ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘITRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN KHOA VĂN HỌC TIỂU LUẬN CUỐI KỲ MÔN: NHO GIÁO VÀ VĂN HỌC DÂN TỘC Đề: Từ quan niệm về đạo làm người trong Nho giáo đến qu
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
KHOA VĂN HỌC
TIỂU LUẬN CUỐI KỲ
MÔN: NHO GIÁO VÀ VĂN HỌC DÂN TỘC
Đề: Từ quan niệm về đạo làm người trong Nho giáo đến quan niệm về con người trong văn học trung đại Việt Nam
Giảng viên: GS.TS Trần Ngọc Vương
Hà Nội – 2014
Trang 2I ĐẶT VẤN ĐỀ
Maxim Gorky đã từng nói: “Văn học là nhân học”, không một tác phẩmnghệ thuật chân chính nào lại không hướng tới con người Như vậy, quanniệm nghệ thuật về con người trong văn học là một phạm trù vô cùng quantrọng Quan niệm về con người trong văn học chịu sự ảnh hưởng, chi phốibởi quan điểm thẩm mỹ của từng thời đoạn, trong những giai đoạn khácnhau thì quan niệm nghệ thuật về con người trong văn học cũng thay đổi.Nghiên cứu quan niệm nghệ thuật về con người trong văn học giúp địnhhướng chung cho các sáng tác của từng giai đoạn văn học nhất định
Một trong những điều có thể dễ dàng nhận thấy khi nghiên cứu văn họctrung đại Việt Nam là quan niệm nghệ thuật về con người hết sức đặc biệttrong văn học giai đoạn này, nó chịu sự chi phối mạnh mẽ của tư tưởngtriết học Nho giáo Trung Quốc Từ xưa đến nay, trong lịch sử nghiên cứuvăn học trung đại Việt Nam, đã có không ít các học giả danh tiếng bàn tớivấn đề quan niệm nghệ thuật về con người trong văn học trung đại Việt
Nam tiêu biểu như Giáo sư Trần Đình Sử trong sách Về con người cá nhân trong văn học cổ Việt Nam PGS.TS Trần Nho Thìn trong cuốn: Văn học Việt Nam thế kỉ X – XIX, và đặc biệt là GS Trần Ngọc Vương trong cuốn: Nhà nho tài tử và văn học Việt Nam… và rất nhiều các công trình nghiên
cứu có giá trị khác Tuy nhiên, trong các bài nghiên cứu của mình các nhànghiên cứu mới chỉ đi tổng kết và đánh giá chung về quan niệm con ngườitrong văn học mà chưa đi sâu vào việc giải thích rõ sự ảnh hưởng của tưtưởng triết học Nho giáo đến từng quan niệm nghệ thuật về con ngườitrong văn học trung đại Việt Nam Chính vì vậy, trong bài tiểu luân này,dựa trên các quan niệm nghệ thuật về con người mà các học giả đã tổng kếtngười viết sẽ đi sâu vào việc giải thích sự ảnh hưởng tư tưởng triết học Nhogiáo đến quan niệm nghệ thuật về con người, đồng thời cũng sẽ đưa rathêm một số tổng hợp mới của bản thân về một số đặc điểm, quan niệmnghệ thuật nghệ thuật về con người trong văn học trung đại Việt Nam
Trang 3II GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ
1 Tìm hiểu chung quan niệm nghệ thuật về con người trong văn học
Quan niệm nghệ thuật về con người trước hết là một phạm trù đã đượcnghiên cứu từ khá lâu, song đến nay vẫn chưa có một sự thống nhất nàotrong việc đưa ra một khái niệm cụ thể cho vấn đề này Tuy nhiên, ngườiviết có thể tổng kết được một số khái niệm được đưa ra bởi các học giả nổitiếng Giáo sư Trần Đình Sử cho rằng: “Quan niệm nghệ thuật về conngười là một cách cắt nghĩa, cách lý giải tầm hiểu biết, tầm đánh giá, tầmtrí tuệ, tầm nhìn, tầm cảm của nhà văn về con người” [9; 15] Như vậy, cónghĩa là quan niệm về con người chịu sự chi phối mạnh mẽ bởi ý thức chủquan của người sáng tác Quan niệm nghệ thuật về con người thể hiện cáchhiểu biết, cách suy nghĩ về con người của tác giả Tuy nhiên, cách hiểu biết
và suy nghĩ của tác giả lại chịu sự chi phối rất nhiều bởi tư tưởng của thờiđại, của môi trường sống, của nền giáo dục, văn hóa hay thậm chí là tínhcách của tác giả
Còn trong Từ điển thuật ngữ văn học thì định nghĩa: “Quan niệm nghệ
thuật về con người là hình thức bên trong, là hệ quy chiếu ẩn chìm trònhình thức tác phẩm Nó gắn với các phạm trù khác như phương pháp sángtác, phong cách của nhà văn, làm thành thước đo của hình thức văn hộc và
cơ sở của tư duy nghệ thuật” Dù nói thế nào đi chăng nữa thì các học giảvẫn đều thống nhất quan điểm quan niệm nghệ thuật về con người là cáchnhìn, cách cảm, cách lý giải về con người của nhà văn Qua đó nó thể hiệnquan niệm của nhà văn muốn thể hiện trong tác phẩm
Con người trong văn học là sự ý thức về con người, là cách hiểu về conngười và cuộc đời làm cơ sở cho việc sáng tạo ra các hình tượng nghệthuật, hòa tan trong sự miêu tả các hình tượng sống động Nhiệm vụ củangười nghiên cứu là vạch ra quan niệm ấy như cái lý bên trong của hìnhtượng Quan niệm con người trong văn học phong phú và sinh động hơnnhiều so với quan niệm con người trong triết học
Trang 42 Quan niệm về con người trong Nho giáo
Trong tư tưởng triết học Nho giáo quan niệm, trong xã hội có hai loạingười là tiểu nhân và quân tử Những con người sống thuần bằng bản năngnhư loài cầm thú, phàm phu, tục tử là những người hạ cấp xét về phươngdiện đạo đức phẩm cách Những kẻ này theo Nho giáo đều gọi là tiểu nhân,
dù những kẻ đó có giữ địa vị cao và giàu có trong xã hội đi chăng nữa Cònquân tử là người tiến hóa, biết khắc phục bản thân, hiểu mệnh trời, hiểuđạo lý và biết mệnh trời là gì Những đặc tính của kẻ tiểu nhân thì tươngphản rõ rệt với đặc tính của người quân tử, nhưng tiểu nhân và quân tửkhông phải là hai mặt đối lập nhau, không phải là cực đoan, mà quân tử làgiai đoạn tiến hóa của tiểu nhân Người quân tử thì chú trọng vào lễ nghĩa,luôn khuôn mình vào trong lễ nghĩa, luôn cư xử đúng mực, hiệp nghĩa.Người quan tử biết mục đích cao cả của kiếp người, biết cái thiên mệnh màtrời trao cho con người, nghĩa là biết cái viễn đích tối hậu của nhân sinh.Khi đề cập đến mẫu người quân tử, Khổng Tử thường đưa ra những tiêuchuẩn khác nhau, song chung quy lại, người quân tử phải đạt được chínđiều sau: (1) Nhìn thì phải để ý nhìn sao cho sáng; (2) Nghe thì phải lắngtai nghe cho rõ ràng; (3) Sắc mặt phải giữ cho ôn hòa; (4) Tướng mạo thìphải giữ cho khiêm cung; (5) Nói năng phải giữ bề trung thực; (6) Làmviệc phải trọng sự kính cẩn; (7) Có điều nghi hoặc thì phải hỏi han; (8) Khigiận thì nghĩ đến sự hoạn nạn có thể xảy ra; (9) Thấy lợi thì phải nghĩ tới
điều nghĩa” (Luận ngữ, Quý thị) Theo Khổng Tử, chín điều này phải có sự
hài hòa với nhau mà ông gọi là “trung dung” Để đạt được những điều này,trước hết người quân tử phải rèn luyện được 5 đức cơ bản: Nhân, Nghĩa,
Lễ, Trí, Tín Ngoài ra còn có Trung Thành, Hiếu, Đễ…
Vì Trí mà nên biết khôn ngoan, suy xét điều phải điều trái, biết minhtriết bảo thân trong cảnh nguy nan, biết biện biệt kẻ xấu người tốt trong vấn
đề xử lý tiếp vật
Vì Dũng nên không biết sợ sệt là gì Thấy việc nghĩa bèn ra tay hànhđộng Nếu đã hành động thì phải thiết thực chứ không chỉ ở lời nói suông
Trang 5Người quân tử hành động trượng nghĩa vì lẽ phải chứ không tính toánmong được đền ơn
Vì Lễ, người quân tử biết kìm chế giữ được hòa khí, hành xử ôn hòa.Trong việc Lễ, quý nhất là ở là ở lòng thành chứ không phải ở hình thức xahoa,“khắc kỉ phục lễ vi nhân” Phục lễ là nên tự chủ, không tranh chấp với
ai, tuy hợp quần với người nhưng không kéo kết bề đảng Người có lễ luôngiữ cho mình ở một chuẩn mực đạo đức ứng xử hài hóa, ôn nhu
Vì Trung, người quân tử giao du với bằng hữu thì hết lòng, làm việc chongười thì hết dạ Vì trung nên làm việc cho ai, phụng sự ai thì hết lòng,không dối trá, phản bội Nhưng cái trung đó không phải trung máy móc vàthiện cận (ngu trung) Trong đạo làm tôi, Khổng Tử đề cao chữ “Trung”,nhấn mạnh lòng biết ơn, sự phục tùng, tinh thần phục vụ hết lòng hết sứccủa bề tôi đối với vua, với quốc gia Theo ông, người làm tôi, làm quantrước hết phải là người có đức trong mọi hành động, có thái độ đúng ở mọinơi, mọi lúc, chứ không phải khi nhận chức tước mới là làm quan
Bậc quân tử vì chữ Tín mà hành xử Tín là tin mình, tin người Nhờ chữtín mà thành Người Vì tự tin vào mình nên dù ai không biết tài đức củamình cũng không buồn, không oán
Người quân tử cốt yếu ở lòng Thành Nhờ lòng thành ấy mà người khácmới tin mình Chữ Thành xuất phát từ tâm, từ sự chân thành, con ngườisống với nhau cần cái tâm trung thực chân thành chứ không phải là nhữngthứ đạo đức giả
Đã là quân tử, trước hết phải có chữ Hiếu, hiếu với phụ mẫu, Đễ với anhchị em Kính trọng, yêu mến tôn thờ cha mẹ lúc chết cũng như còn sống.Cái Đạo đối với anh chị em là mỗi người phải ăn ở đúng phận mình TrongNho giáo, hiếu đễ là đầu mối của lòng nhân, nếu ta chẳng yêu cha mẹ ta,chẳng tôn kính anh em ta mà bảo rằng yêu mến, tôn kính người khác thì đó
là điều không thể có
Khổng Tử là người đầu tiên nêu lên mối quan hệ giữa con người vớicon người, giữa “kỷ” (mình) và “nhân” (người) Với ông, nguyên tắc đối
Trang 6xử giữa người với người là xem người cũng như mình, cái gì mình khôngmuốn thì đừng làm cho người (thi chư kỷ nhi bất nguyên, diệc vật thì ưnhân), mình muốn làm nên thì giúp người làm nên, mình muốn thành đạtthì giúp người thành đạt (kỷ dục lập nhi lập nhân, kỷ dục đạt nhi đạt nhân).Với quan niệm về “kỷ” và “nhân” này, Khổng Tử đã khẳng định tư tưởngđạo đức coi trọng con người của Nho giáo Nguyên tắc thứ hai mà Khổng
Tử đề cao là “Trung dung”, “Trung hòa” “Trung hòa là cái tính tự nhiêncủa trời đất, trung dung là cái đức hạnh của người ta Trung là giữa, làkhông thiên lệch về bên nào Dung là thường Trung dung nghĩa là dùngđạo Trung làm lẽ sống thường ngày vậy” Nghĩa là đạo Trung dung đòi hỏicon người đừng thái quá về mình, cũng đừng thái quá về người Nó giốngnhư mối tương quan giữa “văn” và “chất”: “Chất mà trội hơn văn thì thôkệch, văn mà trội hơn chất thì phù phiếm, văn và chất đều hài hòa thì mới
là quân tử (Luận ngữ, Ung giã)
Với Nho giáo Nhân, Lễ, Nghĩa, Trí, Tín được đặt trong quan hệ của conngười với chính bản thân mình để tu thân, để trở thành người quân tử, cònchính danh là yêu cầu đạo đức được đặt ra trong quan hệ với người khác đểmỗi người thực hiện đúng việc, đúng phận sự của mình cho xã hội ổn định,phát triển Những quan niệm này của Nho giáo đến nay vẫn còn nguyên giátrị và có ý nghĩa thời sự của nó Mối quan hệ đạo đức và những quan niệm
về con người đó của Nho giáo đã ảnh hưởng mạnh mẽ đến quan niệm vềcon người trong các tác phẩm của văn học trung đại Việt Nam Các nhàNho khi sáng tác đều lấy chuẩn mực đạo đức của con người trong học cáchọc thuyết Nho giáo để nhìn nhận con người, làm chuẩn mực để đánh giátốt – xấu, chính – tà
3 Quan niệm nghệ thuật về con người trong văn học trung đại Việt Nam
Văn học trung đại Việt Nam kéo dài từ thế kỉ X-XIX, đây là thời kì màhầu hết các truyền thống quý báu đều được hình thành Văn học, ngôn ngữ
đã phát triển đến đỉnh cao Tâm hồn Việt Nam, nhân cách Việt Nam được
Trang 7khẳng định và được biểu hiện thành văn Bởi vậy, quan niệm nghệ thuật vềcon người trong văn học trung đại Việt Nam đã đạt đến một trình độ tư duycao, mang tính hệ thống Quan niệm nghệ thuật về con người trong văn họcgiai đoạn này ngoài chịu sự chi phối của bối cảnh lịch sử, thời đại, quanđiểm cá nhân của chủ thể sáng tác, tư tưởng Phật giáo… còn chịu sự ảnhhưởng mạnh mẽ bởi tư tưởng triết học Nho giáo của Trung Quốc Dưới sựchi phối của tư tưởng Nho giáo, con người trong văn học trung đại ViệtNam hiện lên là những con người không phải đơn thuần chỉ là con vật haichân mà trong cái sinh thể ấy luôn tiềm ẩn những thiên tính cao đẹp, toànthiện, toàn mỹ Những con người ấy được lấy làm chuẩn mực cho đạo đứccon người, là cơ sở để đánh giá và phân biệt các loại nguời trong xã hội.
II.1Con người đạo đức theo tư tưởng triết học Nho giáo
Các sáng tác của văn học trung đại Việt Nam phần lớn là của các bậcnhà Nho trí thức, những con người được xếp vào bậc quân tử, những conngười tinh thông và hiểu thấu đạo lý Nho học Chính vì vậy, trong các tácphẩm của mình họ luôn cố gắng xây dựng các mẫu hình tượng những conngười lý tưởng, noi gương theo các bậc thánh nhân, những con người làhiện thân của những nề nếp đạo lý làm người theo quan niệm triết học củaNho giáo
“Trai thời trung hiếu làm đầuGái thời tiết hạnh làm câu trau mình”
(Lục Vân Tiên – Nguyễn Đình Chiểu)Các nhân vật như Lục Vân Tiên và Kiều Nguyệt Nga trong truyện thơ
Lục Vân Tiên của Nguyễn Đình Chiểu được coi như một trong những mẫu
hình lý tưởng của trai anh hùng, gái thuyền quyên Nguyễn Đình Chiểunhư đưa ra lời tuyên ngôn cho chuẩn mực đạo đức của con người của thờiđại bấy giờ
Quan niệm nghệ thuật về con người trong sáng tác trên của NguyễnĐình Chiểu đã thể hiện sự ảnh hưởng sâu sắc bởi tư tưởng Nho giáo Trung
Trang 8hiếu là hai phạm trù vô cùng quan trọng của triết học Nho giáo Ngườiquân tử phải biết trung với vua, với nước và phải hiếu với cha mẹ Để thểhiện chữ chọn vẹn chữ Hiếu, Nguyễn Đình Chiểu đã để cho Lục Vân Tiênkhóc mẹ trên đường trở về chịu tang đến mù cả hai mắt Chữ hiếu dạy conngười trong cách ứng xử với cha mẹ, luôn tôn kính lúc sống cũng như khi
đã chết Kiều Nguyệt Nga thì vì chữ tiết hạnh mà thà nhảy xuống sông tựvẫn để giữ trọn lời thề với Lục Vân Tiên chứ nhất quyết không chịu lấyngười khác Nguyễn Đình Chiểu đã để cho các nhân vật chính của mìnhsống với đúng nề nếp và chuẩn mực đạo đức của Nho giáo Ngoài ra thìông cũng lấy những chuẩn mực đạo đức đó để đánh giá, phân biệt kẻ tốt,người xấu: Các nhân vật phản diện là những kẻ tiểu nhân, bỉ ổi như BùiKiệm, Trịnh Hâm… là những kẻ nhỏ mọn, đố kị, độc ác và không hiểu lễnghĩa là những kẻ đối nghịch lại hoàn toàn với những nhân vật được coi làchính nghĩa Như vậy, tiêu chuẩn để nói để phân biệt tiểu nhân hay quân tửtrước hết chính là dựa vào đạo đức
Hay trong Truyện Kiều của Nguyễn Du, dù cho nhiều nhà nghiên cứu
có đánh giá Nguyễn Du có tư tưởng tiến bộ khi nhìn nhận về con người đếnđâu đi chăng nữa thì Truyện Kiều vẫn được sáng tác theo quan niệm tưtưởng của Nho giáo Vì chữ hiếu, Kiều nhất định phải bán mình chuộc cha,chịu bi kịch mười lăm năm lưu lạc, từ bỏ mối tình đầu chớm nở Vì chữTrí, chữ Nghĩa mà Từ Hải đã nổi dậy chống lại triều đình phong kiếnnhũng nhiễu đem lại chính nghĩa cho nhân dân…
Nguyễn Trãi, vị anh hùng dân tộc, vào thế kỷ thứ XV, là một nhà quân
sự thiên tài, nhà chính trị lỗi lạc, một nhà văn hóa vĩ đại của dân tộc Trong
tác phẩm Gia huấn ca, ông đã đề cao đạo đức luân lí của con người trong
mối quan hệ giữa cá nhân, gia đình và xã hội Đạo hiếu được nhấn mạnhrất rõ:
“Dù nội ngoại bên nào cũng vậyĐừng tranh giành bên ấy, bên này
Cù Lao đội đức cao dày”
Trang 9Phải lo hiếu kính đêm ngày khăng khăng”
Còn phận làm con đối với cha mẹ thì:
“Khi ấm lạnh ta hầu săn sócXem cháo cơm thay thế mọi bề
Ra vào thăm hỏi từng khiNgười đà vô sự ta thì an tâm”
Nguyễn Trãi đề ra các chuẩn mực đạo đức trong mỗi quan hệ giữa conngười với những người khác cũng đều dựa theo quan niệm của Khổng Tử
Kẻ dưới luôn phải kính trọng bề trên Trong mối quan hệ ứng xử với giađình phải lấy chữ hiếu, chữ đễ làm đầu Con người luôn phải hòa thuận, ônnhu Dù sau này khi Nguyễn Trãi đã chán “thói nhà nho lạnh nhạt, tình đờibạc bẽo” [4, 371], “Thân ta bị cái mũ nhà nho lừa đã lâu” [4; 340], thì ôngvẫn không bỏ được các nguyên lý nho giáo là hai chữ “quân thân”: “Đạolàm con liễn đạo làm tôi” Nguyễn Trãi là người có ý thức về tài năng cánhân mình rất mạnh mẽ ông nói với cây tùng:
“Đấng lương tài có mấy bằng mày?
Nhà cả đòi phen chống khỏe thayCội rễ bên đời chẳng động
Tuyết sương thấy đã tặng nhiều ngày
Tuyết sương thấy đã tặng nhiều ngày
Có thuốc trường sinh càng khỏe thay
Hổ phách phục linh nhìn mới biếtDành còn để trợ dâu này”
(Tùng, Nguyễn Trãi)
Do vậy, nếu ẩn cư hoàn toàn thì ông đã đánh mất lẽ sống, là con ngườitrong thơ, Nguyễn Trãi hiện diện như một day dứt, một con người thaothức khôn nguôi của thời đại
Lê Thánh Tông là người hùng theo mẫu hình nho quân, trong thơ ôngcũng thể hiện điều đó:
Trang 10“Lòng vì thiên hạ những sơ âuThay việc trời dám trễ đâuTrống dời canh còn đọc sách, Chiêng xế bóng chửa thôi chầu”
(Tự thuật – Lê Thánh Tông)
Ông tận tâm, trau đức, sửa mình, giữ lễ phát triển đất nước toàn diện vàcũng rất mực phong lưu vận sự, noi gương các thánh nhân quân tử trongtriết học Nho giáo của các thế hệ trước
Còn trong sự nghiệp sáng tác của Nguyễn Nguyến, khi nói đến conngười trong mối quan hệ bằng hữu, tình bạn cũng được coi là một yếu tố đểđánh giá chuẩn mực đạo đức của con người Trong Khóc Dương Khuê,Nguyễn Khuyến đã thể hiện cảm xúc xót xa, đau đớn của mình khi nghe tinbạn mất, kể đến những kỉ niệm mà khiến cho người đọc phải nghĩ đếnnhững tình bạn thường được ngợi ca trong lịch sử Trung Quốc như Dương
Tử Kỳ và Bá Nha
“Rượu ngon không có bạn hiền, Không mua, không phải không tiền, không muaCâu thơ nghĩ đắn đo muốn viết,
Viết đưa ai, ai biết mà đưa”
“Rượu ngon không có bạn hiền” xưa nay không ai uống rượu mộtmình, mà uống rượu thì phải có tri kỉ Làm thơ thì phải có người đọc,người hiểu thì mới làm, nhưng nay bạn mất rồi thì những thứ đó đều trởnên vô nghĩa Không còn tri kỉ nữa tức là không còn tri kỉ để mà hiểu nhaunữa
“Giường kia treo cũng hững hờ, Đàn kia gảy cũng ngẩn ngơ tiếng đàn”
Nguyễn Khuyến dựa vào điển tích của Trần Phồn thời hậu Hán có cáigiường dành riêng để tiếp người bạn quý là Từ Trĩ hễ bạn đi lại treo lên.Tình bạn của Nguyễn Khuyến của Dương Khuê cũng cao quý như vậy
Trang 11nhưng nay bạn chết rồi thì cái giường để tiếp bạn cứ treo mãi không baogiờ được đặt xuống cả.
2.2 Con người – một nhân tố cấu thành vũ trụ theo học thuyết Tam tài của Nho giáo
Quan niệm về mối quan hệ giữa con người với thiên nhiên của văn họctrung đại Việt Nam nói riêng và của văn học phương Đông nói chung đều
có sự khác biệt so với văn học phương Tây Nếu như văn học phương Tâycon người là trung tâm của vũ trụ và luôn có tư tưởng con người làm chủthiên nhiên và chinh phục tự nhiên, thì con người trong văn học trung đạiViệt Nam lại hoàn toàn khác Do ảnh hưởng của tư tưởng của triết họcphương Đông đặc biệt là học thuyết Tam tài của Nho giáo, từ xưa đã quanniệm con người là một phần của thiên nhiên, vũ trụ, con người sống hàihòa với thiên nhiên, thiên nhiên với con người như những người bạn tri kỉkhông thể tách rời
Theo quan niệm của Nho giáo thì tam tài bao gồm Thiên – Địa – Nhân(trời, đất và con người) trong đó “thiên nhân tương cảm”, con người và trờiđất có mối giao hòa với nhau Con người sống trong vòng "Thiên phú địatái" (Trời che, đất chở) Bởi vậy, con người luôn có xu hướng sống ẩnmình, hòa mình vào với thiên nhiên tạo nên cái hài hòa của vũ trụ Khi vui,khi buồn con người đều muốn tìm về với thiên nhiên, yêu thiên nhiên vàcoi thiên nhiên như những người bạn tri âm, tri kỉ
Nguyễn Trãi, khi bất bình với việc triều chính ông cũng tìm về với cuộcsống ẩn dật, làm bầu bạn với thiên nhiên:
“Côn Sơn hữu kì, kì thanh linh linh nhiên, ngô dĩ vi cầm huyền,
Côn Sơn hữu thạch, vũ tẩy đài phô bích, ngô dĩ vi đạm tịch
Nham trung hữu tùng, vạn lí thúy đồng đồng, ngô ư thị hồ yển tức kìtrung
Lâm trung hữu trúc, thiên mẫu ấn hàn lục, ngô ư ngâm tiếu kì trắc”
(Côn Sơn Ca – Nguyễn Trãi)