1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Giáo trình độc chất học

31 306 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 31
Dung lượng 150 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tài liệu này dành cho sinh viên, giảng viên viên khối ngành y dược tham khảo và học tập để có những bài học bổ ích hơn, bổ trợ cho việc tìm kiếm tài liệu, giáo án, giáo trình, bài giảng các môn học khối ngành y dược

Trang 1

Nguyên tắc chung: Những độc chất và đầu độc.

+ Chất độc là chất tác động trong cơ thể con ngời về mặt hóa học, sinh lý, nguyên nhân trong liều độc nhất định, gây rối loạn chức năng, nó có thể gây nên

ốm hoặc chết Trong thực tế (nh muối natri) không có tác dụng trong điều trị cũng không phải là nguyên nhân, nhng gây độc nếu số lợng sử dụng vợt quá hoặc nó có sẵn trong cơ thể Nguyên nhân của trúng độc có thể nh: tai nạn, án mạng, tự tử, tự điều trị (phá thai), Iatrogenic

Phạm trù cuối cùng, thầy thuốc có thể liên quan trong vài trờng hợp nào

đó do thiếu thông tin về bệnh nhân Thí dụ có thể đã đợc nhắc lại về sự thất bại trong việc sử dụng thuốc gián đoạn với hiệu quả của những yếu tố phụ

Những chất sử dụng gây độc sau:

1 Những chất độc trong gia đình: Những chất tẩy rửa, chất tẩy uế, những chất

để cọ rửa, chất đánh bóng và một số chất khác

2 Những chất độc từ làm vờn hoặc nông nghiệp: thuốc trừ sâu, diệt côn trùng

3 Bảo quản thức ăn và những chất phụ gia

4 Những tác nhân trong điều trị: thuốc và những chất gây nghiện cả hai đã đợc mua và phát hiện ở gia đình

5 Những phòng xét nghiệm, cơ sở thơng mại, trờng học hoặc những tác nhân khác

Chất độc có thể vào cơ thể bằng đờng tiêu hóa, hít phải, hấp thụ qua đờng tiếp xúc hoặc vùng da bị tổn thơng hoặc đờng tiêm, ngấm vào đờng âm đạo, trực tràng hoặc bàng quang Sự tác động nhanh phụ thuộc vào phơng pháp trong sự

điều chỉnh và cũng có thể do tuổi, do hệ tim mạch, ngời trẻ, già hoặc ngời đang

ốm sẽ bị ảnh hởng nhiều hơn ngời khỏe Những hợp chất thông thờng không độc

nh nớc có thể gây độc nếu có số lợng lớn mà cơ thể không dung nạp đợc Đây là

Trang 2

khía cạnh quan trọng để cân nhắc, để đánh giá tiền sử lâm sàng và quá trình trong mỗi trờng hợp.

Bệnh xảy ra có thể từ sự thay đổi do mức độ của chất độc một ngời bị thay đổi do xơ vữa hệ mạch vành việc trao đổi oxy kém, nguyên nhân gây thiếu máu hơn ngời bệnh khác không bị bệnh mạch vành ở ngời khác nhau trong sự tác động của chất độc, những bệnh nhân ung th giai đoạn cuối hoặc nghiện ma túy nó tạo nên sự khủng khiếp về sự dung nạp opium và cần tới liều lợng có thể giết chết ngời bình thờng Những yếu tố khác nh sự mẫn cảm hoặc sự phát triển của thuốc, chống dị ứng, một khía cạnh khác về chất độc chứa trong chúng, những sự xuất hiện gây ảnh hởng đặc biệt tới từng cá thể Tuy nhiên nhiều tác

động bình thờng nó nằm trong quĩ đạo Y pháp, nhiệm vụ của họ là phải hỗ trợ

điều tra toàn bộ những cái chết do không phải là chết tự nhiên, chúng có thể do thuốc, những chất trong công nghiệp tạo nên chất độc gây nên tai nạn hoặc tự tử

1.1 Những nguyên tắc chung trong điều trị khi trúng độc:

Điều trị chống độc là một qui trình trong lâm sàng và toàn bộ những vấn

đề trong các trờng hợp của lâm sàng Mặc dù đã đợc nhấn mạnh, điều này không

có nghĩa rằng trong nhiều trờng hợp bằng con đờng cúng bái để thay thế Có nhiều trờng hợp về những vội vã trong sự điều hành nguyên nhân về thuốc giải

độc nguy hiểm hơn là sự nguy hiểm của chất độc, thí dụ chất alkali đợc dùng để rửa bên ngoài đã bị bắn (tung tóe) vào mắt với nó là chất axit yếu Tại trung tâm chống độc đã giới thiệu về việc đánh giá trong nhiều trờng hợp, khi đợc thông báo trong chơng trình phát thanh, truyền hình về nhiễm độc do đồ ăn uống không đợc ghi nhãn mác hoặc những câu hỏi đặt ra về trong thực phẩm đó có chất độc nào đó hoặc khi biểu hiện lâm sàng không chắc chắn để mà có phơng pháp điều trị đặc biệt Về khía cạnh khác, đây là vấn đề quan trọng để tránh khi

sử dụng trong những trờng hợp phát hiện thấy những dạng viên nén ở gần bệnh nhân cùng với việc mà bệnh nhân đã sử dụng Thờng nó ít đợc sử dụng nh ma túy đợc dùng thờng xuyên Điều này đợc nhấn mạnh nhiều trong thực tế rằng toàn bộ những điều trị ban đầu, phải dựa vào triệu chứng, mục tiêu về xu hớng của bệnh nhân vợt qua tình trạng cấp tính

Cơ sở những nguyên tắc cơ bản đợc áp dụng trong cấp cứu bệnh nhân nhiễm độc:

1 Phải duy trì đờng thông khí sạch sẽ (hút đờm, dãi, ), thuốc trợ tim

2 Hỗ trợ hô hấp và thở ôxy

3 Điều trị giảm đau và chống sốc

Trang 3

Điều rõ ràng trong lâm sàng, phần lớn những trờng hợp đang trong tình trạng suy sụp từ những nhóm triệu chứng chắn chắn nh hôn mê, co giật, thần kinh bị kích động Nguyên nhân do bị trúng độc “phải khám lâm sàng toàn diện, không đợc bỏ sót” bởi vì chất độc có thể tạo nên sự mẩn đỏ và có thể là nguyên nhân, quá trình của một số bệnh Với nguyên nhân này, phải sớm cấp cứu ngay lập tức, vì nó là đợc chẩn đoán tình trạng cấp tính Điều này nếu nguyên do

“trúng độc” bằng đờng ăn uống, phải rửa dạ dày, trừ khi chất ăn mòn (bỏng) tại mồm Đó luôn luôn là những ý kiến mâu thuẫn về có sự nguy hiểm với qui trình này, nhng trong vấn đề chung, việc thực hiện phải chuẩn bị một cách cẩn thận,

sự rủi ro sẽ lớn bằng sự quan sát kiểm tra chất hóa học khi rửa dạ dày (những chất này cần giữ lại), có thể nó là những thông tin hữu ích và trong qui trình, nó

có thể làm chậm lại sự hấp thu Điều này rất phù hợp với những trờng hợp ngộ

độc aspirin, babiturate và ngộ độc rợu Khi bệnh nhân nôn là chức năng biểu hiện tốt, nhng kể cả chất nôn là chất rửa dạ dày, nó cha chắc đã phù hợp với những chất đợc loại bỏ hết Đó cũng là những kinh nghiệm chung đợc phát hiện qua khám nghiệm thấy khối chất bột vùng môn vị sau khi đã rửa dạ dày Một qui trình sớm, chủ yếu là xét nghiệm nớc tiểu, đó là công việc khẩn trơng, thông th-ờng về kiểm tra chất hóa học bao gồm việc bổ sung của sắt III chloride trớc khi gửi mẫu đi xét nghiệm, cùng với chất chứa dạ dày hoặc chất rửa dạ dày và máu

để kiểm tra về sinh hóa (bao gồm những chất điện giải) Cùng với việc xác định thuốc (ma túy) nào đó cũng sẽ đợc yêu cầu, việc này rất quan trọng để hiểu biết

Trang 4

thể là dự định thay đổi bằng truyền máu hoặc chạy thận nhân tạo, phải chú ý chứng minh bị suy thận bằng theo dõi, số nớc vào và ra trong khi đó có sự phức tạp của tim (viêm cơ tim) có thể đã đợc chẩn đoán qua điện tâm đồ Đó là quá trình phù hợp để kiểm tra chất hóa học, nó có thể lặp lại trong máu qua phân tích Qui trình của việc chẩn đoán phù hợp khác phải có sự tính kỹ trong hoàn cảnh phù hợp.

1.2 Sự lựa chọn những mẫu xét nghiệm:

Những dấu hiệu về lâm sàng và những triệu chứng, toàn bộ những biểu hiện về tiền sử bởi yêu cầu của AUTOPSIE và kiến thức về giải phẫu bệnh

Khả năng tồn tại của một trong nhiều chất độc trong trờng hợp nào đó, trong hoàn cảnh nào đó có thể hoàn thành việc phân tích sẽ đợc thực hiện theo yêu cầu Số lợng mẫu cần xét nghiệm phải phân tích đầy đủ trong phạm vi giới hạn số lợng những trờng hợp đặc biệt Tuy nhiên cần sử dụng những kỹ thuật hiện đại, khi có sự kết hợp và hợp tác để làm giảm những vấn đề xảy ra trong trúng độc, cần phải có sự điều hành phù hợp Trong khi đó các mẫu phân tích cần phải đợc bảo quản trong nhiệt độ lạnh, đặc biệt các mẫu tổ chức để “bảo quản”

Những câu hỏi chung nh sau:

1 Cái gì đã thu thập đợc?

2 Thu thập đợc bao nhiêu?

3 Mẫu thu thập nh thế nào?

4 Sẽ làm gì với chúng?

1.3 Đã thu thập đợc cái gì?

Vấn đề gì về chất tự nhiên đặc biệt (nh: số lợng rợu Ethylic trong cơ thể hoặc bệnh nhân đa tới)? số lợng dịch trong cơ thể sử dụng đợc đánh giá bằng những mẫu máu, dịch, não tủy, nớc bọt, mồ hôi, nớc tiểu, chất chứa dạ dày và phân Chất phù hợp để kiểm tra đợc lựa chọn trên dữ kiện, thích hợp và có sự trao đổi với y pháp Tuy nhiên trong những trờng hợp đã đợc điều trị, kể cả việc lựa chọn vị trí thu thập có thể quan trọng Thí dụ máu đợc lấy ở tĩnh mạch, mao mạch hoặc động mạch Việc thu mẫu phải chính xác rõ ràng trên cơ sở cân nhắc, trong thời gian phù hợp rất quan trọng Ví dụ: mẫu lấy trong 24 giờ là nớc tiểu, chủ yếu với việc đánh giá thủy ngân (Hg) hoặc thời gian hôn mê cho lần cuối của nớc tiểu đối với rợu mà “lái xe sử dụng” Nếu thông tin đã đợc yêu cầu hoặc

sự hấp thụ gấp bội của mẫu xét nghiệm có thể cần thiết cho việc giải thích về giá

Trang 5

trị thực Sau đó trong những trờng hợp mẫu ngộ độc barbituric, những mẫu chất chứa dạ dày; máu ngoại biên, máu ở gan và nớc tiểu sẽ đợc hỗ trợ trong việc quyết định liều lợng tối thiểu qua đờng tiêu hóa, tuy nhiên nó đã bị hấp thu trong thời gian gây chết và loại barbiturate Những mẫu quan trọng khác có nguồn gốc

từ thu mẫu máu để đánh giá đờng huyết (sau chết) để đánh giá sự khác nhau giữa

số lợng đờng trong máu của tim phải, tim trái và do đó những mẫu hồn hợp là vô giá trị Toàn bộ những mẫu phân tích theo yêu cầu kiểm tra gồm những chất theo danh mục sau nó dễ bị tích lũy 20gr cũng nh 10gr, số lợng opium đợc lựa chọn Trong toàn bộ những trờng hợp phải tính toán trên trọng lợng cơ thể

1.4 Số lợng các chất cần lấy xét nghiệm:

1 Não 1/2 bán cầu (phần sau)

2 Phổi: toàn bộ 1 phổi

3 Tim: toàn bộ tim

4 Thận: 1/2 mỗi thận

5 Gan: 200-300gr

6 Bàng quang: Cả nớc tiểu bên trong

7 Dạ dày: toàn bộ dạ dày và chất chứa

8 Ruột: Toàn bộ đoạn Segment (Sigma đại tràng)

9 Túi mật: toàn bộ và chất chứa

10.Cơ: cơ liên sờn, cơ trơn (20gr)

11.Máu: 100ml

Mỗi mẫu xét nghiệm phải phân biệt nguồn gốc tới những ống nghiệm chứa phải sạch sẽ (có thể phải vô khuẩn) phải đậy kín, ghi rõ mẫu bằng những thông tin sau:

1 Tên và số lợng chất

2 Ngày tháng năm

3 Nơi lấy mẫu

4 Tên ngời lấy mẫu

5 Vài thông tin về yêu cầu kiểm tra (XN)

6 Định hớng của cấp cứu

Trang 6

Mẫu đợc chứng minh tiếp không chỉ giao nộp, mà phải viết thành 3 bản Nếu gửi bằng bu điện thì phải đợc ghi chép vào sổ sách Trớc khi gửi đi và sau khi nhận, nó phải đợc khóa trong dụng cụ chứa.

Điều nên làm, có thể chia tách các mẫu thành hai phần trớc khi kiểm tra

và giữ lại phần đã đợc đậy kín trong dụng cụ chứa cho lần sau nếu phải làm lại Trong thời gian phân tích (độc chất), phải chú ý mô tả tình trạng vật chất của mẫu Tất nhiên không cần nhấn mạnh công việc trên đã thực hiện Từ khía cạnh của giải phẫu bệnh trong việc quan sát không cần phải nhấn mạnh rằng mỗi phần của mỗi tổ chức đợc cố định về tổ chức học Những chuyên gia sẽ thực hiện phân tích phải dựa vào văn bản autopsie để bổ sung cho quá trình phân tích

Toàn bộ những quan sát đã thực hiện trực tiếp theo hớng mẫu bệnh phẩm của Y pháp Tuy nhiên về khía cạnh khác có thể phù hợp những dấu hiệu “chẩn

đoán của mẫu xét nghiệm” Mẫu này đợc kiểm tra trên cơ sở đối tợng bệnh nhân trong quá trình điều trị: Trong bệnh viện, thí dụ máu lấy từ bệnh nhân bị hôn mê

do CO hoặc máu từ hớng điều tra trong khía cạnh hớng tới ngộ độc bán cấp

Mặc dù sự xuất hiện khía cạnh của điều tra về lâm sàng, nó có thể liên quan tới luật pháp, điều mà không bao giờ đợc phép bỏ qua, cũng nh trong nhiều hoàn cảnh, nó có thể có giá trị cho việc chứng minh hoặc xác nhận những phát hiện do đợc yêu cầu sau đó Tuy nhiên phần mẫu xét nghiệm phải giữ lại và không đợc bỏ đi cho đến khi xác định chắc chắn và mẫu đó không cần thiết Đặc biệt có thể sử dụng chất rửa dạ dày, chất này thờng có những chất hỗn tạp của bệnh viện, mà ngời ta không biết về những liên quan của chất hồn tạp Mặt khác

có những khía cạnh phù hợp của những phân tích để chẩn đoán chính xác của những phơng pháp thay đổi phù hợp với những trờng hợp cấp tính Với bệnh nhân cũng đã có sự ng thuận cho kiểm tra để điều trị, nhng cũng có thể họ không

đồng ý nếu kết quả đó đợc chứng minh để chống lại họ và trong hoàn cảnh này cần phải giải thích

2 Chất ăn mòn:

2.1 Các chất ăn mòn:

Chất độc ăn mòn bắt đầu có hơn thế kỷ, giống nh phơng pháp tự phá hủy Một số trờng hợp ngời đã thấy nh bằng đờng ăn uống acid hydrochloric và acid sulfuric Một số trờng hợp vẫn xảy ra với chủ tâm sử dụng chất ăn mòn mà tạt vào mặt ngời khác làm biến dạng bộ mặt, với chủ tâm trả thù, những chất kích thích ăn mòn nh ammonia đã bị bắn ra vào nạn nhân Những vụ án thờng dùng acid mạnh và alkali để gây điếc, nhng có những trờng hợp đã bị chết do hậu quả

Trang 7

chủ tâm gây bỏng vùng mặt nh thuốc giặt, tẩy quần áo Tuy nhiên trong thực tế

do bị tai nạn khi bị vỡ các bình chứa acid hoặc nổ tung dụng cụ chứa

Những chất độc ăn mòn có thể chia ra 3 nhóm sau:

a Acid khoáng: acid hydrochloric, acid sulfuric, acid nitric

b Acid hữu cơ: a.acetic, a.oxalic, a.citric

c Alkali mạnh: ammonia, soda caustic, potash caustic

d Phenol

1 (a) những acid tác động tại chỗ của tổ chức và sự ảnh hởng của nó phụ thuộc vào độ mạnh hoặc pha loãng Chúng làm thay đổi haemoglobin tới đông vón protein bằng hình thái acid albuminate với tổ chức bị khử nớc, nó là nguyên nhân gây đổi màu thành màu nâu hoặc đen, khi sờ nắn thấy chắc

Nói chung, khi bằng đờng tiêu hóa nó gây bỏng mồm, môi, làm “chảy dịch” xuống cằm, mặt khác khó nuốt hoặc cảm giác buồn nôn Điều này có thể gây nôn dịch acid từ dạ dày

Trong thực tế đã xuất hiện: Sau khi chết, những biểu hiện không cần thiết vì acid mạnh còn tiếp tục tác động tiếp vào tổ chức sau một thời gian sau chết

Tất cả mọi trờng hợp sau khi uống acid gây hiện tợng đau trầm trọng và bỏng nặng

- Điều chú ý đặc biệt: Hỗn hợp của acid khá mạnh nó đã đợc sử dụng để gây chết các tổ chức của cơ thể

2.1.1 Hydrochloric acid (HCl):

học), sử dụng trong gia đình (cọ rửa WC )

thích Do đó trong thực tế nó nguy hiểm thờng gây tai nạn rủi ro, đặc biệt hơi bay trong không khí gây tổn thơng phức tạp hệ hô hấp, khi bốc hơi, nó gây nên tình trạng kích thích Tai nạn do giọt bắn vào có thể là nguyên nhân ăn mòn - bỏng giác mạc

4-18ml)

Trang 8

Chết: (4-24 giờ) do sốc, tổn thơng bên trong, trong một thời gian ngắn, muộn hơn gây tổn thơng phức tạp hệ hô hấp, nếu còn sống thì bị chấn thơng chít hẹp đờng hô hấp.

e Những xuất hiện sau chết: Hoại tử hệ tiết dịch và biểu mô sẽ tạo nên sản phẩm bẩn màu tro trắng, màu xám Đồng thời có thể gây chấn thơng thanh quản, thực quản và dạ dày sẽ biểu hiện dày lên, chảy máu với thay đổi trong thành phần máu, kể cả trớc và sau chết

2.1.2 Acid sulfuric (H 2 SO 4 ):

(Dầu của H 2 SO 4 )

a Nguồn gốc: Trong công nghiệp, các phòng xét nghiệm (bao gồm trờng học) accu- điện, nông nghiệp

b Đặc điểm: nhạt màu, ít mùi, dịch nhớt

c Liều chết: 3,5 - 7ml, tỷ lệ tử vong cao (33-36%)

Đặc trng lâm sàng: Gây kích thích nhẹ ở phổi, khi uống vào giống nh các acid khoáng khác Gây hậu quả bỏng trầm trọng trên da do bị tạt hoặc nổ vỡ bình

a Nguồn gốc: Trong công nghiệp, sử dụng trong gia đình, các phòng xét

nghiệm (bao gồm trờng học) tủ lạnh

b Đặc điểm: Dịch có vị hăng hăng, alkaline mạnh, kích thích dữ dội, ammonia

thể khí là một chất kích thích toàn bộ và là nguyên nhân co thắt thanh quản cấp tính

c Biểu hiện lâm sàng: Bằng đờng uống loại dịch ammonia biểu hiện ăn mòn đặc

biệt, phù nề toàn bộ niêm mạc dạ dày nhng không ăn mòn nh những acid mạnh và alkali

Trang 9

Triệu chứng nôn xảy ngay tức khắc và có thể liên quan tới những mảnh vụn niêm mạc và sự thay đổi trong máu Một đặc trng quan trọng là khó nuốt và khản tiếng do phù nề thanh môn.

- Liều chết: 4ml của ammonia dung dịch mạnh

- Chết: Nhanh nhất xảy ra trong 4-5 phút

- Biểu hiện sau chết: Loại thể hơi mạnh của ammonia xuất hiện ăn mòn đặc biệt với môi và phù nề toàn bộ niêm mạc Viêm khí phế quản và phù nề thanh môn cùng với phù phổi

2.1.4 Thu mẫu xét nghiệm độc:

Trong tất cả những chất ăn mòn dạ dày đã đợc rửa, chất nôn, đặc biệt khi nhiễm độc phenol, cần lấy máu và nớc tiểu Sau khi chết cần lấy chất chứa dạ dày, nớc tiểu và máu để xét nghiệm

Tổ chức của cơ thể phụ thuộc vào lợng oxy cung cấp phù hợp cho chức năng cơ thể Sự duy trì chức năng này phụ thuộc nhiều những tác động, bao gồm:

1 Sự toàn vẹn trung tâm hô hấp sẽ kích thích chức năng hô hấp

2 Hệ thống hô hấp mở cho không khí đi qua có chứa oxy tới những thành phế nang kề nhau để trao đổi

3 Oxy đi qua thành phế nang tới các mao mạch vách phế nang

4 Sự kết hợp của oxy với Hemoglobin tạo thành oxyhemoglobin

5 Sự tuần hoàn đầy đủ nó mang oxyhemoglobin trong tế bào hồng cầu ở phổi mang đến tim

6 Hệ thống tuần hoàn mang máu nuôi cơ thể thông qua hệ mao mạch nhỏ

7 Sự phân chia oxygen từ hemoglobin

Trang 10

8 Sự vận chuyển qua thành mao mạch nhỏ tới khe kẽ tổ chức.

9 Sự vận chuyển ở khe kẽ tổ chức tới thành của tế bào

10.Việc sử dụng bên trong tế bào cho hoạt động hô hấp nội bào

11.Trở lại bằng con đờng chính CO2 bằng con đờng thở ra

Toàn bộ chức năng phải phù hợp và phù hợp sự hô hấp tế bào là cần thiết trong quá trình chuyển hóa, do sự tắc nghẽn ở mức độ nào đó có thể là hậu quả

về sự suy hô hấp tế bào

3.2 Thiếu oxy:

Trong một vài trờng hợp con ngời bị chết bởi suy sụp hệ thống tuần hoàn

do nguyên nhân thông thờng là thiếu oxy Trong khí tự nhiên thành phần chính

là methane và ethane, trong khi đó những bình chứa nhiên liệu chủ yếu chứa methane hoặc propane Những nhiên liệu có thể chứa lợng nhỏ những chất hóa học khác nh hydrocarbon homolugues, nhng chúng không chứa carbon monoxide nh than hoặc nhà máy khí (gas) Carbon monoxide có thể đợc hình thành khi sự chết cháy không hoàn toàn Tuy nhiên toàn bộ khí gas tự nó có thể giết chết bởi thiếu oxy Thí dụ một ngời để đầu vào khu vực chứa gas làm chất

đốt, chất đốt đợc biểu hiện khí có chứa oxy và ngời đó hít thở trong môi trờng

d-ới áp lực có ít hoặc mất oxy, ngời đó sẽ chết do bị mất oxy dd-ới tác dụng hợp chất hóa học Mặt khác khi ngời xuống vùng có áp suất hơi nặng hơn không khí và không hoặc bị thiếu oxy và ngời đó sẽ chết Dạng này khi autopsie biểu hiện dấu hiệu chung của thiếu oxy Dấu hiệu xanh tím ngón tay, móng tay khum, xác màu xanh tối có đốm xuất huyết trên da và trong các phủ tạng Đôi khi chảy máu dới nội tâm mạc ở tim Phù phổi thờng đợc phát hiện, nhng ở mức độ vừa phải, phủ tạng xung huyết máu màu tối Cần lấy mẫu xét nghiệm của bệnh nhân để phát hiện chất độc khí ở phổi bằng syringe chọc hút trong ngực, sau đó sử dụng bằng phơng pháp sắc ký để phát hiện tác nhân chất độc

3.3 ảnh hởng sự kích thích trực tiếp vào hệ hô hấp:

Khí gas thông thờng giống nh chlorine, fluorine, ammonia và ozone kích thích trực tiếp vào niêm mạc của đờng hô hấp, khi chúng tiếp xúc tạo thành acid hoặc base với nớc ở trong niêm mạc Hình thái của ozone oxygen và oxygen mới sinh Sau đó ảnh hởng chlorine giống nh sự phun của hệ hô hấp với acid hydrochloric và là nguyên nhân gây đau dữ dội và ho gây hậu quả ứ đọng huyết

và xung huyết và biểu hiện dịch phù Sự nguy hiểm cho bệnh nhân sẽ phát triển thành khối, phổi phù phải chú ý trong trờng hợp khí gas kích thích mạnh là

Trang 11

nguyên nhân cơ chế phản xạ gây nên ngừng thở và bệnh nhân bị tác động trực tiếp bởi chất hóa học.

Nếu phù phổi đã đợc điều trị, bệnh nhân có thể bị chết do viêm phổi thứ phát Nếu chết tức thì sẽ đợc khám nghiệm khác với giải phẫu bệnh, nó phụ thuộc vào tác nhân acid hoặc hợp chất Điều này đã đợc đề cập về tác nhân của những chất ăn mòn

Những nhóm chất độc dạng hơi nó tác động vào phổi khi hít phải và dẫn tới xơ phổi (bệnh bụi phổi) Chúng do hậu quả của nghề nghiệp hoặc chất hại trong công nghiệp và đa tới bụi silic phổi (bụi xi măng), bụi than, bụi amian, sợi bông, đá quý (hình thái đợc sử dụng trong phosphor của ánh sáng huỳnh quang) Phần lớn những chất tác động hình thái này biểu hiện phức tạp hoặc tiếp tục kéo dài gây nguy hiểm Tuy nhiên với beryllium biểu hiện ngắn đã đủ sinh ra hậu quả chết ngời

U hạt trên da có thể là hậu quả beryllium, nếu nó đợc cắt đờng vào hoặc nếu cục trên da bị cắt có chứa khối beryllium Một số chất xuất hiện những đặc

điểm nh tiêu bản (F298) Về khía cạnh khác đôi khi những trờng hợp của beryllium, nó có thể cần thiết về tác nhân bằng kết quả xét nghiệm

3.4 CO (carbon monoxide):

Carbon monoxide kết hợp với hemoglobin tạo thành carboxyhemoglobin Ngay từ khi carbon monoxide có ái lực với hemoglobin trên 200 lần với oxy

Tác động chính của carbon monoxide lấy mất oxy và không chứng minh

do carbon monoxide đơn độc, yếu tố quan trọng là không định mức đợc carboxyhemoglobin trong máu, nhng phần trăm của hemoglobin đã đợc ngăn ngừa lấy oxy Nguyên nhân phân tích đã đợc dẫn nh là phần trăm hemoglobin đã bão hòa với carbon monoxide Điều rõ ràng rằng 2g hemoglobin đã bão hòa với carbon monoxide ở bệnh nhân thiếu máu, ngời này chỉ có 4g% hemoglobin, trong điều kiện xấu hơn một ngời có cùng số lợng carboxyhemoglobin, nhng tổng số hemoglobin 16g% Việc sử dụng phần trăm bão hòa, phản ánh điều khác nhau trong điều quan trọng bởi quan hệ về thực tế số lợng carboxyhemoglobin trong tổng số hemoglobin có thể sử dụng đợc

Tuy nhiên, việc mất oxy ở tổ chức, điều phải nhớ rằng trong một số ngời trong chuyển hóa, họ có thể chịu đựng thiếu oxy tốt hơn những ngời khác Điều này giải thích tại sao một số ngời có thể vợt qua và sống cùng với mức độ carbon monoxide mà ở ngời khác sẽ chết

Trang 12

Phải thực hiện chứng minh ở những bệnh nhân thiếu máu, xơ vữa mạch vành, mạch não và bệnh phổi thì ít có khả năng chịu đựng khi thiếu oxy.

Đặc biệt ở tim, yếu tố an toàn đã bị loại bỏ bởi xơ vữa, không thể chịu

đựng ở mức 20% khi oxy giảm trong máu Mặc dù sự chết của bệnh nhân là hậu quả gây nhồi máu cơ tim do tai nạn

Khi xe cộ thải ra khí CO và điều này trong thực tế dùng để tự tử Nó cũng

là nguyên nhân tai nạn gây chết ở ngời ngồi trong gara đóng kín hoặc ngủ trong

xe hơi, xe tải khi xe vẫn nổ máy Dutra (1957) ông đã nghiên cứu về sự hoạt

động của xe động cơ và phát hiện 5 -10% khí thải bao gồm CO

Về cơ chế khác là sản phẩm của CO là quá trình đốt cháy không hoàn toàn của chất đốt có chứa than Thí dụ này khi gas hoặc dầu đốt cháy trong một phòng thông gió tồi Sự đốt của nhiên liệu sẽ tạo ra sản phẩm CO Đôi khi mức oxy giảm ở mức thấp, giúp cho sản phẩm CO và CO2 tăng lên và ngọn lửa sẽ tự tắt Nếu khí ở lò sởi, gas không cháy sẽ tiếp tục thoát ra CO Với sự điều chỉnh không phù hợp của ngọn lửa, sự đọng lại của bồ hóng hoặc carbon của dụng cụ nấu ăn hoặc bên cạnh, hoặc là đỉnh của ống khói cũng nh khí gas làm trong tủ lạnh Với việc xây dựng xảy ra khi có sự tồn đọng của carbon do lửa cháy không hoàn toàn và tạo nên CO

Toàn bộ mọi trờng hợp chết thể hiện trong máu chứa CO điều có thể không giải thích đợc, đặc biệt kiểm tra trong phòng cần phải thực hiện xét nghiệm

Nếu con ngời đợc tìm thấy từ môi trờng chứa CO, CO sẽ đợc phân tích từ

từ trong carboxyhemoglobin Nếu bệnh nhân đã đợc thở oxy hoặc một lợng oxy nhỏ để bổ sung nhiều kích thích hô hấp (bệnh nhân đợc thở oxy trong giai đoạn ngạt) Điều này làm tăng áp lực trong các phế nang của oxy và sự đi ra nhanh chóng của CO Nếu bệnh nhân biểu hiện dấu hiệu suy giảm chức năng não trầm trọng, tăng tỷ trọng oxy, tăng áp lực oxy, sự dẫn truyền thay đổi ra thân nhiệt Hệ tuần hoàn có COHb tạo nên màu đỏ tơi, đặc biệt này phụ thuộc vào phần (chỗ trũng) Mẫu máu màu đỏ tơi xuất hiện, nếu tỷ lệ phần trăm bão hòa của hemoglobin bão hòa đủ cao Điều này có tác dụng trong lâm sàng để xác định chẩn đoán cho bệnh nhân Máy sắc ký khí phát hiện lợng CO rất nhỏ nhng thấp hơn 10% thì cần xác định bằng quang phổ Khi khám nghiệm, máu cơ thể không thay đổi song màu đỏ nâu của oxyhemoglobin và nó biểu hiện việc phân tích CO

đã đợc thực hiện

Nếu bệnh nhân đã biểu hiện

Trang 13

trong khi chết, thì những biến đổi

sau chết là màu đỏ nhạt của máu, nó

CO thờng từ giữa 2-4% và trong khí quyển, lợng khí thải của xe cộ tới 19% mà không có triệu chứng gì

3.5 Carbon dioxide (CO 2 ):

Nhiễm độc với loại gas này thờng là hậu quả rối loạn sinh lý của cơ thể Loại gas này đợc hình thành trong phản ứng lên men, sự xuất hiện của các hạt trong thùng rác, hang hố hoặc khoang tàu và trong sự liên quan với CO (cháy) Hoàn cảnh tơng tự với gần môi trờng nớc, CO2 có thể thoát từ sự thay đổi trong

áp lực khí quyển Việc sử dụng CO2 của bình cứu hỏa hoặc đá khô trong điều kiện thông gió tồi cũng có liên quan (Gonzalez, Vance, Helpern và umberger, 1954) Có một số cuộc tranh luận sự chính xác về tiềm lực chất độc CO2 Những hậu quả tức thì có quan hệ thấp về nồng độ gây ngạt hoặc mất oxy Trong thực

tế, ngời ta thấy sự tích lũy CO2 bên trong cơ thể hoặc sự điều khiển của loại gas này với oxy, triệu chứng chắc chắn xảy ra Nhng phần lớn những trờng hợp nếu

CO2 tăng lên trong khí quyển, gây chết do thiếu oxy Sự tiếp tục mất ý thức của bệnh nhân có thể bị co giật và gây nên sự nghi ngờ chấn thơng do khi khám nghiệm Điều này phải xem xét phân tích bằng luật pháp trong mọi trờng hợp; khi khám nghiệm những chấn thơng do thiếu oxy Khi ở nồng độ cao gây ngạt

đột ngột đã đợc chú ý sự gục xuống đợc cứu thoát một ngời khi mức CO2 thấp

Trang 14

3.6 Arsenic (AS) - nguồn gốc:

Arsenic đợc phun vào quả, ngâm da cừu, thuốc diệt cỏ, thuốc trừ côn trùng, đánh bả chuột, giăng bẫy côn trùng Những thứ đó có thể làm ô nhiễm thức ăn hoặc đồ uống; dịch chuẩn bị cho đồ uống do sơ ý hoặc có thể bị lạm dụng cho mục đích tội phạm (vụ ông Chánh)

Arsenic trắng, Arsenic trioxide hoặc arsenious acid, là một trong các dạng chung gây án mạng, nhng ngày nay hiếm vì nó gây nhiễm độc bằng đờng tiêu hóa Nó gây nên hậu quả nghiêm trọng Dung dịch của fower hoặc dịch arsenicalis, dung dịch của arsenious acide đã đợc ngừng làm thuốc

Arsine (ASH3) là dạng khí gặp trong công nghiệp Đó là loại chất độc gây nên tan máu và theo Hunter (1936) nó là một trong những chất độc trong công nghiệp, nó có thể gây chết ngời ngay tức khắc Nó còn là loại chất độc bởi Scheele có màu xanh của giấy dán tờng vì nó là sản phẩm của Arsene bởi tác

động của mốc trên màu của giấy

3.6.1 Nguồn gốc tự nhiên:

- Đất: Arsenic có trong thành phần tự nhiên ở trong đất Điều này đã đợc ghi nhớ

khi khai quật đã đợc quyết định trong điều tra đã thấy nguyên cớ chất độc arsenic Những mẫu từ đất tại nơi chôn cất sẽ đợc lấy ở phía trên và dới quan tài

và đất ở vùng xung quanh quan tài Tại một tỉnh Cordoba Acgentina, nơi có nồng

độ cao của arsenic trong đất và trong nớc gây hậu quả bệnh nhiễm độc arsenic

địa phơng

- Nớc: Nớc sạch bị nhiễm bẩn arsenic từ công nghiệp hoặc nguồn gốc tự nhiên

có thể là nguyên nhân ngộ độc mạn tính

- Bia: Arsenic trong bia, bằng sự hiểu biết đáng tin cậy về nhiễm độc tại vùng

Manclester trong năm 1900-1901 đã có dấu vết chủ yếu sắt pyste (quặng sắt hoàng thiết) đã đợc sử dụng làm acide sulfuric, trong đó phải dùng glucose để nấu bia

- Tôm cua biển: Arsenic xảy ra trong tôm cua biển, ốc hến và cá COX (1925)

phát hiện hến - trai - sò chứa khoảng 2,7p.p.m hoặc 1/48grains của arsenious oxide cho mỗi Lb; giống nh 1/48 gram mỗi 1b Trong cá chim, nó là thức ăn chủ yếu cho sò, ốc Bằng phân tích chapman (1926) đã trình bày rằng trai, sò của nớc Anh chứa từ 3-10p.p.m arsenic và trai, sò của Bồ Đào Nha chứa arsenic gấp 10 lần Sự khó chịu của điều này thể hiện không có dấu hiệu “ốm” Arsenic còn chứa trong con vẹm, tôm hồng và cũng không đợc chú ý nó có khoảng từ 36 -119 p.p.m trong con vẹm và 36-174 p.p.m ở con tôm hồng và cũng không đợc

Trang 15

chú ý nó có khoảng từ 26-119p.p.m trong con vẹm và 36-174p.p.m ở con tôm hồng

3.6.2 Khói thuốc lá:

Đó là nguyên cớ về arsenic đợc biết là nguyên nhân của ung th da và phổi

Lý thuyết này là cơ sở đợc chứng minh arsenic trong thuốc lá khi hít vào bởi Remington (1927)

Vào khoảng 23% arsenic trong thuốc lá dễ bay hơi, nhng phần lớn còn lại trong tàn hoặc đầu mẩu của điếu thuốc hoặc xì gà Khói thuốc lá chứa từ 8,3 tới

50 p.p.m arsenic và hút thuốc lá thì xuất hiện nhiều hơn dạng hút bằng pip hoặc xì gà Hút thuốc lá chứa 3,3 tới 10,5mg/1ml và hút xì gà chứa 0,2-3mg/1ml

- Liều chết: Có thể 4grain As2O3, nhng chữa khỏi đã xảy ra sau khi ăn 10grain

Arsenious oxide hầu hết có vị nhạt (vị của kim loại nhẹ đã đợc mô tả và ít màu trong dung dịch, có thể không khơi dậy sự nghi ngờ của nạn nhân Vấn đề chính là ngời nhiễm độc có quan hệ không hòa tan, mặc dù hòa tan nhiều trong nớc sôi hơn nớc lạnh Nó có thể không hòa tan 100gr trong coca nóng, nhng uống nớc lạnh thì arsenious oxide sẽ lắng đọng

3.6.3 Sự hấp thu, phân phối và thải trừ Arsenic:

Arsenic đợc hấp thu qua niêm mạc đờng ruột Mặc dù sự nhiễm độc do hậu quả qua đờng tiêu hóa, đờng hít thở của loại arsenic hoặc arsine đôi khi bằng con đờng hấp thu; khi khói bụi xe cộ sẽ gây hấp thu qua da Arsenic đợc chứa

đựng ở gan, thận và xơng, nó phân phối trong cơ thể theo độc độ hấp thu giảm dần Trong nhiễm độc cấp do phần lớn arsenic tập trung ở gan và thận, nhng cũng phân phối vào trong tổ chức gây ngộ độc mạn tính (copeman và kamerman, 1940) Do arsenic phổ biến dạng thuốc trừ sâu và các chất hóa học trong nông nghiệp và gây hậu quả ô nhiễm thức ăn, nhiều ngời bình thờng có thể bài tiết số lợng nhỏ arsenic (tới 10àg/100ml) nớc tiểu

Chú ý: (1grain = 0,0648gr)

- Arsenic (AsH3) chiếm phần lớn hình thái độc của arsenic Đó là dạng khí màu nhạt, nó giống nh dạng hơi có mùi tỏi, khi acide tác động vào arsenic giống mẫu quặng sắt và trong qui trình nào đó, có hydro mới và arsenic trở thành dạng hoạt

động chính là arsine Dạng khí này gây độc khi ngời hít phải 30’ với nồng độ 1/4000 Nó gây hiện tợng tan huyết và ảnh hởng thờng chậm trễ, triệu chứng phụ thuộc vào liều lợng có thể không xuất hiện 6-36 giờ sau khi bị nhiễm (hít phải) Gây hiện tợng thiếu máu do bị tan huyết và gây tổn thơng gan và thận

Ngày đăng: 18/12/2014, 22:09

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình thái chết Tỷ lệ % - Giáo trình độc chất học
Hình th ái chết Tỷ lệ % (Trang 30)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w