1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

vấn đề con người trong mo mường ở tỉnh hòa bình

119 1,1K 3

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 119
Dung lượng 1,64 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong cuốn sách Tỉnh Mường Hòa Bình của Pier Grossin đã có một chương đầu tiên ghi tóm lược nội dung toàn bộ phần mo sử thi: Từ chuyện đẻ đất, đẻ trứng điếng đến hết chuyện săn muông… C

Trang 1

MỞ ĐẦU

1 Lí do chọn đề tài

Dân tộc Mường, cũng như nhiều dân tộc anh em khác, có một nền văn hóa đặc sắc và lâu đời Trong kho tàng văn hóa dân gian phong phú, Mo Mường là một hiện tượng văn hóa đặc sắc của người Mường đã được bồi đắp, gìn giữ từ lâu đời Mo Mường được truyền dạy từ thế hệ này qua thế hệ khác, đồng thời được sáng tạo không ngừng cùng với tiến trình phát triển của dân tộc Đến nay, Mo Mường được coi là di sản văn hóa phi vật thể

“đang sống” và là biểu đạt sống do tổ tiên ông cha truyền lại cho con cháu

Mo Mường là một chỉnh thể nguyên hợp bao gồm nhiều thành tố văn hóa: Phong tục tập quán, tín ngưỡng, nghệ thuật âm nhạc, nghệ thuật tạo hình, lối sống, ngôn ngữ, văn chương, diễn xướng phản ánh đặc trưng riêng mang bản sắc văn hóa của người Mường Mo Mường, trong quá trình diễn xướng được xem như là một phương tiện giao tiếp và bày tỏ lòng tôn kính đến các lực lượng siêu nhiên; mặt khác, Mo Mường phục vụ như một phương tiện

để truyền đạt tư tưởng triết lý về thiên nhiên và vũ trụ của người Mường, về tri thức và tập quán xã hội

Toàn bộ phần Mo Sử thi là một pho thần thoại phản ánh một cách kỳ diệu nhận thức về vũ trụ, về cuộc đấu tranh với thiên nhiên, sinh hoạt xã hội

và tư duy xã hội của thời cổ sơ Phần mo nghi lễ thể hiện khát vọng chinh phục thiên nhiên gắn với các chuyến đi vào các thế giới trên trời, dưới đất và mường Chiềng Chạ

Đọc và nghiên cứu về Mo Mường, chúng ta thấy lại được giá trị dấu ấn giai thoại sớm nhất của xã hội loài người, những chứng tích, những tư liệu giúp chúng ta khai thác, phục hồi lại diện mạo sinh hoạt, diện mạo xã hội và

tư duy xã hội xa xưa Thông qua sử thi huyền thoại Mo Mường, cho chúng ta thấy được phương thức cảm nhận thế giới rất đặc trưng; hình thái biểu hiện

Trang 2

một cách rất tập trung và khái quát thế giới quan của người xưa Các yếu tố tri thức và xúc cảm, lý trí và tín ngưỡng, hiện thực và tưởng tượng hòa quyện vào nhau, diễn tả thế giới quan của dân tộc Mường thời xa xưa

Với Mo Mường ở Hòa Bình, các áng mo đã phản ánh khá cô đọng, khúc triết và lôgic những tư tưởng nhận thức về thế giới quan, nhân sinh quan và vũ trụ quan của người Mường Người Mường xưa, quan sát thế giới tự nhiên và

xã hội theo trục dọc, đó là cái nhìn từ dưới lên, từ trên xuống so với không gian và cái nhìn trước, sau so với trục thời gian Với cách nhìn thế giới xung quanh theo tư duy Mường ấy, các áng mo đã giải thích nguồn gốc của sự vật, hiện tượng một cách tài tình, thú vị và rất đáng khâm phục Từ những mảnh vụn của thần thoại sơ khai, mo Mường đã kể cho chúng ta nghe câu chuyện thời vũ trụ khởi nguyên, sự hình thành trời đất, sự sinh sôi nảy nở của muôn loài mà con người là trung tâm, đến các cuộc đấu tranh vật lộn với thiên nhiên

và các cuộc đấu tranh xã hội gay gắt trong buổi đầu của xã hội loài người

Hòa Bình cũng là quê hương của nền văn hóa, văn minh Việt Cổ (hay còn gọi là Việt Mường chung) và kế tục đến ngày nay là văn hóa dân tộc Mường đậm nét Văn hóa của cộng đồng dân tộc ở Hòa Bình phong phú và

đa dạng, mỗi dân tộc có sắc thái văn hóa riêng, đặc sắc Đặc biệt là văn hóa

dân tộc Mường mà trong đó, nổi bật nhất là Mo Mường - sử thi Đẻ đất đẻ nước, một bộ phận quan trọng trong tang ca Mường Trong thời kỳ hội nhập

sâu rộng và phát triển toàn diện như ngày nay, vấn đề bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa dân tộc là việc làm rất có ý nghĩa, là cầu nối giữa quá khứ

và hiện tại, có vai trò quan trọng trong sự nghiệp xây dựng và phát triển kinh

tế - văn hóa - xã hội

Nghị quyết Hội nghị Trung ương 5 (Khóa VIII) đã chỉ rõ: “Di sản văn hóa là tài sản vô giá, gắn kết cộng đồng với dân tộc, là cốt lõi của bản sắc dân tộc, là cơ sở để sáng tạo những giá trị mới và giao lưu văn hóa Hết sức coi trọng bảo tồn, kế thừa, phát huy những giá trị văn hóa truyền thống, văn hóa

Trang 3

cách mạng, bao gồm cả văn hóa vật thể và phi vật thể Nghiên cứu và giáo dục sâu rộng những đạo lý dân tộc tốt đẹp do cha ông để lại” [10; 03]

Tháng 9/2004, Tỉnh ủy Hòa Bình đã xây dựng Chương trình hành động

số 341-CTr/TU thực hiện Kết luận Hội nghị Trung ương 10 (Khóa IX) về tiếp

tục thực hiện Nghị quyết Trung ương 5 (Khóa VIII) “về xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc”, Chương trình đã

khẳng định nhiệm vụ: “Đầu tư thực hiện các đề tài nghiên cứu, sưu tầm, văn hóa dân gian và bảo tồn, phát huy các giá trị văn hóa vật thể, phi vật thể, di

tích, danh lam, thắng cảnh” [10; 01] Trong những năm qua, cấc cấp các ngành

đã tích cực thực hiện và đạt được nhiều kết quả đáng kể, góp phần xây dựng đời sống văn hóa, vui tươi, lành mạnh, không ngừng nâng cao đời sống văn hóa tinh thần, nâng cao hưởng thụ văn hóa cho mọi người xung quanh

Năm 2010, Tỉnh ủy, Ủy ban nhân dân tỉnh Hòa Bình đã xuất bản cuốn

sách Mo Mường Hòa Bình Trong kho tàng văn hóa dân gian Mường, Mo

Mường có một vị trí quan trọng, thể hiện thế giới quan, nhân sinh quan của người Mường, chứa đựng trong đó các giá trị nhân văn sâu sắc

Có thể thấy, việc sưu tầm, nghiên cứu Mo Mường ở tỉnh Hòa Bình là một việc làm có ý nghĩa thiết thực, góp phần vào công cuộc bảo tồn và làm giàu các giá trị văn hóa truyền thống tốt đẹp của dân tộc Tuy nhiên, để khai thác được những giá trị mang tính triết học (nhân sinh quan, thế giới quan) - điều mà ít học giả nhìn thấy ở Mo Mường, thì hiện nay vẫn chưa có công trình nào nghiên cứu dưới góc độ đó

Từ những lý do trên, chúng tôi lựa chọn nghiên cứu vấn đề Vấn đề con người trong Mo Mường ở tỉnh Hòa Bình làm đề tài luận văn thạc sĩ chuyên

ngành Triết học

2 Lịch sử nghiên cứu

Việc nghiên cứu Mo Mường đã bắt đầu từ thời thuộc Pháp, cho đến ngày nay, Mo Mường vẫn là hiện tượng văn hóa hấp dẫn trong giới nghiên

Trang 4

cứu Khoa học xã hội, những người ái mộ văn chương, văn hóa dân tộc Đến nay, đã có rất nhiều các công trình nghiên cứu về Mo Mường, ở nhiều góc độ khác nhau, cụ thể:

Đầu thế kỷ XX thời Pháp thuộc, hai học giả người Pháp là Pier Grossin

và Jeanne Cuisinier đã có những ghi chép ban đầu về Mo Mường và nhân vật

Ông Mo Trong cuốn sách Tỉnh Mường Hòa Bình của Pier Grossin đã có một

chương đầu tiên ghi tóm lược nội dung toàn bộ phần mo sử thi: Từ chuyện đẻ đất, đẻ trứng điếng đến hết chuyện săn muông…

Cuốn sách Người Mường - địa lý, nhân văn và Xã hội học của Jeanne

Cuisinier đã nghiên cứu các loại nghi lễ như: việc thờ cúng tổ tiên, việc thờ cúng chung của bản làng và việc thờ cúng trong nhà; nghi lễ gia tộc, nghi lễ ma chay… Và để tìm hiểu rõ những nghi thức, nghi lễ đó, tác giả eanne Cuisinier coi “Mo” là đối tượng và là công cụ phục vụ hữu ích trong quá trình nghiên cứu

Năm 1972, Ty Văn hóa Thông tin tỉnh Hòa Bình xuất bản cuốn Góp phần tìm hiểu tỉnh Hòa Bình do tác giả Bùi Văn Kín chủ biên Đây là cuốn sách

đầu tiên giới thiệu được một cách tương đối có hệ thống các vấn đề về lịch sử, địa lý, kinh tế, văn hóa, xã hội

Năm 1975, Ty Văn hóa Thanh Hóa xuất bản cuốn Đẻ đất đẻ nước song

ngữ Mường - Việt của nhóm sưu tầm Vương Anh, Hoàng Anh Nhân

Năm 1976, Nhà xuất bản Văn học cũng cho ra mắt bạn đọc cuốn Đẻ

đất đẻ nước (bản Hòa Bình) do ông Bùi Thiện, ông Thương Diễm và ông

Quách Giao sưu tầm, dịch và biên soạn Sau những công bố đó, Đẻ đất đẻ

nước được giới nghiên cứu văn học xác định là sử thi và là tiểu loại sử thi

sáng thế (còn gọi là sử thi thần thoại), đây là tác phẩm sử thi đầu tiên được sưu tầm và công bố ở miền Bắc Việt Nam

Năm 1986, Nhà xuất bản Văn hóa phát hành cuốn Đang Vần Va do

ông Đinh Ân, người Mường, huyện Phù Yên (Sơn La), một cán bộ ngành văn hóa tỉnh Sơn La sưu tầm và dịch truyện Vườn hoa núi Cối trong Mo Mường

Trang 5

Năm 1988, Sở Văn hóa - Thông tin tỉnh Hà Sơn Bình ấn hành cuốn

sách Người Mường với văn hóa cổ truyền Mường Bi Đây là cuốn sách ghi

chép dân tộc học về người Mường trong phạm vi vùng mường Bi, huyện Tân Lạc (Hòa Bình) Trong cuốn sách này có phần nghiên cứu về mo, về tín ngưỡng và tang lễ của người Mường của cố nhà nghiên cứu văn hóa, Thạc sĩ văn hóa Hứa Đông Hải

Năm 1994, Nhà Xuất bản Văn học phát hành cuốn Mo lên trời, với bản

song ngữ Mường - Việt do Hoàng Anh Nhân sưu tầm, phiên âm, dịch thơ và chú thích Trần Lê Văn giới thiệu

Năm 1995, Nhà Xuất bản Văn hóa - Thông tin xuất bản cuốn Vốn cổ văn hóa Việt Nam của tác giả Trương Sĩ Hùng, Bùi Thiện Đây cũng là một cuốn sách nghiên cứu về Mo Mường đã được các tác giả chỉnh sửa, bổ xung

từ cuốn Đẻ đất đẻ nước xuất bản năm 1976 do Bùi Thiện, Thương Diễm,

Quách Giao sưu tầm, biên dịch

Năm 2004, Nhà xuất bản Khoa học xã hội đã xuất bản cuốn sách Nghi

lễ mo trong đời sống tinh thần của người Mường của tác giả Bùi Kim Phúc

Đây là cuốn sách nghiên cứu về hệ thống nghi lễ mo, đồng thời tác giả cũng

đã miêu tả về đời sống, thân thế của một số người làm Mo truyền thống, để nêu lên vai trò của nghi lễ mo và nhân vật Ông Mo trong đời sống văn hóa của người Mường

Năm 2008, Nhà xuất bản Văn học đã xuất bản cuốn Sử thi Việt Nam - con cháu Mon Mân của tác giả Tiến sĩ Bùi Việt Hoa Đây là tác phẩm thuộc

loại hình sử thi sáng tác có tác giả Trong cuốn sách này, một lần nữa Mo Mường lại là đối tượng nghiên cứu của tác giả, đồng thời là chất liệu để Bùi Việt Hoa sáng tạo thành một tác phẩm văn học mang màu sắc dân gian

Ngoài những tác phẩm đã cuất bản thành sách, cũng có không ít đề tái nghiên cứu khoa học nghiên cứu về Mo Mường Trong đó, Luận văn Thạc sĩ của Nguyễn Thu Hằng - Cán bộ nghiên cứu của Bảo tàng Dân tộc học Việt

Trang 6

Nam cũng đã nghiên cứu về tang ma cổ truyền người Mường, trong đó Mo Mường là công cụ để tìm hiểu bản chất vấn đề Đề tài này, năm 2003 đã được nâng cấp thành đề tài nghiên cứu khoa học của Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam, sau đó được đem trưng bày tại Bảo tàng Khoa học tự nhiên của Mỹ với

chuyên đề: Việt Nam - hành trình con người - tinh thần và linh hồn

Có thể thấy, những tác phẩm, những công trình nghiên cứu về Mo Mường còn chưa đầy đủ, song, Mo Mường đã được nghiên cứu khoảng một thế kỷ nay Theo đó, đã lí giải được nhiều vấn đề, khai sáng được giá trị nhân văn của Mo Mường như: những vấn đề về dân tộc học, tộc người; những giá trị về văn học, những vấn đề về nhân học, văn hóa… Tuy nhiên, có thể thấy chưa có tác phẩm nào, công trình nào nghiên cứu Mo Mường ở góc độ triết học, hay bàn về vấn đề con người thể hiện trong các áng Mo Mường Chính

vì vậy, việc nghiên cứu Vấn đề con người trong Mo Mường ở tỉnh Hòa Bình

sẽ là một công trình nghiên cứu có ý nghĩa quan trọng

Trên cơ sở tiếp thu, kế thừa có chọn lọc những thành quả của các thế hệ đi trước, kết hợp với sự nghiên cứu, tìm tòi, khai thác mới của bản thân, tôi quyết định nghiên cứu, tìm hiểu về triết lý con người trong mo Mường ở tỉnh Hòa Bình

3 Mục đích, đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu của luận văn

3.1 Mục đích:

- Tìm hiểu triết lý con người trong Mo Mường ở tỉnh Hòa Bình và đưa

ra các giải pháp để phát huy triết lý về con người trong Mo Mường

3.2 Đối tượng nghiên cứu

Luận văn nghiên cứu triết lý về con người trong Mo Mường ở tỉnh Hòa Bình

3.3 Phạm vi nghiên cứu

Phạm vi nghiên cứu đề tài được giới hạn ở việc khái quát các quan niệm về nguồn gốc con người, về bản chất con người, mối quan hệ giữa con

Trang 7

người với con người, con người với tự nhiên, con người với xã hội được thể hiện trong Mo Mường ở tỉnh Hòa Bình

4 Những luận điểm cơ bản và đóng góp khoa học của luận văn

- Luận văn luận giải có hệ thống những vấn đề lý luận về con người

- Luận văn góp phần làm rõ những quan niệm về nguồn gốc con người, về bản chất con người, mối quan hệ giữa con người với con người, con người với tự nhiên, con người với xã hội được thể hiện trong Mo Mường ở tỉnh Hòa Bình

- Đưa ra các giải pháp nhằm phát huy những giá trị triết lý về con người trong Mo Mường ở tỉnh Hòa Bình

- Đây là công trình tham khảo về vấn đề bảo tồn và phát huy bản sắc

văn hóa dân tộc trong giai đoạn hiện nay

5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu của luận văn

5.1 Cơ sở lý luận:

- Luận văn dựa trên cơ sở phương pháp luận nghiên cứu của chủ nghĩa Mác - Lênin về con người: về nguồn gốc, bản chất của con người, về mối quan hệ giữa con người với con người, con người với tự nhiên, con người với xã hội

- Những tư tưởng, quan điểm về con người của triết học phương Đông, phương Tây và trong tư tưởng triết học Việt Nam

- Những quan điểm của Đảng ta về xây dựng nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc

5.2 Phương pháp nghiên cứu:

- Lịch sử và lôgíc: nghiên cứu quá trình hình thành tỉnh Mường Hòa Bình, sự ra đời, phát triển của loài người thông qua các áng Mo Mường

- Phương pháp so sánh: so sánh quan niệm về nguồn gốc, bản chất con người của triết học trước Mác và triết học Mác - Lênin

- Phương pháp phân tích và tổng hợp, khái quát hoá, trừu tượng hoá

Trang 8

6 Kết cấu của luận văn

Luận văn ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục và tài liệu tham khảo, nội dung luận văn gồm 2 chương, 5 tiết

Trang 9

Trước tiên cần hiểu Mo là gì?

Đối với người Mường, “mo” theo nghĩa của động từ có nghĩa là xướng lên theo những làn điệu nhất định những bài cúng, những khúc mo nhòm, những cát mo kết trong các nghi lễ phục vụ đời sống của từng gia đình và

cộng đồng Mo Mường, hay chính là những bài diễn sướng sử thi Đẻ đất, đẻ nước của dân tộc Mường được sử dụng trong các nghi lễ của người Mường:

tang ma, lễ Tết, cầu may, mừng lúa mới [29; 31]

Mo Mường - Trường ca Đẻ đất đẻ nước được xem là tài sản vô giá của

người Mường với hàng vạn câu thơ được diễn xướng bằng nhiều khúc đoạn Toàn bộ Trường ca phản ánh quan niệm của người Mường về vũ trụ, con người; phản ánh lịch sử đấu tranh lâu dài gian khổ của con người trước thiên nhiên để tồn tại và phát triển

Về lịch sử ra đời của Mo Mường: hiện nay, chưa có công trình nghiên

cứu nào chỉ rõ được Mo Mường ra đời vào lúc nào Tuy nhiên, theo các nhà nghiên cứu, khi nghiên cứu về sử thi Việt Nam đều đánh giá sử thi Việt Nam được xuất hiện vào thời kỳ tiền giai cấp, tiền nhà nước - cách đây khoảng

trên 2800 năm Riêng với sử thi Đẻ đất, đẻ nước được nhận định ra đời vào

thời kỳ lịch sử Việt - Mường chung, là giai đoạn tiếng Việt được người Việt

sử dụng ở thời kì độc lập sau khi thoát khỏi sự đô hộ của phong kiến phương Bắc, kéo dài từ thế kỉ IX (có tài liệu dẫn là thế kỷ X) đến thế kỉ XIV Đây là

Trang 10

thời kì người Việt bắt đầu xây dựng một quốc gia phong kiến độc lập trên cơ

sở lãnh thổ địa lí của nhà nước Hùng Vương trước đây

Chính đặc điểm sinh cư và hoạt động kinh tế của người Mường đã chi phối đến sự hình thành Mo Các phương thức sản xuất của họ đều có sự kết

hợp giữa tính cạn (trồng lúa nương) và tính nước (trồng lúa nước), trong đó tính cạn trội hơn Và trong nghi lễ Mo cũng thể hiện tính cạn trội hơn với

trong ứng xử với xác chết và linh hồn biểu hiện qua việc tổ chức lễ thức và sắm sửa vật lễ phục vụ cho đám ma mang đậm dấu ấn của hoạt động săn bắn, hái lượm, trồng trọt, chăn nuôi của cư dân cạn Quan niệm về hồn, về thế giới thần linh và toàn bộ tiến trình vận động đến nơi sống của hồn là hòa trong không gian sống cư dân nông nghiệp bán sơn địa

“Mo được bắt nguồn từ chính loại nghi lễ của cư dân vùng cạn Mỗi khi bắt đầu diễn ngôn Mo, ông mo bao giờ cũng ngâm “hâm mo ” Tách lời ngâm ra thì không hiểu, nhưng nếu đặt trong mối liên hệ với các yếu tố khác như chiếc mũ hình sừng bò ông mo đặt trên đầu, lại thêm giáo và kiếm ông mo cầm trong tay hay bác trên vai, cùng với nội dung bài mo kể về việc

đẻ Mo, chúng ta hiểu đây là hành động bắt chước tiếng kêu con thú Ông mo

đã đóng vai kẻ đi săn hay thú săn bằng cách hóa trang và kêu nhại tiếng Từ nghi lễ hóa trang đến nghi lễ tín ngưỡng, Mo tiếp thu và vận dụng trọn vẹn loại nghi lễ của cư dân vùng bán sơn địa” [31; 22]

Trang 11

Mo bao gồm hai phần cấu tạo cơ bản là lễ thức và lời Lễ thức và lời không giống nhau giữa các cuộc Mo Hai thành phần này có quy mô rất lớn

Về lễ thức, mỗi cuộc Mo có số lượng lễ thức khác nhau tùy theo thực

tế của từng đám ma đặt ra.Lễ thức Mo thay đổi theo nôổ Mo, thay đổi theo

ông Mo, thay đổi theo cuộc Mo Chẳng hạn ông Mo được mời đến làm lễ biết bao nhiêu lễ thức, đám ma đó phải xử lý những lễ thức nào để có thể hoàn tất việc tống táng, điều kiện vật chất của gia chủ, các quy định quản lí xã hội yêu cầu Tuân thủ và đáp ứng thực tế yêu cầu đó, quy mô một cuộc Mo cụ thể được hình thành

1.1.2 Mo Mường đối với đời sống văn hóa, tinh thần của dân tộc Mường

Bên cạnh bình diện lý giải về sự ra đời của vũ trụ, thế giới và loài người,

Mo Mường gắn với đời sống hàng ngày của người Mường, Mo Mường được sử dụng trong các buổi lễ của người Mường như: lễ cầu may, lễ cúng

Có thể nhận định vai trò của Mo Mường thông qua một số bình diện như sau:

1.1.2.1 Mo đáp ứng nhu cầu thông quan với thế giới vô hình

Mo hình thành từ ứng xử của người Mường trong giải quyết vấn đề về cái chết Cũng như mọi dân tộc khác, ửng xử đó xuất phát từ quan niệm tìm một thế giới cho người chết, do con người không dễ dàng chấp nhận sự thật mất vĩnh viễn đồng loại của mình Tuy nhiên, trong ứng xử đầy tính nhân văn này, việc tìm ra thế giới tồn tại cho người chết của mỗi dân tộc là khác nhau

và người Mường cũng có quan niệm của họ

Người Mường quan niệm, chết là một quy luật tất yếu Họ thừa nhận

cái chết đối với thể xác Thành ngữ Mường có câu “Mọl chít cốt, thánh lột

lại” (người chết còn xương, rắn lột xác lại) [31; 18] Người Mường còn cho rằng, con người chết thì sinh ra hồn, hồn là tất yếu của sự sống sau khi con người chết đi Hồn tồn tại, có hình hài, có nhu cầu, có một đời sống mới Hồn xuất hiện đồng thời khi con người tắt thở Hồn không phải là vìa và phẩm

Trang 12

chất của nó cũng khác vía Vía yếu ớt, dễ bị tổn thương Hồn dữ hơn và dễ

làm hại đến người sống Người Mường gọi hồn là hồn hay ma và dùng từ khang làm đại từ nhân xưng

Trong quan niệm Mường, hồn có hình dáng khá đặc biệt Ban đầu hồn giống người, cũng đi, đứng, ăn, uống, nhớ thương, cảm động Hồn theo ông

mo lên trời chuộc lấy một số kiếp mới, xin trời lấy một dánh hình (đuông)

mới, lúc đó hồn thay đổi thành dáng chim (Vật tổ của người Mường là chim, trở về dáng chim là trờ về dánh hình của vật tổ) Với hình dáng này, hồn có thể đi vay về biến, lên trời, xuống âm phủ, ở mặt đất đều dễ dàng

Điểm đặc biệt về hồn trong quan niệm Mường là không sống ở trên trời như hồn trong quan niệm của Phật giáo hay Thiên chúa giáo, mà sống ở

mường ma, một mường dưới mặt đất thuộc tầng pưa tỉn Mường ma có mô

thức như mường của người đang sống (có ruộng đồng, nhà cửa, chợ búa, làm

ăn sinh hoạt, quan hệ mướng nước, họ hàng ), chỉ có điều mọi thứ thu nhỏ lại và người của họ chỉ bằng cái ống suốt chỉ (ống khút) Mường ma là nơi sống đời đời của hồn

Nhìn chung quan niệm của người Mường về linh hồn có nòng cốt là thuyết vật linh Quan niệm này đã có biến đổi, bổ sung, nhưng về cơ bản thì thuyết vật linh vẫn giữ vai trò chủ đạo, thể hiện qua kiến giải “vạt vận có linh hồn” và “vật sao thì hồn vậy”, Hồn theo quan niệm của người Mường hiện lên vớxi các đặc điểm như con người, có đầy đủ các nhu cầu - “người sống sao ma sống vậy” Nhu cầu “giống người” khiến cho quan niệm hồn của người Mường thân thiện - nhân sinh và nghi lễ Mo hình thành trên quan niệm

ấy cũng mang tính nhân văn sâu sắc

Quan niệm về linh hồn đã trở thành nguyên nhân quan trọng nhất trong

sự hình thành nghi lễ Mo Quan niệm về linh hồn còn trở thành thiết chế tồn tại và vận động của toàn bộ nghi lễ Mo Quan niệm của người Mường về linh

Trang 13

hồn là hoàn chỉnh do đó hệ thống lễ thức của Mo Mường được xây dựng bài bản, thống nhất và chặt chẽ

Bản chất của nghi lễ Mo là cách ứng xử với cái chết, nhưng hàm chứa trong đó là cả một hệ thống quan niệm của người Mường về thế giới, về linh hồn

Từ quan niệm về xác, hồn và mô thức thế giới (chia thành 3 mường: trời - bằng - dưới với bốn mường: mường trời - mường người - mường khú - mường ma), nghi lễ Mo đã được xây dựng Bản chất của nghi lễ Mo là cách ứng xử với người chết, trong đó điểm cốt yếu là tìm và giải quyết nơi sống của linh hồn Hệ thống quan niệm Mường đã giải quyết thỏa đáng nhu cầu ấy

và cũng vì thế Mo Mường trở nên rất quan trọng, quyết định hoàn thành nhiệm vụ tống táng của đám tang

Tất cả những quan niệm trên có thể được lý giải như sau:

Niềm tin về sự tồn tại của thế giới vô hình xuất hiện từ rất sớm trong lịch sử loài người Ở bất cứ thời đại, xã hội nào con người cũng có nhu cầu được thông quan với thế giới đó; Từ giác độ niềm tin tôn giáo tín ngưỡng, người Mường quan niệm thông qua mo để thế giới hữu hình thông quan với thế giới vô hình

Thông qua mo, người Mường hướng đến mong ước được thế giới vô hình

mà cụ thể là tổ tiên sẽ che chở cho thế giới những người đang sống, mong sao

cho “việc nhỏ cũng qua, việc cả cũng rồi, cũng thôi, cũng đoạn” [22; 75]

Trong các nghi lễ sử dụng mo, nghi lễ tang ma là một nghi lễ tối quan trọng trong một đời người Phải làm hàng loạt các thủ tục để đoạn tuyệt với thế giới người sống và gia nhập thế giới người chết Việc quan trọng nhất của tang lễ người Mường ở Hòa Bình là phải dẫn dắt điều khiển được linh hồn người quá cố thực hiện các thủ tục của tang lễ Người Mường quan niệm rằng, khi người ta mất đi, lúc chưa làm đám tang và trong lúc làm đám tang

họ không còn là người trần mà cũng chưa phải là ma, tuy nhiên họ có sức mạnh linh thiêng mà người trần không thể điều khiển hay cầu xin nổi Việc

Trang 14

làm cho linh hồn người quá cố làm sao phải nghe theo để thực hiện những nghi lễ của tang ma cần thông qua việc mo Và người thực hiện mo chính là các thầy mo

Việc mo trong tang lễ thực chất là nhằm thuyết phục, hướng dẫn linh hồn người chết “thực thi” các nghi lễ như vừa kể trên hoàn toàn bằng lời mo Nếu như mo sai, linh hồn không thể “thực thi” được nghi lễ, như thế sẽ không hoàn tất thủ tục sẽ rơi vào tình trạng luẩn quẩn Hồn không thể đoạn tuyệt với thế giới người sống mà cũng không thể gia nhập thế giời người chết Người ta sợ trong hoàn cảnh dở dang ấy, linh hồn người chết sẽ về quấy phá hành tội con cháu trong nhà Chính vì thế, việc mo có ý nghĩa hết sức quan trọng đối với đám tang của người Mường, và đó được xem là công việc chính trong đám tang

Người Mường với nghi lễ tang ma của họ có đặc điểm chung là những đêm mo Một lễ tang có thể kéo dài từ một đêm, hai đêm, hoặc mười đêm, mười hai đêm hoặc lâu hơn nữa Điều này phụ thuộc vào tuổi tác và địa vị xã hội làng, bản của người chết

Trước năm 1954 người xứ Mường có tục làm ma khô Với người giàu việc lưu giữ xác chết trong nhà để bày tỏ sự giàu có, vì phong tục đó đòi hỏi những nghi lễ tốn kém trong suốt thời gian lưu quan tài ở trong nhà Ngược lại với người nghèo đó là dấu hiệu tủi nhục, vì việc chôn cất người chết chỉ được thực hiện sau khi đã làm đủ các nghi lễ rất tốn kém theo hủ tục cổ

truyền Trong cuốn Vũ trụ luận Mường, tác giả Trần Từ cho rằng “Giờ đã

đến lúc đưa người thân vừa mất về thế giới bên kia, một thế giới phù hợp với thân phận mới của người ấy: một tinh linh đã hoàn toàn tách khỏi thân xác người sống Giữa thế giới đó và thế giới của chúng ta là cả một khoảng cách chỉ có thể vượt qua bằng uy lực của bố mo” [28; 282]

Trong việc Mo, vị trí của bố mo - thầy mo đóng vai trò bắt buộc và quyết định trong toàn bộ nghi thức tang ma của người Mường Trong suốt

Trang 15

các nghi thức tang ma thầy mo chỉ làm một việc: thuyết phục và hướng dẫn, hai hành động đi đôi với nhau nhiều khi xen lẫn trước sau, cũng có lúc phải hoà vào nhau thành một qua trình đồng nhất Bởi người thầy mo ở đây phải

có nghĩa vụ làm cho người chết hiểu được quy luật tự nhiên của sự sống và cái chết, mà người đã chết thì phải tách khỏi thế giới của người sống Để sau

đó hồn mới có thể sẵn sàng đi tiếp hành trình, chuyến đi cuối cùng đến với thế giới dành riêng cho họ

Hai chức năng thuyết phục và hướng dẫn đó, của các đêm mo được người hành lễ thực hiện trong một nghi lễ lễ thức duy nhất: ngồi xếp bằng tròn từ đầu hôm đến mờ sáng, mồm ngân tang ca hầu như không dứt, đấu đội

mũ lễ, trên thân là áo lễ, hai tay cầm chuông lễ và dao lễ, và cuối cùng là túi đựng Khót (Khót- đựng một số vật thiêng do các bố mo được truyền lại, hoặc được Thánh Sư của bố mo báo mộng qua giấc mơ)- chứa đựng siêu lực của

bố mo Đây là những vật thiêng không thể thiếu trong quá trình hành lễ của người làm mo

Các áng mo được các bố mo sử dụng với mục đích làm sợi dây kết nối giữa Mường đất - Mường người - Mường trời mà chính bố mo là những người có khả năng giao cảm với thế giới hữu hình và thế giới vô hình, họ được giao trọng trách là “ sứ giả” của các Mường, nên những khả năng của

họ cũng được thần thánh ban cho, thần thánh lựa chọn… và họ phải sử dụng khả năng đó của mình để phục vụ cho lợi ích chung cao nhất - lợi ích cộng đồng dân tộc Mường

Ngày nay, khi điều kiện kinh tế - xã hội đã phát triển, cùng với việc trình độ văn hóa đã lên cao, nghi lễ tang ma của người Mường cũng chỉ kéo dài tối đa hai hay ba đêm mo Chính vì thế mà người hành lễ tùy số đêm dành cho từng tang lễ một mà giữ nguyên hay cắt bớt một số tang ca, có khi cắt một số đoạn của từng tang ca Cũng có những trường hợp, nhà chịu tang có quyền yêu cầu thầy mo sư dụng các áng mo này hay các áng mo kia, thậm chí

Trang 16

một số đoạn nhất định trong áng này hay áng khác Tuy nhiên, việc cử hành các nghi lễ mo vẫn đảm bảo đúng các thủ tục cần thiết, nhằm đưa tiễn người chết về thế giới bên kia

Ngoài ra, có một số lễ như Tết Nguyên đán, hầu hết các gia đình người Mường thường mời thầy mo về cử hành lễ cúng vía Tất niên Hay cúng Gia tiên vào đêm Giao thừa hoặc những ngày mùng 1, mùng 2, mùng 3 Tết Việc cúng lễ này đều sử dụng các bài mo nhằm mời tổ tiên về chứng giám và phù

hộ cho con cháu

Bên cạnh đó, mo Mường còn được sử dụng vào lễ tạ mộ, lễ cưới, lễ rửa

lá lúa, lễ cơm mới và lễ vía hộp thì thường vẫn được sử dụng đến mo Hay nói cách khác, người Mường sử dụng mo để cử hành các nghi lễ trong đời sống hàng ngày của người Mường Thực tế trong đời sống của người Mường

ở Hòa Bình không thể thiếu mo

1.1.2.2 Mo thể hiện khả năng đuổi tà ma, chữa bệnh

Đối với từng cá nhân trong cộng đồng, ngay từ ngày đầu thai nghén đã phải cử hành mo nhằm yểm bùa ngái để ma quả không quấy phá được (lễ vía cho người mang thai) Khi sinh ra cũng phải mời vía về để treo nạ mụ (chỗ cho vìa người trú ngụ) lên trên mái nhà Trong quá trình sinh sống thì sự có mặt của các nghi lễ mà thông qua mo là thiết yếu của cuộc sống Ngày nay những nghi lễ trong nhóm lễ cầu phúc, cầu lộc và nhóm nghi lễ gọi linh hồn con người vẫn diễn ra thường xuyên trong đời sống của người Mường

Trước đây khi y học chưa phát triển hầu hết con người đều mong muốn

và thực hiện việc chữa bệnh bằng các phép thuật là rất phổ biến Thời kỳ này, người Mường thường sử dụng cách chữa bệnh chủ yếu là dựa vào các nghi lễ

mo, cúng của các thầy mo Họ coi những người bị bệnh là vì trong quá trình

ăn ở chưa tốt nên bị bên “âm” trừng phạt hay “ám” vào Vì thế phải nhờ thầy

mo về làm lễ để trừ, đuổi tà ma, qua đó chữa được bệnh tật

Trang 17

Dần dần, người Mường quan niệm chữa bệnh thì chữa cả bên dương nhưng đồng thời phải tạ cả “bên âm” để “tốt bên âm, lành bên dương, tốt hai bên, bền hai mái” Các áng mo được sử dụng trong “chữa bệnh” thường là bài “ténh khồng tlăm” Nghi lễ “ténh” được sử dụng với nghĩa “trừ tà ma” hay “chữa bệnh tinh thần”

Thực tế cho thấy, rất nhiều trường hợp khi chữa trị “bên dương” (chữa trị bằng y học) không khỏi, sau khi về nhà, được các thầy mo sử dụng các bài

mo để trừ tà ma.v.v thì lại khỏe mạnh bình thường Chính điều này làm cho

tư duy của người Mường có phần tin vào sự tồn tại của “bên âm” Do đó, củng cố niềm tin rằng chính các bài mo giúp cho họ trừ được tà ma, chữa được bệnh tật

Như vậy, các áng mo vẫn luôn được gìn giữ, trân trọng với vai trò của

nó đối với đời sống văn hóa tinh thần của người Mường trên đất nước Việt nam nói chung và ở Hòa Bình nói riêng

Ngày nay, khi y học phát triển, niềm tin vào sự cầu an, cầu sức khỏe qua các nghi lễ mo đã giảm đi Thực tế, chỉ có một số ít gia đình thực hiện các nghi lễ đó sau khi có trường hợp y học đã từ chối nhằm giải tỏa về mặt tinh thần Họ quan niệm là vừa phải chữa bệnh nhưng đồng thời cũng phải trừ tà ma Như vậy, nếu không may xảy ra chuyện xấu nhất thì cũng không phải ân hận điều gì

1.1.2.3 Hệ thống nghi lễ thực hiện bằng Mo

Những nghi lễ thực hiện bằng mo trong đời sống văn hóa tinh thần của dân tộc Mường được sắp xếp thành từng nhóm như sau:

Trang 18

Nhóm nghi

lễ Stt Tên nghi lễ Nhân vật thờ Tính chất

Thời gian thực hiện

Không gian thực hiện

Tổ tiên, Chàng Wàng, Khổng Dòl, vua Bếp, Thổ công

Tưởng nhớ, tạ

ơn, cầu phúc lộc

Dịp Tết Nguyên đán

Trong gia đình

2 Tạ mộ Tổ tiên Tưởng nhớ, cầu

phúc lộc

Dịp sau Tết Nguyên đán, sau thu hoạch vụ chiêm, hoặc bất kì

Khu mộ của gia đình

3 Lễ cưới Tổ tiên Tưởng nhớ, cầu

phúc lộc

Trong những nghi

lễ thuộc hôn nhân

Trong gia đình

4 Tế Thành hoàn, Khuống mùa

Thần Thành hoàng, Đức Thánh Tản, Ải

Lý Ải Lo

Tưởng nhớ, tạ

ơn, cầu phúc lộc

Tháng Chạp hoặc tháng Giêng âm lịch

Ngoài bãi

5 Rửa lá lúa (thứa lả lõ)

Nàng bông cơm vía lúa, Khổng Dòl

Tạ ơn, cầu phúc lộc

Lúc lưa vụ mùa màng đông

Trong gia đình

6 Cơm mới (cơm mởi)

7 Càu quàng Chàng Wàng Tạ ơn, cầu phúc

lộc, cầu sự an toàn

người mới sinh

Mời gọi, tạ ơn Sau khi sinh ba

ngày

Trong gia đình

9 Vía hộp Vía người Mời gọi, tạ ơn Cuối tháng, cuối

năm hoặc bất kì

Trong gia đình

Trang 19

10 Vía mạnh

(wãi thẳn)

Vía mạnh Mời gọi, tạ ơn Khi ốm yếu, hoặc

khi hay nằm mơ thấy người đã quá

cố

Trong gia đình

13 Vía cho người

có mang

Các loại vía Mời gọi, tạ ơn Khi phụ nữ có

mang

Trong gia đình

Tạ ơn, cầu yên

Khi hay gặp rủi ro, làm rượu bị chua, làm ăn thất bát, gia đình lục đục

Trong gia đình

17 Tẻnh ma rừng

(ténh ma hầng)

Ma ở trong rừng, ma ở vùng Ngòi Hoa

Tạ ơn, cầu yên, cầu sức khỏe

Khi có người ốm, mắc bệnh

Trong gia đình

Trong gia đình

19 Tẻnh ma tống

(téng ma tổng)

Ma lang chiềng chạ

Tạ ơn, cầu yên Khi có người bị ốm Trong gia

đình

20 Tẻng khổng Cac loại ma và Tạ ơn, cầu yên Khi có chuyện Trong gia

Trang 20

Giả oan, cầu yên Khi có chuyện

không hay trong gia đình

Ngoài đồng

22 Tẻng khồng

tập (téng khồng tâp)

Các loại ma và thần linh

Yểm bùa Khi cần yểm bùa

Dẫn dắt linh hồn người quá cố thực hiện các nghi lễ đoạn tuyệt với thế giới người sống và gia nhập với thế giới người chết

Khi có người qua đời

Trong gia đình và ngoài đồng, ngoài rừng

Như vậy, chúng ta thấy các nghi lễ liên quan đến con người đều được thực hiện bằng Mo Hầu hết các nghi lễ vòng đời của người Mường đều xử dụng Mo làm “công cụ” để thực hiện các nghi thức Như vậy, có thể thấy vai trò quan trọng của Mo Mường đối với đời sống văn hóa tinh thần của người Mượng như thế nào

Hình thức của nghi lễ thực hiện bằng Mo

Những nghi lễ thực hiện bằng Mo là những nghi lễ dùng lời mo để nói lên mục đích ý nghĩa của nghi lễ mà người thực hiện phải là ông Mo Hầu hết các nghi lễ thực hiện bằng mo được thực hiện thành các bước như sau:

1) Chuẩn bị đồ lễ cúng, đồ hiến tế: nấu nướng và sắp xếp đầy đủ và đúng vị trí cúng tế

2) Mo:

Trang 21

Đây là bước quan trọng nhất, nó đảm bảo sự thành công hay thất bại của nghi lễ Về mặt nội dung của tất cả các bài mo bao gồm những phần chính như sau: Nêu lí do của nghi lễ; mời các nhân vật thờ về tại nơi tổ chức nghi lễ, dâng ăn uống và cầu xin; đưa các nhân vật thờ về chỗ ngự

Hòa Bình là một tỉnh miền núi thuộc vùng Tây Bắc Việt Nam, có vị trí

ở phía Nam Bắc Bộ, giới hạn ở tọa độ 200°19' - 210°08' vĩ độ Bắc, 104°48' - 105°40' kinh độ Đông, tỉnh lỵ là thành phố Hòa Bình nằm cách trung tâm thủ

Hòa Bình là tỉnh miền núi, tiếp giáp với phía tây đồng bằng sông Hồng, Hòa Bình có địa hình núi trung bình, chia cắt phức tạp, độ dốc lớn và theo hướng tây bắc - Đông Nam, phân chia thành 2 vùng: vùng núi cao nằm

về phía tây bắc có độ cao trung bình từ 600 - 700 m, địa hình hiểm trở, diện

Trang 22

tích 212.740 ha, chiếm 44,8% diện tích toàn vùng; vùng núi thấp nằm ở phía đông nam, diện tích 262.202 ha, chiếm 55,2% diện tích toàn tỉnh, địa hình gồm các dải núi thấp, ít bị chia cắt, độ dốc trung bình từ 20 - 250, độ cao trung bình từ 100 - 200 m Bên cạnh đó, hệ thống sông ngòi trên địa bàn tỉnh phân bố tương đối đồng đều với các sông lớn như sông Đà, sông Bôi, sông Bười, sông Lạng, sông Bùi Hòa Bình có khí hậy cận nhiệt đới ẩm, nhiệt đới khô lạnh, ít mưa ; mùa hè nóng, mưa nhiều Nhiệt độ trung bình hàng năm trên 23 °C Tháng 7 có nhiệt độ cao nhất trong năm, trung bình 27 -

29 °C, ngược lại tháng 1 có nhiệt độ thấp nhất, trung bình 15,5 - 16,5 °C

Các đường giao thông quan trọng trên địa bàn tỉnh như:

Quốc lộ 6: qua các huyện Lương Sơn, Kỳ Sơn, thành phố Hòa Bình, huyện Cao Phong, Tân Lạc, Mai Châu, nối liền Hòa Bình với thủ đô Hà Nội và các tỉnh tây bắc khác, điểm gần trung tâm Hà Nội nhất trên quốc lộ 6 của Hòa Bình thuộc huyện Lương Sơn là gần 40 km ;

Quốc lộ 15A đi từ huyện Mai Châu nối quốc lộ 6 với các huyện vùng cao tỉnh Thanh Hóa; Quốc lộ 12B nối thẳng quốc lộ 6 (ở Mãn Đức- Tân Lạc)

đi qua các huyện Tân Lạc, Lạc Sơn, Yên Thuỷ và tỉnh Ninh Bình là con đường ngắn nhất từ tây bắc xuyên ra Biển Đông;

Quốc lộ 21 có điểm đầu là ngã ba giao cắt với quốc lộ 32, trước cửa ngõ vào thị xã Sơn Tây, điểm cuối là thị trấn Thịnh Long, huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định qua thị trấn Xuân Mai Hà Nội qua các huyện Lương Sơn, Kim Bôi, Lạc Thủy xuống Phủ Lý Đường Hồ Chí Minh chạy song song với quốc lộ 21, gặp quốc lộ 12B xã Hưng Thi, Lạc Thủy và quốc lộ 12A tại địa bàn giáp ranh giữa xã Yên Nghiệp của huyện Lạc Sơn và xã Lạc Thịnh của huyện Yên Thuỷ

Các tuyến đường chính này nối với hệ thống đường nối liền các huyện,

xã trong tỉnh với thị xã và với các huyện, tỉnh bạn rất thuận lợi cho giao lưu

Trang 23

kinh tế - xã hội, đây cũng là điều kiện để Hòa Bình du nhập và có sự giao thoa văn hóa lớn

Đặc điểm về kinh tế - xã hội

Do đặc điểm địa lý tiếp giáp với đồng bằng sông Hồng và thủ đô Hà Nội, có điều kiện tự nhiên, đất đai, tài nguyên khoáng sản, đặc điểm văn hoá

đa dạng và phong phú đã tạo điều kiện cho tỉnh Hoà Bình phát triển mạnh một số lĩnh vực kinh tế lợi thế

Công nghiệp sản xuất vật liệu xây dựng: với trữ lượng sét và đá vôi lớn, hiện nay sản xuất vật liệu xây dựng là một trong những ngành công nghiệp mũi nhọn của tỉnh, cung cấp vật liệu xây dựng cho vùng và các tỉnh lân cận Ngoài ra, tỉnh còn có 3 nhà máy sản xuất xi măng công suất mỗi nhà máy 8,8 vạn tấn/năm tại các huyện Lương Sơn, Yên Thuỷ và thị xã Hoà Bình; ngoài ra còn 2 nhà máy đang hoàn chỉnh thủ tục để đầu tư xây dựng với công suất 1,2 triệu tấn và 8,8 vạn tấn/năm ở Lương Sơn và các cơ sở sản xuất đá, vôi, gạch ở hầu hết các huyện, thị

Công nghiệp chế biến nông - lâm sản: Hoà Bình có đất đai phù hợp với nhiều loại cây công nghiệp (mía, sắn, chè, măng…), cây ăn quả (cam, quýt, dứa, vải, nhãn…), từ đó có thể phát triển công nghiệp chế biến nông sản như: đường, tinh bột, chè khô, hoa quả đóng hộp Bên cạnh đó, diện tích đất lâm nghiệp chiếm khoảng 55%, diện tích rừng đã phủ xanh 41% với nhiều vạt rừng kinh tế được phép trồng và khai thác phục vụ công nghiệp chế biến lâm sản

Công nghiệp cơ khí, điện tử, may mặc, giày da: dựa trên địa thế tiếp giáp với các trung tâm công nghiệp lớn là Hà Nội, Hà Tây và tiềm năng lao động dồi dào, cộng thêm số lao động ở nông thôn chiếm 84%, trong khi thời gian sử dụng chỉ đạt 74%, do đó Hoà Bình có thể phát triển công nghiệp cơ khí điện tử, may mặc, giày da Hiện nay, trên địa bàn đã có một số cơ sở sản xuất như: Công ty May sông Đà, Công ty May 3/2, Công ty Ban Đai (sản

Trang 24

xuất linh kiện điện tử), Công ty R Việt Nam (sản xuất thấu kính), Công ty Điện tử SANKOR (đang đầu tư xây dựng)

Đặc điểm dân cư:

Hòa Bình có 832.543 dân (tháng 7/2012) Hòa Bình là một trong bốn tỉnh của Việt Nam mà trong đó người Việt (Kinh) không chiếm đa số, đồng thời tỉnh này cũng được coi là thủ phủ của người Mường, vì phần lớn người dân tộc Mường sống tập trung chủ yếu ở đây Người Mường xét về phương diện văn hóa - xã hội là dân tộc gần gũi với người Kinh nhất Địa bàn cư trú của người Mường ở khắp các địa phương trong tỉnh, sống xen kẽ với người Kinh và các dân tộc khác

Theo thống kê, trên địa bàn tỉnh Hòa Bình có 6 dân tộc sinh sống, đông nhất là người Mường chiếm 63,3%; người Việt (Kinh) chiếm 27,73%; người Thái chiếm 3,9%; người Dao chiếm 1,7%; người Tày chiếm 2,7%; người Mông chiếm 0,52%; ngoài ra còn có người Hoa sống rải rác ở các địa phương trong tỉnh Người Hoa trước đây sống tập trung ở Ngọc Lương, Yên Thủy; nhưng sau năm 1979 còn lại một số gia đình và hiện nay sống phân tán

ở các xã Yên Trị, Ngọc Lương và Phú Lai huyện Yên Thuỷ Ngoài ra, còn có một số người thuộc các dân tộc khác chủ yếu do kết hôn với người Hòa Bình công tác ở các tỉnh miền núi khác [30; 03]

Hòa Bình là một trong bốn tỉnh của Việt Nam mà trong đó người Việt (Kinh) không chiếm đa số, đồng thời tỉnh này cũng được coi là thủ phủ của người Mường, vì phần lớn người dân tộc Mường sống tập trung chủ yếu

ở đây Người Mường xét về phương diện văn hóa - xã hội là dân tộc gần gũi với người Kinh nhất Địa bàn cư trú của người Mường ở khắp các địa phương trong tỉnh, sống xen kẽ với người Kinh và các dân tộc khác

Người Kinh, sống ở khắp nơi trong tỉnh Những người Kinh sống ở Hòa Bình đầu tiên đã lên tới 4-5 đời; nhưng đa số di cư tới Hòa Bình từ

Trang 25

những năm 1960 của thế kỉ trước, thuộc phong trào khai hoang từ các tỉnh đồng bằng lân cận (Nam Định, Hà Nam, Ninh Bình, Hà Tây ) Trong những năm gần đây, sự giao lưu về kinh tế và văn hóa mở rộng, nhiều người Kinh từ khắp các tỉnh thành đều tìm kiếm cơ hội làm ăn và sinh sống ở Hòa Bình

Người Thái, chủ yếu sống tập trung ở huyện Mai Châu Tuy sống gần với người Mường lâu đời và đã bị ảnh hưởng nhiều về phong tục, lối sống (đặc biệt là trang phục), nhưng vẫn giữ được những nét văn hóa độc đáo Đây

là vốn quí để phát triển du lịch công động và bảo lưu vốn văn hóa truyền thống Hiện nay, khu du lịch Bản Lác là một trong những điểm du lịch hấp dẫn du khách trong và ngoài nước hàng đầu ở Hòa Bình

Người Tày, chủ tập trung ở huyện Đà Bắc, sống xen kẽ với người Mường, người Dao Người Tày có tập quán và nhiều nét văn hóa gần giống với người Thái, đặc biệt là ngôn ngữ Tuy nhiên, xét theo khía cạnh trang phục thì người Tày ở Đà Bắc giống người Thái Trắng thuộc các huyện Phù Yên, Bắc Yên tỉnh Sơn La

Người Dao sống thành cộng đồng ở các huyện Đà Bắc, Lương Sơn, Kim Bôi, Cao Phong, Kỳ Sơn và thành phố Hòa Bình Người H’Mông sống tập trung ở xã Hang Kia và Pà Còcủa huyện Mai Châu Trước đây hai dân tộc này sống du canh du cư, nhưng từ những năm 70-80 đã chuyển sang chế độ đinh canh, định cư và đã đạt được những thành tựu đáng kể về phương diện kinh tế - xã hội

Với sự đa dạng về sắc tộc như vậy và đặc biệt gần với đồng bằng Bắc

Bộ, cách thủ đô Hà Nội chỉ khoảng từ 70 tới 100 km, kết hợp với các điều kiện địa hình, phong cảnh của tỉnh; thì đây là tiềm năng lớn để phát triển du lịch

Với những điều kiện về tự nhiên, kinh tế, văn hóa, xã hội nhất định là tiền đề quan trọng để người Mườngở tỉnh Hòa Bình phát triển nền văn hóa tín ngưỡng mang đậm bản sắc dân tộc

1.2.1.2 Khái quát nét văn hóa của dân tộc Mường ở tỉnh Hòa Bình Khái quát về người Mường ở Hòa Bình

Trang 26

Dân tộc Mường cư trú chủ yếu ở tỉnh Hoà Bình, Phú Thọ, Sơn La, Yên Bái, Thanh Hoá, Ninh Bình, Hà Tây, và rải rác ở một số tỉnh khác như Hà Nam, các tỉnh Tây Nguyên

Ở Hoà Bình, ngoài dân tộc Mường, còn các dân tộc anh em khác sinh sống là: Kinh, Tày, Thái, Dao, H’Mông…trong đó, các huyện Lạc Thuỷ, Tân Lạc, Lạc Sơn, Kim Bôi, Kỳ Sơn, Cao Phong là những huyện có mật độ dân Mường sinh sống dày đặc

Từ xa xưa, Hoà Bình được gọi là tỉnh Mường với “nhất Bi, nhì Vang, tam Thàng, tứ Động”, bốn vùng Mường này hợp thành xứ Mường Hòa Bình

Tuy nằm sát gần Hà Nội song dân tộc Mường ở Hoà Bình vẫn giữ được những nét bình yên riêng Người Mường luôn sống yêu thương, đoàn kết Trong quá trình giao thoa giữa các nền văn hoá tuy có bị ảnh hưởng song dân tộc Mường vẫn giữ được những nét văn hoá truyền thống của mình, đó là những nét văn hoá người Việt Cổ

Theo những kết quả nghiên cứu của nhiều công trình về ngôn ngữ học,

về khảo cổ học, dân tộc học,…các nhà nghiên cứu đã nhận định rằng dân tộc Mường và dân tộc Kinh (Việt) hơn một ngàn năm trước có chung một nguồn gốc, tổ tiên, đó là người Việt Cổ (hay còn gọi là Việt - Mường), họ là những

chủ nhân của nền văn hoá Hòa Bình, văn hóa Đông Sơn rực rỡ của dân tộc ta

Trong quá trình phát triển, một bộ phận của người Việt Cổ đã xuôi theo các dòng sông lớn như sông Hồng, sông Mã…tiến hành khai phá đồng bằng, gây dựng cuộc sống mới Từ đây bắt đầu có sự phân chia: những bộ phận ở lại thung lũng, chân núi thành người Mường hiện nay; còn bộ phận di cư và gây dựng cuộc sống mới ở đồng bằng,ven biển trở thành những người Kinh hiện nay Sự thật lịch sử này đã phần nào được phản ánh trong câu truyện truyền thuyết Lạc Long Quân - Âu Cơ mà tất cả chúng ta ai cũng biết và tự hào về nguồn gốc của mình

Cũng theo các nhà ngôn ngữ học, ngôn ngữ của người Mường cũng có

Trang 27

nhiều điểm tương quan với ngôn ngữ người Việt, nhiều những nét văn hoá Mường cũng tương đồng với văn hoá của dân tộc Kinh Nói vậy để thấy được việc giữ gìn giá trị văn hoá Mường là nhiệm vụ rất lớn trong việc bảo tồn văn hoá truyền thống của dân tộc

Người Mường cư trú chủ yếu trong các thung lũng có núi đá vôi bao bọc Từ xưa đến nay, dân tộc Mường quen cư trú thành từng xóm, quê, nhiều xóm, quê gộp lại thành một Mường Trong thời phong kiến, người Mường đã

bị các giai cấp thống trị bóc lột Do đó, tổ chức chính quyền của người Mường cũng giống người Kinh

Nhà cửa, xóm làng của người Mường thường dựng dưới chân đồi, chân núi, nơi tiếp giáp đồng ruộng, nhà cửa người Mường khác các dân tộc khác là hay nằm sát nhau và có chung hàng rào Người Mường dựng nhà dựa vào những nguyên vật liệu có sẵn từ cột nhà, mái nhà, tường nhà,…tất cả đều lấy

từ trên rừng

Về công cụ sản xuất, các nhà khảo cổ học đã tìm thấy nhiều đồ đá cổ

xa dùng vào mục đích sản xuất Sau đó, có thêm công cụ sắt, kim loại, nhưng khá nhiều các công cụ sản xuất do người Mường tự chế như chiếc bừa (làm bằng gỗ và tre), thùng đựng…những công cụ này vẫn còn được người Mường

sử dụng vào mục đích sản xuất trong ngày nay

Sản xuất lúa nước được người Mường áp dụng khá sớm Theo các nhà khảo cổ học thì các đây hàng vạn năm, người Mường đã biết “ thuần giống” cây lúa nước Lúc đầu, trồng lúa nước chỉ là phụ trợ cho việc săn bắn hái lượm Song, sau khi công cụ phát triển, việc trồng trọt đã phát triển và nhận được sự quan tâm hơn Sản xuất nông nghiệp là chủ yếu cho đến nay, do đó đời sống nhân dân còn nhiều khó khăn, thiếu thốn

Một trong những đặc điểm nổi bật của xã hội Mường ngày xa là sự tồn tại của tầng lớp Lang đạo - thực chất là thổ ty, là chúa đất; mà Mường là một đơn vị tổ chức xã hội của dân tộc Mường do một ông quan Lang đứng đầu

Trang 28

Cho đến ngày nay, người Mường vẫn chịu một chút ảnh hởng của chế độ Lang đạo xa kia, qua thói quen kính trọng những người thuộc dòng dõi nhà Lang, mà chủ yếu là những dòng họ Đinh, Quách, Bạch, Hoàng Tinh hoa Hoà Bình có 4 dòng họ Lang lớn nhất của 4 Mường là Mường Bi - Mường Vang - Mường Thàng - Mường Động; mỗi Mường được cai quản bởi một ông Lang Chế độ Lang đạo của dân tộc Mường đã thực sự gây cho xã hội Mường sự phân biệt đẳng cấp sâu sắc Tầng lớp Lang đạo (quý tộc) và tầng lớp nhân dân (dân trong Mường) Sự phân biệt này thể hiện trong từng chi tiết nhỏ của cuộc sống như là nhà dân không được to hơn nhà Lang; đàn bà con gái dân thường không được mặc váy có thêu hình con rồng hay mặc váy chấm gót như vợ Lang; nhân dân trong Mường phải luôn nghe lời và phục dịch, cúng lễ nhà Lang

Ngày nay, chế độ Lang đạo không còn, nhưng những nét văn hoá tốt đẹp vẫn được thế hệ con cháu dân tộc Mường gìn giữ và bảo tồn Dân tộc Mường là dân tộc rất đoàn kết, yêu thương nhau, họ là những người thật thà, chất phác Xã hội Mường ngày nay vẫn là một tổ chức quy củ với những vị trí, cấp bậc khác nhau Tầng lớp được kính trọng nhất là thầy cúng, thầy mo

và các cụ lớn tuổi, đây được coi là những con người còn giữ được những nét văn hoá truyền thống của dân tộc

Trong xã hội phát triển nhanh như hiện nay thì vai trò của những người lớn tuổi, của các thầy mo, thầy cúng trong xã hội Mường ngày càng quan trọng với việc giữ gìn, bảo tồn, phát huy văn hoá Mường, đặc biệt là văn hoá truyền thống của người Mường, là những bảo tồn lâu đời của dân Lạc- Việt Bảo tồn được văn hoá Mường chính là bảo tồn được những nét văn hóa cổ xa của dân tộc, làm cho kho tàng văn hoá Việt thêm phong phú và sâu sắc

Về đời sống văn hóa

Trang 29

Hòa Bình là một tỉnh miền núi có nền "Văn hoá Hoà Bình" nổi tiếng -

cái nôi văn hoá của người Việt cổ, là vùng sử thi huyền thoại Đẻ đất đẻ nước

(Mo Mường), là miền đất âm vang tiếng cồng, tiếng chiêng, vùng của những

lễ hội giầu bản sắc dân tộc Tây Bắc, của kho tàng phong phú về văn nghệ dân gian các dân tộc: Mường, Dao Thái, Mông Là quê hương của những làn

điệu dân ca "ngọt như mật ong, trong như dòng suối"; những trường ca,

truyện thơ đậm nét văn hóa dân tộc và chất nhân văn tinh tế

Phần lớn đồng bào Mường vẫn ở nhà sàn, uống rượu cần và có nhiều sinh hoạt văn hoá cộng đồng trên nhà sàn Truyền thống đạo đức gia đình giữ được những nét đẹp: Yêu trẻ, kính già, hiếu khách Người Mường vẫn giữ được những lễ hội cổ truyền: Hội xuân Xéc bùa, hội Xuống đồng, hội cầu

Ma, lễ Rửa lá lúa, lễ Cơm mới Trong các lễ hội không thể thiếu cồng chiêng

- một nhạc cụ gần như bất hủ của đồng bào Mường

Là một tộc người bản địa có cùng nguồn gốc xa xưa với người Kinh, sau khi phân hoá thành hai tộc người với đầy đủ yếu tố của từng dân tộc, người Mường tiếp tục lưu giữ và phát triển nền văn hoá của mình rất phong phú và độc đáo, đó là ngôn ngữ, phong tục tập quán, văn học nghệ thuật

Người Mường có phong tục tập quán “xôi đồ, nhà gác, nước vác, lợn thui, ngày lui, tháng tới”

Về kiến trúc nhà ở

Trang 30

Người Mường ở nhà sàn, nhà sàn Mường thấp và nhỏ hơn so với nhà sàn của người Tày, người Thái Kiến trúc đơn giản và thanh thoát Người Mường thờ tổ tiên, Thành Hoàng, Thánh Tản Viên, thờ Vua Mỡi, Thần bảo

hộ sự yên lành, thờ thổ công và một số thần khác, người mường có tục thờ cây, thờ đá

Về trang phục

Trang phục của người Mường kế thừa và phát triển lối trang phục thời Hùng Vương, ngày nay còn thấy biểu hiện rõ nét nhất ở trang phuc phụ nữ, nhất là phụ nữ quyền quý

Trang phục Mường khá độc đáo Nam giới mặc bộ quần áo cánh màu nâu, màu chàm dệt bằng bông sợi thô; phụ nữ đội khăn trắng hình chữ nhật nơi đỉnh đầu, mặc yếm và áo cánh ngắn thân có xẻ ngực, không cài cúc Váy Mường thả dài từ ngang vồng ngực xuống chấm gót chân làm tôn thêm vẻ mềm mại của người xứ núi Sự tinh sảo thể hiện ở cạp váy được dệt bằng tơ nhiều màu tạo ra những hoa văn hình học và những hình chim thú, rồng phượng cách điệu

Đồ trang sức gồm vàng, bạc đeo tay chạm trổ hình hoa leo, hình chữ chi chồng lên nhau, bộ dây xà tích 4 cạnh, cả quả đào, chùm vuốt hổ bọc bạc, tay đeo những hạt cườm bằng đá nhiều màu

Về ẩm thực

Người Mường xưa ăn xôi nếp, gặp mùa đói kém thì ăn cơm tẻ nhưng cũng ngâm đồ như cơm nếp Người Mường đặc biệt ưa chuộng các món ăn chua và đắng, món ăn đặc sản là cá đồ măng chua, canh đắng Họ biết làm rượu từ rất lâu, khi chưa biết chưng cất rượu thì thức uống chính của người Mường trong lúc vui là rượu cần Người ta đặt ra các luật uống để kéo dài thời gian vui chơi, ngày nay rượu cần được coi là đặc sản

Về lễ hội

Trang 31

Lễ hội lớn nhất và phổ biến nhất ở khắp Mường là lễ hội "Khuống mùa" (xuống đồng), lễ hội này chỉ tổ chức vào đầu năm mới, người ta rước Thánh Tản về miếu thờ, trên đường rước cũng nh khi đã hành lễ xong, người

ta vui chơ, ăn uống, ca hát, cồng chiêng đến tối mới tan hội Còn nhiều lễ hội khác như Hội làm thuỷ lợi, Lễ cầu ma, lễ Thành Hoàng cũng tổ chức vào dịp đầu năm Lễ mừng cơm mới, mừng nhà mới tổ chức ở phạm vi gia đình, có họ hàng, láng giềng đến dự

Lễ cưới

Lễ cưới người Mường tiến hành theo các bước tìm hiểu, ướm hỏi (kháo thiếp), sau lễ kháo thiếp là lễ ăn hỏi chính thức, sau lễ ăn hỏi là lễ "đi mòn", sau lễ đi mòn là lễ "đi cháu" Rể đến nhà bố mẹ vợ trong lễ này và họ hàng hai bên tổ chức ăn uống tại nhà gái Sau lễ đi cháu vài năm mới tổ chức đón dâu, lễ này cùng đi với cô dau về nhà chồng còn có đại diện bên nội, ngoại cô dâu rất đông đến vui ăn uống tại nhà trai Lễ cưới của người Mường thường tổ chức vào ban đêm Một đặc điểm hôn nhân của người Mường là phải sau lễ cưới một thời gian khá dài, đôi vợ chồng mới chính thức được cha

mẹ hai bên cho chung chăn gối, lúc đó nàng dâu mới ở hẳn bên nhà chồng để thực sự bắt tay vào xây dựng cuộc sống vợ chồng

Về tang lễ

Tang lễ người Mường nếu thực hiện đầy đủ phải mất 12 ngày đêm vì

nó là một chuỗi các nghi lễ phức tạp quy tụ nhiều loại hình văn hoá dân gian mang tính nhân bản sâu sắc

Văn học dân gian Mường rất phong phú đa dạng

MO MƯỜNG - Trường ca Đẻ đất đẻ nước dài hàng vạn câu thơ được

diễn xướng bằng nhiều khúc đoạn Toàn bộ Trường ca phản ánh quan niệm của người Mường về vũ trụ, con người; phản ánh lịch sử đấu tranh lâu dài gian khổ của con người trước thiên nhiên để tồn tại và phát triển

Trang 32

Truyện thơ dài có "Vườn hoa núi cối, "Hùng nga Hai mối", "út lót Hồ liêu", "Tràng đồng" Đó là những truyện thơ được người Mường yêu quý và nhiều người trong cộng đồng Việt Nam biết tới Truyện cổ, truyện ngụ ngôn, truyện cười, ca dao, tục ngữ, thành ngữ, vè, câu đối rất phong phú đã được tập hợp xuất bản ở nhiều đầu sách của Trung ương và địa phương

Về âm nhạc

Lối hát giao duyên, hát chúc hát mừng được thể hiện ở các hình thức hát "thường đang, "bộ mẹng", hát ví gồm hàng loạt bài thơ dài ngắn khác nhau được định hình từ lâu và ngày càng được sáng taọ, bổ sung Người Mường thường ví sự phong phú của thể loại văn học này là "Thường đang chín gánh bảy mùa" hát mãi không hết Sự phong phú đa dạng của văn hoá Mường đã đóng góp xứng đáng vào văn hoá dân gian Việt Nam

Về nhạc cụ

Nhạc cụ của người Mường gồm cồng, chiêng, cò ke, ống sáo, kèn gỗ, ống ôi, phỉ đôi, bòng beng, trống đồng, trống gỗ, đàn máng (đàn bầu), đàn tam, đàn tớ ính (đàn môi), kiểng, chũm choẹ

Về hoà tấu, có hai loại tấu: Dàn chiêng sắc bùa gồm từ 6 đến 12 chiếc chiêng to và dàn nhạc cò ke ống sáo Hoà tấu chiêng thường vào các dịp tết, ngày vui Người Mường coi chiêng là vật gia bảo, là sự giàu có thịnh vượng Độc tấu sáo ôi thường được tấu lên trong khung cảnh đêm trăng thanh vắng

để gọi bạn tình

Nghệ thuật

Nghệ thuật múa có múa "quạt ma" là điệu múa của các nàng dâu trong đám tang với ý nghĩa là quạt hầu cho hồn người quá cố Điệu múa này có trang phục lộng lẫy và trang sức rất đẹp mắt Ngoài ra còn có múa tế lễ vật cũng thực hành trong lễ tang, múa tế cờ thực hành trong giờ phút trước khi ra trận

Các trò chơi dân gian

Trò chơi dân gian là một bộ phận quan trọng trong văn hoá Mường Người lớn có trò chơi ném còn, chơi đu, bắn nỏ, bắn súng hoả mai thường

Trang 33

diễn ra trong các dịp lễ hội Phong phú nhất là các trò chơi của trẻ em, đó là các trò như đánh mảng, đánh cắt, đánh chò rất độc đáo, khoẻ khoắn lôi cuốn nhiều trẻ em tham gia Những trò chơi gắn với đồng giao như "chằn chỉ, chằn chăn", trò "đập boồng boông" Trò chơi dân gian góp phần vào sự phát triển toàn diện của trẻ em, do đó nó không thể thiếu vắng trong đời sống văn hoá của người Mường

Tôn giáo - Tín ngưỡng

Trước cách mạng tháng Tám (1945), một số ít người Mường ở Hòa

Bình theo Thiên chúa giáo, Do bị lang đạo áp bức, họ đã dựa vào cha cố và

cuối cùng họ đã theo Thiên chúa giáo Lòng tin của họ đối với Thiên chúa giáo không sâu sắc lắm Ở nhiều nơi tín đồ của Thiên chúa giáo vừa đi nhà thơ cầu kinh, vừa đón thầy mo về nhà làm ma, cúng vía Từ sau cách mạng

tháng Tám, chế độ lang đạo bị đánh đổ, nên lòng tin đối với Thiên chúa giáo

của đồng bào Mường cũng nhạt dần

Ở Hòa Bình xưa kia cũng có chùa, nhưng chùa không phải để thờ Phật Thích Ca Mầu Ni hay Phật Bà Quan âm, mà để thờ bà chúa rừng

Người Mường tin rằng người ta sau khi chết đi đều thành ma Họ cho rằng ở bên kia thế giới mỗi khi đói khát, ma có thể về quấy con cháu, làm cho con cháu đau ốm rồi phải cúng cho ma ăn

Các làng xóm Mường thường có đình thờ Thành hoàng, Thành hoàng làng thường là những người có công khai phá ruộng nương, dắt dẫn nhân dân làm ăn, sản xuất Ngoài Thành hoàng, người Mường còn thờ thần Tản Viên

Ở nơi này hay nơi khác, người Mường còn thờ thần Đá, thần Cây

Tục thờ Thổ Công rất phổ biến trong đồng bào Mường ở Hòa Bình Người Mường tin rằng dưới thế giới mà mọi người đang sống, còn có một thế

giới khác là âm phủ thường được gọi là mường pưa tỉn (mường Ma) Ở mường Pưa tỉn cũng có một hệ thống cai trị y như trên trần gian Đừng đầu

cai quản từng khu đất có thổ công, Mỗi mường to có thổ công to, mường nhỏ

Trang 34

có thổ công nhỏ và mỗi nhà có thổ công nhà, cho nên mỗi một nhà thường có một nhà thờ thổ công

Tôn giáo của người Mường rất phức tạp, song lại không sâu sắc Đó cũng chính là một trong những nguyên nhân khiến cho nhân dân dế tiếp thu những tư tưởng cách mạng của Đảng

Như vậy, tựu chung lại, văn hoá Mường đã góp phần xứng đáng vào sự phong phú, đa dạng và thống nhất của nền văn hoá Việt Nam

Hiện nay, thực hiện chương trình Thực hiện Nghị quyết Trung ương 5

khoá VIII về “Xây dựng và phát triển nền văn hoá Việt Nam tiên tiến, đậm

dà bản sức dân tộc” và Chương trình hành động số 341/CT-TU của Tỉnh uỷ

Hoà Bình về thực hiện Kết luận Hội nghị lần thứ 10 Ban chấp hành Trung ương Đảng khoá IX, trong giai đoạn 2005-2009, được sự quan tâm, lãnh đạo của Tỉnh ủy, HĐND, UBND tỉnh cùng sự phối hợp hiệu quả trong công tác chỉ đạo, tổ chức thực hiện của các cấp uỷ Đảng, chính quyền, các sở, ban, ngành, đoàn thể, LLVT trong tỉnh, phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa” nói chung, phong trào xây dựng cơ quan, đơn vị,

trường học văn hóa ở tỉnh Hòa Bình đã thu được kết quả khả quan [32; 04]

Như vậy, tỉnh Hòa Bình đã và đang tiếp tục phát huy thế mạnh của mình để thực hiện tốt chương trình nêu trên và tiến tới xây dựng nền văn hóa mang đậm nét của dân tộc Mường

1.2.2 Khái quát về Mo Mường ở tỉnh Hòa Bình

Mo Mường là nét văn hóa đặc sắc có từ lâu đời trong đời sống người Mường Hòa Bình Hiện nay Mo Mường ở tỉnh Hòa Bình đã được sưu tầm và biên soạn thành một ấn phẩm với 1375 trang, phiên âm tiếng Mường và dịch nghĩa ra tiếng Việt Trong đó gồm 140 cát mo dài ngắn khác nhau của 4 tiểu

loại mo chính, đó là: mo kể chuyện, mo nhòm, mo cuổi lìa và mo nghi lễ

Mo Mường tuy khá rộng về nội dung, nhưng cũng có không ít những

dị bản ở mỗi vùng Mường khác nhau ở các tỉnh khác có người Mường sinh

Trang 35

sống (như người Mường ở Thanh Hóa, Sơn La) Mo Mường ở Hòa Bình có cốt cách riêng, cổ xưa hơn và độc đáo hơn, nội dung chưa bị thêu dệt nhiều Tuy ngắn gọn, ít bay bổng nhưng yếu tố sử thi thần thoại hiện diện đậm nét hơn, phản ánh đầy đủ và khúc triết hơn về văn hóa Mường nói chung Do vậy, có thể lấy Mo ở Hòa Bình để giới thiệu mang tính đại diện cho các vùng Mường khác trên đất Việt Nam

“Trong suốt chiều dài lịch sử dựng nước và giữ nước, các thế hệ cha ông trên mảnh đất Hòa Bình đã sáng tạo, chắt lọc và để lại cho thế hệ hôm nay một kho tàng di sản phong phú và đặc sắc Ngay từ thời tiền sử, Hòa Bình đã là “cái nôi” của nền văn hóa đồ đá - nền “văn hóa Hòa Bình” nổi

tiếng trong khu vực và trên thế giới” [17; 16]

Mo Mường ở Hòa Bình về mặt nội dung cơ bản được giới thiệu trong

12 đêm mo ở Mường Bi

Mo Mường ở Hòa Bình có khoảng 19 lễ thức, gồm: Tống trùng, Tần tịch, Mở nài, Cúng thần kẹ, Đạp ma, Gọi Mo dậy, Dâng ăn, Nhìn họ, Lên trời

- xuống đất, Mo kể chuyện, Mo trống đồng, Mo Trâu, Mo nhà xe, Chia cắt chia lìa, Về rừng, Chia của, Lấp cửa nhà, Nộp lược kéo, Bỏ tang

Trong quá trình so sánh với Mo vùng Thanh Hóa có 13 lễ thức, Mo vùng Thanh Sơn (Phú Thọ) có 6 lễ thức, xem xét sự trùng lặp giữa các vùng, việc đáp ứng theo thiết chế lễ thức có trong quan niệm Mường và cả thực tế ngày nay Mo đang vận hành, có thể xác định nghi lễ mo gồm 14 lễ thức cơ bản như sau:

1 Tôống Tlùng (Tống trùng)

2 Kẹ (Cúng thần Kẹ)

3 Tạp ma (Đạp ma)

4 Nhương ăn (Dâng ăn)

5 Dâậl mo (Gọi Mo dậy)

6 Nhìn họ (Nhìn họ)

Trang 36

7 Mo lêng tlời - thuống tất (Mo lên trời - xuống đât)

8 Mo tlêu (Mo kể chuyện)

Kết luận chương 1

Mo Mường là một hiện tượng văn hóa đặc sắc của người Mường đã được bồi đắp, gìn giữ từ lâu đời Mo Mường tích hợp trong nó nhiều loại hình văn học nghệ thuật thuộc nhiều thành tố văn hóa dân gian như: tôn giáo tín ngưỡng, phong tục tập quán, văn chương, nghệ thuật, âm nhạc, lễ hội Đồng thời, thông qua mo mà nhiều mặt trong đời sống văn hóa dân tộc cũng chịu ảnh hường như: lối sống, tư duy, phong cách, tư tưởng

Trang 37

Mo Mường được truyền dạy từ thế hệ này sang thế hệ khác, đồng thời được sáng tạo không ngừng cùng với tiến trình phát triển của dân tộc Trên thực tế, Mo Mường được coi là di sản văn hóa phi vật thể “đang sống” và là biểu đạt sống do tổ tiên ông cha truyền lại cho con cháu Ngày nay, Mo Mường đang được khôi phục và gìn giữ như một “bảo vật” vô hình của người Mường ở Hòa Bình Với vai trò thực tiễn của nó, Mo Mường đang dần “sống lại” và sẽ tiếp tục gắn bó với đời sống văn hóa tinh thần cũng như thực tiễn của đồng bào dân tộc Mường trên mảnh đất Hòa Bình

Trang 38

Chương 2

QUAN NIỆM VỀ CON NGƯỜI VÀ CUỘC SỐNG

CON NGƯỜI TRONG MO MƯỜNG Ở TỈNH HÒA BÌNH

2.1 Quan niệm về con người trong tư tưởng triết học

Vấn đề con người: nguồn gốc, bản chất con người luôn là vấn đề xuyên suốt của Triết học qua mọi thời kỳ Ngay từ thời cổ đại, con người đã

đề cập đến vấn đề nghiên cứu con người, tức lấy con nguời làm đối tượng nghiên cứu Việc chuyển hướng nghiên cứu con người một mặt thể hiện vai trò của con người đối với sự phát triển của xã hội, mặt khác thể hiện sự phát triển của nhận thức con người Tuy nhiên, con nguời - vốn là một thực thể hết sức phức tạp, vì thế các công trình nghiên cứu về nó thời cổ, trung đại, trên thực tế chưa phải là những khám phá có tính chất đầy đủ và khoa học

về con người Thậm chí có nhiều quan điểm hoặc là thô thiễn hoá con người, hoặc là thần thánh hoá con người - cả hai đều không hiểu đúng bản chất của con người

Các nhà nghiên cứu đã chỉ ra rằng một trong những hạn chế của các công trình nghiên cứu con người trước đây cũng cần phải nói đến đó là chỉ chú

ý con người dưới khía cạnh sinh học, chưa chú ý con người xã hội, con người chính trị, con người trong các mối quan hệ hết sức phức tạp của nó với những lợi ích, nhu cầu, con người văn hoá, con người - động lực của sự phát triển

Con người không phải là một sản phẩm của thượng đế, bất biến Lịch

sử phát triển của xã hội loài người từ trình độ thấp đến trình độ cao, từ mông muội đến văn minh , cũng chính là lịch sử phát triển của con người với tư

cách là Loài Vì thế, các công trình nghiên cứu về con người, tất yếu cũng

phải có tính chất dự báo, nghiên cứu xu hướng vận động, phát triển của nó trong mối quan hệ tương tác vừa là nguyên nhân, động lực vừa là nhân tố bị tác động của sự phát triển của xã hội Dễ hiểu khi các công trình nghiên cứu

Trang 39

về con người đã có chưa theo kịp, chưa phán ánh kịp diện mạo của con người thời nay cũng như chưa giải thích được các vấn đề thuộc về bản chất của con người dưới ánh sáng của tư duy khoa học mới Sự lạc hậu của các công trình nghiên cứu về con người đã đến lúc được nhận diện, bởi vì sự lạc hậu đó không chỉ đơn giản là con người ngày càng không hiểu biết chính mình, mà quan trọng hơn, sự không hiểu biết đó đã cản trở đến sự phát triển của mỗi quốc gia cũng như sự phát triển bền vững của cả nhân loại

2.1.1 Quan niệm về con người trong triết học trước Mác

Ngay từ xa xưa, con người đã nhận ra rằng, nghiên cứu con người, tìm hiểu về con người là một nội dung quan trọng mà tư duy con ngưòi cần làm

rõ Từ thời cổ đại, Xôcrat đã viết: “con người hãy nhận thức chính mình”

Những vấn đề muôn thủa như: Thế giới mà con người đang sống là gì? Con người do đâu mà có? Bản chất của con người là gì? Con người có giáo dục được không, có nhận thức được thế giới không? Con người có vai trò gì với thế giới xung quanh? Có hay không có cuộc sống khi con người đã chết? đã được các trường phái tư tuởng, triết học nghiên cứu, trả lời

2.1.1.1 Quan niệm về con người trong triết học phương Đông

Từ thời kỳ cổ đại, các trường phái triết học đều tìm cách lý giải vấn đề bản chất con người, quan hệ giữa con người đối với thế giới xung quanh Các trường phái triết học - tôn giáo phương Đông như Phật giáo, Hồi giáo nhận thức bản chất con người trên cơ sở thế giới quan duy tâm, thần bí hoặc nhị nguyên luận Trong triết học Phật giáo, con người là sự kết hợp giữa danh và sắc (vật chất và tinh thần) Đời sống con người trên trần thế chỉ là ảo giác, hư vô Vì vậy, cuộc đời con người khi còn sống chỉ là sống gửi, là tạm

bợ Cuộc sống vĩnh cửu là phải hướng tới cõi Niết bàn, nơi tinh thần con người được giải thoát để trở thành bất diệt

Trong triết học phương Đông, với sự chi phối bởi thế giới quan duy tâm hoặc duy vật chất phác, biểu hiện trong tư tưởng Nho giáo, Lão giáo,

Trang 40

quan niệm về bản chất con người cũng thể hiện một cách phong phú và thường gắn với “thiên mệnh”

Có thể nói rằng, với nhiều hệ thống triết học khác nhau, triết học phương Đông biểu hiện tính da dạng và phong phú, thiên về vấn đề con người trong mối quan hệ chính trị, đạo đức Nhìn chung, con người trong triết học phương Đông biểu hiện yếu tố duy tâm, có pha trộn tính chất duy vật chất phác ngây thơ trong mối quan hệ với tự nhiên và xã hội

2.1.1.2 Quan niệm về con người trong triết học phương Tây trước Mác

Triết học phương Tây trước Mác biểu hiện nhiều quan niệm khác nhau

về con người:

Các trường phái triết học tôn giáo phương Tây, đặc biệt là Kitô giáo, nhận thức vấn đề con người trên cơ sở thế giới quan duy tâm, thần bí Theo Kitô giáo, cuộc sống con người do đấng tối cao an bài, sắp đặt Con người về bản chất là kẻ có tội Con người gồm hai phần: thể xác và linh hồn Thể xác

sẽ mất đi nhưng linh hồn thì tồn tại vĩnh cửu Linh hồn là giá trị cao nhất trong con người Vì vậy, phải thường xuyên chăm sóc phần linh hồn để hướng đến Thiên đường vĩnh cửu

Trong triết học cổ điển Đức, những nhà triết học nổi tiếng như Cantơ, Hêghen đã phát triển quan niệm về con người theo khuynh hướng chủ nghĩa duy tâm Hêghen, với cách nhìn của một nhà duy tâm khách quan, thông qua

sự vận động của “ý niệm tuyệt đối”, đã cho rằng, con người là hiện thân của

“ý niệm tuyệt đối”

Có thể khái quát rằng, các quan niệm về con người trong triết học trước Mác, dù là đứng trên nền tảng thế giới quan duy tâm, nhị nguyên luận hoặc duy vật siêu hình, đều không phản ánh đúng bản chất con người Nhìn chung, các quan niệm trên đều xem xét con người một cách trừu tượng, tuyệt đối hoá mặt tinh thần hoặc thể xác con người, tuyệt đối hoá mặt tự nhiên - sinh học mà không thấy mặt xã hội trong đời sống con người Tuy vậy, một

Ngày đăng: 22/12/2014, 09:26

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Vương Anh, Hoàng Anh Nhân (1975), Đẻ đất đẻ nước (song ngữ Mường - Việt), Nxb Ty Văn hóa Thanh Hóa Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đẻ đất đẻ nước (song ngữ Mường - Việt)
Tác giả: Vương Anh, Hoàng Anh Nhân
Nhà XB: Nxb Ty Văn hóa Thanh Hóa
Năm: 1975
2. Đinh Ân (1986), Đang Vần Va, Nxb Văn hóa, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đang Vần Va
Tác giả: Đinh Ân
Nhà XB: Nxb Văn hóa
Năm: 1986
3. Đinh Ân (1999), Mo Voái, Nxb Văn hóa dân tộc, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mo Voái
Tác giả: Đinh Ân
Nhà XB: Nxb Văn hóa dân tộc
Năm: 1999
4. Ban Văn học Việt Nam (2004), Đẻ đất đẻ nước, Nxb Văn học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đẻ đất đẻ nước
Tác giả: Ban Văn học Việt Nam
Nhà XB: Nxb Văn học
Năm: 2004
5. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2009), Giáo trình Đường lối cách mạng của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Đường lối cách mạng của Đảng Cộng sản Việt Nam
Tác giả: Bộ Giáo dục và Đào tạo
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 2009
6. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2010), Giáo trình Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam
Tác giả: Bộ Giáo dục và Đào tạo
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 2010
7. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2007), Giáo trình Triết học Mác - Lênin, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Triết học Mác - Lênin
Tác giả: Bộ Giáo dục và Đào tạo
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 2007
8. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2010), Giáo trình Tư tưởng Hồ Chí Minh, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Tư tưởng Hồ Chí Minh
Tác giả: Bộ Giáo dục và Đào tạo
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 2010
9. Đại Việt sử kí toàn thư (1971), Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đại Việt sử kí toàn thư
Nhà XB: Nxb Khoa học xã hội
Năm: 1971
10. Đảng Cộng sản Việt Nam (1998), Nghị quyết Hội nghị BCH Trung ương 5, khóa VIII, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết Hội nghị BCH Trung ương 5, khóa VIII
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Hà Nội
Năm: 1998
11. Đảng Cộng sản Việt Nam (1996), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 1996
12. Đảng Cộng sản Việt Nam (2001), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 2001
13. Đảng Cộng sản Việt Nam (2006), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 2006
14. Đảng Cộng sản Việt Nam (2011), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 2011
15. Nguyễn Thu Hằng (2003), Tang ma cổ truyền người Mường, Luận văn thạc sĩ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tang ma cổ truyền người Mường
Tác giả: Nguyễn Thu Hằng
Năm: 2003
16. Bùi Việt Hoa (2008), Sử thi Việt Nam - con cháu Mon Mân, Nxb Văn học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sử thi Việt Nam - con cháu Mon Mân
Tác giả: Bùi Việt Hoa
Nhà XB: Nxb Văn học
Năm: 2008
17. Bùi Văn Kín (1972), Góp phần tìm hiểu văn hóa Hòa Bình, Nxb Ty Văn hóa thông tin, Hòa Bình Sách, tạp chí
Tiêu đề: Góp phần tìm hiểu văn hóa Hòa Bình
Tác giả: Bùi Văn Kín
Nhà XB: Nxb Ty Văn hóa thông tin
Năm: 1972
18. Trương Sĩ Hùng, Bùi Thiện (1995), Vốn cổ văn hóa Việt Nam, Nxb Sở Văn Hóa - Thông tin tỉnh Hòa Bình, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vốn cổ văn hóa Việt Nam
Tác giả: Trương Sĩ Hùng, Bùi Thiện
Nhà XB: Nxb Sở Văn Hóa - Thông tin tỉnh Hòa Bình
Năm: 1995
19. Bùi Văn Kín (1972), Góp phần tìm hiểu tỉnh Hòa Bình, Nxb Văn hóa Thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Góp phần tìm hiểu tỉnh Hòa Bình
Tác giả: Bùi Văn Kín
Nhà XB: Nxb Văn hóa Thông tin
Năm: 1972
20. Đặng Văn Lung (1996), Mo Mường và nghi lễ tang ma, Nxb Văn hóa dân tộc, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mo Mường và nghi lễ tang ma
Tác giả: Đặng Văn Lung
Nhà XB: Nxb Văn hóa dân tộc
Năm: 1996

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình thức của nghi lễ thực hiện bằng Mo - vấn đề con người trong mo mường ở tỉnh hòa bình
Hình th ức của nghi lễ thực hiện bằng Mo (Trang 20)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w