1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

Hệ thống phân tích các văn bản lớp 9 (cả năm)

31 835 6

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 31
Dung lượng 109,77 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Lần đầu tiên up tài liệu, mong mn ủng hộ Đây là hệ thống phân tích các văn bản lớp 9 trong cả năm học Với cách phân tích theo từng ý, đoạn (khổ) giúp người đọc dễ hình dung, đọc hiểu văn bản một cách tốt nhất Mình up tài liệu này có một sỗ chỗ không có vì năm mình thi, những văn bản này thuộc chương chình giảm tải Những văn bản đo mình sẽ up vào một tài liệu khác (miễn phí). Mọi ý kiến xin hãy gửi về địa chỉ gmail: henrynguyen780gmail.com

Trang 1

VĂN HỌC TRUNG ĐẠI

I Hoàng Lê nhất thống chí

- Nội dung và ý nghĩa lời phủ dụ

Nội dung:

- Khẳng định chủ quyền của dân tộc ta: “trong khoảng vũ trụ chia nhau mà cai trị.”

- Lên án hành động xâm lăng phi nghĩa và nêu bật dã tâm xâm lược của giặc: “Người phương Bắc aicũng muốn đuổi chúng đi.”

- Nhắc lại truyền thống đấu tranh chống giặc ngoại xâm của dân tộc ta: “Đời Hán có Trưng nữ vương,

- Khích lệ tinh thần yêu nước và ý chí quyết tâm đánh đuổi giặc ngoại xâm

- Ra kỉ luật nghiêm minh đối với những kẻ ăn ở hai lòng

Sức thuyết phục của lời phủ dụ:

- Xuất phát từ tấm lòng yêu nước, căm thù giặc của người đứng đầu

- Lời lẽ ngắn gọn, ý tứ sâu xa

- Nó là quân lệnh nghiêm khắc

- Hình tượng người anh hùng Quang Trung – Nguyễn Huệ:

 Con người luôn hành động mạnh mẽ và quyết đoán:

- Là người hành động xông xáo, nhanh gọn, có chủ đích, rất quả quyết Nghe tin giặc đã đánh chiếmđến tận Thăng Long, ông không hề nao núng, thân chinh cầm quân đi ngay

- Trong hơn một tháng, ông đã làm được nhiều việc lớn: lên ngôi hoàng đế, đốc thúc đại quân ra Bắc,duyệt binh ở Nghệ An, phủ dụ tướng sĩ, lên kế hoạch hành quân và đánh giặc

 Trí tuệ sáng suốt, nhạy bén:

- Sáng suốt trong việc phân tích tình hình thời cuộc và thế tương quan chiến lược giữa địch và ta.(Thể hiện qua lời phủ dụ)

- Sáng suốt nhạy bén trong việc xét đoán bề tôi: thể hiện qua cách xử trí với các tướng Ông rất hiểu

sở trường, sở đoản của các tướng sỹ, khen chê đều đúng ngưới đúng việc

 Hình ảnh lẫm liệt trên chiến trận:

- Ông là tổng chỉ huy, vạch ra đường lối, tự mình thống lĩnh một đạo quân tiên phong, cưỡi voi đốcthúc xông ra chiến trận

- Hình ảnh nhà vua lẫm liệt trên lưng voi chỉ huy các trận đánh dũng mãnh, tài ba, là người tổ chức

và là linh hồn của chiến công vĩ đại

II Chị em Thúy Kiều

Thúy Vân

Vân xem trang trọng khác vời Khuôn trăng đầy đặn nét ngài nở nang Hoa cười ngọc thốt đoan trang Mây thua nước tóc tuyết nhường màu da.

Trang 2

Nguyễn Hải Đăng – 9D

- Ngay ở câu thơ đầu tiên, Nguyễn Du đã giới thiệu khái quát về vẻ đẹp của Thúy Vân: “Vân xemtrang trọng khác vời”, hai chữ trang trọng gợi ấn tượng về phong thái cao sang quý phái khác vờicủa nàng

- Những câu thơ tiếp theo lần lượt miêu tả từng nét đẹp cụ thể Trong thiên nhiên có bao nhiêu cáiđẹp, Nguyễn Du chọn cái thật đẹp, thật cao sang để so sánh với vẻ đẹp của Thúy Vân như trăng,hoa, ngọc, mây, tuyết Sắc đẹp của nàng được sánh với những nét đẹp kiều diễm, sáng trong vớinhững báu vật tinh khôi của đất trời

- Từ những hình ảnh miêu tả theo bút pháp ước lệ với phép ẩn dụ, nhân hóa, với những định ngữ, bổngữ, vẻ đẹp của Thúy Vân được cụ thể đến từng chi tiết; người đọc có thể hình dung ra một ThúyVân có khuôn mặt đầy đặn, hiền dịu như vầng trăng rằm, dáng mày cong, duyên dáng lại hài hòavới khuôn mặt trơn trịa, phúc hậu Miệng cười tươi thắm như hoa đang hé nở, giọng nói trong nhưtiếng ngọc rơi, mái tóc óng ả, mềm mại hơn mây trời, làn da trắng mịn màng hơn tuyết Tất cả đềutoát lên vẻ đẹp đoan trang, quý phái

- Thúy Vân đẹp hơn những vẻ đẹp mĩ lệ trong thiên nhiên, vẻ đẹp mây thua tuyết nhường; hai chữ

“thua, nhường” gợi sự hài hòa với xung quanh; một vẻ đẹp hài hòa trong khuôn khổ của tạo hóanhư ngầm thông báo về một tính cách hiền dịu, một số phận bình yên, êm đềm

- Có thể nói qua bức chân dung Thúy Vân, Nguyễn Du không chỉ gợi tả được vẻ đẹp của nàng mà còngửi tới thông điệp về và cuộc đời nàng Chính bởi vậy mà chân dung Thúy Vân chính là chân dungmang tính cách số phận

Thúy Kiều

Kiều càng sắc sảo mặn mà

So bề tài sắc lại là phần hơn:

- Hai câu thơ đầu đã gợi tả vẻ đẹp khái quát của Thúy Kiều bằng biện pháp đòn bẩy qua các phụ từ:càng, so, hơn Nguyễn Du muốn nhấn mạnh vẻ đẹp của Thúy Kiều hơn hẳn Thúy Vân, đó là vẻ đẹpcủa nhan sắc đằm thắm mặn mà của tài năng sắc sảo, thông tuệ Nếu vẻ đẹp của Thúy Vân chỉđược gợi tả ở một phương diện là nhan sắc thì với 12 câu thơ, Nguyễn Du đã cho người đọc cảmnhận được vẻ đẹp của Thúy Kiều ở cả ba phương diện: nhan sắc tuyệt đỉnh, tài năng vượt trội vàtâm hồn đa sầu đa cảm

Làn thu thủy nét xuân sơn Hoa ghen thua thắm liễu hờn kém xanh

- Gợi tả nhan sắc của Thúy Kiều, Nguyễn Du không miêu tả cụ thể, chi tiết như Thúy Vân mà chỉ tậpchung gợi tả vẻ đẹp của đôi mắt, đó là thủ pháp điểm nhãn (vẽ hồn cho nhân vật) bởi đôi mắt làcửa sổ của tâm hồn Là nơi tập trung nhất vẻ đẹp tinh anh, trí tuệ tâm hồn Đó là một đôi mắt biếtnói, có sức rung cảm lòng người Hình ảnh ẩn dụ gợi vẻ đẹp sống động của đôi mắt trong sáng, longlanh như làn nước mùa thu và thanh tú như dáng núi mùa xuân

- Hình ảnh nhân hóa: “Hoa ghen thua thắm, liễu hờn kém xanh” gợi tả vẻ đẹp hoàn mĩ của Kiều,vẻđẹp của sự quyến rũ, vẻ đẹp ấy làm mờ nhạt nét thắm tươi của hoa lá, làm dáng liễu vốn mềm mạitrở nên thô cứng, vẻ đẹp ấy đã vượt khỏi khuôn khổ của tạo hóa, khiến thiên nhiên sinh lòng ghenghét, đố kị Câu thơ không chỉ gợi tả vẻ đẹp tuyệt trần của nhan sắc mà còn như ngầm dự báo vềtương lai của Kiều

Một hai nghiêng nước nghiêng thành

- Tác giả đã khéo léo sử dụng thành ngữ: “Nghiêng nước nghiêng thành” để nhấn mạnh, cực tả vẻđẹp của Kiều Đó là nhan sắc khiến người ta đắm say, mê muội

- Bằng bút pháp ước lệ tượng trưng, ẩn dụ, nhân hóa, dùng điển tích điển cố, Nguyễn Du đã thànhcông trong nghệ thuật miêu tả nhân vật Cùng với đó, người đọc còn cảm nhận được tấm lòng nhânđạo của Nguyễn Du khi dự cảm về số phận nhân vật

Sắc đành đòi một tài đành họa hai

- Vẻ đẹp tiềm ẩn bên trong phẩm chất bên trong cao quý, cái tài, cái tình đặc biệt của Kiều Tả ThúyVân chỉ tả nhan sắc, còn tả Thúy Kiều, tác giả tả sắc một phần thì dành hai phần để tả tài Kiều rất

Trang 3

Nguyễn Hải Đăng – 9D

Thông minh vốn sẵn tính trời Pha nghề thi họa đủ mùi ca ngâm Cung thương làu bậc ngũ âm Nghề riêng ăn đứt hồ cầm một trương

- Tài của Kiều đạt tới mức lí tưởng theo quan niệm thẩm mĩ phong kiến, hội tụ đủ: cầm, kì, thi, họa

“Pha nghề thi họa đủ mùi ca ngâm”

- Tác giả đặc tả tài đàn – là sở trường là năng khiếu, nghề riêng của nàng “Cung thương làu bậc ngũ

âm, nghề riêng ăn đứt hồ cầm một trương” không chỉ vậy, nàng còn giỏi sáng tác nhạc Cung đànBạc Mệnh của Kiều là tiếng lòng của một trái tim đa sầu đa cảm

Khúc nhà tay lựa nên chương Một thiên Bạc Mệnh lại càng não nhân.

- Tả tài, Nguyễn Du thể hiện được cả cái tình của Kiều

- Chân dung Thúy Kiều là chân dung mang tính cách số phận Vẻ đẹp khiến cho tạo hóa phải ghenghét, các vẻ đẹp khác phải đố kị, tài hoa trí tuệ thiên bẩm lại “bậc” đủ mùi, cả cái tâm hồn đa sầu

đa cảm khiến Kiều không thể tránh khỏi định mệnh nghiệt ngã, số phận éo le, gian khổ, bởi “Chữ tàichữ mênh khéo là ghét nhau”; “Trời xanh quen thói má hồng đánh ghen” Cuộc đời Kiều là mộthồng nhan bạc mệnh

- Có thể nói tác giả đã rất tinh tế khi miêu tả Thúy Kiều: Tác giả miêu tả chân dung Thúy Vân trước đểlàm nổi bật chân dung Thúy Kiều, ca ngợi cả hai nhưng đậm nhạt khác nhau ở mỗi người: chỉ dành

4 câu thơ để tả Vân, trong đó dành tới 12 câu thơ để tả Kiều; Vân chỉ tả nhan sắc còn Kiều thì cảnhan sắc, tài năng và tâm hồn đều được đặc tả Đó chính là thủ pháp đòn bẩy

III Cảnh ngày xuân

Đoạn 1:

Ngày xuân con én đưa thoi Thiều quang chín chục đã ngoài sáu mươi.

- Hai câu thơ đầu vừa nói được không gian vừa gợi được thời gian giữa bầu trời bao la, mênh mông

là những cánh chim én bay liệng như đưa thoi Hai chữ “đưa thoi” thật gợi hình, gợi tả Cánh énnhư con thoi vút qua vút lại vừa miêu tả vẻ rộn ràng của trời xuân, vừa ngụ ý thời gian đang trôinhanh Ý thơ này, Nguyễn Du đã vận dụng sáng tạo câu tục ngữ của nhân dân ta “Thời gian thấmthoắt thoi đưa”

- Ngày xuân thấm thoắt qua mau, tiết trời đã sang tháng ba, tháng cuối của mùa xuân Hai chữ

“thiều quang” vừa gợi sắc hồng của nắng xuân, vừa gợi sự ấm áp của khí xuân, cái mênh mông bao

la của trời xuân Cách tính thời gian và miêu tả của mùa xuân thật thi vị

- Dường như trong hai câu thơ còn ẩn chứa tâm trạng nuối tiếc cảnh xuân tươi đẹp sắp trôi qua

Cỏ non xanh tận chân trời Cành lê trắng điểm một vài bông hoa.

- Với bút pháp chấm phá cổ điển, Nguyễn Du chỉ chọn lọc hai hình ảnh tiêu biểu: cỏ xanh non và hoa

lê trắng để phác họa cái hồn của thiên nhiên mùa xuân

- Thảm cỏ xanh là gam màu nền cho bức tranh xuân, sắc cỏ non xanh mơn mởn ấy trải rộng tít tắptận chân trời Bức tranh mùa xuân của Nguyễn Du mang vẻ đẹp khoáng đạt, đầy sức sống Thứ sứcsống từ lòng đất trào dâng tràn trề trên từng ngọn cỏ và trải ra bất tận Trên nền cỏ xanh non ấyđiểm xuyết một vài bông hoa lê trắng – cái sắc trắng chưa từng xuất hiện trong thơ cổ Trung Hoa

Nó nổi bật trên nền xanh tạo nên vẻ đẹp tinh khôi, thanh khiết, trong sáng đến lạ lùng, tuy chỉ là vàichấm trắng nhỏ trong bức tranh xuân nhưng sắc trắng nhỏ bé ấy không bị khuất lấp trong sắc cỏngụt ngàn mà lại trở thành điểm nhấn tỏa sáng và nổi bật toàn cảnh

- Bức tranh mùa xuân còn mang vẻ đẹp lung linh, sống động, lạ lùng bởi cách dùng từ tinh tế của tácgiả Ông viết trắng điểm chứ không phải điểm trắng Cách đảo từ này khiến cho câu thơ 8 tiếng vốnmang nhịp chẵn đều nhưng đã đột ngột chuyển sang nhịp lẻ khiến câu thơ bỗng xôn xao, khác lạ.Cảnh từ thể tĩnh chuyển sang thể động

Trang 4

Nguyễn Hải Đăng – 9D

 Chỉ với 4 câu thơ lục bát, bằng nghệ thuật tả cảnh giàu chất tạo hình, Nguyễn Du đã mở ra mộtkhông gian nghệ thuật hữu sắc, hữu hương, hữu tình Người đọc dường như còn cảm nhận đượctâm hồn con người vui tươi, phấn chấn qua cái nhìn hồn nhiên, trong trẻo, thiết tha với vẻ đẹp củathiên nhiên

Đoạn giữa:

- Đoạn thơ có sự chuyển tiếp nhịp nhàng, tự nhiên Từ khung cảnh mùa xuân tươi mới, êm đềm ấy,nét bút của Nguyễn Du bắt đầu tập trung khắc họa những hoạt động của con người Họ là nhữngngười đi tảo mộ, đi chơi xuân ở miền quê kiểng Và trong lễ hội dập dìu đó có những nhân vật củaNguyễn Du - chị em Thúy Kiều - đang thong thả chơi xuân:

Thanh minh trong tiết tráng ba

Lễ là tảo mộ, hội là đạp thanh.

- Tiết Thanh minh vào đầu tháng ba, khí trời mát mẻ, trong trẻo Người người đi viếng, quét dọn, sửasang và lễ bái, khấn nguyện trước phần mộ tổ tiên Sau "lễ tảo mộ" là đến "hội đạp thanh", khách

du xuân giẫm lên cỏ xanh - một hình ảnh quen thuộc trong các cuộc chơi xuân đầy vui thú ở chốnlàng quê Cách sử dụng điệp từ "lễ là", "hội là" gợi ấn tượng về sự diễn ra liên tiếp của các lễ hộidân gian, niềm vui tiếp nối niềm vui

- Không khí lễ hội rộn ràng, huyên náo bỗng hiện ra thật sinh động trong từng dòng thơ giàu hìnhảnh và nhạc điệu:

Gần xa nô nức yến anh, Chị em sắm sửa bộ hành chơi xuân.

Dập dìu tài tử giai nhân, Ngựa xe như nước áo quần như nêm.

- Tài năng của Nguyễn Du được thể hiện qua cách sử dụng ngôn từ Sự xuất hiện của hàng loạt các từngữ hai âm tiết bao gồm danh từ, động từ, tính từ như: gần xa, yến anh, chị em, tài tử, giai nhân,

nô nức, sắm sửa, dập dìu, đã gợi lên bầu không khí rộn ràng của lễ hội đồng thời làm rõ hơn tâmtrạng của người đi trẩy hội Hầu hết các câu thơ đều được ngắt nhịp đôi (2/2) cũng góp phần gợi tảkhông khí nhộn nhịp, đông vui của lễ hội Cách nói ẩn dụ "nô nức yến anh" gợi hình ảnh từng đoànngười náo nức du xuân như chim én, chim oanh bay ríu rít Câu thơ "Chị em sắm sửa bộ hành chơixuân", Nguyễn Du không chỉ nói lên một lời thông báo mà còn giúp người đọc cảm nhận đượcnhững trông mong, chờ đợi của chị em Kiều Trong lễ hội mùa xuân, nhộn nhịp nhất là những namthanh nữ tú, trai thanh gái lịch vai sánh vai, chận nối chân nhịp bước Họ chính là linh hồn của ngàyhội Cặp tiểu đối "tài tử"/"giai nhân", "ngựa xe như nước"/"áo quần như nêm" đã khắc họa rõ nét

sự hăm hở của tuổi trẻ Họ đến với hội xuân bằng tất cả niềm vui sống của tuổi xuân Trong đám tài

tử giai nhân ấy có ba chị em Thúy Kiều Có lẽ, Nguyễn Du đã miêu tả cảnh lễ hội bằng đôi mắt vàtâm trạng của hai cô gái "đến tuổi cập kê" trước cánh cửa cuộc đời rộng mở nên cái náo nức, dậpdìu từ đó mà ra Toàn bộ dòng người đông vui, tưng bừng đó tấp nập ngựa xe như dòng nướccuốn, áo quần đẹp đẽ, thướt tha đống đúc "như nêm" trên các nẻo đường Thật là một lễ hôi tưngbừng, sang trọng và phong lưu

- Cái hay, cái khéo của Nguyễn Du còn được thể hiện ở chỗ chỉ bằng vài nét phác thảo, nhà thơ đãlàm sống lại những nét đẹp văn hóa ngàn đời của người Phương Đông nói chung và dân tộc ViệtNam nói riêng Lễ tảo mộ, hội đạp thanh không chỉ là biểu hiện đẹp của lòng biết ơn tổ tiên, củatình yêu con người trước cảnh sắc quê hương, đất nước mà còn gợi lên một vẻ đẹp của đời sốngtâm linh với phong tục dân gian cổ truyền:

Ngổn ngang gò đống kéo lên, Thoi vàng vó rắc tro tiền giấy bay.

- Người đã khuất và người đang sống, quá khứ và hiện tại như được kéo gần lại Ta nhận ra mộtniềm cảm thông sâu sắc mà Nguyễn Du đã gởi vào những dòng thơ: Có thể hôm nay, sau hơn haitrăm năm, suy nghĩ của chúng ta có ít nhiều thay đổi trước cảnh: "Thoi vàng vó rắc tro tiền giấybay" thế nhưng giá trị nhân đạo được gửi gắm vào những vần thơ của Nguyễn Du vẫn làm ta thực

Trang 5

Nguyễn Hải Đăng – 9D

Đoạn cuối:

Tà tà bóng ngả về tây Chị em thơ thẩn dan tay ra về Bước dần theo ngọn tiểu khê Lần theo phong cảnh có bề thanh thanh Nao nao dòng nước uốn quanh Dịp cầu nho nhỏ cuối ghềnh bắc ngang.

 Ý chủ đề: Cảnh chị em Thúy Kiều du xuân trở về trong tâm trạng lặng buồn, nuối tiếc, bâng khuâng

 Các ý cần triển khai:

- Cảnh vật và thời gian được khắc họa bằng bút pháp tả cảnh ngụ tình

- Cảnh vẫn mang cái nét thanh tao, êm dịu, trong trẻo của mùa xuân Ánh nắng nhạt, khe nước nhỏ,dịp cầu nhỏ bắc ngang, mọi cử động đều rất nhẹ nhàng: mặt trời tà tà gác núi, bước chân ngườithơ thẩn, dòng nước nao nao uốn quanh, tất cả gợi một bức tranh xuân cuối ngày đẹp đẽ, êm đềm

- Cảnh có sự thay đổi về không gian, thời gian Không còn không khí đông vui, náo nhiệt của lễ hội.Tất cả đang nhạt dần, lặng dần, nhịp thơ như chậm rãi và nhịp sống như ngừng trôi

- Cảnh được cảm nhận trong tâm trạng:

+ Những từ láy: tà tà, thanh thanh, nao nao không chỉ miêu tả sắc thái cảnh vật mà còn bộc lộ tâmtrạng con người Đặc biêt hai chữ “nao nao” vốn chỉ tâm trạng bồn chồn, xao xuyến Hai chữ “thơthẩn” có sức gợi rất lớn Chị em Kiều ra về trong sự bần thần, nuối tiếc, lặng buồn Dan tay – nắm taynhau tưởng vui nhưng thực ra là chia sẻ cái buồn không thể nói hết Cảm giác bâng khuâng xao xuyến

ấy có thật của một tâm lí phải chia tay cuộc vui khi đã tàn nhưng nó còn như còn dự cảm về một điều

gì đó không hay sắp xuất hiện bởi ngay sau lúc này, Kiều đã gặp nấm mồ của Đạm Tiên

IV Kiều ở lầu Ngưng Bích

1 Sáu câu thơ đầu gợi tả hoàn cảnh cô đơn, tội nghiệp của Kiều

- Đoạn thơ hay bởi nhà thơ đã sử dụng bút pháp cổ điển tả cảnh gắn với tả tình Tình và cảnh tươnghợp

Trước lầu Ngưng Bích khóa xuân,

Vẻ non xa tấm trăng gần ở chung

Bốn bề bát ngát xa trông,

Cát vàng cồn nọ bụi hồng dặm kia.

Bẽ bàng mây sớm đèn khuya, Nửa tỉnh nửa cảnh như chia tấm lòng.

 Câu chủ đề: Sáu câu thơ trên trích từ văn bản “Kiều ở lầu Ngưng Bích” trích “Truyện Kiều” củaNguyễn Du đã gợi tả hoàn cảnh cô đơn, tội nghiệp của Kiều

 Các ý cần có:

- Hai từ “khóa xuân” cho thấy lầu Ngưng Bích là nơi khóa kín tuổi xuân, giam lỏng cuộc đời Kiều

- Ngồi trên lầu cao, nhìn ra xa, Kiều thấy vẻ non xa và tấm trăng gần như ở cùng một vòm trời, cảnhđẹp nhưng thật buồn vì ở nơi ấy nàng trơ trọi giữa không gian hoang vắng

- Cũng từ lầu cao ấy, Kiều nhìn ra xa bốn bề bát ngát chỉ thấy những cồn cát, những rặng đường xadưới bụi hồng Phép đối cồn nọ, dặm kia mở rộng không gian ra nhiều phía, càng tô đậm thân phận

cô đơn của Kiều khi bị giam lỏng ở nơi lầu cao trơ trọi

- Cụm từ “mây sớm, đèn khuya” gợi sự tuần hoàn đơn điệu, ngày lại qua ngày, Kiều chỉ biết làm bạnvới áng mây buổi sớm, ngọn đèn đêm khuya Đối diện với mây và đèn, Kiều thấy “bẽ bàng” trướcthân phận mình, tủi thẹn cho số phận mình Cảnh ấy, tình ấy khiến tấm lòng Kiều tan nát, đớn đau

 Kiều bị rơi vào hoàn cảnh cô đơn tuyệt đối

Tưởng người dưới nguyệt chén đồng, Tin sương luống những rày trông mai chờ.

Bên trời góc bể bơ bơ, Tấm son gột rửa bao giờ cho phai.

Trang 6

Nguyễn Hải Đăng – 9D

Quạt nồng ấp lạnh những ai đó giờ?

Sân Lai cách mấy nắng mưa,

Có khi gốc tử đã vùa người ôm.

 Ý chủ đề: nỗi nhớ người thân của Kiều

 Các ý cần có:

- Trong cảnh ngộ ở lầu Ngưng Bích, có lẽ, Kiều là người đáng thương nhất nhưng Kiều đã quên đicảnh ngộ của bản thân để nghĩ về người yêu, nghĩ về cha mẹ Trước hết, nàng đau đớn khi nghĩ đếnchàng Kim, điều này hoàn toàn phù hợp với quy luật tâm lí đồng thời thể hiện sự tinh tế của ngòibút Nguyễn Du khi khắc hoa nội tâm nhân vật

- Nhớ Kim Trọng là nhớ đến tình yêu nên bao giờ Kiều cũng nhớ tới lời thề đôi lứa: “Tưởng người …đồng” Vừa mới hôm nào nàng và chàng cùng uống chén rượu thề nguyện son sắt, hẹn ước trămnăm dưới vầng trăng vằng vặc mà nay mỗi người một ngả, mối duyên tình đẹp ấy vừa mới chớm

nở đã bị cắt lìa đột ngột

- Nàng đau đớn xót xa khi hình dung ra cảnh Kim Trọng đang hướng về mình, đêm ngày đau đáu chờtin mà uổng công vô ích Lời thơ như như có nhịp thổn thức của một trái tim yêu thương Kiều locho chàng Kim mà quên đi cảnh ngộ cô đơn, buồn tủi

- Câu thơ “Tấm son … cho phai”, hình ảnh ản dụ tấm son có thể hiểu là tấm lòng son sắt, thủy chung,nhớ thương Kim Trọng không bao giờ phai nhạt, nguôi quên; cũng có thể hiểu ấm lòng son ấy làtấm lòng trong trắng của Kiều đã bị vùi dập, hoen ố, biết bao giờ mới gột rửa được

 Đối với Kim Trọng, Kiều luôn là người tình thủy chung, luôn thiết tha day dứt với tình yêu đôi lứa

- Nghĩ tới song thân, nàng thương và xót Nàng thương cha mẹ và hình dung mỗi sáng, mỗi chiềuđều tựa cửa trông ngóng tin con và trông mong sự giúp đỡ Nàng xót xa khi cha mẹ già yếu màkhông được tự tay chăm sóc và hiện giờ ai là người chăm lo

- Thành ngữ “Quạt nồng ấp lạnh” cũng như điển cố Sân Lai gốc tử đều nói lên tâm trạng nhớ thương

và tấm lòng hiếu thảo của Kiều dành cho cha mẹ

- Cuối cùng, nàng tưởng tượng nơi quê nhà tất cả đổi thay, gốc tử đã vừa người ôm và cha mẹ ngàycàng đau yếu Cụm từ “Cách mấy nắng mưa” vừa nói được thời gian xa cách, vừa gợi sự tàn phácủa thiên nhiên với cảnh vật, với con người Lần nào nhớ về cha mẹ Kiều luôn đau đáu rằng mìnhbất hiếu vì không thể chăm sóc mẹ cha

 Tấm lòng hiếu thảo của Kiều thật đáng trân trọng biết bao

Buồn trông cửa bể chiều hôm, Thuyền ai thấp thoáng cánh buồm xa xa?

Buồn trông ngọn nước mới sa, Hoa trôi man mác biết là về đâu?

Buồn trông nội cỏ rầu rầu, Chân mây mặt đất một màu xanh xanh.

Buồn trông gió cuốn mặt duềnh,

Ầm ầm tiếng sóng kêu quanh ghế ngồi.

 Ý chủ đề: tâm trạng buồn lo, sợ hãi của Kiều trước khung cảnh thiên nhiên ở lầu Ngưng Bích

 Các ý cần có:

- Tác giả đã thành công với nghệ thuật tả cảnh ngụ tình, mỗi cảnh thiên nhiên là một ẩn dụ về mộttâm trạng con người

- Trước là không gian mênh mông nơi cửa bể chiều hôm Chiều hôm là khoảng thời gian gợi buồn

Đó là lúc gia đình sum họp nhưng Kiều lại đang bơ vơ, đơn độc giữa bầy lũ buôn thịt bán người.Ánh mắt của Kiều đã hướng tới cánh buồm xa xa, thấp thoáng nơi cửa bể chiều hôm Hình ảnhcánh buồm khơi gợi nỗi cô đơn, gợi nỗi nhớ quê hương, gia đình, cha mẹ, gợi khát khao sum họp

“Buồn trông … xa xa”

- Trong hoàn cảnh ấy, Kiều buồn thương cho cảnh phận bơ vơ của mình nơi đất khách quê người.Hình ảnh ẩn dụ hoa trôi man mác trên ngọn nước mới sa thật gợi cảm Hoa trong văn chương vốn

Trang 7

Nguyễn Hải Đăng – 9Dtượng cho số phận trôi nổi của Kiều: Không biết sẽ trôi dạt về đâu, bị vùi dập ra sao Câu hỏi tu từ:vang lên đầy xót xa “biết là về đâu?”.

- Tiếp đến là nội cỏ nhạt nhoà trong mênh mông hoang vắng “buồn trông … xanh xanh” Sắc xanhvốn là sắc màu của sự sống nhưng ở đây, sắc xanh ấy “rầu rầu” khiến cho cảnh vật trở nên u ám,mịt mù, ảm đạm Với hình ảnh chân mây, mặt đất, gợi một không gian lớn, bao trùm màu xanh bấttận, đơn điệu, mờ nhạt của nội cỏ

- Nhìn ra phía này buồn, ngoảnh mặt sang phía khác lại càng buồn hơn Dường như nỗi buồn mỗi lúccàng tăng, càng dồn dập Âm thanh dữ dội đã kết thúc đoạn thơ “Ầm ầm ghế ngồi” Phép đảongữ nhấn mạnh âm thanh dữ dội của tiếng sóng Đây là âm thanh duy nhất của đoạn trích nhưnglại là âm thanh bão tố, âm thanh như tai họa, bủa vây lấy Kiều Thiên nhiên dữ dội với gió cuốn, với

ầm ầm tiếng sóng cho thấy tâm trạng lo sợ, hãi hùng trước những tai họa đang rình rập nàng

- Cảnh vật được cảm nhận từ xa đến gần, màu sắc từ nhạt đến đậm, âm thanh từ tĩnh đến động, tâmtrạng từ buồn lo đến hoảng sợ, hãi hùng

- Dáng dấp của ca dao dân ca, cụm từ “buồn trông” mở đầu cho các câu sáu tiếng làm thành điệpngữ đã tạo nên được âm hưởng trầm buồn Điệp khúc của đoạn thơ cũng là điệp khúc của tâmtrạng cùng các từ láy liên tiếp xuất hiện như thấp thoáng, xa xa, man mác, rầu rầu, xanh xanh, ầm

ầm không chỉ gợi sắc thái của cảnh mà góp phần thể hiện nỗi buồn dồn dập, triền miên, tăng dầnđến bão táp nội tâm

- Đây là đoạn thơ được đánh giá là tuyệt bút của bút pháp tả cảnh ngụ tình Ở đây không chỉ có cảnhđẹp, tình sầu mà lòng nhà thơ dường như cũng hòa vào cùng nhân vật để buồn thương, đau xót,cảm thông cho nỗi niềm nhân vật

Trang 8

Nguyễn Hải Đăng – 9D

VĂN HỌC HIỆN ĐẠI

THƠ HIỆN ĐẠI

I Đồng chí

1 Cơ sở hình thành tình đồng chí.

- Trước hết ở đoạn đầu, với bảy câu tự do, dài ngắn khác nhau, có thể xem là sự lí giải về cơ sở củatình đồng chí

- Mở đầu bài thơ bằng hai câu đối rất chỉnh:

“Quê hương anh nước mặn đồng chua Làng tôi nghèo đất cày lên sỏi đá”

- Hai câu thơ đầu tiên giới thiệu quê hương “anh” và “tôi” – những người lính xuất thân là nông dân

“Nước mặn đồng chua” là vùng đất ven biển nhiễm phèn khó làm ăn, “đất cày lên sỏi đá” là nơi đồinúi, trung du, đất bị đá ong hoá, khó canh tác Hai câu chỉ nói về đất đai – mối quan tâm hàng đầucủa người nông dân, cho thấy sự tương đồng về cảnh ngộ xuất thân nghèo khó là cơ sở, sự đồngcảm giai cấp của những người lính cách mạng

“Anh với tôi đôi người xa lạ

Tự phương trời chẳng hẹn quen nhau”

- Từ “tôi’ chỉ hai người, hai đối tượng chẳng thể tách rời nhau kết hơp với từ “xa lạ” làm cho ý xa lạđược nhấn mạnh hơn

- Tự phương trời tuy chẳng hẹn quen nhau nhưng cùng một nhịp đập của trái tim, cùng tham giachiến đấu, giữa họ đã nảy nở một thứ tình cảm cao đẹp: Tình đồng chí – tình cảm ấy không phải chỉ

là cùng cảnh ngộ mà còn là sự gắn kết trọn vẹn cả về lý trí, lẫn ý tưởng và mục đích cao cả: Chiếnđấu giành độc lập tự do cho Tổ quốc

Súng bên súng đầu sát bên đầu”

- Tình đồng chí còn được nảy nở và trở thành bền chặt trong sự chan hoà, chia sẻ mọi gian lao cũngnhư niềm vui, nỗi buồn Đó là mối tình tri kỉ của những người bạn chí cốt được biểu hiện bằng hình

ảnh cụ thể, giản dị mà hết sức gợi cảm: “Đêm rét chung chăn thành đôi tri kỉ” “Chung chăn” có

nghĩa là chung cái khắc nghiệt, khó khăn của cuộc đời người lính, nhất là chung hơi ấm để vượt quacái lạnh, mà sự gắn bó là thành thật với nhau Câu thơ đầy ắp kỉ niệm và ấm áp tình đồng chí, đồngđội

- Cả bảy câu có duy nhất! Từ “chung” nhưng bao nhiều hàm ý: chung cảnh ngộ, chung giai cấp, chungchí hướng, chung một khát vọng…

Trang 9

Nguyễn Hải Đăng – 9D

- Nhìn lại cả bảy câu thơ đầu, những từ ngữ nói về người lính: đầu tiên là ‘anh” và “tôi” trên từngdòng thơ như một kiểu xưng danh khi mới gặp gỡ, dường như vẫn là hai hai thế giới riêng biệt Rồi

“anh” và “tôi” trong cùng một dòng, đến “đôi người” nhưng lại là đôi “người xa lạ”, và rồi đã biếnthành đôi tri kỉ - một tình bạn keo sơn gắn bó Và cao hơn nữa là tình đồng chí Như vậy, từ rời rạcriêng lẻ, hai người đã dần nhập thành chung, thành một, khó tách rời

- Câu thứ bảy là một câu thơ đặc biệt Hai tiếng “Đồng chí!” kết thúc khổ thơ thật đặc biệt, sâu lắng

chỉ với hai chữ “Đồng chí” và dấu chấm cảm, tạo một nốt nhấn như một điểm tựa, điểm chốt, như

đòn gánh, gánh hai đầu là những câu thơ đồ sộ Nó vang lên như một phát hiện, một lời khẳngđịnh, một tiếng gọi trầm xúc động từ trong tim, lắng đọng trong lòng người về hai tiếng mới mẻ,thiêng liêng ấy Câu thơ như một bản lề gắn kết hai phần thơ làm nổi rõ một kết luận: cùng hoàncảnh xuất thân, cùng lí tưởng thì trở thành đồng chí của nhau Đồng thời nó cũng mở ra ý tiếp theo:đồng chí còn là nhữngbiểu hiện cụ thể và cảm động ở mười câu thơ sau

 Cả đoạn thơ như một nốt nhạc làm bừng sáng cả bài thơ, là kết tinh của một tình cảm Cách mạngmới mẻ chỉ có ở thời đại mới

2 Biểu hiện và sức mạnh của tình đồng chí.

 Mười câu thơ tiếp theo diễn tả những biểu hiện cụ thể về vẻ đẹp và sức mạnh của tình đồng chí,đồng đội

- Đồng chí đó là sự cảm thông sâu xa những tâm tư, nỗi lòng thầm kín của nhau:

“Ruộng nương anh gửi bán thân cày Gian nhà không mặc kệ gió lung lay Giếng nước gốc đa nhớ người ra lính”

- Đó là tình tri kỉ, hiểu bạn như hiểu mình mà còn vì mình là người trong cuộc, người cùng cảnh ngộ.Với người nông dân, ruộng nương, căn nhà là cả cơ nghiệp, là ước mơ ngàn đời của họ; họ luôn gắn

bó, giữ gìn và chắt bóp cho những gì mình có Vậy họ đã gác lại tất cả để ra đi đánh giặc Câu thơ

“Gian nhà không, mặc kệ gió lung lay” hết sức tạo hình và biểu cảm Để cả cơ nghiệp mình hoangtrống mà ra đi biết người thân ở lại trống trải nhưng cũng “mặc kệ” thì đó quả là sự hi sinh lớn lao

và đó cũng là quyết ra đi mà khong dửng dưng vô tình Các anh hiểu rõ lòng nhau và còn hiểu rõ nỗiniềm người thân của nhau ở hậu phương: “Giếng nước”, “gốc đa” là hình ảnh hoán dụ gợi về quêhương, về người thân nơi hậu phương của người lính Như vậy, câu thơ nói quê hương nhớ ngườilính mà thực chất là người lính nhớ nhà, nỗi nhớ hai chiều ngày càng da diết Vậy là người lính đãchia sẻ với nhau mọi tâm sự, nỗi niềm, chia sẻ cả những chuyện thầm kín riêng tư nhất Họ cùngsống với nhau trong kỉ niệm, trong nỗi nhớ và vượt lên nỗi nhớ

- Không chỉ chia sẻ cùng nhau những niềm vui, nỗi buồn hay các câu chuyện tâm tình nơi quê nhà mà

họ còn chia sẻ những gian ao thiếu thốn của cuộc đời người lính – “sốt run người vầng trán ướt mồhôi” Họ đã nhìn thấu và thương nhau từ những chi tiết nhỏ của đời sống, cùng chiịu bệnh tật vànhững cơn sốt rét rừng ghê gớm mà hầu như người lính nào cũng phải trải qua Họ cùng thiếu,cùng rách Đây là hoàn cảnh chung của bộ đội ta trong những năm đầu kháng chiến chống Pháp

- Những hình ảnh thơ được đưa ra rất chân thực nhưng cô đọng và gợi cảm biết bao Đoạn thơ nhưdiễn tả sâu sắc sự gắn bó đồng cam cộng khổ của các anh, giúp vượt qua moi thiếu thốn gian truân,cực nhọc của cuộc đời người lính

“Áo anh rách vai Quần tôi có vài mảnh vá Miệng cười buốt giá Chân không giày”.

- Tác giả đã xây dựng những cặp câu sóng đôi, đối ứng nhau (trong từng cặp câu và từng câu) Đángchú ý là người lính bao giờ cũng nhìn bạn, nói về bạn trước khi nói về mình, chữ “anh” bao giờ cũngxuất hiện trước chữ “tôi” Cách nói ấy phải chăng thể hiện nét đẹp trong tình cảm thương người

Trang 10

Nguyễn Hải Đăng – 9Dnhư thể thương thân, trọng người hơn trọng mình Chính tình đồng đội đã làm ấm lòng nhữngngười lính để họ vẫn cười trong buốt giá và vượt lên trên buốt giá.

- Họ quên đi mình để động viên nhau, truyền cho nhau hơi ấm: “Thương nhau tay nắm lấy bàn tay”.

Đây là một cử chỉ rất cảm động chứa chan tinh cảm chân thành Nó không phải cái bắt tay thôngthường mà là hai bàn tay tự tìm đến với nhau, truyền cho nhau hơi ấm để vượt lên buốt giá, nhữngbàn tay như biết nói Và đó không phải sự gắn bó bất chợt mà là sự gắn bó trong chiến đấu, đồngcam cộng khổ khiến tình đồng chí thêm sâu nặng để đi tới chiều cao: cùng sống chết cho lí tưởng.Trong suốt cuộc kháng chiến trường kì đầy gian lao vất vả ấy, tình cảm đồng chí đã đi vào chiều sâucủa sự sống tâm hồn người chiến sĩ để trở thành những kỉ niệm không bao giờ quên

- Câu thơ không chỉ nói lên tình cảm gắn bó sâu nặng của những người lính mà còn thể hiện sức

mạnh của tình cảm ấy

 Bài thơ “Đồng chí” không rực rỡ chiến công mà rực rỡ tình đồng đội ấm nồng khiến họ có thể sống

là làm nên bao chiến công hiển hách

3 Đoạn kết bài thơ

- Ba câu cuối của bài thơ là biểu tượng đẹp nhất, giàu chất thơ nhất về tình đồng chí đồng đội cao

đẹp

- Bài thơ kết thúc bằng hình ảnh rất đặc sắc: “Đêm nay rừng hoang sương muối … trăng treo”.

- Công việc thực sự của người lính và tình đồng chí được tôi luyện trong thử thách, gian lao, trong

công việc đanh giặc thực sự là thử thách lớn Cũng chính ở cái nơi mà sự sống, cái chết chỉ kề nhuatrong tích tắc thì tình đồng chí mới thực sự thiêng liêng, cao đẹp

- Trên cái nền hùng vĩ, khắc nghiệt của thiên nhiên: đêm; rừng hoang; sương muối; người chiến sĩđứng cạnh bên nhau trờ giặc tới – hình ảnh họ sát cánh bên nhau vững chai, tràn đầy khí thế lạcquan làm mờ đi cái gian khổ của cuộc chiến đấu, tao nên tư thế thành đồng vách sắt trước quânthù

- Sức mạnh của tình đồng đội đã giúp họ vượt lên tất cả những khắc nghiệt của thời tiết và moi giankhổ, thiếu thốn

- Hình ảnh “Đầu súng trăng treo” là hình ảnh độc đáo, bất ngờ, là điểm nhấn của ba phần, điểm sangcủa toàn bài thơ Hình ảnh thơ rất thực và cũng rất lãng mạn

- Súng và trăng – hai hình ảnh vừa xa nhau về không gian, vừa khác biệt về ý nghĩa; súng và trăng làhai hình ảnh vừa xa nhau về không gian, vừa khác biệt về ý nghĩa Súng là hình ảnh của sức mạnh,hình ảnh của chiến tranh, khói lửa, trăng – một hình ảnh gợi cảm dịu êm, hình ảnh của thiên nhiêntrong mát của cuộc sống thanh bình

- Đây là hình ảnh thực được nhận ra từ những đêm hanh quân, phục kích của chính tác giả, ngườilính cầm súng để bảo vệ cuộc sống hoà bình, độc lập tự do cho Tổ quốc

- Súng và trăng là gần và xa, thực tại và mơ mộng, chất chiến đấu và chất trữ tình, chiến sĩ và thi sĩ,

đó là các mặt bổ sung cho nhau, hài hoà với nhau của cuộc đời người lính cách mạng

- Ba câu thơ thật cô đọng, hàm súc, giâu chất tạo hình, giâu nhạc điệu, hình ảnh thơ chân thực, gợi

tả mà giàu ý nghĩa khái quát, gợi nhiều liên tưởng, vừa thực vừa lãng mạn giúp ta cảm nhận rõ hơn

- Những chi tiết về cuộc sống gian khổ, thiếu thốn của người lính được tác giả miêu tả rất thật, vừachân thực, vừa có sức gợi cảm cao

- Đẹp nhất ở họ là tình đồng chí đồng đội sâu sắc trong đoạn cuối của bài thơ

Trang 11

Nguyễn Hải Đăng – 9D

- Đồng chí là cùng chung chí hướng, lí tưởng Đây cũng là cách xưng hô của những người cùng trongmột đoàn thể cách mạng Vì vậy, tình đồng chí là bản chất cách mạng của tình đồng đội và thể hiệnsâu sắc tình đồng đội

II Bài thơ về tiểu đội xe không kính (Giảm tải)

- Mở đầu bài thơ là hình ảnh những chiếc xe không kính chắn gió - hình ảnh có sức hấp dẫn đặc biệt

vì nó chân thực, độc đáo, mới lạ Xưa nay, hình ảnh xe cộ trong chiến tranh đi vào thơ ca thườngđược mỹ lệ hoá, tượng trưng ước lệ chứ không được miêu tả cụ thể, thực tế đến trần trụi nhưcách tả của Phạm Tiến Duật

Không có kính không phải vì xe không có kính Bom giật bom rung kính vỡ đi rồi

- Bom đạn ác liệt của chiến tranh đã tàn phá làm những chiếc xe ban đầu vốn tốt, mới trở thành hưhỏng : không còn kính chắn gió, không mui không đèn, thùng xe bị xước Hìmh ảnh những chiếc xekhông kính không hiếm trong chiến tranh chống Mỹ trên đường Trường Sơn lửa đạn nhưng phải làmột chiến sĩ, một nghệ sĩ tâm hồn nhạy cảm, trực tiếp sẵn sàng chiến đấu cùng những người línhlái xe thì nhà thơ mới phát hiện được chất thơ của hình ảnh ấy để đưa vào thơ ca một cách sángtạo, nghệ thuật Không tô vẽ, không cường điệu mà tả thực, nhưng chính cái thực đã làm ngườisuy nghĩ, hình dung mức độ ác liệt của chiến tranh, bom đạn giặc Mỹ

- Mục đích miêu tả những chiếc xe không kính là nhằm ca ngợi những chiến sĩ lái xe Đó là nhữngcon người trẻ trung, tư thế ung dung, coi thường gian khổ, hy sinh Trong buồng lái không kínhchắn gió, họ có cảm giác mạnh mẽ khi phải đối mặt trực tiếp với thiên nhiên bên ngoài Nhữngcảm giác ấy được nhà thơ ghi nhận tinh tế sống động qua những hình ảnh thơ nhân hoá, so sánh

- Những câu thơ nhịp điệu nhanh mà vẫn nhịp nhàng đều đặn khiến người đọc liên tưởng đến nhịpbánh xe trên đường ra trận Tất cả sự vật, hình ảnh, cảm xúc mà các chiến sĩ lái xe trực tiếp nhìnthấy, cảm nhận đã biểu hiện thái độ bình tĩnh thản nhiên trước những nguy hiểm của chiến tranh,

vì có ung dung thì mới thấy đầy đủ như thế Các anh nhìn thấy từ “gió”, “con đường” đến cả “sao

trời”, “cánh chim” Thế giới bên ngoài ùa vào buồng lái với tốc độ chóng mặt tạo những cảm giác

đột ngột cho người lái Hình ảnh “những cánh chim sa, ùa vào buồng lái” thật sinh động, gợi cảm Hình ảnh “con đường chạy thẳng vào tim” gợi liên tưởng về con đường ra mặt trận, con đường

chiến đấu, con đường cách mạng

- Hiên ngang, bất chấp gian khổ, những người lính lái xe luôn lạc quan tin tưởng chiến thắng Nhữngcâu thơ lặp cấu trúc tự nhiên như văn xuôi, lời nói thường ngày thể hiện hình ảnh đẹp, tự tin, cótính cách ngang tàng:

Không có kính, ừ thì có bụi, Bụi phun tóc trắng như người già Chưa cần rửa, phì phèo châm điếu thuốc Nhìn nhau mặt lấm cười ha ha.

Không có kính, ừ thì ướt áo Mưa tuôn mưa xối như ngoài trời Chưa cần thay, lái trăm cây số nữa Mưa ngừng, gió lùa khô, mau thôi.

- Các chiến sĩ lái xe không hề lùi bước trước gian khổ, trước kẻ thù mà trái lại "tiếng hát át tiếngbom", họ xem đây là cơ hội để thử thách sức mạnh ý chí Yêu đời, tiếng cười sảng khoái của họ

Trang 12

Nguyễn Hải Đăng – 9D

làm quên đi những nguy hiểm Câu thơ “nhìn nhau mặt lấm cười ha ha” biểu lộ sâu sắc sự lạc quan

ấy

- Tình đồng chí, đồng đội keo sơn gắn bó là phẩm chất của người lính Những khoảnh khắc của chiếntranh, giữa sống chết, những người lính trẻ từ những miền quê khác nhau nhưng cùng một nhiệm

vụ, lý tưởng đã gắn bó nhau như ruột thịt, gia đình :

Những chiếc xe từ trong bom rơi

Đã về đây họp thành tiểu đội Gặp bạn bè suốt dọc đường đi tới Bắt tay qua cửa kính vỡ rồi.

Bếp Hoàng Cầm ta dựng giữa trời Chung bát đũa nghĩa là gia đình đấy Võng mắc chông chênh đường xe chạy Lại đi, lại đi trời xanh thêm.

- “Trời xanh thêm” vì lòng người phơi phới say mê trước những chặng đường đã đi và đang đến.

“Trời xanh thêm” vì lòng người luôn có niềm tin về một ngày mai chiến thắng Những người lính lái

xe hiên ngang, dũng cảm, lạc quan, trẻ trung sôi nổi, giàu tình đồng chí đồng đội, có lòng yêu nướcsâu sắc Lòng yêu nước là một động lực tạo cho họ ý chí quyết tâm giải phóng miền Nam, đánh bạigiặc Mỹ và tay sai để thống nhất Tổ quốc :

Không có kính rồi xe không có đèn Không có mui xe, thùng xe có xước

Xe vẫn chạy vì miền Nam phía trước:

Chỉ cần trong xe có một trái tim.

- Khổ thơ cuối cùng vẫn giọng thơ mộc mạc, mà nhạc điệu hình ảnh rất đẹp, rất thơ, cảm hứng vàsuy tưởng vừa bay bổng vừa sâu sắc để hoàn thiện bức chân dung tuyệt vời của những chiến sĩvận tải Trường Sơn Bốn dòng thơ dựng hai hình ảnh đối lập đầy kịch tính, bất ngờ thú vị Hai câuđầu dồn dập những mất mát khó khăn do quân thù gieo xuống, do đường trường gây ra : xe không

kính, không đèn, không mui, thùng xe bị xước Điệp ngữ “không có” nhắc lại ba lần như nhân lên những thử thách khốc liệt Hai dòng thơ ngắt làm bốn khúc “không có kính/ rồi xe không có đèn /

Không có mui xe / thùng xe có xước” như bốn chặng gập ghềnh, khúc khuỷu, đầy chông gai bom

đạn Hai câu cuối âm điệu đối chọi lại, trôi chảy, hình ảnh đậm nét Đoàn xe đã chiến thắng, vượt

lên bom đạn, hăm hở hướng ra tiền tuyến lớn với tình cảm thiêng liêng “vì miền Nam”, vì cuộc

chiến đấu giành độc lập, thống nhất cho cả nước Chói ngời, toả sáng khổ thơ, cả bài thơ là hình

ảnh “trong xe có một trái tim” Cội nguồn sức mạnh của cả đoàn xe, gốc rễ anh hùng của mỗi

người cầm lái tích tụ, kết đọng ở "trái tim" gan góc, kiên cường, chứa chan tình yêu nước này Ẩn

sau ý nghĩa câu thơ “chỉ cần trong xe có một trái tim” là chân lý của thời đại chúng ta: sức mạnh

quyết định, chiến thắng không phải là vũ khí, công cụ mà là con người giàu ý chí, anh hùng, lạc

quan, quyết thắng Có thể cả bài thơ hay nhất là câu cuối, “con mắt của thơ”, làm bật lên chủ đề,

toả sáng vẻ đẹp của hình tượng nhân vật trong bài thơ

III Đoàn thuyền đánh cá.

Khi thiên nhiên bước vào trạng thái nghỉ ngơi thì con người bắt đầu làm việ c

- Với sự liên tưởng và so sánh thú vị, Huy Cận đã miêu tả rất thực sự chuyển đổi thời khắc giữa ngày

và đêm khiến cảnh biển vào đêm thật kì vĩ, tráng lệ như thần thoại Vũ trụ như một ngôi nhà lớnvới màn đêm buông xuống là tấm cửa khổng lồ với những lượn sóng hiền hoà gối đầu nhua chạyngang trên biển như những chiếc then cài cửa Phác hoạ được mọi bức tranh phong cảnh kì diệunhư thế hẳn nhà thơ phải có cặp mắt thần và trái tim nhạy cảm

- Màn đêm mở ra đã khép lại không gian của một ngày Giữa lúc vũ trụ, đất trời như chuyển sang

trạng thái nghỉ ngơi thì ngược lại, con người bắt đầu hoạt động: “Đoàn thuyền đánh cá lại ra khơi.

Câu hát căng buồm trong gió khơi -> Sự đối lập này làm nổi bật tư thế lao động của con người

trước biển cả

Trang 13

Nguyễn Hải Đăng – 9D+ Nhịp thơ nhanh mạnh như một quyết định dứt khoát Đoàn ngư dân ào xuống đẩy thuyền ra khơi vàcất cao tiếng hát khởi hành Từ “lại” vừa biểu thị sự lặp lại tuần tự, thường nhật, liên tục mỗi ngày củacông việc lao động vừa biểu thị ý so sánh ngược chiều với câu trên: đất trời vào đêm nghỉ ngơi mà conngười bắt đầu lao động, một công việc lao động không ít vất vả

+ Hình ảnh “câu hát căng buồm” - cánh buồm căng gió ra khơi- là ẩn dụ cho tiếng hát của con người cósức mạnh làm căng cánh buồm Câu hát là niềm vui, niềm say sưa hứng khởi của những người laođộng lạc quan yêu nghề, yêu biển và say mê với công việc chinh phục biển khơi làm giàu cho Tổ quốc

Bốn câu thơ tiếp theo nói về những câu hát để làm nổi bật một nét tâm hồn của người dân chài:

Hát rằng cá bạc biển Đông lặng

Cá thu biển đông như đoàn thoi Đêm ngày dệt biển muôn luồng sáng Đến dệt lưới ta đoàn cá ơi.

- Họ hát khúc hát ca ngợi sự giầu có của biển cả Họ hát bài ca gọi cá vào lưới, mong muốn công việc

đánh cá thu được kết quả tốt đẹp

- Nếu hai khổ thơ đầu miêu tả đoàn thuyền đánh cá ra khơi trong khung cảnh rất đẹp và con người

rất yêu lao động, yêu thiên nhiên thì bốn khổ thơ sau lại tả cảnh đoàn thuyền đánh cá trên biển

bao la, hùng vĩ Mỗi khổ thơ là một nét vẽ về biển trời, sóng nước, trăng sao có nhiều yếu tố lãng

mạn, tràn đầy tưởng tượng dựa trên những yếu tố hiện thực của đời sống trong đó con người hiệnlên trong dáng vẻ trẻ trung, khỏe mạnh và yêu đời

Biển rộng lớn mênh mông và khoáng đạt trong đêm trăng sáng Trên mặt biển đó, có một con

thuyền đang băng băng lướt đi trên sóng:

Thuyền ta lái gió với buồm trăng Lướt giữa mây cao với biển bằng

Ra đậu dặm xa dò bụng biển Dàn đan thế trận lưới vây giăng.

- Với tài quan sát tinh tế cùng cảm hứng lãng mạn, Huy Cận đã phát hiện cảnh đánh cá trên biểntrong dêm trăng với niềm vui phơi phới của người lao động khi đã được làm chủ cuộc đời, làm chủbiển trời quê hương

- Toàn bộ khổ thơ là cảnh đoàn thuyền lướt sóng ra khơi tìm luồng cá của lưới vây giăng, vừa hùngtráng vừa thơ mộng “Thuyền ta lái gió với buồm trăng, lướt giữa mây cao với biển bằng” Conthuyền đánh cá nhỏ bé trước biển trời bao la nay đã trở thành con thuyền kì vĩ sánh ngang cùng vũtrụ, gió trời là người lái, trăng trời là cánh buồm Trăng trời là cánh buồm - cánh buồm thấm đậmánh trăng, trở thành buồm trăng Chủ nhân của con thuyền – người đánh cá cũng trở nên lồnglộng, cao lớn giữa biển trời trong tư thế làm chủ Thuyền và người hoà nhập với kích thước củathiên nhiên và vũ trụ

- Con người không chỉ hoà nhập với thiên nhiên, với vũ trụ mà còn nổi bật ở vị trí trung tâm bởicông việc đánh bắt cá vốn phần nhiều phụ thuộc vào thiên nhiên thì ở đây họ lại trở thành nhữngngười làm chủ Công cuộc lao động, đánh bắt cá chính là cuộc chiến đấu chinh phục thiên nhiên

Họ ra tận khơi xa, dò bụng biển, tìm luồng cá, dàn đan thế trận, đoàn thuyền đánh cá như nhữngchiến thuyền băng băng lướt sóng bủa vây, điệp trùng Ngư dân làm việc với lòng dũng cảm, hăngsay và trí tuệ nghề nghiệp cùng với cả tâm hồn phơi phới của người làm chủ

 Cảm hứng lãng mạn của Huy Cận trước vẻ đẹp của thiên nhiên, của người lao động, của tinh thầnlàm chủ đã được thể hiện thành công trong những câu thơ tái hiện hình ảnh đoàn thuyền a khơiđánh cá trên biển thật hào hùng, lạc quan và thơ mộng

Biển giàu đẹp nên thơ và có thật nhiều tài nguyên:

Cá nhụ cá chim cùng cá đé

Cá song lấp lánh đuốc đen hồng Cái đuôi em quẫy trăng vàng chóe Đêm thở sao lùa nước Hạ Long

Trang 14

Nguyễn Hải Đăng – 9D

- Huy Cận đã ngợi ca sự giàu có của biển cả bằng cách liệt kê tên các loài cá và tập trung miêu tả màusắc của chúng trong đêm trăng Những con cá song giống như ngọn đuốc đen hồng đang lao đitrong luồng nước dưới ánh trăng lấp lánh quả là hình ảnh ẩn dụ độc đáo Tuy nhiên “cái đuôi emquẫy trăng vàng chóe” lại là hình ảnh đẹp nhất Ánh trăng in xuống mặt nước, những con cá quẫyđuôi như quẫy ánh trăng tan ra vàng chóe Phải thật tinh tế mới có được những phát hiện tuyệt vời

ấy Cảnh biển về đêm mới đẹp đẽ và thi vị làm sao!

- “Đêm thở sao lùa nước Hạ Long” là hình ảnh nhân hóa đẹp Đêm được miêu tả như một sinh vật

đại dương: nó thở Tiếng thở của đêm chính là tiếng rì rào của sóng Nhưng tưởng tượng của nhàthơ lại được cắt nghĩa bằng một hình ảnh bất ngờ: sao lùa nước Hạ Long làm nên tiếng thở củađêm Đây là một hình ảnh đảo ngược, sóng biển đu đưa lùa bóng sao trời nơi đáy nước chứ khôngphải bóng sao lùa sóng nước Đây là một hình ảnh lạ - một sáng tạo nghệ thuật của Huy Cận khiếncho cảnh thiên nhiên thêm sinh động

Biển không những giầu đẹp mà còn rất ân nghĩa thủy chung, bao la như lòng mẹ Biển cho con người cá, nuôi lớn con người Những người dân chài đã hát bài ca gọi cá vào với họ:

Ta hát bài ca gọi cá vào

Gõ thuyền đã có nhịp trăng cao

- Không phải con người gõ thuyền để xua cá vào lưới mà là “trăng cao gõ” Trong đêm trăng sáng,vầng trăng in xuống mặt nước, sóng xô bóng trăng dưới nước gõ vào mạn thuyền thành hình ảnh

“nhịp trăng cao gõ” Có thể nói đây là hình ảnh lãng mạn đầy chất thơ làm đẹp thêm công việc laođộng đánh cá trên biển Thiên nhiên đã cùng với con người hòa đồng trong lao động

- Câu thơ “biển cho ta cá như lòng mẹ Nuôi lớn đời ta tự buổi nào” là một lời hát ân tình sâu sắctrong bài ca lao động say sưa thơ mộng, hùng vĩ và đầy lòng biết ơn

Một đêm trôi đi thật nhanh trong nhịp điệu lao động hào hứng hăng say:

Sao mờ kéo lưới kịp trời sáng

Ta kéo xoăn tay chùm cá nặng Vẩy bạc đuôi vàng lóe rạng đông Lưới xếp buồm lên đón nắng hồng.

- Những đôi bàn tay kéo lưới nhanh thoăn thoắt gợi lên vẻ đẹp rắn rỏi, khỏe mạnh với những bắptay cuồn cuộn của người dân chài khi kéo mẻ lưới đầy cá nặng Từ phía chân trời bắt đầu bừngsáng Khi mẻ lưới được kéo lên, những con cá quẫy dưới sánh sáng của rạng đông và lóe lên màuhồng gợi khung cảnh thật rạng rỡ huy hoàng, tươi đẹp Câu thơ “lưới xếp buồm lên đón nắnghồng” tạo một sự nhịp nhàng giữa sự lao động của con người với sự vận hành của vũ trụ Conngười muốn chia sẻ niềm vui với ánh bình minh

Và đây là hình ảnh đoàn thuyền đánh cá trên đường trở về:

Câu hát căng buồm với gió khơi Đoàn thuyền chạy đua cùng mặt trời Mặt trời đội biển nhô màu mới Mắt cá huy hoàng muôn dặm phơi.

- Khổ đầu và khổ cuối đều có hai hình ảnh chính là mặt trời và đoàn thuyền Ở khổ đầu là mặt trờixuống biển và đoàn thuyền ra khơi, khổ cuối là hình ảnh mặt trời nhô lên và đoàn thuyền trở về Cómột câu thơ gần như lặp lại nguyên vẹn ở cả hai khổ (chỉ khác chữ “với” thay cho chữ “cùng”)

- Việc lặp lại những hình ảnh và chi tiết này tạo nên sự tương ứng của khổ đầu và khổ cuối bài thơ,thể hiện trọn vẹn hành trình ra khơi đánh cá rồi trở về của đoàn thuyền, nhịp cùng với sự vận hànhcủa vũ trụ từ hoàng hôn đến bình minh Đoàn thuyền ra đi trong tiếng hát làm việc trong tiếng hát,trở về vẫn hát vang Tiếng hát sau một đêm lao động vẫn hào hứng, mạnh mẽ - tiếng hát thắng lợihân hoan

- Đoàn thuyền trở về trong tư thế hào hùng khẩn trương, chạy đua cùng mặt trời Trong cuộc chạyđua này, con người đã chiến thắng “Mắt cá huy hoàng muôn dặm phơi”; biện pháp thậm xưng kếthợp hoán dụ để nói lên sức mạnh của con người

Trang 15

Nguyễn Hải Đăng – 9D

- Bài thơ kết thúc bằng một hình ảnh đẹp của một ngày mới khi đoàn thuyền đang trở về, các khoangđầy ắp cá Thuyền và người luôn được đặt ở kích thước vũ trụ, mạnh mẽ, hào hùng Lời thơ trànđầy niềm vui và tự hào của những người lao động đã chiến thắng

 Bài thơ là một khúc ca – khúc tráng ca ca ngợi con người trong lao động với tinh thần làm chủ, vớiniềm vui Bài thơ có nhiều từ “hát” được lặp lại khiến nó thực sự là một khúc ca

- Thể thơ 7 chữ, nhịp 4/3 là chủ yếu, rất khoẻ khoắn Lời thơ dõng dạc, điệu thơ như khúc hát say

mê, hào hứng của tác giả Cách gieo vần biến hoá linh hoạt, vần trắc xen vầng bằng, vần liền xenvần cách Bài thơ là sự kết hợp giữa hai cảm hứng của tác giả - cảm hứng lãng mạn và cảm hứngthiên nhiên vũ trụ

IV Ánh trăng

- Tác giả đã mở đầu bài thơ với hình ảnh trăng trong kí ức tuổi thơ của nhà thơ và trong chiếntranh:

“Hồi nhỏ sống với đồng với sông rồi với bể hồi chiến tranh ở rừng vầng trăng thành tri kỉ”

- Hình ảnh vầng trăng đang được trải rộng ra trong cái không gian êm đềm và trong sáng của thuổithơ Hai câu thơ với vẻn vẹn mười chữ nhưng dường như đã diễn tả một cách khái quát về sự vậnđộng cả cuộc sống con người Mỗi con người sinh ra và lớn lên có nhiều thứ để gắn bó và liên kết.Cánh đồng, sông và bể là nhưng nơi chốn cất giữ bao kỉ niệm của một thời ấu thơ mà khó có thểquên được Cũng chính nới đó, ta bắt gặp hình ảnh vầng trăng Với cách gieo vần lưng “đồng”,

“sông” và điệp từ “ với” đã diễn tả tuổi thơ được đi nhiều, tiếp xúc nhiều và được hưởng hạnhphúc ngắm những cảnh đẹp của bãi bồi thiên nhiên cũa tác giả.Tuổi thơ như thế không phải aicũng có được ! Khi lớn lên, vầng trăng đã theo tác giả vào chiến trường để “chờ giặc tới”.Trăngluôn sát cánh bên người lính, cùng họ trải nghiệm sương gió, vượt qua những đau thương và khốcliệt của bom đạn kẻ thù Người lính hành quân dưới ánh trăng dát vàng con đường, ngủ dưới ánhtrăng, và cũng dưới ánh trăng sáng đó, tâm sự của những người lính lại mở ra để vơi đi bớt nỗi côđơn, nỗi nhớ nhà Trăng đã thật sự trở thành “tri kỉ” của người lính trong nhưng năm tháng máulửa

- Khổ thơ thứ hai như một lời nhắc nhở về những năm tháng đã qua của cuộc đời người lính gắn bóvới thiên nhiên, đất nước hiền hậu, bình dị Vầng trăng đó, người bạn tri kỉ đó, ngỡ như sẽ khôngbao giờ quên được:

“Trần trụi với thiên nhiên hồn nhiên như cây cỏ ngỡ không bao giờ quên cái vầng trăng tình nghĩa”

- Vần lưng một lần nữa lại xuất hiện: “trần trụi”, “hồn nhiên”, “thiên nhiên” làm cho âm điệu câuthơ thêm liền mạch, dường như nguồn cảm xúc cũa tác giả vẫng đang tràn đầy Chính cái hình ảnh

so sánh ẩn dụ đã tô đậm lên cái chất trần trụi, cái chất hồn nhiên của người lính trong những nămtháng ở rừng Cái vầng trăng mộc mạc và giản dị đó là tâm hồn của những người nhà quê, củađồng, của sông, của bể và của những người lính hồn nhiên, chân chất ấy Thế rồi cái tâm hồn -vầng trăng ấy sẽ phải làm quen với môt hoàn cảnh sống hoàn toàn mới mẻ:

“Từ hồi về thành phố quen ánh điện, cửa gương vầng trăng đi qua ngõ như người dưng qua đường”

- Thời gian trôi qua cuốn theo mọi thứ như một cơn lốc, chỉ có tình cảm là còn ở lại trong tâm hồnmỗi con người như một ánh dương chói loà Thế nhưng con người không thể kháng cự lại sự thayđổi đó.Người lính năm xưa nay cũng làm quen dần với những thứ xa hoa nơi “ánh điện, cửa

Ngày đăng: 04/12/2014, 20:11

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w