việc học từ vựng tiếng Anh đối với học sinh THCS hòa toàn không đơn giản, nhất là đối với học sinh lớp 6. Khi còn học tiểu học các em đã được làm quen với Tiếng Anh một cách nhẹ nhàng và kiến thức không mấy khó khăn, nhưng lên lớp 6 kiến thức nhiều và khó hơn. Đặc biệt đa số các em cảm thấy việc học từ vựng rất khó học và mau quên do hệ thống phát âm và chữ viết khác tiếng mẹ đẻ. Từ đó dẫn đến việc học từ vựng của các em trở nên căng thẳng, không mấy hứng thú khi học từ vựng. Như vậy phải làm cách nào đó để giúp các em cảm thấy thoải mái hơn, thích thú hơn, ghi nhớ từ nhanh hơn, lâu hơn và có thể sử dụng vốn từ học được trong giao tiếp. Đây là lí do tôi muốn đưa ra sáng kiến của mình cho mọi người cùng xem và góp ý đó là “ Một số phương pháp dạy từ vựng tiếng Anh cho học sinh lớp 6”
Trang 1I.PHẦN MỞ ĐẦU:
I.1. Lý do chọn đề tài :
Hiện nay giáo dục có vai trò rất quan trọng đối với sự tồn tại và phát triển của xã hội và là tiêu chuẩn để đánh giá sự phát triển của một quốc gia Đặc biệt trong thời đại ngày nay khoa học công nghệ đang phát triển rất nhanh, trong khi
đó nước ta đang trong thời kỳ hội nhập quốc tế Để lĩnh hội được những tinh hoa văn hóa, khoa học kỹ thuật tiến bộ, hiện đại của các quốc gia phát triển đòi hỏi chúng ta phải có trình độ ngoại ngữ nhất định Trong khi đó tiếng Anh là một ngôn ngữ quốc tế, là phương tiện giao lưu quốc tế hữu hiệu nhất Vì thế tiếng Anh là môn học không kém phần quan trọng đối với thế hệ trẻ đặc biệt là thế hệ học sinh
Hơn nữa, trong bối cảnh hiện nay toàn ngành giáo dục và đào tạo đang nổ lực đổi mới phương pháp dạy học theo hướng phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của học sinh trong họat động học tập Áp dụng trong việc day học ngoại ngữ những định hướng đổi mới ngày càng đúng Vì không ai có thể thay thế người học trong việc nắm các phương tiện ngoại ngữ và sử dụng chúng trong hoạt động giao tiếp bằng chính năng lực giao tiếp của mình Giao tiếp là mục tiêu cuối cùng của việc dạy và học ngoại ngữ ở trường phổ thông Thông thường trong tiếng Anh có 4 kỹ năng nghe, nói, đọc, viết vì thế giáo viên phải kết hợp 4
kỹ năng đó Nhưng để thực hành bất kỳ kỹ năng nào đòi hỏi các em phải có vốn
từ vựng cần thiết
Tuy nhiên, việc học từ vựng tiếng Anh đối với học sinh THCS hòa toàn không đơn giản, nhất là đối với học sinh lớp 6 Khi còn học tiểu học các em đã được làm quen với Tiếng Anh một cách nhẹ nhàng và kiến thức không mấy khó khăn, nhưng lên lớp 6 kiến thức nhiều và khó hơn Đặc biệt đa số các em cảm thấy việc học từ vựng rất khó học và mau quên do hệ thống phát âm và chữ viết khác tiếng mẹ đẻ Từ đó dẫn đến việc học từ vựng của các em trở nên căng thẳng, không mấy hứng thú khi học từ vựng Như vậy phải làm cách nào đó để giúp các
em cảm thấy thoải mái hơn, thích thú hơn, ghi nhớ từ nhanh hơn, lâu hơn và có
Trang 2thể sử dụng vốn từ học được trong giao tiếp Đây là lí do tôi muốn đưa ra sáng kiến của mình cho mọi người cùng xem và góp ý đó là “ Một số phương pháp dạy từ vựng tiếng Anh cho học sinh lớp 6”
I.2 Mục tiêu, nhiệm vụ của đề tài
Với việc nghiên cứu thành công đề tài, sáng kiến kinh nghiệm sẽ giúp giáo viên
có những kinh nghiệm sau:
1 Hiểu rõ các phương pháp dạy từ vựng cho học sinh
2 Cách thức trình tự khi dạy từ vựng tiếng Anh cho học sinh lớp 6
3 Nghiên cứu các tài liệu hướng dẫn dạy tiếng Anh, các kỹ thuật dạy từ vựng
4 Thao giảng, dạy thử nghiệm
5 Dự giờ đồng nghiệp, trao đổi, rút kinh nghiệm
6 Kiểm tra, đánh giá kết quả việc nắm bắt bài của học sinh để từ đó có sự điều chỉnh, bổ sung hợp lý
7 Hướng dẫn học sinh tự luyện tập, rèn luyện để có kỹ năng sử dụng từ vựng tiếng Anh trong giao tiếp
I.3.Đối tượng nghiên cứu của đề tài
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là học sinh lớp 6 trường THCS.
I.4 Gi ới hạn phạm vi nghiên cứu
Phạm vi nghiên cứu trong trường THCS
I.5 Phương pháp nghiên cứu
1 Đọc đề tài:
Để làm nên đề tài này tôi đã nghiên cứu thu tập các tài liệu có liên quan đến
đề tài, học hỏi thêm kinh nghiệm của giáo viên khác Nhờ đó, định hướng được nội dung của đề tài, hiểu rõ vấn đề nghiên cứu và giải quyết vấn đề với những tư liệu tương đối chính xác
Trang 32 Điều tra:
a Dự giờ: Qua dự giờ các đồng nghiệp trong trường và đúc kết ra một số kinh
nghiệm dạy từ vựng trong phân môn tiếng Anh
b Thực nghiệm: thực nghiệm của bản thân qua các bài dạy trên lớp, áp dụng một số phương pháp dạy từ vựng trong mỗi tiết dạy và tự đánh giá hiệu quả của các phương pháp đó
c Đàm thoại: Qua các cuộc thảo luân về những vấn đề khó trong phương pháp giảng dạy tiếng Anh và phương pháp dạy từ vựng mới
d Kiểm tra: Qua kết quả kiểm tra chất lượng học sinh, giáo viên tự nhận xét đánh hiệu quả của việc sử dụng một số phương pháp dạy từ vựng và đề ra những giải pháp phù hợp hơn
II NỘI DUNG
II.1/ Cơ sở lý luận
a Cơ sở pháp lý
- Căn cứ nghị quyết số 40/2000/QH của Quốc Hội về đổi mới chương trình giáo dục phổ thông
- Các chuyên đề của Sở, Phòng Giáo Dục và Đào Tạo về cải tiến phương pháp dạy học ở trường phổ thông
- Tài liệu “Một số vấn đề đổi mới phương pháp dạy học ở trường THCS” của Bộ
Giáo Dục và Đào Tạo, xuất bản năm 2002
b Cơ sở khoa học:
- Căn cứ vào mục tiêu giáo dục hiện nay đang tập trung hướng vào việc phát triển tính năng động, sang tạo và tích cực của học sinh nhằm tạo khả năng nhận biết và giải quyết vấn đề của các em và lấy học sinh là trọng tâm trong vấn đề giảng dạy Để góp phần đạt được mục tiêu này, việc sử dụng các phương pháp khi dạy từ vựng cho học sinh thay cho việc dạy từ vựng theo lối truyền thống – giáo viên cung cấp từ và nghữ nghĩa là rất cần thiết
Trang 4- Căn cứ vào định hướng đổi mới phương pháp dạy học tiếng Anh ở trường THCS của Bộ Giáo Dục và Đào Tạo Tiêu chí cơ bản của phương pháp dạy học mới là hoạt động tự lập, tích cực, chủ động của học sinh trong việc giải quyết các nhiệm vụ giao tiếp bằng ngôn ngữ Tiêu chí chủ yếu để đánh giá kết quả học tập của học sinh là năng lực giao tiếp, năng lực ứng xử bằng ngôn ngữ trong các tình huống giao tiếp cụ thể Mà từ vựng là thành phần chính trong hoạt động giao tiếp
Do vậy, việc giúp học sinh tích lũy một vốn từ vựng cần thiết là một việc làm không kém phần quan trọng
- Căn cứ vào mục đích của việc học ngoại ngữ: không phải là hệ thống ngữ âm,
từ vựng, ngữ pháp mà là biết sử dụng các hệ thống đó để đạt được mục đích giao tiếp Vì vậy, việc giúp học sinh biết vận dụng từ vựng vào ngữ cảnh giao tiếp là một việc không thể thiếu và không đơn giản đối với giáo viên
II.2 Thực trạng:
a Thuận lợi-khó khăn:
*Thuận lợi:
- Học sinh khối 6 trong toàn trường có 87% học sinh người kinh và chỉ có 13% là học sinh dân tộc vì vậy sự tiếp thu của học sinh có phần nổi trội và dễ dàng hơn
- Sách giáo khoa của học sinh được trang bị đầy đủ ngay từ đầu năm học
- Trường có giáo viên tâm huyết với nghề, kiến thức vững vàng, hiểu biết về phương pháp dạy học mới, có thay nghề khá giỏi Do đó, bản thân được học hỏi kinh nghiệm giảng dạy và những sáng kiến qua dự giờ, trao đổi, thảo luận
- Bản thân nhà trường phân công giảng dạy tiếng Anh 6 được 2 năm nên ít nhiều đã đúc kết được một số kinh nghiệm giảng dạy, đặc biệt có chú ý đến phương pháp dạy từ vựng Hơn nữa tôi luôn tìm tòi nghiên cứu tài liệu, tự bồi dưỡng nâng cao kiến thức và chuyên môn nghiệp vụ, luôn cố gắng đầu tư soạn giảng theo phương pháp mới , luôn suy nghĩ cố gắng thiết kế hoạt động học tập cho học sinh theo hướng tích cực, chủ động và sáng tạo, đặc biệt luôn phân loại
Trang 5và sử dụng các phương pháp dạy từ vựng cho hầu hết mỗi tiết dạy Sau đó tự rút kinh nghiệm cho bản thân để có giải pháp thích hợp cho tiết học sau tốt hơn
- Được sự quan tâm của nhà trường về các thiết bị dạy học như: trường có hai bộ tranh tiếng Anh 6, hỗ trợ một phần cho việc dạy từ vựng của giáo viên Ngoài ra trường còn được trang bị máy chiếu và hệ thống âm thanh tốt nên thuận lợi cho giáo viên giảng dạy giáo án điện tử
- Giáo viên tự sưu tầm, làm thêm đồ dùng dạy học cho hầu hết mỗi tiết dạy để thực hiện tốt việc dạy từ vựng, gây hứng thú, óc tò mò và phát huy tính chủ động của học sinh
- Một số phụ huynh học sinh rất quan tâm đến việc học của con em và tạo cho các em một góc học tập riêng
- Các em học sinh được làm quen với môn tiếng Anh từ lúc còn học tiểu học nên một phần hỗ trợ việc học hiện tại của các em
* Khó khăn:
- Vì đây là môn học rất khó đối với các em học sinh lớp 6, một số em còn bỡ ngỡ, chưa quen với cách học tiếng Anh cho nên các em cò rụt rè, chứ hết mình tham gia vào hoạt động học tập, cảm thấy không tự tin và sợ mắc lỗi khi đọc
và sử dụng từ vựng vào giao tiếp
- Một số em cò ham chơi, chưa ý thức học tập cao Thêm vào đó các em ít chú trọng vào việc học và rất lười học bài nhất là từ vựng tiếng Anh Bên cạnh đó một số em có học từ vựng nhưng chỉ theo hình thức học vẹt, không biết vận dụng vào ngữ cảnh thực tế, vì vậy các em không thể nhớ được hết từ vựng khi
sử dụng trong giao tiếp và trong luyện tập
- Bản thân giáo viên tuy có sưu tầm và tìm tòi tài liệu chuyên môn nhưng vẫn còn hạn chế về các tài liệu có liên quan đến phương pháp day từ vựng Tuy có
áp dụng các phương pháp dạy từ vựng ở hầu hết mỗi tiết dạy nhưng hiệu quả chưa cao và đôi khi sử dụng chưa phù hợp Giáo viên thường gặp khó khăn trong việc dạy từ trừu tượng và chưa thiết lập tình huống, ngữ cảnh phù hợp
để học sinh tham gia đoán nghĩa của từ một cách có hiệu quả
Trang 6- Tuy có máy cassette và tranh nhưng chưa đủ đáp ứng cho mỗi tiết dạy, không thuận lợi cho việc áp dụng phương pháp dạy học mới
b Thành công-hạn chế:
* Thành công:
Với nghiên cứu này đã có những thành công đáng kể:
- Học sinh hiểu được tầm quan trọng của môn tiếng anh nhiều hơn, qua đó học sinh tiếp thu bài nhanh hơn với những phương pháp học mới làm cho học sinh hứng thú hơn
- Với học dinh lớp 6 những hình ảnh,âm thanh từ các phương tiện dạy học làm cho các em có hứng thú hơn,trong các tiết dạy bằng các hình ảnh phương tiện giúp các em nhớ từ vựng nhanh và lâu hơn
- Học sinh lớp 6 học tiếng anh từ cấp tiểu học nên đa số các em phần nào nắm bắt được một số từ vựng thông thường, vì vậy giáo viên cũng đỡ khó khăn hơn trong bước đầu dạy từ vựng
* Hạn chế.
- Mặc dù có sự quan tâm dạy dỗ của giáo viên nhưng một số học sinh tiếp thu bài học còn chậm, đặc biệt là nhớ từ vựng và mắc lỗi trong cách đọc và phát
âm từ,nên không dám đọc trước lớp
- Vì là môn học khó vất khác so với các môn học khác,nên công tác giảng dạy còn gặp nhiều khó khăn
c Mặt mạnh – Mặt yếu
* Mặt mạnh:
- Trường có nhiều giáo viên tâm huyết với nghề, có kiến thức chuyên môn vững vàng và luôn có nhiều ý tưởng, có kinh nghiệm trong giảng dạy.có nhiều phương pháp giảng dạy mới vì thế mà tôi đã được học hỏi, đúc kết nhiều kinh nghiệm hơn trong công tác giảng dạy của mình
Trang 7- Giáo viên tự sưu tầm và làm được nhiều đò dùng dạy học hay và sáng tạo được ứng dụng hầu hết trong các tiết học tạo hứng thú, không gây nhàm chán cho học sinh
- Học sinh lớp 6 thích ham học hỏi và luôn tò mò vì thế đối với môn học này càng tạo sự tò mò và phát huy trí tưởng tưởng của các em
* Mặt yếu:
- Trường có nhiều học sinh có hoàn cảnh gia đình khó khăn, một buổi các em học trên lớp, một buổi các em ở nhà phụ giúp gia đình nên còn hạn chế trong thời gian học tập
d Các nguyên nhân, yếu tố tác động:
- Với tâm huyết yêu nghề tôi luôn cố gắng phát huy hết sức mình, tìm tòi, tham khảo để có được bài sáng kiến kinh nghiệm này Tôi luôn mong muốn mang những kiến thức của môn học đến với học sinh một cách mới mẻ và không mang tính chất truyền thống
- Từ những thực tế kinh nghiệm giảng dạy trong 3 năm qua tôi đã đúc kết và ghi chép lại từ những điều làm được và những điều chưa làm được
- Với một ngôi trường có nhiều bề nổi trội từ các phong trào học tập đã làm dấy lên trong tôi với những tư tưởng về sáng kiến đổi mới trong phương pháp dạy học
e Phân tích, đánh giá các vấn đề về thực trạng mà đề tài đã đặt ra:
Với các phương pháp đổi mới dạy học của bộ môn hiện nay nhằm giúp
các em tiếp cận với bộ môn một cách nhanh chóng và hiêu rõ được hơn tầm quan trọng của bộ môn vì thế với những thực trạng được nêu ra đã được đúc kết kinh nghiệm từ các tiết học cho đến các hoạt động khác trong trường Trường có nhiều thiết bị dạy học phục vụ cho công tác giảng dạy nhưng người giáo viên cần tham khảo, sưu tầm và thiết kế ra các đồ dùng khác nhằm phù hợp với bộ môn và thu hút học sinh không gây sự nhàm chán
Trang 8Học sinh lớp 6 là những em mới bắt đầu từ tiểu học lên cấp THCS vì thế sự tiếp thu bài học còn yếu, các em chưa bắt kịp với phương pháp học của cấp 2
Vì thế đòi hỏi phải có những phương pháp đổi mới trong công tác giảng dạy
để đáp ứng được sự tiếp nhận của học sinh Với phương pháp hiện nay lấy học sinh làm trung tâm nên phải khai thác được tính tư duy, sáng tạo của các em giúp các em hoàn thiện hơn về nhân cách cũng như về học tập
Ngoài sự nhiệt tình của người giáo viên ra thì cha mẹ học sinh là những người hết sức quan trọng trong việc dạy dỗ các em, sự quan tâm chu đáo từ các bậc phụ huynh là nền móng giúp các em học tập tốt hơn
Từ thực trạng trên với cương vị là một giáo viên dạy bộ môn tiếng Anh, tôi đặt ra nhiệm vụ cho mình là nghiên cứu và đổi mới phương pháp dạy từ vựng tiếng Anh 6 đạt hiệu quả Thực tế cho thấy chất lượng dạy học tiếng Anh và khả năng vận dụng kiến thức vào giao tiếp thực tế của học sinh sẽ không được cải thiên nếu như vẫn tiếp tục duy trì dạy từ vựng theo lối: thầy cung cấp từ và ngữ nghĩa, học sinh ghi nhận và tiếp thu Hơn nữa cách dạy học đó đã quá lạc hậu và không còn đáp ứng được yêu cầu dạy học ngoại ngữ trong thời kỳ mới II.3/ Gi ải pháp- Biện pháp :
a Mục tiêu của giải pháp, biện pháp:
- Để giúp học sinh cảm thấy thoải mái, hứng thú học từ vựng, ghi nhớ từ nhanh hơn, lâu hơn, có thể sử dụng vốn từ mới học vào thực hành tại lớp trôi chảy và chủ động huy động vốn từ đã tích lũy được để bắt chước, tìm tòi cách ứng xử và ứng xử sáng tạo trong các tình huống giao tiếp
- Nâng cao tính tự giác, sáng tạo và tìm tòi của học sinh biết vận dụng từ vựng tiếng Anh trong học tập và trong giao tiếp
- Giáo viên có thể thể hiện hết năng lực của bản thân, tham gia nhiệt tình hơn trong công tác giảng dạy
b Nội dung và cách thức thực hiện phương pháp dạy từ vựng:
b.1 Chọn từ để dạy:
Trang 9Thông thường trong một bài học sẽ luôn luôn có từ mới Song không phải
từ mới nào cũng cần đưa vào dạy như nhau Để lựa chọn từ để dạy giáo viên cũng cần xem xét những câu hỏi sau:
-Từ chủ động hay bị động?
- Từ chủ động (active/ productive vocabulary) là những từ học sinh hiểu, nhận biết và sử dụng được trong giao tiếp nói và viết
- Từ bị động (passive / receptive vocabulary) là những từ học sinh chỉ hiểu và nhận biết được khi nghe và đọc
VD: Bài 3 – C1 / trang 38, từ mới cần dạy là : An engineer, we, our, they, me, their
Từ chủ động: an engineer
Từ bị động: we, our, they, me, their
Cách dạy hai loại từ này có khác nhau, từ chủ động liên quan đến 4 kỹ năng: nghe, nói, đọc, viết, cần đầu tư thời gian để giới thiệu và luyện tập nhiều hơn, đặc biệt là cách sử dụng Với từ bị động giáo viên có thể chỉ dừng lại ở mức nhận nhận biết, không cần đầu tư thời gian vào các hoạt động ứng dụng Giáo viên cần xác định xem sẽ dạy từ nào như một từ bị động và từ nào như một từ chủ động Với từ bị động giáo viên có thể khuyến khích học sinh tự tìm hiểu nghĩ ( tra từ điển hoặc đoán từ qua ngữ cảnh )
-Học sinh đã biết từ này chưa?
Giáo viên cần xác định rõ từ mình định dạy có thực sự từ mình cần dạy hay không Vốn từ của học sinh luôn luôn được mở rộng bằng nhiều con đường và cũng có thể bị quên bằng nhiều lí do khác nhau Để tránh tình trạng giới thiệu những từ không cần thiết và mất thời gian, giáo viên có thể dùng những phương pháp nhằm phát hiện xem các em đã biết từ đó chưa và biết đến đâu Giáo viên có
thể dùng các phương pháp như : eliciting, brainstorming, network…trước khi giới
thiệu từ mới
Vd: Bài 3-C1/trang 38, giáo viên ôn lại từ đã học bằng phương pháp network:
Trang 10
b.2 Những phương pháp làm rõ nghĩa từ
Quá trình nghiên cứu tài liệu và thực nghiệm giảng dạy trên lớp,bản thân đã rút ra được một số phương pháp làm rõ nghĩa từ như sau:
*Dùng trực quan như : đồ vật thật,tranh ảnh,hình vẽ minh họa cắt dán từ
tạp chí,cử chỉ điệu bộ có tác dụng mạnh mẻ đến hứng thú học tập của học sinh
và giúp học sinh ghi nhớ từ nhanh hơn,lâu hơn
Vd1: Bài 2-C2/trang 28:giáo viên sử dụng vật thật có trong lớp học và vật thật
chuwnj bị ở nhà để giới thiệu những từ sau: a door, a window, a board, a clock,
a waste basket, a pencil,
Vd2: Bài 3-A1/trang 30:giáo viên sử dụng tranh vẽ hoặc tranh photo để giới thiệu
các từ sau: a telephone, a lamp, a couch, a bookshelf, an armchair, a stereo,
Vd3: Bài 9-B1/trang 100 giáo viên phác họa các chi tiết trên khuôn mặt để giới
thiệu các từ sau: face, hair, eye, ear, nose, lips, mouth
Face
Hair
Eye(s )
nose
family
father mother
rr