1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

báo cáo nghiên cứu khoa học ''''chế định thời hiệu trong luật hình sự việt nam một số vấn đề lý luận cơ bản ''''

25 636 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 25
Dung lượng 171,9 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tuy nhiên, nghiên cứu các quy phạm của chế định này trong PLHS Việt Nam hiện hành Các Điều 23, 24, 55, 56 BLHS năm 1999, theo quan điểm của chúng tôi, bản chất pháp lý của chế định thời

Trang 1

CHẾ ĐỊNH THỜI HIỆU TRONG LUẬT HÌNH

SỰ VIỆT NAM MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN

LÊ CẢM TRỊNH TIẾN VIỆT TSKH., Trưởng bộ môn Tư pháp hình sự thuộc

ĐHQG Hà Nội Trợ giảng Bộ môn tư pháp hình sự thuộc ĐHQG Hà

Nội

1 Hiện nay trong khoa học và thực tiễn có nhiều ý kiến khác nhau về bản chất pháp lý của chế định thời hiệu trong luật hình sự Tuy nhiên, nghiên cứu các quy phạm của chế định này trong PLHS Việt Nam hiện hành (Các Điều 23, 24, 55, 56 BLHS năm 1999), theo quan điểm của chúng tôi, bản chất pháp

lý của chế định thời hiệu trong luật hình sự là ở chỗ: Sau một thời hạn nhất định do luật định đã qua và khi

Trang 2

đáp ứng đầy đủ các đòi hỏi được ghi nhận trong PLHS, thì người phạm tội không thể bị Nhà nước truy cứu trách nhiệm hình sự hoặc không phải chấp hành bản án kết tội đã có hiệu lực pháp luật Phân tích bản chất pháp lý của chế định này, chúng ta có thể chỉ ra các đặc điểm cơ bản dưới đây

* Theo PLHS Việt Nam, quyền truy cứu trách nhiệm hình sự (TNHS) và quyền thi hành bản án hình sự (BAHS) của các cơ quan tư pháp hình sự có thẩm quyền của Nhà nước (cơ quan Điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án và cơ quan thi hành án hình sự) đối với người đã có lỗi trong việc thực hiện tội phạm không phải là vô thời hạn, mà chỉ trong một thời hạn nhất định được ghi nhận trong PLHS

* Nhưng khi một thời hạn nhất định do PLHS quy định đã qua rồi, thì bất kỳ người nào, mặc dù đã có lỗi trong việc thực hiện tội phạm vẫn không thể bị truy cứu TNHS (vì trong trường hợp này họ không bị

Trang 3

coi là người phạm tội) hoặc không bị buộc phải chấp hành BAHS đã có hiệu lực pháp luật

* Để không bị truy cứu TNHS hoặc không bị buộc phải chấp hành bản án hình sự đã có hiệu lực pháp luật do hết thời hiệu, thì ngoài các căn cứ pháp lý ra, còn phải có một loạt những điều kiện cụ thể khác do PLHS quy định, mà chỉ khi nào có tổng hợp đầy đủ chúng (các căn cứ pháp lý và những điều kiện ấy), người phạm tội mới không bị truy cứu TNHS hoặc không bị buộc phải chấp hành BAHS đã có hiệu lực pháp luật

* Căn cứ vào giai đoạn tố tụng hình sự (TTHS) tương ứng cụ thể, việc không truy cứu TNHS hoặc không thi hành BAHS đã có hiệu lực pháp luật do hết thời hiệu chỉ được thực hiện bởi một cơ quan tư pháp hình

sự có thẩm quyền nhất định (cơ quan Điều tra với sự phê chuẩn của Viện Kiểm sát, Tòa án hoặc cơ quan

Trang 4

thi hành án hình sự) khi có đầy đủ các căn cứ pháp lý

và những điều kiện do PLHS quy định

* Thời hiệu thi hành BAHS chỉ được áp dụng đối với những bản án đã có hiệu lực pháp luật nhưng chưa được thi hành vì nhiều nguyên nhân khách quan khác nhau mà không phụ thuộc vào ý chí chủ quan của người bị kết án (ví dụ: do thiên tai, hồ sơ bị mất hoặc thất lạc, do sự thiếu trách nhiệm của những cán bộ trong các cơ quan thi hành án hình sự v.v…) Như vậy, thời hiệu thi hành BAHS khác với thời hiệu truy cứu TNHS là ở chỗ: thời hiệu thi hành BAHS căn cứ vào loại hình phạt (phạt tiền, cải tạo không giam giữ hoặc phạt tù) và mức hình phạt (ba năm tù trở xuống,

ba năm tù đến mười lăm năm tù, mười lăm năm tù đến ba mươi năm tù), còn thời hiệu truy cứu TNHS thì lại căn cứ vào loại tội phạm tương ứng được phân loại trong BLHS năm 1999 (khoản 3 Điều 8)

Trang 5

2 Tại Phần II và Phần III dưới đây chúng ta sẽ lần lượt nghiên cứu một số đặc điểm cơ bản của PLHS Việt Nam hiện hành đề cập đến hai vấn đề: a) Thời hiệu truy cứu TNHS; b) thời hiệu thi hành BAHS

II

1 Bằng quy phạm tại khoản 1 Điều 23 BLHS năm

1999, lần đầu tiên trong PLHS Việt Nam đã ghi nhận riêng biệt định nghĩa pháp lý (ĐNPL) của khái niệm thời hiệu truy cứu TNHS là gì (?) – “là thời hạn do

Bộ luật hình sự quy định mà khi hết thời hạn đó thì người phạm tội không bị truy cứu trách nhiệm hình sự” Quy phạm này chính là một điểm mới của BLHS năm 1999 (mà trong BLHS năm 1985 trước đây không có) và do đó, nó có ý nghĩa khoa học – thực tiễn rất quan trọng đối với sự phát triển của PLHS Việt Nam nói riêng, cũng như đối với việc bảo vệ các quyền và tự do của con người trong hoạt động tư pháp hình sự nói chung ở nước ta hiện nay

Trang 6

2 Bằng các quy phạm tại khoản 2 Điều 23 BLHS năm 1999, lần đầu tiên trong PLHS Việt Nam, nhà làm luật đã điều chỉnh cụ thể bốn thời hạn khác nhau tương ứng với bốn loại tội phạm được phân loại trong luật (khoản 3 Điều 8 BLHS năm 1999), mà các cơ quan tư pháp hình sự chỉ có thể và phải dựa vào căn

cứ đó để truy cứu người đã có lỗi trong việc thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội bị luật hình sự cấm Nói một cách khác, theo BLHS năm 1999, khi đã hết các thời hạn do luật định tại khoản 2 Điều 23 tương ứng với bốn loại tội phạm tại khoản 3 Điều 8, thì không được truy cứu TNHS người phạm tội

3 Bằng các quy phạm tại khoản 3 Điều 23 BLHS năm 1999, lần đầu tiên trong PLHS Việt Nam đã cụ thể hóa cách tính thời hiệu truy cứu TNHS (khác với quy định tương ứng trong BLHS năm 1985 trước đây

là cụ thể hóa thời hiệu không truy cứu TNHS) người phạm tội Tuy nhiên, xuất phát từ thực tiễn tư pháp

Trang 7

hình sự và việc nghiên cứu về mặt lý luận cho thấy, khi áp dụng cách tính thời hiệu truy cứu TNHS theo quy định tại đoạn 1 khoản 3 Điều 23 BLHS năm

1999 cần chú ý một số vấn đề chủ yếu dưới đây

* Về cơ bản, thời điểm truy cứu TNHS bắt đầu được tính là từ ngày tội phạm hoàn thành, tức là từ thời điểm hành vi nguy hiểm cho xã hội mà BLHS quy định là tội phạm (tương ứng với bốn loại tội phạm) được thực hiện, chứ không phải là từ ngày tội phạm

bị phát hiện hoặc từ ngày xảy ra hậu quả phạm tội Ví dụ: thời hiệu truy cứu TNHS đối với tội cố ý gây thương tích dẫn đến chết người được tính từ ngày nạn nhân bị gây thương tích (mà do thương tích đã đưa đến cái chết), chứ không phải từ ngày nạn nhân chết

* Đối với các tội kéo dài, thì nói chung thời điểm truy cứu TNHS bắt đầu được tính từ ngày tội phạm kết thúc, nhưng cũng tùy từng trường hợp mà thời điểm này có thể khác nhau Chẳng hạn, đối với tội đào ngũ,

Trang 8

thì thời điểm truy cứu TNHS phải được tính từ ngày quân nhân đào ngũ (mà trước đó người này đã bị xử

lý kỷ luật về hành vi rời bỏ đơn vị một cách trái phép hoặc gây hậu quả nghiêm trọng…), chứ không phải

từ ngày quân nhân này bị bắt giữ hoặc ra đầu thú Nhưng đối với một loạt các tội tàng trữ (như tàng trữ

vũ khí quân dụng, tàng trữ chất phóng xạ, hoặc tàng trữ chất cháy, chất độc), thì thời điểm truy cứu TNHS lại được tính từ ngày tội phạm tương ứng bị phát hiện hay từ ngày người phạm tội bị bắt giữ hoặc ra đầu thú, chứ không phải từ ngày bắt đầu tàng trữ các thứ

đã nêu (vì có thể có những trường hợp vào thời điểm bắt đầu tàng trữ các thứ đã nêu, người phạm tội chưa

đủ tuổi chịu TNHS theo quy định của PLHS)

* Đối với các tội liên tục, thì thời điểm truy cứu TNHS bắt đầu được tính từ ngày hành vi cuối cùng trong một loạt hành vi tội phạm được thực hiện Ví dụ: đối với tội bức tử, tội ngược đãi hoặc hành hạ ông

Trang 9

bà, cha mẹ, vợ chồng, con, cháu, người có công nuôi dưỡng mình, thì thời điểm truy cứu TNHS được tính

từ ngày hành vi ngược đãi hoặc hành hạ cuối cùng của tội phạm tương ứng được thực hiện và gây nên hậu quả nguy hại cho xã hội đã đến mức phải bị xử lý

về hình sự

* Đối với hành vi chuẩn bị phạm tội (rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng) và hành vi phạm tội chưa đạt, thì thời điểm truy cứu TNHS được tính

từ ngày hoạt động phạm tội bị chấm dứt về mặt pháp

lý do những nguyên nhân khách quan ngoài ý muốn của người phạm tội và khiến cho người đó không thực hiện được tội phạm đến cùng Ví dụ: a) người chuẩn bị phạm tội khủng bố bị nhân dân phát hiện và báo cho cơ quan Nhà nước có thẩm quyền nên đã không thực hiện được tội phạm đến cùng; b) kẻ phạm tội trộm sau khi lọt vào nhà để trộm nhẫn mặt đá rubi của người khác (giá trị khoảng 680 triệu đồng) để

Trang 10

trong tủ nhưng chưa kịp chiếm đoạt được chiếc nhẫn

đó (vì sau khi lọt vào nhà và đang mở cửa cánh tủ), thì bị chủ nhà đi làm về nhìn thấy, hô hoán lên và bị những người hàng xóm vây bắt

* Trong trường hợp phạm nhiều tội, thì thời điểm truy cứu TNHS bắt đầu được tính từ ngày thực hiện tội đầu tiên trong số các tội bị phát hiện và người phạm tội bị đưa ra xét xử

* Trong trường hợp phạm tội nhiều lần, thì thời điểm truy cứu TNHS bắt đầu được tính từ ngày tội nào được thực hiện trước tiên trong số các tội bị phát hiện

và người phạm tội bị đưa ra xét xử

4 Bằng các quy phạm tại đoạn 1 khoản 3 Điều 23 BLHS năm 1999, nhà làm luật đã quy định việc tính lại thời hiệu đã qua đối với tất cả bốn thời hạn (tương ứng với bốn loại tội phạm được nêu tại khoản 2 điều luật này), nếu người phạm tội (trong một thời hạn nhất định đã qua tương ứng với mỗi loại tội phạm) lại

Trang 11

thực hiện tội mới mà mức cao nhất của khung hình phạt do luật định đối với tội mới ấy là 1 năm tù trở lên Như vậy, nội dung quy phạm này có nghĩa là: đối với tội mới ấy, bị cáo phải bị đưa ra xét xử và bị áp dụng hình phạt tù trên một năm theo bản án kết tội đã

có hiệu lực pháp luật của Tòa án

5 Bằng các quy phạm tại đoản 2 khoản 3 Điều 23 BLHS năm 1999, nhà làm luật Việt Nam đã quy định việc tính lại thời hiệu đã qua (và việc tính lại này được áp dụng kể từ thời điểm người phạm tội ra đầu thú hoặc bị bắt giữ) đối với tất cả bốn thời hạn (tương ứng với bốn loại tội phạm được nêu tại khoản 2 Điều 23) nếu người phạm tội (trong thời hạn đã qua tương ứng với mỗi loại tội phạm) đã cố tình trốn tránh Sự

cố tình trốn tránh này có thể được thể hiện dưới các hình thức như: a) vĩnh viễn biến khỏi nơi ở hoặc nơi làm việc; b) thay họ tên trong các giấy tờ tùy thân có liên quan (như Giấy chứng minh nhân dân, bằng lái

Trang 12

xe, v.v…) bằng họ tên khác; c) làm các phẫu thuật để sửa đổi hình dạng cho khác với hình dạng ban đầu; v.v… Tuy nhiên, sự cố tình trốn tránh này của người phạm tội nhất thiết phải bị cơ quan tư pháp hình sự

có thẩm quyền ra lệnh truy nã Tức là, ở đây việc đã

có lệnh truy nã phải là điều kiện tiên quyết bắt buộc – nếu người phạm tội mặc dù đã cố tình trốn tránh, nhưng đã không có hoặc chưa có lệnh truy nã của cơ quan tư pháp hình sự có thẩm quyền, thì thời gian mà người đó đã cố tình trốn tránh vẫn được tính vào thời hiệu để không bị truy cứu TNHS

6 Như vậy, theo tinh thần Điều 23 BLHS năm 1999, người phạm tội nếu muốn không bị truy cứu TNHS

do hết thời hiệu, tức là được hưởng chế định nhân đạo này của PLHS Việt Nam, thì phải có tổng hợp cả căn cứ pháp lý chung có tính chất bắt buộc và ba điều kiện cần, đủ dưới đây:

Trang 13

* Căn cứ pháp lý chung có tính chất bắt buộc là: kể

từ ngày tội phạm mà người đó thực hiện nhất thiết phải qua một thời hạn nhất định và thời hạn ấy phải

do BLHS quy định (khoản 1)

* Ba điều kiện cần, đủ: a) điều kiện thứ nhất – một trong các thời hạn đã qua ấy phải tương ứng với một trong bốn loại tội phạm được BLHS quy định cụ thể (khoản 2); b) điều kiện thứ hai – trong khoảng thời hạn đã qua ấy, người phạm tội (mà đối với tộu ấy thời hiệu truy cứu TNHS đã qua) phải không được phạm tội mới mà mức cao nhất của khung hình phạt do BLHS quy định đối với tội mới này là trên một năm

tù (đoạn 1 khoản 3); c) và cuối cùng, điều kiện thứ ba – trong khoảng thời hạn đã qua ấy, người phạm tội không được cố tình trốn tránh (hoặc mặc dù cố tình trốn tránh) và đối với người đó phải không có lệnh truy nã của cơ quan tư pháp hình sự có thẩm quyền (đoạn 2 khoản 3)

Trang 14

7 Bằng quy phạm tại Điều 24 BLHS năm 1999, lần đầu tiên trong PLHS Việt Nam nhà làm luật nước ta

đã đặt an ninh quốc gia với tính chất là lợi ích (được BLHS năm 1999 bảo vệ bằng các quy định của Chương XI) ngang hàng với hòa bình và an ninh của nhân loại (được BLHS năm 1999 bảo vệ bằng các quy định của Chương XXIV) Đây là một sự thay đổi lớn trong chính sách hình sự của Đảng và Nhà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam thông qua pháp điển hóa lần thứ hai vừa qua Có nghĩa là, từ đây theo quan điểm của nhà làm luật Việt Nam được cụ thể hóa trong BLHS năm 1999 – chế định nhân đạo về thời hiệu truy cứu TNHS (khoản 2 Điều 23) không được phép áp dụng: a) chẳng những chỉ đối với các tội phá hoại hòa bình, chống loài người và tội phạm chiến tranh (được quy định tại các điều 341 – 344 BLHS năm 1999 – các điều 277 – 279 BLHS năm 1985 trước đây); b) mà còn đối với tất cả các tội xâm phạm

Trang 15

an ninh quốc gia (được quy định tại các điều 78 – 91 BLHS năm 1999)

III

1 Bằng quy định của khoản 1 Điều 55 BLHS năm

1999, lần đầu tiên trong PLHS Việt Nam đã ghi nhận một quy phạm riêng biệt đề cập đến ĐNPL của khái niệm thời hiệu thi hành bản án hình sự là gì? – “là thời hạn do Bộ luật này quy định mà khi hết thời hạn

đó người bị kết án không phải chấp hành bản án đã tuyên” Đây chính là một điểm mới trong BLHS năm

1999 (mà trước đây trong BLHS năm 1985 không có) Do vậy, cũng như ĐNPL của thời hiệu truy cứu TNHS (khoản 1 Điều 23 BLHS năm 1999), ĐNPL này có ý nghĩa khoa học – thực tiễn quan trọng đối với sự phát triển của PLHS Việt Nam nói riêng, cũng như đối với việc bảo vệ các quyền và tự do của công dân trong hoạt động tư pháp hình sự nói chung ở nước ta hiện nay

Trang 16

2 Bằng các quy định của khoản 2 Điều 55 BLHS năm 1999, PLHS Việt Nam hiện hành đã điều chỉnh

cụ thể ba thời hạn thi hành BAHS khác nhau tương ứng với các loại hình phạt và mức hình phạt mà các

cơ quan thi hành án hình sự có thẩm quyền chỉ có thể

và phải căn cứ vào đó để thi hành BAHS đã có hiệu lực pháp luật đối với người bị kết án (người đã thực hiện tội phạm) Nói một cách khác, theo quy định của BLHS năm 1999, khi đã hết các thời hạn do luật định tại khoản 2 Điều 55 tương ứng với các loại hình phạt (phạt tiền, cải tạo không giam giữ hoặc phạt tù) và mức hình phạt (ba năm tù trở xuống, ba năm tù đến mười lăm năm tù, trên mười lăm năm tù đến ba mươi năm tù), thì không được thi hành BAHS đã có hiệu lực pháp luật đối với người bị kết án Trong trường hợp có nhiều bản án đối với một người thì phải tổng hợp hình phạt của nhiều bản án và căn cứ để tính thời hiệu là hình phạt tổng hợp chung Nếu trong bản án

có nhiều người bị kết án, thì mỗi người sẽ được áp

Trang 17

dụng thời hiệu thi hành BAHS phù hợp với loại hình phạt và mức hình phạt đối với họ

3 Bằng các quy phạm của khoản 3 Điều 55 BLHS năm 1999, PLHS Việt Nam lần đầu tiên đã cụ thể hóa cách tính thời hiệu thi hành BAHS (khác với quy định tương ứng trong BLHS năm 1985 trước đây là

“thời hiệu không thi hành bản án hình sự đối với người bị kết án”) Tuy nhiên, khi áp dụng cách tính thời hiệu thi hành BAHS theo quy định tại đoạn 1 khoản 3 Điều 55 BLHS năm 1999, chúng ta cần chú

ý một số vấn đề dưới đây

* Về cơ bản, căn cứ vào Điều 226 Bộ luật TTHS, thì thời điểm thi hành BAHS đối với người bị kết án bắt đầu được tính từ ngày bản án này có hiệu lực pháp luật (bao gồm: những BAHS của Tòa án cấp sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị; những BAHS của Tòa án cấp phúc thẩm và những quyết định của Tòa

án cấp giám đốc thẩm hoặc tái thẩm), chứ không phải

Ngày đăng: 29/06/2014, 21:16

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm