc đưa ra một định nghĩa toàn vẹn nhất về NHTM.Có tình trạng đó là do hoạt động NHTM rất đa dạng, các thao tác trong từngnghiệp vụ ngân hàng lại phức tạp và các vấn đề này luôn biến động theo sựthay đổi chung của nền kinh tế Mặt khác, còn do tập quán luật pháp khácnhau ở mỗi quốc gia, mỗi vùng lãnh thổ dẫn đến quan niệm khác nhau vềNHTM Vậy đâu là một định nghĩa đúng nhất, được chấp nhận rộng rãinhất?
2 Định nghĩa:
Có nhiều định nghĩa khác nhau về NHTM nhưng về cơ bản thì đều toátlên nội dung sau: NHTM là loại ngân hàng trực tiếp giao dịch với các công
Trang 16ty, xí nghiệp, tổ chức kinh tế, cá nhân bằng việc nhận tiền gởi, tiền tiếtkiệm…, cho vay và cung cấp các dịch vụ ngân hàng cho các đối tượng nóitrên Có thể liệt kê ra đây một vài định nghĩa:
Đạo luật ngân hàng của Pháp
“ Ngân hàng thương mại là những xí nghiệp hay cơ sở mà nghề nghiệp lànhận tiền bạc của công chúng dưới hình thức ký thác, hoặc dưới các hìnhthức khác và sử dụng tài nguyên đó cho chính họ trong các nghiệp vụ vềchiết khấu, tín dụng và tài chính.”
Theo khoản 2 điều 20 luật các tổ chức tín dụng của Việt Nam:
“ Ngân hàng là loại hình tổ chức tín dụng được thực hiện toàn bộ hoạt độngngân hàng và các hoạt động khác có liên quan.”
3 Chức năng của ngân hàng thương mại
Trong điều kiện nền kinh tế hàng hóa phát triển, NHTM thực hiện cácchức năng sau:
Chức năng trung gian tín dụng
Hoạt động trên lĩnh vực kinh doanh tiền tệ nên chức năng này là chứcnăng cơ bản nhất của NHTM Là người đi vay, ngoài vốn tự có, NHTM cònđứng ra huy động các nguồn vốn nhàn rỗi trong xã hội để hình thành nguồnvốn kinh doanh
Trang 17Là người cho vay, NHTM sẽ sử dụng nguồn vốn của mình đáp ứng mọinhu cầu về vốn ngắn hạn, trung dài hạn cho các doanh nghiệp, cá nhân vàngay cả ngân sách nhà nước.
Thực hiện chức năng này, ngân hàng vừa huy động triệt để nguồn vốntrong xã hội vừa kích thích quá trình luân chuyển vốn nhằm tái sản xuất mởrộng
Chức năng trung gian thanh toán
Với các dịch vụ về tiền tệ tín dụng, ngân hàng tổ chức công tác thanhtoán không dùng tiền mặt Ơû đẩy, ngân hàng không chỉ là người thủ quỹ,bảo quản tiền cho khách hàng mà còn thực hiện thanh toán chuyển khoản,bù trừ giữa các khách hàng theo sự ủy nhiệm của họ, qua đó tạo điều kiệncho sự ra đời của bút tệ, cùng với các phương tiện thanh toán như séc, L/C,giấy nhờ thu… đặc biệt, với quá trình thanh toán bằng bút tệ, các NHTM đãhình thành một khả năng tạo tiền và hủy tiền Điều này có ý nghĩa cực kỳ tolớn: nền kinh tế cần một số cung tiền tệ vừa đủ và không được phép vượt,nếu tiền cung ứng quá nhanh tất yếu lạm phát sẽ xuất hiện và theo nó sẽ làhậu quả xấu mà quá trình kinh tế sẽ phải gánh chịu, chính NHNN thông quaNHTM mà điều chỉnh được số cung cần thiết này Ngoài ra nó còn gópphần tiết kiệm chi phí về công tác in ấn, phát hành, bảo quản tiền…
II Tín dụng ngân hàng
1 Nguồn gốc của tín dụng ngân hàng
Trong thời kỳ tan rã của chế độ cộng sản nguyên thủy, cùng với sự pháttriển của lực lượng sản xuất, sự phân công lao động đã được mở rộng thì
Trang 18quan hệ H – T cũng được hình thành và bước đầu phát triển, tiền tệ ngàycàng thể hiện đầy đủ hơn các chức năng của mình.
Đây chính là tiền đề nảy sinh ra quan hệ tín dụng Ban đầu người ta chovay bằng hiện vật, sau này quan hệ chủ yếu dưới dạng tiền tệ Cũng trongthời kỳ này có sự khác nhau ngày càng lớn về mức thu nhập dẫn đến phânhóa giai cấp trong xã hội kẻ giàu ngừơi nghèo Với thực trạng đó, để có tiềnđóng thuế, nộp tô, để bù đắp thiếu hụt trong sinh hoạt hàng ngày, nhữngngười nghèo phải đi vay mượn của những người giàu và thế chấp bằng tưliệu sản xuất Quan hệ tín dụng ra đời trong giai đoạn này là tín dụng nặnglãi và đã phát triển từ chế độ chiếm hữu nô lệ đến chế độ phong kiến.Trong thời kỳ này lãi suất cho vay rất cao nên người đi vay chỉ sử dụng tiềnvay vào mục đích tiêu dùng phi sản xuất Do đó trong thời kì cho vay nặnglãi tín dụng không phải là nhân tố kích thích sản xuất
Cho đến khi chủ nghĩa tư bản ra đời, quá trình tái sản xuất giản đơn vớiquy mô nhỏ đã được thay thế dần bằng quá trình tái mở rộng với quy môlớn mạnh cả về chiều rộng lẫn chiều sâu Với thực trạng đó các nhà tư bảncần bổ sung thêm vốn nhưng không thể sử dụng tiền vay nặng lãi để đápứng Họ phải nhờ đến sự can thiệp của nhà nước để hạ lãi suất cho vayxuống thấp nhưng không thành công Do đó, khi giai cấp tư sản đã pháttriển đủ sức, họ góp vốn lại và cho nhau vay với lãi suất vừa phải, họ đãthiết lập quan hệ tín dụng cho riêng mình và tước đoạt vai trò độc quyền tíndụng của những kẻ cho vay nặng lãi Đây cũng là thời điểm mở đầu chochặng đường phát triển mới ngày càng lớn mạnh của hệ thống tín dụng phụcvụ đắc lực cho quá trình phát triển tiến bộ xã hội
Trang 19Trong nền kinh tế ngày nay, cùng với yêu cầu khách quan của lĩnh vựcsản xuất-lưu thông-tiêu dùng…, hệ thống tín dụng cũng mở rộng về phạm vihoạt động và đa dạng về hình thức cho vay, từ đó tín dụng đã và đang pháttriển như một bộ phận không thể thiếu được trong quá trình phát triển kinhtế nói chung.
2 Khái niệm
Tín dụng là một quan hệ giao dịch giữa hai chủ thể, trong đó một bênchuyển giao tiền hoặc tài sản cho bên kia sử dụng trong một thời gian nhấtđịnh, đồng thời bên nhận tiền hoặc tài sản cam kết hoàn trả theo thời hạnđã thỏa thuận
Tóm lại, tín dụng là quan hệ vay mượn dựa trên nguyên tắc có hoàn trả,trong giao dịch thể hiện nội dung sau:
Người cho vay chuyển giao cho người đi vay một lượng giá trị nhất định,giá trị này có thể dưới hình thức hiện vật hoặc tiền tệ
Người đi vay sử dụng tạm thời trong một thời gian nhất định, sau khi hếtthời hạn sử dụng theo thỏa thuận, người đi vay phải hoàn trả cho người chovay
Trong quan hệ tín dụng, người cho vay tin tưởng vào người đi vay hoàntrả vào một ngày nào đó trong tương lai mà hai bên đã thỏa thuận Điều nàycũng giúp cho việc lý giải nguồn gốc của chữ “tín dụng” xuất phát gốc từtiếng La tinh “creditum” nghĩa là sự tin tưởng, tín nhiệm
Trang 20Giá trị hoàn trả thường lớn hơn giá trị lúc cho vay, hay nói cách khác làngười đi vay phải trả thêm phần lợi tức cho nhà cho vay.
Quan hệ tín dụng có thể được diễn tả theo mô hình sau:
Trang 213 Phân loại tín dụng
- Căn cứ vào thời hạn tín dụng: có 3 loại
Tín dụng ngắn hạn: là loại tín dụng có thời hạn vay dưới 1 năm
+ Mục đích: cung cấp để đáp ứng nhu cầu vốn ngắn hạn cho các doanhnghiệp thuộc đối tượng vốn lưu động hoặc tín dụng tiêu dùng
+ Nguồn trả nợ: Lấy từ bán sản phẩm nếu là tín dụng sản xuất và nguồnbán hàng nếu là tín dụng lưu thông hoặc là từ tích lũy cá nhân nếu là tín dụngtiêu dùng
Tín dụng trung hạn: là loại tín dụng có thời hạn từ 1-5 năm
+ Mục đích: Chủ yếu được sử dụng để đầu tư, mua sắm tài sản cố định,cải tiến hoặc đổi mới thiết bị công nghệ, mở rộng sản xuất kinh doanh, xâydựng các dự án mới có quy mô nhỏ và thời hạn thu hồi vốn nhanh
+ Nguồn trả nợ: Lấy từ tích lũy nội bộ trong doanh nghiệp và nguồnkhấu hao cơ bản
Tín dụng dài hạn: Là loại tín dụng có thời hạn trên 5 năm
+ Mục đích: Được cung cấp để đáp ứng nhu cầu dài hạn cấp vốn cho xâydựng cơ bản, đầu tư xây dựng các xí nghiệp mới, các công trình thuộc cơ sở hạtầng, cải tiến, mở rộng sản xuất có quy mô lớn
+ Nguồn trả nợ: Lấy từ tích lũy hàng năm và từ khấu hao cơ bản
Trang 22- Căn cứ vào đối tượng tín dụng: có hai loại
Tín dụng vốn lưu động: Là loại tín dụng được cấp phát để hình thànhvốn lưu động của các tổ chức kinh tế Tín dụng lưu động thường được sử dụngđể cho vay bù đắp mức vốn lưu động thiếu hụt tạm thời Loại tín dụng nàythường được chia ra làm các loại sau: cho vay dự trữ hàng hóa, cho vay chi phísản xuất và cho vay để thanh toán các khoản nợ dưới hình thức chiết khấu kỳphiếu
Tín dụng cố định: Là loại tín dụng được cấp phát để hình thành tàisản cố định Loại tín dụng này thường được đầu tư để mua sắm tài sản cố định,cải tiến và đổi mới kỹ thuật, mở rộng sản xuất, xây dựng các xí nghiệp và côngtrình mới, thời hạn cho vay đối với loại tín dụng này là trung hạn và dài hạn
- Căn cứ vào chủ thể trong quan hệ tín dụng: có 4 loại
Tín dụng thương mại: Là quan hệ giữa các doanh nghiệp được biểuhiện dưới hình thức mua bán chịu hàng hóa Tín dụng thương mại phát sinh dosự cách biệt giữa sản xuất và tiêu dùng, do đặc tính thời vụ trong sản xuất vàtiêu thụ sản phẩm khiến các nhà sản xuất phải mua bán chịu hàng hóa Muabán chịu cũng là hình thức tín dụng vì nó chứa đầy đủ các nội dung cơ bản củakhái niệm tín dụng
Cơ sở pháp lý xác định tín dụng thương mại là giấy nợ được thành lậpdưới hình thức: lệnh phiếu và hối phiếu
Vai trò tích cực của tín dụng thương mại:
+ Đáp ứng kịp thời vốn của các nhà doanh nghiệp
Trang 23+ Giúp tiêu thụ hàng hóa nhanh chóng và kịp thời.
Tín dụng ngân hàng: Là hình thức tín dụng thể hiện mối quan hệ giữacác tổ chức với các doanh nghiệp và cá nhân Trong mối quan hệ này, tín dụngđóng vai trung gian nên ngân hàng vừa là người cho vay và là người đi vay
Tín dụng ngân hàng được thể hiện dưới hình thức tiền tệ bao gồm tiềnmặt và bút tệ, trong đó bút tệ là chủ yếu
Tín dụng nhà nước: Là hình thức tín dụng thể hiện mối quan hệ giữanhà nước với nhân dân và các tổ chức khác Theo đó, nhà nước chủ động vaytiền để tăng nguồn thu ngân sách
+ Tín dụng nhà nước được thể hiện bằng cách phát hành công trái
+ Tín dụng nhà nước nhằm bù đắp thiếu hụt ngân sách
Tín dụng quốc tế: Là hình thức tín dụng thể hiện giữa nhà nước vớicác quốc gia hay các tổ chức tiền tệ tín dụng quốc tế
- Căn cứ vào mức độ tín nhiệm đối với khách hàng: có hai loại
Tín dụng cho vay không đảm bảo (ngày nay gọi là cho vay tín chấp):Là loại cho vay không có tài sản thế chấp, cầm cố hoặc sự bảo lãnh của ngườithứ ba, mà việc cho vay chỉ dựa vào uy tín của bản thân khách hàng Đối vớinhững khách hàng tốt, trung thực trong kinh doanh, có khả năng tài chính lànhmạnh, quản trị có hiệu quả thì ngân hàng có thể cấp tín dụng dựa vào uy tíncủa bản thân khách hàng mà không cần một nguồn nợ thứ hai bổ sung
Trang 24 Tín dụng cho vay có bảo đảm: Là loại cho vay được ngân hàng cungứng phải có tài sản thế chấp hoặc cầm cố hoặc có sự bảo lãnh của người thứba.
Đối với khách hàng không có uy tín cao với ngân hàng khi vay vốn đòihỏi phải có đảm bảo Sự đảm bảo này là căn cứ pháp lý để ngân hàng có thêmmột nguồn thứ hai bổ sung cho nguồn thu nợ thứ nhất thiếu chắc chắn
- Căn cứ vào phương thức hoàn trả: có ba loại
Tín dụng cho vay trả góp: là loại tín dụng cho vay mà khách hàngphải hoàn trả gốc và lãi theo định kỳ Loại cho vay này chủ yếu áp dụng chovay bất động sản, nhà ở tiêu dùng, cho vay đối với những người kinh doanhnhỏ, cho vay trang bị kỹ thuật trong nông nghiệp
Thông thường có 4 phương pháp trả góp sau:
+ Phương pháp cộng thêm
+ Phương pháp trả vốn gốc bằng nhau và trả lãi theo số dư vào cuối mỗiđịnh kỳ
+ Phương pháp trả vốn gốc bằng nhau và tính lãi trên mức hoàn trả củavốn gốc
+ Phương pháp trả vốn gốc bằng nhau và lãi bằng nhau trong tất cả cácđịnh kỳ (phương pháp hiện giá)
Tín dụng cho vay phi trả góp: Là loại cho vay được thanh toán mộtlần theo thời hạn đã thỏa thuận
Trang 25 Tín dụng cho vay hoàn trả theo yêu cầu (áp dụng kỹ thuật thấu chi)
4 Nguyên tắc của tín dụng ngân hàng
Theo Điều 6 “Quy chế cho vay của tổ chức tín dụng đối với khách hàng”thì khách hàng vay vốn của ngân hàng phải đảm bảo 2 nguyên tắc sau:
Nguyên tắc 1: Sử dụng vốn vay đúng mục đích đã thỏa thuận trong hợp đồng tín
dụng
Tín dụng cung ứng cho nền kinh tế phải hướng đến mục tiêu và yêu cầu vềphát triển kinh tế-xã hội trong từng giai đoạn phát triển Đối với các đơn vịkinh tế tín dụng cũng phải đáp ứng các mục đích cụ thể trong quá trình hoạtđộng sản xuất kinh doanh để thúc đẩy các đơn vị hoàn thành nhiệm vụ sản xuấtkinh doanh của mình
Nguyên tắc 2: Hoàn trả nợ gốc và lãi vốn vay đúng thời hạn đã thỏa thuận
trong hợp đồng tín dụng
Nguyên tắc này đề ra nhằm đảm bảo cho các ngân hàng thương mại tồn tại vàhoạt động một cách bình thường bởi vì nguồn vốn cho vay của ngân hàng chủyếu là nguồn vốn huy động, đó là một bộ phận tài sản của các sở hữu chủ màngân hàng tạm thời quản lý và sử dụng Ngân hàng cũng có nghĩa vụ đáp ứngcác nhu cầu rút tiền của khách hàng khi họ yêu cầu Nếu các khoản tín dụngkhông được hoàn trả đúng hạn thì nhất định sẽ ảnh hưởng không nhỏ đến khảnăng thanh khoản của ngân hàng
5 Đặc trưng của tín dụng ngân hàng:
Trang 26Về bản chất tín dụng ngân hàng cũng giống như các hình thức tín dụngkhác: đó là sự vay mượn có hoàn trả Tuy nhiên vì ngân hàng thương mại làmột tổ chức chuyên kinh doanh tiền tệ nên nó có những đặc trưng sau:
1 Thực hiện dưới dạng tiền tệ: nguồn vốn chủ yếu mà các ngânhàng sử dụng cho vay được hình thành từ các khoản tiền tạm thờinhàn rỗi được huy động trong xã hội
2 Có tính chất đa dạng: đặc trưng này được thể hiện trên nhiều khíacạnh:
Đa dạng về lĩnh vực đầu tư tín dụng (tín dụng công nghiệp, tíndung nông nghiệp…);
Đa dạng về thời hạn tín dụng (tín dụng ngắn hạn, trung dàihạn);
Đa dạng về khách hàng (tín dụng đối với cá nhân, công ty, xínghiệp…);
Đa dạng về hình thức tín dụng (chiếc khấu, cho vay tài chính,cho vay ngắn hạn bổ sung vốn lưu động…);
3 Yếu tố lòng tin trong hoạt động kinh doanh tín dụng ngân hàng:
Tín dụng là sự cho vay có hứa hẹn thời gian hoàn trả Trong quan hệkinh doanh thông thường, uy tín vẫn là yếu tố được đặt lên hàng đầutrong nhiều trường hợp nhưng không đóng vai trò quyết định trongmua bán Ngược lại, kinh doanh tín dụng ngân hàng là kinh doanh
Trang 27“quyền sử dụng các khoản tiền tệ”, ngân hàng chỉ bán “giá trị sửdụng” chứ không bán “tiền” Hơn nữa giá bán (lãi suất) quyền sửdụng tiền tệ thường rất nhỏ so với giá trị khoản cho vay, nên sự bùđắp rủi ro xảy ra là quá ít ỏi Từ đó có thể thấy rằng quan hệ tín dụngbuộc phải có lòng tin Thiếu lòng tin, quan hệ tín dụng không thểphát sinh.
4 Tín dụng ngân hàng tạo tiền ký thác, tạo tài nguyên cho hoạt độngkinh doanh ngân hàng Chức năng tạo tiền và hủy tiền là chức năngriêng có của tín dụng ngân hàng Chức năng này làm cho hoạt độngkinh doanh tín dụng của ngân hàng khác hẳn với các hoạt động kinhdoanh thông thường khác
6 Vai trò của tín dụng ngân hàng
Thứ nhất: Tín dụng thúc đẩy sản xuất phát triển
Trong quá trình sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp, để duy trì sựliên tục trong hoạt động thì yêu cầu cơ bản là vốn của doanh nghiệp phảitồn tại đồng thời ở cả ba giai đoạn dự trữ-sản xuất-lưu thông, do đó hiệntượng thừa và thiếu vốn tạm thời luôn xảy ra Từ đó tín dụng góp phần điềutiết các nguồn vốn tạo điều kiện cho quá trình sản xuất kinh doanh không bịgián đoạn Mặt khác với mục đích tái sản xuất mở rộng cả về chiều rộnglẫn chiều sâu của doanh nghiệp thì yêu cầu về vốn là một trong những mốiquan tâm hàng đầu được đặt ra, bởi vì muốn sản xuất không thể trông chờvào vốn tự có của doanh nghiệp mà phải biết tận dụng những dòng chảycủa vốn trong xã hội, từ đó tín dụng với tư cách là nơi tập trung đại bộ phận
Trang 28vốn nhàn rỗi trong xã hội sẽ là trung tâm đáp ứng nhu cầu bổ sung cho đầu
tư phát triển
Thêm vào đó mọi doanh nghiệp đều muốn có sự hiện diện của vốn tíndụng vào trong kết cấu nguồn vốn của mình vì họ sẽ được hưởng nhiều lợitừ tấm chắn thuế Do đó, vốn tín dụng luôn chiếm vị trí đáng kể trong kếtcấu nguồn vốn của doanh nghiệp
Thứ hai: Tín dụng góp phần ổn định tiền tệ, ổn định giá cả
Với chức năng tập trung, tận dụng những nguồn vốn nhàn rỗi trong xãhội, tín dụng đã trực tiếp giảm khối lượng tiền mặt tồn động trong lưuthông Lượng tiền dôi thừa này, nếu không huy động và sử dụng có thể ảnhhưởng xấu đến tình hình lưu thông tiền tệ, dẫn đến mất cân đối trong quanhệ H-T và hệ thống giá cả bị biến động là điều không thể tránh khỏi Do đótrong tình hình nền kinh tế lạm phát tín dụng được xem là biện pháp hữuhiệu góp phần kìm hãm lạm phát Mặt khác, hoạt động tín dụng còn tạođiều kiện mở rộng công tác thanh toán không dùng tiền mặt, đây cũng lànhân tố tích cực tiết giảm việc sử dụng tiền mặt trong nền kinh tế, là bộphận lưu thông tiền mà Nhà nước rất khó quản lý và lại dễ bị tác động củaquy luật lưu thông tiền tệ Trong công tác quản lý vĩ mô, để thực hiện mụctiêu chính sách tiền tệ trong từng thời kỳ nhất định, lãi suất tín dụng được sửdụng như là một trong những công cụ điều tiết nhạy bén và linh hoạt đểbơm hay rút tiền trong lưu thông, qua đó tạo sự phù hợp giữa khối lượngtiền tệ và yêu cầu tăng trưởng kinh tế Từ đó cho thấy tín dụng góp phầnkhông nhỏ trong việc ổn định tiền tệ, ổn định giá cả, là tiền đề để sản xuấtvà lưu thông hàng hóa phát triển
Trang 29Thứ ba: Tín dụng góp phần ổn định đời sống, tạo công ăn việc làm, ổnđịnh trật tự xã hội.
Vai trò này là hệ quả tất yếu của hai vai trò trên Nền kinh tế hoạt độngtrong một môi trường ổn định về tiền tệ là điều kiện để nâng cao dần đờisống của các thành viên trong xã hội, là điều kiện thực hiện tốt hơn cácchính sách xã hội Mặt khác, trên cơ sở đa dạng hóa các hình thức vay vốn,tín dụng không chỉ đáp ứng nhu cầu của doanh nghiệp mà còn phục vụ chocác tầng lớp dân cư trong xã hội, tạo điều kiện thúc đẩy sự phát triển quátrình sản xuất kinh doanh và nhu cầu sinh hoạt cá nhân, tạo công ăn việclàm, ổn định đời sống
III Nợ quá hạn
1 Nợ quá hạn là gì?
Hoạt động cơ bản của một ngân hàng là cung cấp dịch vụ chuyển mộtloại tài sản thành một loại tài sản khác cho công chúng, đó chính là việcchuyển những món tiềân gửi thành những món tiền cho vay Đây là cách chủyếu để ngân hàng thu lợi nhuận và để bù đắp lại những khoản chi phí rấtlớn mà ngân hàng đã phải bỏ ra Nhằm để làm cực đại lợi nhuận của mình,một ngân hàng phải tìm kiếm những lợi tức cao nhất có thể có của nhữngvốn cho vay và của các chứng khoán, đồng thời cố gắng giảm đến mức tốithiểu và chuẩn bị đầy đủ cho trạng thái lỏng
Để đạt lợi nhuận cao, các ngân hàng cố gắng tìm những người vay trả lãisuất cao nhưng họ cũng rất thận trọng trong đường lối cho vay nhằm giảmđến mức tối thiểu nhất nguy cơ không trả được nợ của khách hàng
Trang 30Tuy nhiên, thực tế là một ngân hàng thương mại dù kinh doanh tốt đếnđâu, chọn lựa khách hàng kỹ mấy chăng nữa thì tình trạng khách hàngkhông trả được nợ và từ đó nợ quá hạn phát sinh cũng vẫn xảy ra, nó gầnnhư một điều tất yếu không thể tránh khỏi.
Theo như khoản 2 điều 13 trang “Quy chế cho vay của tổ chức tín dụngđối với khách hàng” ban hành theo quyết định số 1627/2001/QĐ-NHNNngày 31/12/2001 của Thống đốc Ngân hàng nhà nước thì: “ Khi đến kỳ hạntrả nợ gốc hoặc lãi; hoặc không được gia hạn nợ gốc hoặc lãi, thì tổ chức tíndụng chuyển toàn bộ số dư nợ sang nợ quá hạn.”
Từ khái niệm trên, ta thấy rằng nguyên nhân phát sinh nợ quá hạn chínhlà do khách hàng đã vi phạm nguyên tắc tín dụng và nguyên tắc tín dụng cómục đích Với việc bị chuyển khoản vay sang nợ quá hạn, khách hàng phảichịu một mức lãi suất quá hạn là 150% lãi suất cho vay áp dụng trong hạnđã được ký kết hoặc điều chỉnh trong hợp đồng tín dụng (theo khoản 2 điều
11 “Quy chế cho vay ban hành theo quyết định số 1627/2001/QĐ-NHNN”)
Điều cần lưu ý là có sự khác biệt trong cách hiểu về chuyển nợ quáhạn hiện nay so với trước đây Hiện nay các ngân hàng thương mại ápdụng theo quyết định số 1627/2001/QĐ-NHNN ngày 21/12/2001 về chuyểnnợ quá hạn thay cho quy chế cho vay 284
Chuyển nợ quá hạn: điểm 2 điều 13 trả nợ
gốc và lãi quy định: “Khi đến kỳ hạn trả
nợ hoặc kết thúc thời hạn cho vay, nếu
khách hàng không có khả năng trả nợ
đúng hạn và không được điều chỉnh kỳ
hạn nợ hoặc không được gia hạn nợ, thì số
Chuyển nợ quá hạn: điểm 2 điều 13 trả nợgốc và lãi quy định: “Khi đến kỳ hạn trảnợ gốc hoặc lãi, nếu khách hàng không cókhả năng trả nợ đúng hạn và không đượcđiều chỉnh kỳ hạn nợ gốc hoặc lãi, hoặckhông được gia hạn nợ goấc hoặc lãi thì tổ
Trang 31nợ đến hạn không trả được chuyển sang
nợ quá hạn và khách hàng phải chịu lãi
suất nợ quá hạn đối với số tiền chậm trả.”
chức tín dụng chuyển toàn bộ số dư nợ sang nợ quá hạn
Theo bảng so sánh trên, sự khác biệt nội dung chuyển sang nợ quá hạnvà áp dụng lãi suất nợ quá hạn không trả được sang nợ quá hạn, thì quy chế
1627 chuyển toàn bộ số dư nợ quá hạn sang nợ quá hạn.
2 Bản chất của nợ quá hạn:
Tín dụng là một phạm trù kinh tế, sự vận động tín dụng nói chung và tíndụng ngân hàng nói riêng luôn luôn bị chi phối bởi quy luật kinh tế Vì vậy dù
ở cơ chế nào, ở bất kỳ quốc gia nào vấn đề phát sinh nợ quá hạn trong hoạtđộng tín dụng cũng là điều tất yếu Dẫu sao không một ngân hàng nào nghĩđược hết mọi sự bất ngờ khi họ đưa ra những quy định hạn chế vào một hợpđồng cho vay, sẽ luôn luôn có những hoạt động rủi ro của người vay tiền, chưacó một quy định hạn chế nào loại bỏ được chúng Một điều đáng quan tâm làtrong nợ quá hạn có một bộ phận khó có khả năng thu hồi hoặc không thu hồiđược Đây chính là rủi ro trong kinh doanh của ngân hàng thương mại Theothông lệ quốc tế, tỷ lệ nợ quá hạn đối với ngân hàng các nước đang phát triểnthường phải dưới 5%
Tóm lại, nợ quá hạn không phải là vấn đề ghê gớm, nó tồn tại một cách kháchquan trong hoạt động tín dụng ngân hàng, có tín dụng phải có nợ quá hạn Vấnđề đặt ra là các ngân hàng thương mại phải khống chế nó trong một thời hạn vàmức độ cho phép Khi ngân hàng không kiểm soát nổi nợ quá hạn, nó sẽ trởthành một căn bệnh trầm kha
Trang 323 Phân loại nợ quá hạn:
Đây là công việc hết sức quan trọng trong công tác quản trị ngân hàng Từ việcphân loại này mà các nhà quản trị có thể đề ra những giải pháp thích hợp để ổnđịnh và lành mạnh hoá tình trạng sức khoẻ của một ngân hàng
Có nhiều cách phân loại nợ quá hạn khác nhau tuỳ vào căn cứ, cơ sở dùng đểphân loại Người ta có thể phân loại theo đối tượng vay, theo chức năng, mụcđích sử dụng của các khoản vay, theo tính chất và nguyên nhân quá hạn(nguyên nhân khách quan, chủ quan …), theo khả năng thu hồi nợ quá hạn haytheo thời gian quá hạn như trong Quyết định số 488/2000/QĐ-NHNN5 ngày 27tháng 11 năm 2000 của Thống đốc NHNN thay thế Quyết định số 48/1999/QĐ-NHNN 5 ngày 8 tháng 02 năm 1999 và công văn số 582/CV-NHNN 5 ngày 23tháng 6 năm 1999 về việc phân loại tài sản có, trích lập và sử dụng dự phòngđể xử lý rủi ro trong hoạt động ngân hàng, việc xử lý rủi ro được thực hiệnhàng quý, tài sản có được phân thành 04 nhóm và trích lập dự phòng rủi ro nhưsau:
Nhóm 1: gồm những khoản cho vay chưa đến hạn trả nợ; những khoảntiền chiết khấu, tái chiết khấu thương phiếu và giấy tờ có giá ngắn hạn khácchưa đến hạn thanh toán; những khoản cho thuê tài chính chưa đến hạn trả tiềnthuê, dự phòng 0%;
Nhóm 2: gồm những khoản cho vay có bảo đảm bằng tài sản đã quá hạntrả nợ dưới 181 ngày (tương đương 6 tháng); những khoản cho vay không cóbảo đảm bằng tài sản đã quá hạn trả nợ dưới 91 ngày (tương đương 3 tháng);những khoản tiền chiết khấu, tái chiết khấu thương phiếu và giấy tờ có giá
Trang 33ngắn hạn khác đã quá hạn thanh toán dưới 61 ngày (tương đương 2 tháng);những khoản cho thuê tài chính mà bên thuê không trả được tiền thuê trongthời gian dưới 181 ngày (6 tháng), dự phòng 2%;
Nhóm 3: gồm những khoản cho vay có bảo đảm bằng tài sản đã quá hạntrả nợ từ 181-361 ngày (6 tháng đến 1 năm); những khoản cho vay không cóbảo đảm bằng tài sản đã quá hạn trả nợ từ 91-181 ngày (3 tháng đến 6 tháng);những khoản tiền chiết khấu, tái chiết khấu thương phiếu và giấy tờ có giángắn hạn khác đã quá hạn thanh toán từ 31-61 ngày (1 tháng đến 2 tháng);những khoản cho thuê tài chính mà bên thuê không trả được tiền thuê trongthời gian từ 181-361 ngày (6 tháng đến 1 năm), dự phòng 50%;
Nhóm 4: gồm những khoản cho vay có bảo đảm bằng tài sản đã quá hạntrả nợ từ 361 ngày trở lên (trên 1 năm); những khoản cho vay không có bảođảm bằng tài sản đã quá hạn trả nợ từ 181 ngày trở lên (trên 6 tháng); nhữngkhoản tiền chiết khấu, tái chiết khấu thương phiếu và giấy tờ có giá ngắn hạnkhác đã quá hạn thanh toán từ 61 ngày trở lên (trên 3 tháng); số tiền trả thaycho người được bảo lãnh nhưng chưa thu hồi được trong thời gian từ 181 ngàytrở lên (trên 6 tháng); những khoản cho thuê tài chính mà bên thuê không trảđược tiền thuê trong thời gian từ 361 ngày trở lên (trên 1 năm), dự phòng100%;
Bảng tỷ lệ trích lập dự phòng rủi ro của Việt Nam
Thời gian quá hạn
dưới
Chưađến
31ngày
61ngày
91ngày
181 ngày 361
ngày
Trên361ngày
Trang 34Loại tài sản có
hạn
Những khoản cho
vay có bảo đảm
bằng tài sản
Những khoản cho
vay không có đảm
bảo bằng tài sản
Những khoản tiền
chiết khấu, tái chiết
khấu thương phiếu
và giấy tờ có giá
ngắn hạn
Số tiền trả thay cho
người được bảo lãnh
nhưng chưa thu hồi
được
Những khoản cho
thuê tài chính mà
bên thuê không trả
được tiền thuê
Trang 35loại như thế sẽ giúp ngân hàng có những đối sách thích hợp để xử lý.Ngoài ra, với cách phân loại này, kế toán ngân hàng cũng dễ dàng hơntrong việc quản lý và hạch toán.
Việc phân loại theo nguyên nhân phát sinh: việc nắm bắt được từngnguyên nhân phát sinh nợ quá hạn giúp ngân hàng có những biện phápxử lý đúng và kịp thời; với việc thấy rõ đâu là nguyên nhân chủ quan,đâu là nguyên nhân khách quan bất khả kháng sẽ giúp ngân hàng cónhững đối sách hợp lý trong việc điều chỉnh kỳ hạn nợ, gia hạn nợ hayviệc tập trung giải quyết, khắc phục
4 Tầm quan trọng của việc hạn chế nợ quá hạn:
Để thấy rõ được tầm quan trọng của việc hạn chế nợ quá hạn, cách tốt nhất làhãy xem điều gì sẽ xảy ra khi nợ quá hạn phát sinh và nó có tác hại như thếnào?
Phương thức hoạt động cơ bản của các ngân hàng thương mại là đi vay để chovay Ngân hàng là con nợ khi đi vay nhưng khi cho vay ngân hàng lại hiện diệnvơi tư cách là chủ nợ Việc cho vay bao giờ cũng bao gồm rủi ro và xảy ra mấtmát, do đó việc khách hàng không trả được nợ là vấn đề hoàn toàn có thể xảy
ra Vấn đề cần đề cập ở đây không phải là làm sao để không xảy ra rủi ro tíndụng (và tất yếu là sẽ không có nợ quá hạn) mà điều cần được nhận thức rõ làvới tỷ lệ nợ quá hạn bao nhiêu thì chấp nhận được và nếu không kiểm soátđược tỉ lệ này thì hậu quả của nó sẽ như thế nào?
Hậu quả tất yếu của rủi ro cho vay là nợ quá hạn
Trang 36Tỷ lệ nợ quá hạn = Tổng nợ quá hạn / Tổng vốn cho vay x 100%
Chỉ tiêu nợ quá hạn trên tổng số vốn cho vay hay nợ quá hạn trên vốnngân hàng phản ánh rõ nhất tình trạng an toàn cho vay của từng ngân hàng vàtoàn bộ hệ thống ngân hàng Khủng hoảng cho vay hay khủng hoảng nợ xảy rakhi tỷ lệ nợ quá hạn (NPL) quá cao, các ngân hàng mất khả năng thanh toán.Theo thông lệ quốc tế, tỷ lệ nợï quá hạn tối đa là 3 - 5% tổng dư nợ cho vay.Vượt qua giới hạn này, ngân hàng sẽ đứng trước nguy cơ khủng hoảng và phásản Khi đó điều gì sẽ xảy ra?
4.1 Đối với bản thân ngân hàng thương mại:
Về mặt tài chính: tuỳ theo mức nợ cao hay thấp mà có những tác hại sau:
o Giảm lợi nhuận
o Thua lỗ
Do nợ quá hạn, ngân hàng sẽ không thu được nợ gốc và lãi, điều nàylàm cho ngân hàng bị giảm doanh thu Trong khi đó, ngân hàng vẫn phải trả lãitiền gửi và hoàn vốn cho khách hàng của mình, chi phí không đổi dẫn đến lợinhuận giảm dần đến lỗ Không thu được nợ, vòng quay vốn tín dụng khôngđược thực hiện, ngân hàng không có khả năng đảm bảo vốn lưu động, hạn chếcả vai trò phục vụ lẫn chức năng kinh doanh tín dụng của ngân hàng
Về mặt xã hội:
Kinh doanh ngân hàng là kinh doanh chữ tín và để có được chữ tín tronglòng mọi người, ngân hàng đã phải phấn đấu xây dựng trong rất nhiều năm
Trang 37nhưng khi nợ quá hạn xảy ra, đặc biệt là mức độ cao thì việc khôi phục lại lợithế trên thương trường là điều hết sức khó khăn bởi vì:
o Giảm uy tín đối với khách hàng
- Rò rỉ chất xám: mất cán bộ, tạo tâm lý hoang man, dao động, cocụm của cán bộ ngân hàng nói chung và cán bộ tín dụng nói riêng Các vụ ánđưa ra xét xử, cán bộ bị xử phạt theo các khung hình phạt của pháp luật Cáccán bộ khác bị ảnh hưởng nặng nề về tư tưởng
- Mối liên kết trong kinh doanh với các ngân hàng trong nước vàquốc tế bị thu hẹp
Nợ quá hạn gây ra cho ngân hàng những tổn thất về tài chính như đã nêu.Nhưng những thiệt hại về uy tín của ngân hàng, về mất lòng tin của kháchhàng là những tổn thất còn lớn hơn rất nhiều lần Bản thân của việc nợ quá hạncao của từng ngân hàng giống như là “ngòi nổ” tự mình nó sự phá hoại chỉ giớihạn trong phạm vi hẹp nhưng khi có những chất kích nổ thì sự phá hoại lantruyền và sự tàn phá khủng khiếp sẽ diễn ra Tại sao?
Hoạt động ngân hàng là hoạt động mang tính chất xã hội cao, liên quan đếnmọi mặt của đời sống kinh tế xã hội Vì vậy khi một ngân hàng suy yếu dẫnđến mất khả năng thanh toán dễ tạo ra phản ứng dây chuyền và tâm lý hoangmang từ dân cư – những người gửi tiền, và theo đó sự rút tiền hàng loạt sẽ diễn
ra, xuất hiện : “nỗi kinh hoàng tài chính” ảnh hưởng nặng nề tới công việc kinhdoanh của toàn hệ thống ngân hàng Đây chính là đầu mối của những cuộckhủng hoảng tài chính hoặc khủng hoảng kinh tế xã hội Với những tổn thấtnêu trên, thật không khó khăn để thấy rằng hạn chế nợ quá hạn là việc làm
Trang 38cần thiết và thực sự quan trọng trong công tác quản lý ngân hàng không chỉ ởtừng ngân hàng mà còn là của toàn hệ thống.
PHẦN II: THỰC TRẠNG NỢ QUÁ HẠN TRONG HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG
TẠI NHTMCP ACB – PHÒNG GIAO DỊCH CHỢ ĐẦM
I Giới thiệu về Khánh Hòa và NHTMCP ACB – PGD Chợ Đầm
1 Tình hình đặc điểm chung của Tỉnh Khánh Hòa
1.1 Tình hình xã hội:
Diện tích: 5217,6 km², chiếm 1.56% diện tích cả nước, phía Đông giápbiển, phía Tây giáp với Đaklak, phía Bắc giáp với Phú Yên và phía Namgiáp với Ninh Thuận Trong đó Nha Trang chiếm 251km2
Dân số: 1.156.903 người(số liệu đến 01/4/2009) Tỉ lệ nam/nữ là tươngứng gần bằng nhau Số người trong độ tuổi lao động chiếm hơn 50% dânsố Trong đó Nha Trang chiếm 361.454người
Trang 39 Tăng trưởng GDP của tỉnh trong năm 2009 là 10,2%, cao gần gấp đôi sovới Việt Nam Thu nhập bình quân đầu người ước tính 9,8 triệuđồng/năm và là 1 trong 5 tỉnh, thành phố có thu nhập bình quân đầungười cao nhất nước Năm 2010, GDP bình quân đầu người của NhaTrang đạt hơn 2.200 USD, tốc độ tăng trưởng GDP tăng bình quân hàngnăm từ 13-14%.
Tỉnh Khánh Hòa có 01 thành phố và 06 huyện: TP Nha Trang và 06huyện là Vạn Ninh, Ninh Hòa, Khánh Vĩnh, Diên Khánh, Khánh Sơn vàCam Ranh Trong đó, Nha Trang được xem như là trung tâm kinh tế –chính trị – văn hóa – xã hội của tỉnh Khánh Hòa
1.2 Tình hình kinh tế:
Cùng với xu thế phát triển chung của cả nước thì Khánh Hòa nói chungvà Nha Trang nói riêng cũng đạt được tốc độ tăng trưởng rất khả quan đạtkhoảng 10 – 15%/năm
Các ngành nghề mũi nhọn của Khánh Hòa như: khai thác khoáng sản,sản xuất vật liệu xây dựng, chế biến nông sản – thực phẩm, và phát triểnmạnh mẽ nhất là ngành du lịch – khách sạn, xuất nhập khẩu, dịch vụ cảngbiển, khai thác đánh bắt thủy hải sản, thuốc lá và yến sào
1.3 Tình hình phát triển các hoạt động NH trên địa bàn tỉnh Khánh Hòa:
Một số chỉ số cơ bản của ngành ngân hàng theo nguồn từ Ngân hàng Nhà nước
tỉnh Khánh Hòa như sau:
Theo báo cáo của Chi nhánh NHNN tỉnh, tính đến cuối tháng 10/2009,nguồn vốn huy động của các NH trên địa bàn tỉnh đạt 16.570 tỷ đồng,
Trang 40tăng 192 tỷ đồng so với đầu tháng 10 (tăng 1,2%) Trước đó, tốc độ tăngtrưởng huy động vốn tháng 7 là 2,11%; tháng 8 là 2,06%; tháng 9 là1,8% Đến giữa tháng 7/2010, ước tính nguồn vốn huy động của các chinhánh tổ chức tín dụng (TCTD) trên địa bàn tỉnh Khánh Hòa đạt 17.850tỷ đồng, so với đầu năm 2010 tăng 2.084 tỷ đồng, tương ứng 13,22%.Trong đó huy động bằng VNĐ là 14.981 tỷ đồng, chiếm tỷ trọng79,13%; huy động bằng ngoại tệ: 2.869 tỷ đồng chiếm 16,07% Nguồntiền tiết kiệm từ dân cư trong toàn tỉnh ước đạt 11.950 tỷ đồng, tăng1.246 tỷ đồng, tỷ lệ tăng 11,64% so với đầu năm.
Ước tính đến ngày 15/7/2010, dư nợ cho vay của các TCTD trên đại bànđạt 16.915 tỷ đồng, tăng 1.297 tỷ đồng (8,30%) so với đầu năm Trongđó, dư nợ cho vay bằng VNĐ đạt 15.005 tỷ đồng, tăng 483 tỷ đồng,tương ứng 3,32% so với đầu năm và chiếm tỷ trọng 88,70% trong tổng
dư nợ, sư nợ cho vay bằng ngoại tệ là 1.910 tỷ đồng, tăng 816 tỷ đồng,tương ứng 74,58% so với đầu năm và chiếm tỷ trọng 11,30% Khối cácNHTM Nhà Nước ước đạt 11.600 tỷ đồng chiếm 68,58% tổng dư nợ toàntỉnh; khối Ngân hàng TMCP và liên doanh (kể cả 3 Quỹ tín dụng) đạt5.315 tỷ đồng, chiếm 31,42% tổng dư nợ toàn tỉnh Tổng dư nợ cho vayhỗ trợ lãi suất là 846,5 tỷ đồng, chiếm tỷ trọng 4,98% trong tổng dư nợcho vay
Các hoạt động khác như mua bán ngoại tệ, thanh toán xuất nhập khẩu,thanh toán cũng tăng rất khả quan
Nhận định chung:
Tổng số dư tiền gửi của khách hàng tại các TCTD đến cuối tháng 10/2010 ướctăng 22,81% so với cuối năm 2009