1. Trang chủ
  2. » Kinh Doanh - Tiếp Thị

Tài liệu quản lý kinh doanh

30 332 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 30
Dung lượng 221,44 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Khái niệm quản lý kinh doanh Quản lý kinh doanh là sự tác động của chủ thể quản lý một cách liên tục, có tổ chức tớiđối tượng quản lý là tập thể những người lao động trong doanh nghiệp,

Trang 1

Quản lý kinh doanh

Biên tập bởi:

Hoàng Văn Trường

Trang 2

Quản lý kinh doanh

Trang 3

MỤC LỤC

1 Khái niệm quản lý kinh doanh

2 Đặc điểm của quản lý kinh doanh

3 Vai trò quan trọng của quản lý vàcác yếu tố tạo nên thành công của kinh doanh vàquản lý kinh doanh

4 Quản lý kinh doanh là một khoa học, một nghệ thuật và là một nghề

5 Các chức năng quản lý kinh doanh

6 Các phương pháp quản lý kinh doanh

7 Quản lý nhân sự trong kinh doanh

Tham gia đóng góp

Trang 4

Khái niệm quản lý kinh doanh

Hoạt động kinh doanh là một lĩnh vực rất cần có sự quản lý với tính đặc thù cố định rõrệt so với các hoạt động khác Có các cách hiểu và diễn đạt khác nhau về khái niệm

Theo cách hiểu thông thường, kinh doanh là việc đưa ra một số vốn ban đầu vào hoạtđộng trên thị trường để thu một lượng tiền lớn hơn sau một thời gian nào đó

Trước đây trong nền kinh tế hiện vật, chúng ta thường chỉ nói đến sản xuất (tạo ra sảnphẩm vật thể) Trong nền kinh tế thị trường, khái niệm sản xuất được hiểu theo nghĩarộng hơn, khái niệm sản xuất được hiểu theo nghĩa rộng hơn, bao gồm quá trình tạo rasản phẩm (Goods) hoặc dịch vụ (Services) tức là đầu ra bao gồm cả vật thể và phi vậtthể Sự chuyển hoá các đầu vào (Inpust) thành các đầu ra (Outputs) được thực hiện nhằmmục tiêu lợi nhuận đó là kinh doanh

Khái niệm quản lý kinh doanh

Quản lý kinh doanh là sự tác động của chủ thể quản lý một cách liên tục, có tổ chức tớiđối tượng quản lý là tập thể những người lao động trong doanh nghiệp, sử dụng có hiệuquả mọi nguồn lực và cơ hội để tiến hành hoạt động kinh doanh đạt tới mục tiêu củadoanh nghiệp theo đúng pháp luật và thông lệ, trong điều kiện biến động của môi trườngkinh doanh với hiệu quả tối ưu

Trang 5

Đặc điểm của quản lý kinh doanh

Qua khái niệm đó, có thể thấy các đặc điểm của quản lý kinh doanh là:

- Cần có sự tác động thường xuyên liên tục trong mỗi chu kỳ kinh doanh và trong toàn

bộ thời gian tồn tại doanh nghiệp

- Chủ thể quản lý bao gồm chủ sở hữu và người điều hành

- Đối tượng chủ yếu là tập thể lao động, xét đến cùng là con người (thông qua đó tácđộng đến các nguồn lực khác)

- Mục tiêu không chỉ là thực hiện được khối lượng công việc (sản phẩm, dịch vụ) màphải đạt hiệu quả kinh tế cao nhất, lợi nhuận lớn nhất trong khả năng cho phép

- Luôn gắn với môi trường (chủ yếu là thị trường, thể chế kịp thời thích ứng với các biếnđộng của môi trường)

Trang 6

Vai trò quan trọng của quản lý vàcác yếu tố tạo nên thành công của kinh doanh và quản

lý kinh doanh

VAI TRÒ QUAN TRỌNG CỦA QUẢN LÝ

Để tồn tại và không ngừng phát triển, con người có thể hành động riêng lẻ, mà cần tổchức phối hợp những nỗ lực cá nhân hướng vào những mục tiêu chung Quá trình tổchức sản xuất ra của cải vật chất và tổ chức cuộc sống an toàn của cộng đồng xã hộingày càng được thực hiện trên quy mô lớn hơn với tính chất phức tạp hơn; Đòi hỏi có

sự phân công, điều khiển để liên kết các con người trong tổ chức

Chính từ sự phân công chuyên môn hoá, hiệp tác hoá lao động và sự quy định lẫn nhaugiữa sự vận động của lao động vật hoá với lao động sống đã làm xuất hiện một chứcnăng đặc biệt; chức năng quản lý C.Mác đã chỉ ra: "Moi lao động xã hội trực tiếp hoặclao động chung khi thực hiện trên một quy mô tương đối lớn, ở mức độ nhiều hay ít đềucần đến quản lý" Ông đã đưa ra một hình tượng dễ hiểu về vai trò của quản lý: "Mộtnghệ sĩ vĩ cầm thì tự điều khiển mình, còn dàn nhạc thì cần có nhạc trưởng"

Sự quản lý cần thiết đối với mọi lĩnh vực hoạt động trong xã hội, từ mỗi đơn vị sản xuất

- kinh doanh đến toàn bộ nền kinh tế quốc dân; từ một đơn vị dân cư đến một đất nước

và những hoạt động trên phạm vi khu vực, phạm vi toàn cầu Mục tiêu cụ thể và phươngthức quản lý trên đại thể được chia ra 2 cấp độ: quản lý vi mô (trong phạm vi một đơnvị) và quản lý vĩ mô (trên phạm vi một địa phương, một nước…)

Thực trạng hiện nay cho thấy là nền kinh tế Việt Nam đang thực sự thiếu những nhàquản lý kinh doanh thực sự, được đào tạo bài bản và kinh nghiệm phong phú Chúng tamới chỉ có những nhà quản lý kinh doanh dựa trên kinh nghiệm quản lý từ thực tế hoặc

là những nhà quản trị kinh doanh chuyên nghiên cứu về lý thuyết ma chưa kết hợp được

cả hai : kinh nghiệm và lý thuyết

CÁC YẾU TỐ TẠO NÊN THÀNH CÔNG CỦA KINH DOANH VÀ QUẢN

LÝ KINH DOANH

Trong hoạt động kinh tế có 5 yếu tố tạo thành kết quả, đó là: tài nguyên, tiền vốn, côngnghệ, lao động sống và lao động quản lý Nhiệm vụ của quản lý là thông qua con ngườitác động tới các yếu tố còn lại đạt hiệu quả cao Hiệu quả kinh tế thể hiện ở việc sử dụnghợp lý và tiết kiệm nhất đối tượng lao động, tư liệu lao động và sức lao động; giảm chiphí ở đầu vào và nâng cao kết quả ở đầu ra (đó là số lượng sản phẩm, chất lượng sản

Trang 7

phẩm và giá thành) Mục đích của quản lý là đạt được hiệu quả cao nhất cả về số lượng

và chất với chi phí ít nhất; từ đó có lợi nhuận cao

Để đạt được mục đích đó, quản lý phải xác định được mục tiêu rõ ràng, hoạch định đượcchiến lược và kế hoạch chu đáo, tổ chức hợp lý, điều hành phối hợp tốt và có sự kiểmtra chặt chẽ Nó cũng cần có một môi trường hoạt động thuận lợi (trước hết là luật pháp,chính sách và sự hướng dẫn, điều tiết, kiểm tra, hỗ trợ của Nhà nước)

Trang 8

Quản lý kinh doanh là một khoa học, một nghệ thuật và là một nghề

Quản lý kinh doanh là một khoa học

Tính khoa học của quản lý kinh doanh thể hiện ở các đòi hỏi sau:

Một là, phải dựa trên sự hiểu biết sâu sắc các quy luật khách quan chung và riêng (tựnhiên, kỹ thuật và xã hội) Đặc biệt cần tuân thủ các quy luật của quan hệ công nghệ,quan hệ kinh tế, chính trị, của quan hệ xã hội và tinh thần Vì vậy, quản lý học phải dựatrên cơ sở lý luận của triết học, kinh tế học, đồng thời đòi hỏi ứng dụng nhiều thành tựucủa các ngành khoa học tự nhiên, khoa học kỹ thuật

Hai là, phải dựa trên các nguyên tắc tổ chức quản lý (về xác định chức năng, nhiệm vụ,trách nhiệm và quyền hạn; về xây dựng cơ cấu tổ chức quản lý; về vận hành cơ chế quản

lý, đặc biệt là xử lý các mối quan hệ quản lý)

Ba là, phải vận dụng các phương pháp khoa học (như đo lường định lượng hiện đại, dựđoán, xử lý lưu trữ dữ liệu, truyền thông, tâm lý xã hội…); và biết sử dụng cơ chế quản

lý (như quản lý mục tiêu MBO, lập kế hoạch, phát triển tổ chức, lập ngân quỹ, hạch toángiá thành sản phẩm, kiểm tra theo mạng lưới, kiểm tra tài chính, v.v )

Bốn là, phải dựa trên sự định hướng cụ thể đồng thời có sự nghiên cứu toàn diện, đồng

bộ các hoạt động hướng và mục tiêu lâu dài, với các khâu chủ yếu trong từng giai đoạn

Tóm lại, khoa học quản lý cho ta những hiểu biết về các quy luật, nguyên tắc, phươngpháp, kỹ thuật quản lý; để trên cơ sở đó biết cách giải quyết các vấn đề quản lý trong cáchoàn cảnh cụ thể, biết cách phân tích một cách khoa học những thời cơ và những khókhăn trở ngại trong việc đạt tới mục tiêu Tuy nhiên, nó chỉ là một công cụ; sử dụng nócần tính toán đến điều kiện đặc điểm cụ thể từng tình huống để vận dụng sáng tạo, uyểnchuyển (đó là tính nghệ thuật)

Quản lý kinh doanh là một nghệ thuật

Tính nghệ thuật của quản lý kinh doanh xuất phát từ tính đa dạng, phong phú của các sựvật và hiện tượng trong kinh tế, kinh doanh và trong quản lý; hơn nữa còn xuất phát từbản chất của quản lý kinh doanh Những mối quan hệ giữa con người (với những động

cơ, tâm tư, tình cảm khó định lượng) luôn đòi hỏi nhà quản lý phải xử lý khéo léo, linhhoạt Tính nghệ thuật của quản lý kinh doanh còn phụ thuộc vào kinh nghiệm và nhữngthuộc tính tâm lý của từng người quản lý; vào cơ may và vận rủi, v.v

Trang 9

Nghệ thuật của quản lý kinh doanh là việc sử dụng có hiệu quả nhất các phương pháp,các tiềm năng, các cơ hội và các kinh nghiệm được tích luỹ trong kinh doanh nhằm đạtđược mục tiêu đề ra của doanh nghiệp Đó là việc xem xét động tĩnh của công việc kinhdoanh để chế ngự nó, đảm bảo cho doanh nghiệp tồn tại, ổn định và không ngừng pháttriển có hiệu quả cao Nói cách khác, nghệ thuật quản lý kinh doanh là tổng hợp những

"bí quyết", những "thủ đoạn" trong kinh doanh để đạt mục tiêu mong muốn với hiệu quảcao

Nghệ thuật quản lý kinh doanh không thể tìm được đầy đủ trong sách báo; vì nó là bímật kinh doanh và rất linh hoạt Ta chỉ có thể nắm các nguyên tắc cơ bản của nó, kếthợp với quan sát tham khảo kinh nghiệm của các nhà quản lý khác để vận dụng vào điềukiện cụ thể

Quản lý kinh doanh là một nghề

Là một chức năng đặc biệt hình thành từ sự phân công chuyên môn hóa lao động xã hội,hoạt động quản lý kinh doanh phải do một số người được đào tạo, có chuyên môn vàlàm việc chuyên nghiệp thực hiện

Người làm nghề quản lý kinh doanh cần có các điều kiện: năng khiếu quản lý, ý chílàm giàu (cho doanh nghiệp, cho đất nước, cho bản thân), có học vấn cơ bản, được đàotạo về quản lý (từ thấp đến cao), tích luỹ kinh nghiệm, có tác phong năng động và thậntrọng, có đầu óc đổi mới, có phương pháp ứng xử tốt, có phẩm chất chính trị và nhâncách đúng mực, v.v

Trang 10

Các chức năng quản lý kinh doanh

Khái niệm và phân loại các chức năng quản lý kinh doanh

Chức năng quản lý là tổng hợp các loại công việc mà chủ thể quản lý phải thực hiện thường xuyên, liên tục để triển khai các hoạt động đạt tới mục tiêu xác định

Chức năng quản lý kinh doanh là kết quả của quá trình phân công lao động theo hướngchuyên môn hoá lao động quản lý đối với hoạt động kinh doanh Chức năng là cơ sở đểđịn ra các nhiệm vụ cần thực hiện lâu dài, trách nhiệm phải hoàn thành, quyền hạn đượcgiao; là cơ sở để lựa chọn mô hình tổ chức, thiết lập bộ máy và bố trí nguồn nhân lực;đồng thời xác lập các mối quan hệ làmviệc

Chức năng cần được xác định đúng đắn (phục vụ mục tiêu), rõ ràng (không hiểu sai),không trùng chéo Nội dung chính của chức năng được thể hiện cô đọng qua tên gọi củamỗi tổ chức Từ chức năng tổng quát (cơ bản), được phân tách ra những chức năng cụthể (loại việc lớn) cần thực hiện lần lượt mọi hoạt động của doanh nghiệp để kinh doanh

có hiệu quả và không ngừng phát triển

Để xác định chức năng cụ thể của quản lý, có hai cách phân loại theo tiêu chí khác nhau:

Phân loại theo nội dung quá trình quản lý

(từng loại việc lớn cần quản lý để bảo đảm hoàn thành trọn vẹn cả quá trình quản lý)

Henri Fayol phân chia quá trình quản lý ra 5 chức năng cụ thể: hoạch định, tổ chức, điềukhiển, phối hợp và kiểm tra)

Gần đây, có ý kiến (của James Stonner và Stephen P.Robbins) dùng khái niệm "lãnhđạo" theo nghĩa điều hành thay cho hai chức năng điều khiển và phối hợp, như vậy chỉcòn 4 chức năng cụ thể

Hai cách phân loại theo tiêu chí này (dù số lượng chức năng cụ thể có khác nhau) lâunay được coi là hợp lý, phù hợp với mọi cấp bậc quản lý trong mọi tổ chức, để xác địnhkhối lượng công việc và nguồn lực

Phân loại theo lĩnh vực hoạt động kinh doanh cần quản lý, gồm:

- Quản lý marketing (tiếp thị theo nghĩa rộng)

- Quản lý chiến lược kinh doanh

Trang 11

- Quản lý kỹ thuật - công nghệ (sản xuất, dịch vụ)

- Quản lý cung ứng vật tư kỹ thuật

- Quản lý tài chính

- Quản lý bộ máy và con người

Cách phân loại này giúp cho nhà quản lý có tầm nhìn rộng để có các giải pháp cơ bảnvới sự chuẩn bị theo chiều sâu cho sự phát triển lâu dài

Chức năng hoạch định

khái niệm

Hoạch định là chức năng đầu tiên của quản lý, là cơ sở để thực hiện các chức năng cònlại; trên thực tế nó có ảnh hưởng rất lớn đến hiệu quả quản lý và sự phát triển vững bềncủa doanh nghiệp

Nói chung, hoạch định là sự tính toán, dự kiến mọi yếu tố cần thiết cho quá trình kinhdoanh, với tầm nhìn lâu dài cũng như cho từng chu kỳ kinh doanh Về đại thể, công việchoạch định bao gồm: dự báo, xác định mục tiêu, vạch chiến lược (lâu dài), lập kế hoạchhoặc dự án, đề ra các giải pháp thực hiện

Chức năng hoạch định có tác dụng như sau:

a) Là cầu nối cần thiết giữa hiện tượng và tương lai, làm tăng khả năng đạt được các kếtquả mong muốn với mục tiêu rõ ràng Nó khắc phục cách làm mò mẫm, tuỳ tiện, đốiphó thụ động và "ăn xổi" với tầm nhìn hạn hẹp Đó chính là chiến lược trong quản lý

b) Giúp cho nhà quản lý có thể chủ động nhận biết và tận dụng các cơ hội từ môi trườngkinh doanh, ứng phó nhạy bén với các yếu tố bất định, các biến cố xuất hiện trong quátrình hoạt động Đó là tính chủ động và sángtạo trong quản lý

c) Hướng dẫn các nhà quản lý biết cách làm thế nào để đạt được mục tiêu với kết quảtối ưu, biết tập trung vào các trọng điểm trong từng thời gian; tránh phân tán các nguồnlực Đó là tính hiệu lực trong quản lý

d) Phát huy tính tập thể trong lao động, liên kết được mọi người ở mọi vị trí cùng hànhđộng theo một hướng chung, tạo ra sự cạnh tranh lành mạnh trong doanh nghiệp với ýthức trách nhiệm cao Đó là tính hiệp đồng trong quản lý

Trang 12

e) Có cơ sở để kiểm tra được tình hình thực hiện các nhiệm vụ với chuẩn mực rõ ràng,đánh giá được đúng thực chất kết quả hoạt động và sự đóng góp của mỗi bộ phận, mỗi

cá nhân Đó là tính chuẩn mực trong quản lý

Phân biệt cấp độ hoạch định

Trong quản lý kinh doanh, cần phân biệt hai loại (hai cấp độ) hoạch định:

Hoạch định chiến lược: xác định mục tiêu và các việc lớn cần làm trong thời gian dài,

với các giải pháp lớn (mang tính định hướng) để đạt tới mục tiêu trên cơ sở khai thác và

sử dụng tối ưu các nguồn lực hiện có và có thể có

Đây là nhiệm vụ mà người quản lý chủ chốt phải trực tiếp thực hiện và quyết định (với

sự trợ giúp của các bộ máy chức năng); được chuẩn bị rất chu đáo và xét duyệt để có giátrị lâu dài (chỉ điều chỉnh khi có thay đổi lớn từ môi trường)

Trong thực tiễn, một doanh nghiệp có ý đồ phát triển lâu bền cần xây dựng được cácchiến lược sau:

- Chiến lược ổn định: hầu như không thay đổi trong suốt thời gian tồn tại doanh nghiệpvới môi trường ít thay đổi và khả năng quản lý nhất định Ví dụ tiếp tục cung cấp loạisản phẩm, dịch vụ "truyền thống" theo phương thức quen thuộc; tiếp tục duy trì thị phần

và mảng khách hàng sẵn có… Đây là loại chiến lược mang tính duy trì, củng cố; hạnchế tham vọng

Trên thực tế, việc theo đuổi chiến lược này không phải lúc nào cũng dễ dàng, bởi lẽ tâm

lý thông thường của các nhà doanh nghiệp luôn bị hấp dẫn, lôi cuốn vào những côngviệc sáng tạo và phát triển; không muốn an phận, tự mãn

- Chiến lược phát triển: tính đến sự gia tăng, mở rộng hoạt động về nhiều yếu tố: doanhthu, quy mô hoạt động, thị phần, sản phẩm, phương thức dịch vụ… Với sự phát triểncủa thị trường nhu cầu của xã hội và tiềm năng của doanh nghiệp, chiến lược này có thểthực hiện với tầm nhìn và bản lĩnh của nhà quản lý; được dự báo dài hạn tốt và chuẩn bịmọi nguồn lực có thể huy động được

- Chiến lược cắt giảm để tiết kiệm: giảm bớt đầu tư và quy mô hoạt động của doanhnghiệp trong các tình thế bất lợi lớn (khủng hoảng kinh tế - tiền tệ, thiên tai, chiến tranh,

sự sa sút của doanh nghiệp khiến thua lỗ kéo dài, công nợ lớn…)

- Chiến lược kết hợp, điều hoà: thực hiện đồng thời một số chiến lược kể trên ở từng bộphận khác nhau trong doanh nghiệp (phát triển lâu dài mục tiêu này, giữ vững hoặc hạnchế mục tiêu khác trong từng thời gian)

Đây là vấn đề lớn và phức tạp

Trang 13

Hoạch định tác nghiệp: Xác định mục tiêu có tính ngắn hạn hơn (có chỉ tiêu định

lượng), xây dựng dự án và kế hoạch, đề ra các biện pháp để tổ chức thực hiện trên cơ

sở các nguồn lực có thể dự tính tương đối sát và có tính khả thi cao Có thể chia ra kếhoạch trung hạn (3-5 năm) và kế hoạch ngắn hạn (1 năm)

Hoạch định tác nghiệp là cơ sở trực tiếp để điều hành các hoạt động diễn ra "hàng ngày",

và là trách nhiệm của tất cả các cấp quản lý; được bộ máy chuyên trách về kế hoạch củadoanh nghiệp tổng hợp lại, cân đối để giám đốc xét duyệt (kế hoạch chính thứuc) Vớidoanh nghiệp nhỏ, có thể là kế hoạch "phi chính thức" do chủ doanh nghiệp đồng thời

là giám đốc tự phác ra và điều chỉnh trong quá trình thực hiện

Có thể coi hoạch định tác nghiệp và việc định ra chiến lược để thực hiện từng bước chiếnlược, hoặc còn gọi là kế hoạch hành động Chương trình mục tiêu là loại kế hoạch sửdụng một lần (không lặp lại khi mục tiêu cụ thể đã hoàn tất); quản lý loại kế hoạch nàyđược thực hiện theo phương pháp riêng gọi là "quản lý theo mục tiêu" (Management byobjectives - MBO) hoặc còn gọi là "quản lý theo dự án" (Management by projects).Công việc hoạch định kế hoạch, dự án bao gồm một quy trình với nhà nước:

1 Nhận thức, nắm bắt cơ hội (đang đến và sẽ đến) với cách nhìn toàn diện và chính xác

về thị trường, khách hàng, khả năng, chính sách và luật pháp…

2 Xác định các mục tiêu cần đạt (định lượng) ở từng thời điểm với thứ tự ưu tiên

3 Xem xét, đánh giá các tiền đề hoạch định, dự đoán sự biến động và pt của chúng Cácđiều kiện tiền đề đó là các dự báo, các giả thiết về môi trường kinh doanh, các kế hoạchhiện có và các biện pháp có thể áp dụng Nhà quản lý cấp cao trong doanh nghiệp cầngiải thích rõ và tạo điều kiện cho các cấp dưới hiểu rõ các tiền đề để họ đánh giá đúngkhi lập kế hoạch

4 Xây dựng các phương án hành động khác nhau, qua bàn bạc trong tập thể và nhiềukhả năng có thể thực hiện Ít nhất nên có 2 phương án, song không nên đề ra quá nhiều,gạt bỏ những phương án ít tính khả thi

5 Phân tích, so sánh các phương án; xem xét các ưu điểm và hạn chế của từng phương

án (tốt nhất là lượng hoá được các yếu tố so sánh)

6 Xác định một phương án tối ưu được lựa chọn qua so sánh Cũng có trường hợp cầnthực hiện đồng thời 2,3 phương án thích hợp với từng điều kiện Phương án tối ưu khôngnhất thiết phải hoàn hảo, mà là phương án ít nhược điểm lớn và khả thi hơn cả; được lựachọn dựa vào: kinh nghiệm, phương pháp thực nghiệm (thí điểm), phương pháp nghiên

Trang 14

7 Lập các kế hoạch phụ (bổ sung) để đảm bảo thực hiện tốt kế hoạch chính (ví dụ ngoài

kế hoạch sản xuất sản phẩm chính, cần có kế hoạch phụ tùng dự phòng, về bảo dưỡng,

về huấn luyện, về bảo hành, về quảng cáo…)

8 Lập ngân quy và các chi phí thực hiện, lượng hoá các thông số: tổng thu, chi phí, lợinhuận… Đây cũng là cơ sở quan trọng để đánh giá hiệu quả kinh tế và chất lượng của

kế hoạch

`

Trang 15

Các phương pháp quản lý kinh doanh

Khái quát chung

Các phương pháp quản lý kinh doanh là tổng thể các cách thức tác động có chủ đích củacác chủ thể quản lý đến đối tượng quản lý (cấp dưới và tiềm năng của doanh nghiệp) vàđến khách thể kinh doanh (khách hàng, bạn hàng, đối thủ cạnh tranh và các ràng buộccủa môi trường kinh doanh) để đạt được các mục tiêu của doanh nghiệp trong điều kiệncho phép Các phương pháp được sử dụng phải tuân thủ các đòi hỏi của quy luật và cácnguyên tắc quản lý kinh doanh; mặt khác phải vận dụng nghệ thuật quản lý kinh doanhmột cách khôn khéo, uyển chuyển tuỳ từng tình huống

Các phương pháp quản lý kinh doanh rất đa dạng, phải luôn thay đổi thích ứng với điềukiện trong từng tình huống; tuỳ thuộc đặc điểm của đối tượng quản lý cũng như nănglực, kinh nghiệm của các nhà quản lý Sự lựa chọn phương pháp để sử dụng không thểtuỳ tiện theo cảm tính chủ quan, mà cần tỉnh táo nắm chắc tình hình thực tế, kịp thờiđiều chỉnh, bổ sung để khắc phục các trở ngại phát sinh chưa lường trước Quản lý cóhiệu quả nhất khi biết lựa chọn đúng và kết hợp, điều chỉnh linh hoạt các phương phápquản lý Vì vậy, sử dụng các phương pháp quản lý vừa là khoa học, vừa là nghệ thuật,đòi hỏi cả tài và nghệ của nhà quản lý

Có nhiều cách phân loại phương pháp quản lý theo tiêu chí khác nhau, tuỳ góc độ củanhà nghiên cứu Các phân loại phổ biến nhất căn cứ nội dung và cơ chế hoạt động quản

lý, chia thành:

- Các phương pháp quản lý trong nội bộ doanh nghiệp

- Các phương pháp tác động lên khách hàng

- Các phương pháp cạnh tranh với các đối thủ

- Các phương pháp quan hệ với bạn hàng (đối tác)

- Các phương pháp quan hệ với các cơ quan quản lý nhà nước

Các phương pháp quản lý kinh doanh chính trong nội bộ doanh nghiệp

Tác động lên con người:

Ngày đăng: 28/11/2014, 17:14

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w