I Đặt vấn đề: Trong giao dịch đân sự, không phải trường hợp giao địch nào chủ thể cũng có thể tự mình xác lập, thực hiện giao dịch dân sự mà trong nhiều trường hợp nhất định phải thông
Trang 1MUC LUC
IILGiải quyết vấn đề
1.Khái niệm và đặc điểm cúa đại diện, ý nghĩa pháp lý
của đại diện
2.Các hình thức đại diện
3.Phạm vi đại diện
c.Pham vi tham quyén đại diện trong các trường họp quan
d Trường hợp không có thẩm quyên đại điện và vượt quá
4.Chấm dứt đại diện
Trang 2I Đặt vấn đề:
Trong giao dịch đân sự, không phải trường hợp giao địch nào chủ thể cũng
có thể tự mình xác lập, thực hiện giao dịch dân sự mà trong nhiều trường hợp nhất định phải thông qua hành vi của người khác là người đại diện theo pháp luật hoặc theo ủy quyền của mình Cũng chính vì thế, “đại diện” là một chế định truyền thống của Luật dân sự, quy định về khái niệm, đặc điểm và mọi yếu tố liên quan
đến “đại điện” Sau đây em xin được đi vào phân tích để có thể hiểu thêm về chế
định này
H Giải quyết vấn đề:
1 Khái niệm và đặc điểm của đại diện, ý nghĩa pháp lý của đại diện
a Khái niệm
Khoản 1 Điều 139 Bộ luật dân sự (BLDS) năm 2005 quy định: đại điện là việc một người (sau đây gọi là người đại điện) nhân danh và vì lợi ích của người khác (sau đây gọi là người được đại điện) xác lập, thực hiện giao dịch dân sự trong phạm vì đại điện
Như vậy, đại diện là một quan hệ pháp luật gồm có hai bên chủ thể là người
đại diện và người được đại diện Người đại diện là người nhân danh người được địa diện xác lập quan hệ với người thứ ba, vì lợi ích của người đại diện Người được đại diện là người tiếp nhận các hậu quả pháp lí từ quan hệ do người đại diện
xác lập, thực hiện đúng thâm quyền đại diện, người được đại diện rất đa dạng, có
thé là các cá nhân không có năng lực hành vi, người mất năng lực hành vi dân sự (như người bị bệnh tâm thần nên không thể nhận thức, làm chủ được hành vi của mình), người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự (vì các lí do nhất định nên bị Tòa
án ra quyết định tuyên bố là người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự), kể ca các
Trang 3cá nhân có đầy đủ năng lực hành vi cũng có thể ủy quyền cho người khác là đại diện theo ủy quyền của mình nhưng cá nhân sẽ không được người khác đại diện cho mình trong trường hợp pháp luật quy định họ phải tự mình xác lập thực hiện giao dịch đó
b Đặc điểm:
Ngoài các đặc điểm của quan hệ pháp luật dân sự thì quan hệ đại diện có những đặc điểm riêng như sau:
- Đại diện làm phát sinh hai méi quan hé cung tồn tại song song là quan hệ giữa người đại diện và người được đại diện (quan hệ bên trong), quan hệ giữa người đại diện với người thứ ba (quan hệ bên ngoài)
- Người đại diện xác lập quan hệ với người thứ ba là nhân danh người được địa diện chứ không phải nhân danh họ Trước khi giao dịch dân sự được lập ra, người đại điện phải giới thiệu tư cách pháp lí của mình với người thứ ba để người
này hiểu hai vấn đề: thứ nhất ai sẽ là người trao đôi lợi ích hay chịu trách nhiệm về
hậu quả của giao dịch với họ; thứ hai là thâm quyền của ngươi đại diện đến đâu, người được đại diện như đã nói ở trên có rất nhiều trường hợp nên phải xác định rõ thâm quyền, quan hệ của người đại diện với người được đại diện có thể là cha mẹ với con chưa thành niên, người đại diện cho người bị mat nang luc hanh vi, hop đồng ủy quyền hoặc giấy ủy quyền là bằng chứng cho quan hệ đại diện theo pháp luật
- Mục đích người đại diện xác lập quan hệ với người thứ ba là vì lợi ích của người đại diện — quyền và lợi ich của trong quan hệ với người thứ ba được chuyên cho người đại diện Lợi ích của người đại diện thì được xét trong quan hệ đại diện, tùy theo các trường hợp đại diện và theo thỏa thuận giữa bên đại diện và bên được đại diện mà người đại diện có thể chỉ có nghĩa vụ hoặc có thể được hưởng thù lao
Trang 4- Người đại diện tuy nhân danh người được đại diện và thâm quyền của họ
bị giới hạn trong phạm vi đại diện theo thỏa thuận hay theo quy định của pháp luật nhưng họ vẫn có sự chủ động trong khi tiến hành các công việc cần thiết để đạt được mục đích là vì lợi ích của người được đại diện
Œ Ý nghĩa pháp lý của đại diện:
Đại diện có ý nghĩa rất quan trọng trong nhiều trường hợp giao dịch, không phải chủ thể nào cũng có thể tự mình thực hiện tất cả các quyền và nghĩa vụ dân sự
của mình một cách linh hoạt và hiệu quả nhất Có thê do nhiều nguyên nhân khách
quan hoặc chủ quan mà cá nhân có thể bị hạn chế năng lực hành vi hoặc không có năng lực hành vi, hình thức đại diện theo pháp luật sẽ là một giải pháp giúp họ vẫn được hưởng mọi lợi ích từ các giao dịch thông thường qua người đại diện, những lợi ích mà họ đáng được nhận Chủ thê trong giao dịch dân sự còn có thê là pháp nhân, hộ gia đình, tổ hợp tác, là những chủ thể mà quyền lợi mang tính cộng đồng, việc giao dịch bắt buộc phải thông qua hành vi con người Do đó, chế định
đại điện tạo điều kiện và đem lại lợi ích tốt nhất cho các chủ thể ngoài cá nhân
2 Các hình thức đại diện
Có hai hình thức đại diện trong pháp luật dân sự là đại diện theo pháp luật và
đại điện theo ủy quyền Mỗi hình thức đại điện có những yếu tô và đặc điểm riêng,
cụ thể như sau:
a Hình thức đại diện theo pháp luật:
Điều 140 BLDS 2005 quy định: đại điện theo pháp luật là đại điện do pháp luật quy định hoặc cơ quan nhà nước có thẩm quyên quyết định
Căn cứ để hình thành nên quan hệ đại diện này là do ý chí của Nhà nước HÌnh thức đại diện này được pháp luật quy định mối quan hệ đại diện được xác lập
Trang 5ton tại có sẵn chứ không phụ thuộc vào ý chí hay sự định đoạt của các chủ thể Chủ thể trong quan hệ đại diện theo pháp luật cần thỏa mãn các điều kiện cụ thé sau:
- Người được đại điện nếu là cá nhân thì phải là người không có năng lực
hành vi dân sự đầy đủ, họ là đối tượng được pháp luật bảo vệ bởi bản thân họ
không trực tiếp tham gia vào bất kỳ giao địch nào nên pháp luật phải quy định sẵn những chủ thể có nghĩa vụ bảo vệ quyền lợi cho họ trong việc xác lập và thực hiện các giao dịch dân sự Các chủ thể còn lại là một tổ chức nên khi tham gia vào các giao dịch dân sự bắt buộc phải thông qua người đại diện cụ thể
- Người đại diện phải có năng lực hành vi dân sự đầy đủ Các căn cứ đề nhận biết các quan hệ đại diện theo pháp luật đang tồn tại là:
Chủ thể trong quan hệ đại diện theo pháp luật gồm có hai nhóm:
« Các chủ thê trong trường hợp đại diện được quy định theo pháp luật chung
là đại diện mặc nhiên, ôn định về người đại điện, về thẩm quyền đại diện:
> Cha, mẹ đại diện cho con vị thành niên
> Người đứng đầu pháp nhân đại điện cho pháp nhân
> Người giám hộ đương nhiên đại diện cho người được giám hộ
(Điều 61, 62 BLDS 2005) Ví dụ: Nguyễn Văn A 15 tuổi, mồ côi
cả cha lẫn mẹ, chỉ còn có anh trai là Nguyễn Văn B 25 tuổi (thỏa mãn điều kiện làm người giám hộ), B sẽ đại diện cho A trong mọi giao dich dan su cua A
> Chủ hộ đối gia đình đối với hộ gia dinh,
« Các chủ thể trong trường hợp đại diện theo quyết định của cơ quan nhà nước có thắm quyền:
> Người giám hộ đối với người được cử giám hộ (điều 63 BLDS
2005) Ví dụ: Cháu X 10 tuổi có bố mẹ vừa qua đời trong một vụ tai nạn, X lại không có anh chị em, bà con thân thích Uy ban nhan
5
Trang 6dân xã Y nơi gia đình cháu X sinh sống cử Anh Z (thỏa mãn điều
kiện làm người giám hộ) làm người giám hộ cho X
> Người được tòa án chỉ định đối với người bị hạn chế năng lực hành
vi dân sự
Người được đại diện nếu là cá nhân thì phải là người không có năng lực hành vi dân sự đầy đủ Các căn cứ để nhận biết các quan hệ đại diện theo pháp luật đang tồn tại là:
> Căn cứ vào giấy khai sinh của con chưa thành niên để biết ai là
người đại diện theo pháp luật
> Căn cứ quyết định của Tòa án khi tuyên bố một người bị hạn chế
năng lực hành vi dân sự để biết ai đại điện cho người này
> Căn cứ vào Số hộ khẩu của gia đình đề biết người đại diện theo pháp luật của hộ gia đình
> Căn cứ vào hợp đồng hợp tác có xác nhận của UBND xã phường
để biết ai là người đại diện cho tổ hợp tác
> Căn cứ vào đăng kí kinh doanh, Điều lệ hay Quyết định thành lập
pháp nhân đẻ biết ai là người đại điện theo pháp luật của pháp nhân
b Hình thức đại diện theo úy quyền:
Khoản 1, Điều 142 BLDS 2005 quy định: “đại điện theo ủy quyên là đại điện được xác lập theo sự ủy quyén giữa người đại diện và người được đại diện ” Khác với đại diện theo pháp luật là do pháp luật quy định hoặc cơ quan nhà nước
có thâm quyền quyết định, đại điện theo ủy quyền là trường hợp quan hệ đại diện được xác lập theo ý chí của hai bên: bên đại diện và bên được đại diện, biểu hiện qua một hợp đồng ủy quyền hoặc một giấy ủy quyền, điểm khác nữa là hai bên chủ thể của quan hệ đại diện theo ủy quyền phải có năng lực hành vi dân sự đầy đủ, trừ
6
Trang 7trường hợp được quy định tai Khoản 2 Điều 143 BLDS 2005: “Người từ đủ 15 tuôi
đến chưa đủ 18 tuổi có thể là người đại điện theo ủy quyền, trừ trường hợp pháp
luật quy định giao dich dân sự phải do người từ đủ 18 tuổi trở lên xác lập, thực hiện”
Đại diện theo ủy quyền được chia ra thành đại diện theo ủy quyền của cá nhân và đại diện theo ủy quyền của pháp nhân, hộ gia đình, tổ hợp tác Vì những lí
do chủ quan hay khách quan cá nhân có thể thông qua người khác để xác lập các giao dich dân sự Người khác ở đây có thê là pháp nhân (ví dụ cá nhân ủy quyền cho một công ty tư vấn về luật đứng ra ký kết hợp đồng mua xe ô tô cho họ), hoặc
có thể là cá nhân (ví dụ X ủy quyền cho Y đứng ra ký kết hợp đồng thuê nhà ở)
> Dai diện theo ủy quyền của pháp nhân - quy định tại Khoản 1 Điều 143 BLDS 2005: cá nhân, người đại diện theo pháp luật của pháp nhân có thể ủy quyền cho người khác xác lập, thực hiện giao dịch dân sự
> Đại diện theo ủy quyền của hộ gia đình —- quy định tại Khoản l
Điều 107 BLDS 2005 “ chủ hộ có thể ủy quyền cho thành viên
khác đã thành niên làm đại diện của hộ trong quan hệ dân sự”
> Đại diện theo ủy quyền của tổ hợp tác — quy định tại Khoản I Điều
113 BLDS 2005 “Tổ trưởng tổ hợp tác có thể ủy quyền cho tổ viên
thực hiện một sỐ công việc nhất định cho tổ”
Trong 3 loại đại diện theo ủy quyền này thì chỉ có hình thức đại diện theo ủy quyền của pháp nhân là pháp luật không chỉ ra phạm vi cụ thê những người được
ủy quyền, còn trong hai hình thức đại diện theo ủy quyền của hộ gia đình và tổ hợp tác thì có chỉ rõ phạm vi người được ủy quyền chỉ có thể là người trong gia đình hay trong tô mà thôi.
Trang 8Uy quyén là phương tiện pháp lí cần thiết tạo điều kiện cho cá nhân, pháp nhân và các chủ thể khác của quan hệ dân sự, bằng nhiều hình thức khác nhau có thể tham gia vào giao dịch dân sự một cách thuận lợi nhất, đảm bảo thỏa mãn nhanh chóng các lợi ích vật chat, tinh thần mà chủ thể quan tâm Ngoại lệ, có một
sỐ trường hợp pháp luật không cho phép xác lập giao dịch thông qua người đại diện (bất kể là đại diện theo pháp luật hay theo ủy quyền) như việc lập di chúc
3 Phạm vi đại diện
a Khái niệm: Phạm vi đại diện là giới hạn quyên và nghĩa vụ của người đại điện trong việc nhân danh người được đại điện xác lập và thực hiện giao dịch với người thứ ba
bY nghĩa pháp lý của phạm vì đại diện:
Thứ nhất, về nguyên tắc, theo Khoản 3 Điều 144 BLDS 2005 quy định:
“người đại diện chỉ được thực hiện giao dịch dân sự trong phạm vi đại điện” và qua đó mới làm phát sinh các quyền và nghĩa vụ của người được đại diện với người thứ ba Trường hợp người đại diện có lỗi trong khi thực hiện việc đại diện nhưng trong phạm vi đại diện mà gây thiệt hại cho người thứ ba thì trách nhiệm vẫn thuộc về người đại điện Người đại diện có lỗi sẽ phải chịu trách nhiệm độc lập đối với người được đại diện Như vậy, trách nhiệm giữa các bên quan hệ người đại diện — người được đại diện, người đại diện — người thứ ba độc lập hoàn toàn
Thứ hai, người thứ ba phải biết rõ về phạm vi thâm quyền đại điện bởi họ
đang xác lập, thực hiện giao dịch một cách gián tiếp với chủ thê phía bên kia trong quan hệ Ví dụ: X có chiếc xe ô tô đã sử dụng được l năm, X muốn bán xe ôt ô để lấy tiền mua nhà nên X ủy quyền cho Y kí hợp đồng bán xe ô tô, nhưng X không
ủy quyền cho Y thực hiện hợp đồng, cụ thể là việc nhận tiền bán xe, chuyền giao
xe cho bên mua, chuyền giao các loại giấy tờ liên quan đến chiếc xe Z là người
8
Trang 9mua xe 6 tô của X, Z cần phải biết rõ phạm vi đại diện của Y để tránh trường hợp
Z cứ giao tiền cho Y thì X có quyền không giao xe và giấy tờ, Y sẽ phải đi đòi Z
Thứ ba, phạm vi đại diện còn là căn cứ để xem xét tính hiệu lực của một số giao dịch do người đại diện xác lập, thực hiện Khoản 5 Điều 144 BLDS 2005 quy định: “người đại điện không được xác láp, thực hiện giao dịch dân sự với chính mình hoặc với người thứ ba mà mình cũng là người đại điện của người đó, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác ” Ví dụ: A ủy quyền mua nhà cho C, B ủy quyền bán nhà cho C, C không được phép đại diện A mua nhà của B Quy định này nhằm ngăn ngừa và loại trừ những giao dịch dân sự được xác lập, thực hiện có thể đem lại hậu quả bat lợi cho người được đại diện Trường hợp pháp luật có quy định
khác có thể kể đến Khoản 3 Điều 69 BLDS 2005 quy định: “các giao dịch dân sự
giữa người giám hộ với người được giám hộ có liên quan đến tài sản của người được giám hộ đều vô hiệu, trừ trường hợp giao dịch được thực hiện vì lợi ích của người được giám hộ và có sự đồng ý của người giám sát việc giám hộ”
e Phạm vỉ thẩm quyền đại diện trong các trường hợp quan hệ đại diện: Tùy thuộc vào quan hệ đại diện là đại diện theo pháp luật hay đại diện theo
ủy quyền, phạm vi thâm quyền đại diện được xác định khác nhau
» Đối với đại diện theo pháp luật: Khoản I Điều 144 BLDS 2005 quy định
“người đại diện theo pháp luật có quyển xác lập, thực hiện mọi giao dịch dân sự vì lợi ích của người được đại điện ” Như vậy, pháp luật cho phép người đại diện theo
pháp luật có quyền chủ động tối đa trong việc lựa chọn, xác lập và thực hiện các
giao dịch liên quan đến người được đại diện nhưng phải xuất từ lợi ích của người
được đại diện Vậy nên nếu xảy ra khiếu kiện thì chính người đại diện phải tự
chứng minh giao dịch đó là vì lợi ích của người được đại diện Cha mẹ thì gần như luôn luôn xác lập những giao dịch để mang lại lợi ích cho con chưa thành niên
9
Trang 10nhung nếu có sự chứng minh về sự lạm quyền của cha mẹ gây thiệt hai cho con thì giao dich do cha mẹ đã xác lập cũng bị tuyên bố vô hiệu
Trong trường hợp đại diện cho người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự có một số đặc biệt riêng Chính người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự vẫn trực tiếp tham gia giao kết hợp đồng nhưng với sự chấp nhận của người đại diện Người đại diện chỉ đóng vai trò giám sát, đồng ý hay không đồng ý cho xác lập giao dịch Nếu như giao dịch đó không làm ảnh hưởng đến lợi ích của chính người đại diện, của những người thân thích trong gia đình của người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự thì người đại diện cho phép người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự xác lập, thực hiện giao dịch
« Đối với đại diện theo ủy quyền: Khoản 2 Điều 144 BLDS quy định “phạm
vi đại diện theo ủy quyền được xác lập theo sự ủy quyền” Như vậy người được ủy quyền chỉ được thực hiện hành vi pháp lí trong khuôn khổ văn bản ủy quyền quy định, có thể là hợp đồng ủy quyền hay giấy ủy quyền Thâm quyền của người được
ủy quyền có thể chỉ là thực hiện một công việc như là kí kết hợp đồng nhưng cũng
có thể là cả kí kết hợp đồng lẫn thực hiện một loạt công việc liên quan như giao nhận tiền, hàng, thanh lí hợp đồng, Ví dụ: công ty A là công ty tư vấn luật được ông B ủy quyền thỏa thuận kí kết hợp đồng mua bán nhà cho ông B, công ty A chỉ
có quyền kí kết hợp đồng chứ không có các quyền làm các việc khác liên quan như giao nhận tiền, giấy tờ nhà đất
Nếu được sự đồng ý của người được đại điện thì người đại diện có thể ủy
quyền lại cho người khác Nếu trong hợp đồng ủy quyền chỉ ghi cho phép người được ủy quyền có thể ủy quyền lại cho người khác nếu thấy cần thiết thì người được ủy quyền vẫn bị ràng buộc trách nhiệm ở vị trí trung gian Nếu người ủy quyền đồng ý cho người được ủy quyền lại cho một người cụ thê đã được ủy quyền
10