- Nguyên nhân sinh bệnh vẩy nến đến nay vẫn chưa sáng tỏ hoàn toàn,tuy nhiên nhiều nghiên cứu cho rằng bệnh vẩy nến là bệnh có cơ chế tự miễn và liên quan đến di truyền.- Gen gây nên bện
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG
Viện Công nghệ sinh học & Môi trường
BÀI BÁO CÁO NHÓM 6
Trang 2MỤC LỤC:
5.1 Đông Y: 10
5.1.1 Nguyên lý: 10
5.1.2 Ưu thế: 10
5.1.3 Điều trị vẩy nến bằng phương pháp ngâm thuốc: 10
5.2 Tây Y: 11
5.2.1 Điều trị tại chỗ: 11
5.2.2 Điều trị toàn thân: 15
5.2.3 Trị liệu bằng ánh sáng (Phototherapy) 16
5.2.4 Phương pháp sinh học (Biotherapy) 17
7 TÀI LIỆU THAM KHẢO: 22
BỆNH VẨY NẾN LÀ GÌ?
- Bệnh vẩy nến là bệnh viêm da mãn tính do rối loạn biệt hóa của tế bào
thượng bì,hình thành một màng ngăn bám chặt trên da Màng bám này sản sinh tế bào nhanh gấp 10 lần so với bình thường rồi chết Nhưng thay vì mất
đi như tế bào chết bình thường thì nó nổi lên làm cho da bong tróc và tạo thành từng vẩy trắng như vẩy nến
- Bệnh tiến triển lành tính,ít khi tử vong nhưng hầu như suốt đời làm cho chất lượng cuộc sống của người bệnh bị giảm sút,ảnh hưởng nhiều đến tâm
lý,sinh hoạt,thẩm mỹ…
1 NGUYÊN NHÂN SINH BỆNH VẨY NẾN:
Trang 3- Nguyên nhân sinh bệnh vẩy nến đến nay vẫn chưa sáng tỏ hoàn toàn,tuy nhiên nhiều nghiên cứu cho rằng bệnh vẩy nến là bệnh có cơ chế tự miễn và liên quan đến di truyền.
- Gen gây nên bệnh vẩy nến nằm trên nhiễm sắc thể số 6 có liên quan tới HLA,DR7,B13,B17,BW57,CW6,…Dưới tác động của các yếu tố gây bệnh (yếu tố khởi động,yếu tố môi trường) như stress,nhiễm khuẩn, chấn thương
cơ học, vật lý, rối loạn nội tiết, các thuốc gây kích ứng da gen này được khởi động, dẫn đến hoạt động gián phân và tổng hợp DNA của lớp đáy tăng lên, tăng sinh tế bào thượng bì, nhất là lớp đáy và lớp gai dẫn đến rối loạn quá trình tạo sừng, rút ngắn quá trình chu chuyển tế bào thượng bì, gây bênh vẩy nến
- Trong bệnh vẩy nến, tế bào miễn dịch di chuyển từ lớp hạ bì đến lớp biểu bì, kích thích các tế bào da (tế bào sừng) để sinh sôi nảy nở Bệnh vẩy nến dường như không phải là một bệnh tự miễn dịch thực sự Trong một bệnh tự miễn dịch, hệ thống miễn dịch lẫn lộn một kháng nguyên bên ngoài với một thành phần cơ thể bình thường, và tấn công cả hai.Tuy nhiên, trong bệnh vẩynến, viêm không có vẻ được gây ra bởi các kháng nguyên bên ngoài (mặc dù DNA không có ảnh hưởng immunostimulatory) Các nhà nghiên cứu đã xác định được một số các tế bào miễn dịch có liên quan đến bệnh vẩy nến, và hóachất truyền tín hiệu mà chúng gửi cho nhau để phối hợp gây viêm Cuối của quá trình này, các tế bào miễn dịch, chẳng hạn như tế bào đuôi gai và tế bào
T, di chuyển từ lớp hạ bì đến các lớp biểu bì , tiết ra tín hiệu hóa học, chẳng hạn như yếu tố hoại tử khối u α, interleukin-1β, và interleukin-6, gây viêm ,
và interleukin-22, gây ra tế bào sừng để sinh sôi nảy nở
- Các hệ thống miễn dịch bao gồm một hệ thống miễn dịch bẩm sinh , và một hệ thống miễn dịch thích ứng
- Trong hệ thống bẩm sinh, tế bào miễn dịch có thụ thể đã tiến hóa để nhắm mục tiêu các loại protein cụ thể và kháng nguyên khác thường được tìm thấy trên các tác nhân gây bệnh.Trong hệ thống miễn dịch thích ứng, tế bào miễn dịch phản ứng với protein và kháng nguyên khác mà chúng chưa bao giờ tiếpxúc trước đây, được trình bày cho chúng bởi các tế bào khác Hệ thống bẩm sinh thường đi kháng nguyên trên hệ thống thích nghi Khi hệ thống miễn dịch làm cho một sai lầm, và xác định một phần lành mạnh của cơ thể như là một kháng nguyên ngoại lai, hệ thống miễn dịch tấn công các protein, giống như trong tự miễn dịch
- Bệnh vẩy nến, DNA là một kích thích viêm DNA kích thích các thụ thể trên
Trang 4miễn dịch (cytokine) Bệnh vẩy nến, tế bào sừng sản xuất peptide kháng khuẩn Trong phản ứng với các tế bào đuôi gai và tế bào T, chúng cũng sản xuất các cytokine như interleukin-1, interleukin-6, và yếu tố hoại tử khối u-α,
mà các tín hiệu có nhiều tế bào viêm đến và sản xuất viêm hơn nữa
- Tế bào đuôi gai cầu hệ thống miễn dịch bẩm sinh và thích nghi Chúng đang tăng lên trong tổn thương vẩy nến và gây ra sự tăng sinh của tế bào T và helper type 1 tế bào T Một số tế bào đuôi gai có thể sản xuất yếu tố hoại tử khối u-α, trong đó kêu gọi các tế bào miễn dịch và kích thích viêm nhiễm hơn Mục tiêu điều trị liệu pháp miễn dịch, và psoralen và tia cực tím A (PUVA), làm giảm số lượng của các tế bào đuôi gai
- Các tế bào T di chuyển từ lớp hạ bì vào lớp biểu bì Chúng nó được thu hút vào lớp biểu bì của alpha-1 beta-1 integrin, một phân tử tín hiệu trên các collagen ở lớp biểu bì Trong bệnh Vẩy nến tế bào T tiết ra interferon-γ
và 17 Interleukin-17 cũng có liên quan với
interleukin-22 Interleukin-interleukin-22 gây ra keratocytes để sinh sôi nảy nở
- Một giả thuyết là bệnh vẩy nến có liên quan đến một khiếm khuyết trong các
tế bào T quy định, và quy định trong các cytokine interleukin-10
Gần đây với việc tìm ra nhiều yếu tố liên quan đến cơ chế sinh bệnh vẩy
nến,đặc biệt vai trò quan trọng của hệ miễn dịch với sự tham gia của tế bào lympho T đã tìm ra một hướng mới trong việc điều trị vảy nến,đó là các chất sinh học có tác dụng cắt đứt tương tác tế bào lympho T và các thành phần liên quan khác Để hiểu rõ hơn,chúng ta cùng tìm hiểu cơ chế miễn dịch trong bệnh vẩy nến
Trang 53 CƠ CHẾ MIỄN DỊCH:
Giai đoạn 1: Các kháng nguyên bên ngồi (yếu tố kích hoạt: vi khuẩn,virus, ) được tếbào trình diện kháng nguyên( APC; ở da cĩ tế bào Langerhan,tế bào đuơi gai –
Dendritic Cell) xử lý và di chuyển đến các hạch bạch huyết lân cận gây hoạt hĩa các
tế bào lympho CD45RA+( T nạve)
Giai đoạn 2: ICAM-1 (Inter Cellular Adhesion Molecule 1: phân tử gắn kết cá tế bào nhĩm 1,cịn cĩ tên khác là CD54) trên bề mặt tế bào APC sẽ tương tác với LFA-1 trên
tế bào T Tiếp đĩ,kháng nguyên đã gắn với MHC trên APC sẽ gắn vào thụ cảm thê và đồng thụ cảm CD4/CD8 trên tế bào T sinh ra “tín hiệu 1” Bên cạnh đĩ,quá trình tương tác cịn được tạo bởi sự gắn kết giữa các phần tử CD28 và CD80,CD28 và CD86,CD40L và CD40,LFA3 và CD2 của 2 tế bào tạo ra “ tín hiệu 2” Qua quá trìnhtrên lympho T sẽ được hoạt hĩa
Tương tác giữa tế bào APC và lympho T gây hoạt hĩa tế bào T
Giai đoạn 3: Lympho T hoạt hĩa sẽ tạo ra nhiều cytokine bao gồm IL -12,TNF-α, IFN-ɣ và IL-2 Từ đĩ lympho T phát triển và biệt hĩa thành tế bào T nhớ ( T
CD45RO+)
Trang 6Giai đoạn 4: T nhớ sẽ bộc lộ CLA ra bề mặt tế bào để gắn với E- selectin của tế bàonội mô lòng mạch,cùng với sự gắn kết LFA-1 với ICAM-1 giúp cho các tế bào T thoát khỏi lòng mạch và di chuyển đến da Ngoài ra các cytokine do tế bào sừng tiết ra có vai trò lôi kéo các tế bào T nhớ đi tới chính xác các vị trí viêm.
Giai đoạn 5: Tại vùng da viêm,bạch cầu T tiếp xúc với tế bào trình diện kháng nguyên APC sẽ được hoạt hóa lại và tiết ra các cytokine như TNF-α,IFN-ɣ làm kích thích tế bào sừng phát triển,quá sản,rối lọan biệt hóa,gây ra các triệu chứng lâm sàn vẩy nến
TRIỆU CHỨNG,DẤU HIỆU NHẬN BIẾT:
- Thể đặc biệt ít gặp hơn nhưng nặng và khó điều trị hơn Đó là các thể: Vẩy nến thể mủ, vẩy nến thể móng khớp, vẩy nến thể đỏ da toàn thân
Trang 74.2 Dấu hiệu nhận biết:
Tổn thương tại da
Bệnh vẩy nến là do sự rối loạn điều tiết hóa lành tính của tế bào thượng bì tạo nên một màng ngăn bám chặt trên da Hiện tượng điển hình và hay gặp nhất của bệnh là dẫn đến những tổn thương về da Các mảng bám trên
da thường có các vẩy dày, có nhiều lớp chồng lên nhau rất dễ bong và
thường gây ra cảm giác ngứa ngáy, dát đỏ cho người bệnh Các màng bám này còn sản sinh tế bào nhanh gấp 10 lần so với bình thường rồi chết Nhưng thay vì mất đi như tế bào chết bình thường thì nó nổi lên thành từng vẩy trắng Sâu dưới lớp vẩy này lại có màu hồng Nhìn những vảy này giống như những giọt nến Chính vì vậy bệnh có tên là vẩy nến Những vẩy như vẩy cá, màu đỏ gây tổn thương da ở lòng bàn tay với các mụn nhỏ là dấu hiệu của vẩy nến ở lòng bàn tay, và xuất hiện dấu hiệu tương tự gọi là vẩy nến ở bàn chân
Với bệnh vẩy nến, các vết thương tổn thường tập trung nhiều ở các vùng hay
tì đè, cọ xát như trên da đầu, đầu gối, khuỷu tay, phần trên của thân, rìa tóc, vùng xương cùng, mông Khi chạm vào vùng da bị bệnh thì thấy khô, cứng Thường khó xác định hơn nếu thương tổn chỉ có ở đầu do tóc che khuất cho nên cần chú ý: nếu thấy ở đầu tự nhiên thấy gầu nhiều và dày lên so với trướcđây Sau một thời gian phát triển nhất định mà không được điều trị đúng cáchthì các vêt tổn thương này có khả năng lan ra khắp cơ thể
Tổn thương móng
Trang 8Ngoài gây ra những tổn thương đặc trưng ở vùng da của người mắc bệnh, vảy nến còn có thể gây ra tổn thương ở móng Có khoảng 30-40% các trườnghợp bệnh nhân vẩy nến bị tổn thương móng tay, móng chân Khi chúng phát triển ở móng tay và móng chân, thì các vẩy trở nên dày hơn, sần sùi hơn hoặc
có đến 20% bệnh nhân có thương tổn khớp Bệnh viêm khớp vẩy nến thườngkhiến bệnh nhân bị biến dạng các khớp, khó vận động
Biểu hiện hay gặp nhất là viêm khớp mạn tính, biến dạng khớp, cứng khớp, lệch khớp, bệnh nhân cử động đi lại rất khó khăn … Một số bệnh nhân
thương tổn da rất ít nhưng biểu hiện ở khớp rất nặng, đặc biệt là khớp gối và cột sống
Trang 9 Các thể tổn thương khác của bệnh vẩy nến
Có rất nhiều cách để phân biệt các loại tổn thương gây ra do bệnh vẩy nến Dựa vào tính chất, đặc điểm lâm sàng, mà có thể chia vẩy nến làm 2 loại chính là thông thường và loại đặc biệt hoặc dựa vào kích thước, vị trí của thương tổn da mà có thể phân ra các thể như thể giọt, thể đồng tiền, thể mảng, vẩy nến ở đầu, vẩy nến đảo ngược, …
Một số trường hợp bệnh vẩy nến ở thể nặng và khó điều trị hơn như vẩy nến thể mủ với sự xuất hiện của các mụn mủ khô và nông, vẩy nến thể đỏ da toànthân
Lưu ý bệnh thường phát triển mạnh vào mùa khô và gây ra cảm giác đau đớn
vô cùng ở những vùng da bị nhiễm bệnh, bị va chạm hoặc có các biểu hiện chảy máu ở chỗ da bị nứt Điều này khiến bệnh có thể bị nhầm lẫn với nứt nẻ
da cũng hay gặp ở mùa khô Do đó để cho chắc chắn, ngay sau khi có những nghi ngờ mắc bệnh, cần đưa người bệnh tới khám ở các cơ sở y tế tin cậy để được chuẩn đoán và điều trị kịp thời
ĐIỀU TRỊ:
Vẩy nến hiện nay vẫn chưa thể chữa khỏi hoàn toàn mà chỉ làm giảm, sạch thương tổn và kéo dài thời gian tái phát Có nhiều phương pháp điều trị và dựa vào tuổi, phái, dạng lâm sàng, vị trí sang thương cũng như sự lan tỏa của bệnh
Điều trị tại chỗ thường được sử dụng trong vẩy nến mức độ nhẹ và trung bình Vẩy nến mức độ trung bình và nặng có thể phải sử dụng quang trị liệu hoặc thuốc
hệ thống
Trang 10Vì vậy khi nhận biết được những dấu hiệu của bệnh vẩy nến chúng ta nên nhanhchóng đến bệnh viện để để được khám và chữa bệnh theo phác đồ điều trị của bác
âm thanh, ngửi mùi vị; hỏi triệu chứng của bệnh, tiền sử bệnh, quá trình điều trị, nhiệt độ nóng lạnh, mồ hôi, nước tiểu, phân, kinh nguyệt, quá trình tiếp xúc; bắt mạch,… 4 quá trình kết hợp với nhau, tổng hợp phán đoán tính chất bệnh, khí huyết của bệnh nhân thành hay suy và tình hình chức năng của phủ tạng
5.1.3 Điều trị vẩy nến bằng phương pháp ngâm thuốc:
Ngâm thuốc Đông Y là thông qua nguyên lí hấp thụ thuốc Đông Y của da, làm cho thuốc trực tiếp phát huy tác dụng đối với vùng da bị tổn thương, tăng tỷ lệ hấp thụ của thuốc, kết hợp với sự điều tiết tự thân của người bệnh sẽ làm cho virus bị bài trừ khỏi cơ thể, khống chế truyền nhiễm chân khuẩn, thúc đẩy tuần hoàn máu, gia tăng sự trao đổi chất, nhanh nhiệt giải độc, dứt ngứa, giảm sưng ngừng đau, cânđối tạng phủ
Ưu thế Ngâm thuốc Đông Y có thể điều trị được bệnh vảy nến, da hấp thụ các thành phần của thuốc và cải thiện các tuần hoàn nhỏ của da, từ đó thuốc kích thích
Trang 11vùng da bị tổn thương làm cho quá trình hấp thụ thuốc của gia được nâng cao từ đóthúc đẩy tuần hoàn máu trong cơ thể người bệnh, gia tăng tốc độ giảm sưng phù và dứt ngứa.
Ngâm thuốc Đông Y là một trong những phương pháp điều trị tinh túy đồng thời hiện nay nó cũng là phương pháp điều trị bệnh vảy nến an toàn và có hiệu quả cao, sau khi điều trị có thể nâng cao hàm lượng Globulin miễn dịch trong huyết thanh của người bệnh, tăng cường sức sống và tính đàn hồi của da Người có da bình thường sau khi ngâm thuốc Đông Y có thể khỏe mạnh và xinh đẹp hơn, người
bị bệnh vảy nến ngâm thuốc Đông Y không chỉ loại bỏ được các vảy nhỏ màu trắngbạc mà còn làm cho bệnh tình phục hồi nhanh hơn
Cách giúp giảm bệnh vẩy nến hiệu quả nhất được nhiều bác sĩ khuyên dùng là ngâm mình (hoặc phần da bị vẩy nến) trong nước ấm từ 10 đến 15 phút, sau đó bôi thuốc dưỡng ẩm làm mềm da để giúp da mềm và ẩm hơn
Cụ thể về các bài thuốc nam điều trị bệnh vẩy nến hiệu quả như sau:
Bài 1: Bao gồm những loại thuốc sau: Kinh giới, rau má, bồ công anh, ké đầu ngựa, cây trinh nữ, bạc sau, xích đồng, thổ phục linh, vỏ gạo, hạ khô thảo, kim ngân, khổ sâm, xác ve sầu, đơn đỏ mỗi thứ 12g, sắc uống trong 1-2 ngày, mỗi ngày 2 lần! Đây là một thang thuốc uống trong 1 - 2 ngày, mỗi thứ 10 - 12g Sau khi uống thuốc xong thì lấy bã đun them 1 ít nước và tắm, ngâm để cho lớp da chết bong ra
Bài 2: Dùng cho bệnh vẩy nến kéo dài: Ké, hà thủ ô, huyền sâm, ngân hoa, hỏa
ma nhân, sinh địa, tất cả đều 12g Sắc uống ngày 1 lần
Thuốc rửa ngoài thì dùng : Hỏa tiêu, phác tiêu, khô phàn, dã cúc hoa Nấu nước ngày rửa 1 lần
Bài 3: Thuốc ngâm rửa cho trường hợp bị toàn thân trên diện rộng: Khô phàn 120g, cúc hoa dại 240g, xuyên tiêu 120g, mang tiêu 500g, sắc lấy nước tắm hoặc ngâm mỗi ngày, hoặc cách 1 ngày ngâm 1 lần
5.2 Tây Y:
5.2.1 Điều trị tại chỗ:
Có rất nhiều thuốc được sử dụng tại chỗ trong điều trị vẩy nến Gần đây, một số loại thuốc mới như tazaroten và tacrolimus cũng có hiệu quả trong điều trị vẩy nến
Trang 12Pimecrolimus (SDZ-AZM-981)
Pimecrolimus là một dẫn xuất ascomycin của macrolactam đang được nghiên cứu trong điều trị các bệnh da do viêm Các dẫn xuất ascomycin đại diện cho một nhóm macrolactam kháng viêm mới Pimecrolimus phá vỡ dòng dẫn truyền tính hiệu của nội bào của thụ thể tế bào T bằng cách ức chế sự hoạt hóa và sự tăng sinh
tế bào T
Pimecrolimus với dạng kem 1% có hiệu quả và dung nạp tốt trong điều trị chàm thể tạng ở trẻ con và người lớn Dạng thuốc bôi và uống của pimecrolimus đang được nghiên cứu nhiều trong điều trị vẩy nến và bước đầu có hiệu quả tốt
Rosiglitazone
Rosiglitazone maleate là một thiazolidinedione uống được Hoa Kỳ công nhận trong điều trị đái tháo đường loại 2 và hiện đang được nghiên cứu trong điều trị vẩynến Thuốc này là một đồng vận mạnh và chọn lọc của PPAR-g (thụ thể hoạt hóa yếu tố tăng sinh peroxisome) Chất này có tác dụng ức chế sản xuất cytokine và thúc đẩy sự biệt hóa tế bào
Tazarotene
Tazarotene là một retinoid, gần đây được công nhận trong điều trị vẩy nến mảngvới dạng uống Tazarotene chuyển hóa thành chất hoạt động, acid tazarotenic và có thời gian bán hủy từ 7 – 12 giờ Vì vậy, tazarotene có thể là thuốc thay thế an toàn trong điều trị vẩy nến bằng retinoid hệ thống đối với những phụ nữ ở tuổi sinh đẻ Vẩy nến là một bệnh do phản ứng miễn dịch gây viêm Các thuốc ức chế miễn dịch hiện nay có hiệu quả trong việc kiểm soát vẩy nến đến một mức độ nhất định nhưng cũng còn nhiều bất lợi như độc tính cao và dễ tái phát khi ngưng điều trị Thế hệ điều trị mới tập trung chủ yếu vào các mục tiêu chuyên biệt trong phản ứng miễn dịch qua trung gian tế bào Chúng ta có thể hy vọng trị liệu như thế sẽ giúp bệnh nhân dung nạp tốt hơn và không còn những tác dụng phụ nghiêm trọng như độc gan, độc thận và ức chế tủy
Retinoid (nhóm etretinate – biệt dược Tigason – Soriatan):
Là một dẫn xuất tổng hợp của vitamin A Có tác dụng trị liệu cao và ít độc tính hơn vitamin A Có đặc tính nhiễm sừng (Antikeratisantes) và kháng tân tạo