Đó là các dịch vụ chophép khách hàng sử dụng máy điện thoại di động của mình để gửi, nhận các bản tinngắn thông minh ví dụ như: tra cứu danh bạ điện thoại, tra cứu kết quả xố số, điểm...
Trang 1MỤC LỤC
PHẦN A CƠ SỞ LÝ THUYẾT CHUNG 8
CHƯƠNG I LÝ THUYẾT CHUNG VỀ MẠNG 8
1.1 Giới thiệu 8
1.2 Giới thiệu mạng truyền thông và công nghệ mạng 8
1.3 Mô hình OSI 9
1.4 Bộ giao thức TCP/IP 12
1.5 Đối chiếu mô hình OSI và mô hình Internet 14
1.6 Kết luận 15
CHƯƠNG II GIỚI THIỆU TRUNG TÂM DỊCH VỤ TIN NGẮN SMSC 16 2.1 Giới thiệu 16
2.2 Giới thiệu về mạng thông tin di động toàn cầu GSM 16
2.3 Các dịch vụ trên mạng thông tin di động 18
2.3.1 Dịch vụ tin nhắn SMS (Short Message Service) 18
2.3.2 Dịch vụ tin nhắn đa phương tiện MMS (Multimedia Message Service) 19
2.4 Trung tâm dịch vụ tin ngắn SMSC 21
2.4.1 Khái niệm SMSC 21
2.4.2 Hoạt động của hệ thống SMSC 22
2.4.3 Các tính năng của SMSC 23
2.4.4 Các loại trung tâm dịch vụ tin ngắn 26
2.4.5 Sử dụng giao thức trong SMSC 26
2.5 Kết luận 26
CHƯƠNG III GIAO THỨC SMPP 28 3.1 Giới thiệu 28
3.2 Tổng quan về giao thức SMPP 28
3.2.1 Hoạt động của giao thức SMPP 28
3.2.2 Phiên làm việc của SMPP 29
3.2.3 SMPP PDUs (SMPP Protocol Data Units - Các bộ dữ liệu giao thức SMPP) 31
3.2.4 Kết nối tầng mạng SMPP 33
3.2.5 SMPP messages gửi từ ESME đến SMSC: 34
3.2.5.1 SMPP messages phản hồi từ SMSC đến ESME: 34
3.2.5.2 Trình tự của một phiên làm việc điển hình của SMPP - ESME transmitter: 35
3.2.6 SMPP message gửi từ SMSC tới ESME : 36
3.2.6.1 SMPP Message phản hồi từ ESME tới SMSC 37
3.2.6.2 Trình tự phiên làm việc của SMPP - ESME Receiver 37
3.3 Kiểu và định dạng SMPP PDU (Short Message Peer to Peer Protocol Data Unit) 38
3.3.1 Các kiểu của SMPP PDU: 38
3.3.2 Định dạng SMPP PDU (Bộ dữ liệu giao thức SMPP): 39
3.3.2.1.Cách sắp xếp SMPP PDU 40
3.3.2.2.Độ dài của một SMPP PDU 41
3.3.2.3 Độ dài của một SMPP Message và độ dài Message mở rộng của nó: 42
3.3.2.4.Các tham số tùy chọn: 42
3.4 Mô tả chi tiết các bộ dữ liệu SMPP PDU 43
3.4.1 Thao tác “BIND” 46
3.4.1.1 Cú pháp “BIND TRANSMITER” 47
3.4.1.2 cú pháp “BIND_TRANSMITTER_RESP” 48
Trang 23.4.1.4 Cú pháp “BIND_RECEIVER_RESP” 48
3.4.1.5 Cú pháp “BIND_TRANCEIVER” 48
3.4.1.6 Cú pháp “BIND_TRANCEIVER_RESP” 49
3.4.1.7 Thao tác “OUTBIND” 49
3.4.2 Thao tác UNBIND 50
3.4.2.1 Cú pháp UNBIND 50
3.4.2.2 Cú pháp UNBIND_RESP 50
3.4.3 “GENERIC_NACK” PDU 51
3.4.3.1 Cú pháp “GENERIC_NACK” 51
3.4.4 Thao tác “SUBMIT_SM” 51
3.4.4.1 Cú pháp “SUBMIT_SM” 52
3.4.4.2 “SUBMIT_SM_RESP” 54
3.4.5 Thao tác “SUBMIT_MULTI” 54
3.4.5.1 Cú pháp SUBMIT_MULTI 54
3.4.5.2 Cú pháp “SUBMIT_MULTI_RESP” 57
3.4.6 Thao tác “DELIVER_SM” 58
3.4.7 Thao tác QUERY_SM 58
3.4.7.1 Cú pháp “QUERY_SM” 58
3.4.7.2 Cú pháp “QUERY_SM_RESP” 59
3.4.8 Thao tác CANCEL_SM 59
3.4.8.1 Cú pháp “CANCEL_SM” 60
3.4.8.2 Cú pháp “CANCEL_SM_RESP” 61
3.4.9 Thao tác “REPLACE_SM” 61
3.4.9.1 Cú pháp “REPLACE_SM_RESP” 62
3.4.10 Thao tác ENQUIRE_LINK 62
3.5 Định nghĩa tham số SMPP 62
3.5.1 Các tham số trong phần đầu lệnh 63
3.5.1.1 Command_length 63
3.5.1.2 Command_id 63
3.5.1.3 Command_status (trạng thái lệnh) 64
3.5.2 Định dạng thời gian 68
3.6 Kết luận 68
PHẦN B BÀI TOÁN PHÁT TRIỂN CÁC DỊCH VỤ TIN NHẮN SMS 69 CHƯƠNG IV MÔ TẢ BÀI TOÁN. 69 4.1 Giới thiệu 69
4.2 Mô tả khái quát hệ thống 69
4.2.1 Khái quát về hệ thống đang tồn tại 69
4.2.2 Khái quát về hệ thống các dịch vụ tin nhắn từ Mobile phone vào Internet và ngược lại: 70
a) Loại hình dịch vụ: 70
b) Cấu hình hệ thống: 70
4.2.3 Các dịch vụ cung cấp 72
4.3 Những yêu cầu bổ sung 72
4.4 Kết luận 73
CHƯƠNG V PHÂN TÍCH THIẾT KẾ CHƯƠNG TRÌNH ỨNG DỤNG. 74 5.1.Giới thiệu: 74
5.2 SMPPsim: 74
5.2.1 Quá trình nhận gói tin từ SMSC : 74
5.2.2 Quá trình gửi gói tin đến SMSC : 74
Trang 35.2.3 Quá trình nhận gói tin từ SMPP gateway : 74
5.2.4 Quá trình gửi gói tin đến SMPP gateway: 75
5.2.1 Quá trình nhận gói tin từ AppServer: 75
5.2.1 Quá trình gửi gói tin đến AppServer: 75
5.3 TSMS Application: 75
5.3.1 Mô tả bài toán tra cứu danh bạ điện thoại, kết quả tuyển sinh và kết quả xổ số 75
Mô hình tổng quát 75
5.3.2 Thiết kế cơ sở dữ liệu 76
5.3.3 Mô tả các module chương trình nguồn 80
5.4 Kết luận 82
CHƯƠNG VI GIỚI THIỆU CHƯƠNG TRÌNH. 83 6.1 Giới thiệu chương trình: 83
6.2 Mô tả dịch vụ 83
6.3 Cách sử dụng, khai thác dịch vụ 85
KẾT LUẬN 86 PHỤ LỤC 87
Trang 4BẢNG CÁC TỪ VIẾT TẮT
CDMA Code Division Multiple Access Đa truy nhập phân chia theo mãESME External Short Message Entity Thực thể tin ngắn mở rộng
ETSI European Telecommunications
Standards Institute Viện tiêu chuẩn viễn thông Châu Âu.FTP File Transfer Protocol Giao thức truyền file
GSM Global System for Mobile
Communication Hệ thống thông tin di động toàn cầuHLR Home Lacaion Register Bộ đăng ký thường trú
MMS Multimedia Message Service Dịch vụ tin nhắn đa phương tiện
MSC Mobile Service Switching Trung tâm chuyển mạch di động.OSI Open Systems Interconnection
model
Mô hình tham chiếu OSI
PDU Protocol Data Unit Bộ dữ liệu giao thức
SMPP Short Message Peer to Peer Giao thức phân phát tin ngắn ngang
hàng
SMS Short Message Service Dịch vụ tin ngắn
SMS GMSC SMPP gateway MSC Trung tâm chuyển mạch di động
cổng MSCSMSC Short Message Service Center Trung tâm dịch vụ tin ngắn
TCP/IP Transmission Control Protocol/
Trang 5MỞ ĐẦU
Thị trường điện thoại di động đang phát triển mạnh mẽ và đa dạng đi kèm với
nó là hệ thống dịch vụ tiện ích cũng gia tăng không ngừng để đáp ứng nhu cầu củakhách hàng Hơn nữa chúng ta biết rằng, Internet ngày nay phát triển như vũ bão, nếutích hợp được các dịch vụ tin ngắn với Internet sẽ đem lại nhiều giá trị mới cho người
sử dụng … như việc nhận, gửi và khai thác các thông tin đa dạng trên Internet Dịch vụtin ngắn được cung cấp thông qua hệ thống thông tin di động xuất hiện lần đầu tiên ởChâu Âu và ngày nay đang phát triển rất mạnh trên thế giới, đặc biệt là ở các nước Tây
Âu, Mỹ và Nhật Bản Trong các năm gần đây dịch vụ tin ngắn đã xâm nhập vào ViệtNam
Trong những năm gần đây cùng với sự đi lên của toàn xã hội, lĩnh vực cung cấpdịch vụ ứng dụng công nghệ thông tin tăng trưởng một cách đáng kể Nhu cầu thông
tin trên mạng Internet và giao tiếp qua mạng điện thoại đã không ngừng phát triển
Mỗi tháng trên thế giới có khoảng 200 tỷ tin nhắn được gửi qua
WorldWideWeb Tại Việt Nam nhắn tin qua mạng GSM mỗi tháng là hơn 3 tỷ tin
nhắn và mới chỉ dừng lại với tin nhắn dạng text là chủ yếu
Các thuê bao điện thoại ngày càng nhiều, tính riêng VNPT (Tổng công ty bưuchính viễn thông Việt Nam) đã có 10 triệu thuê bao Nhu cầu tận dụng chức năng máyđiện thoại để trao đổi tương tác, tra cứu dữ liệu ngày càng cao
Khai thác dịch vụ tin nhắn SMS đang được các nhà cung cấp dịch vụ di độngnhằm đến Ở Việt Nam, dịch vụ này đã xuất hiện từ tháng 3/2004 Hai dịch vụ mớinhất là nhắn tin khuyến mãi và tiết kiệm di động Các dịch vụ gia tăng này khiến chomáy di động không chỉ để thoại mà còn phục vụ nhu cầu đời sống con người
Với các nhà khai thác dịch vụ của nước ngoài, tin nhắn SMS hai chiều hoặc mộtchiều (từ khách hàng đến nhà cung cấp và ngược lại) là một nguồn thu đáng kể Hiệnnay có ba nhóm dịch vụ chính là 996, 997, 998 Trong đó 996 cung cấp dịch vụ tảinhạc chuông, hình nền, dự đoán thể thao Còn 997 là cung cấp thông tin theo yêu cầunhư kết quả xổ số, giá cả, thời tiết và mới nhất là hàng khuyến mãi, quà tặng Nhómthứ ba chú trọng đến đối tượng kinh doanh như cung cấp văn bản pháp luật, thông tinthương mại… Trong các nhóm trên, thông tin theo yêu cầu được khách hàng sử dụngnhiều, với 65% số lượng tin nhắn
Trong thời gian tới, thị trường dịch vụ gia tăng sẽ tiếp tục phát triển và đa dạnghoá các loại hình, nhất là khai thác thế mạnh của tin nhắn SMS Mở rộng các dịch vụcủa điện thoại di động là một xu thế phát triển của thế giới và cũng là một nhu cầu tolớn của nước ta Vì những lý do đó mà đề tài “Xây dựng ứng dụng cho Mobile Phone”
và cụ thể là tập trung vào nghiên cứu giao thức SMPP và phát triển các dịch vụ tinnhắn SMS đã được lựa chọn
Với vấn đề đặt ra, khoá luận hướng vào xây dựng và phát triển một hệ thốngdịch vụ tin nhắn SMS cơ bản dựa trên chuẩn giao thức SMPP Đó là các dịch vụ chophép khách hàng sử dụng máy điện thoại di động của mình để gửi, nhận các bản tinngắn thông minh ví dụ như: tra cứu danh bạ điện thoại, tra cứu kết quả xố số, điểm
Trang 6hệ thống dịch vụ SMS có thể tra cứu bất cứ thông tin gì trên Internet nếu được cungcấp.
* Mục tiêu của khóa luận
Nghiên cứu hoạt động của giao thức SMPP (Short Message Peer to Peer)
Nghiên cứu và xây dựng hệ thống dịch vụ tin nhắn SMS để tra cứu (tra cứu danh
bạ điện thoại, tra cứu điểm truyển sinh tra, cứu kết quả xổ số) cho Mobile phonevào mạng Internet dựa trên giao thức SMPP
Tiến tới từng bước xây dưng các hệ thống các dịch vụ giải trí, dịch vụ thươngmại, dịch vụ thanh toán,…
* Nội dung: Khóa luận được chia làm hai phần chính:
Phần A: Cơ sở lý thuyết chung
Trong phần này có 3 chương:
- Chương 1 Lý thuyết chung về mạng: Chương này trình bày khái quát về mạng
truyền thông và công nghệ mạng, tình hình phát triển của mạng Internet, các môhình tham chiếu OSI và TCP/IP là cơ sở kỹ thuật cho dịch vụ tra cứu thông tin
từ điện thoại di động vào Internet
- Chương 2 Chương này trình bày khái quát về hệ thống thông tin di động toàn cầu (GSM - Global System for Mobile communication) Giới thiệu về trung tâm dịch vụ tin ngắn thông minh (ISMSC – Intelligent ShortMessage Service
Center) đang sử dụng ở Việt Nam, giới thiệu về dịch vụ tin ngắn và các dịch vụ
tin ngắn mở rộng
- Chương 3 Chuẩn giao thức SMPP: SMPP (Short Message Peer to Peer) là một
giao thức dùng để chuyển (transfer) các gói tin ngắn (short message) từ/tớimạng Mobile, thông qua trung tâm dịch vụ tin ngắn (SMSC- Short MessageService Centre) là cơ sở kỹ thuật của hệ thống điện thoại di động
Phần B: Bài toán “Phát triển các dịch vụ tin nhắn SMS”.
Phần này gồm 3 chương và kết luận
- Chương 1 Mô tả bài toán: giới thiệu tổng quan của bài toán và những vấn đề
đặt ra cần giài quyết
- Chương 2 Phân tích và thiết kế ứng dụng.
- Chương 3 Giới thiệu về hệ thống phần mềm cung cấp dịch vụ tra cứu danh bạ
điện thoại, điểm thi tuyển sinh và kết quả xổ số được xây dựng bằng ngôn ngữJava chạy trên nền Internet Đây chỉ là một phần mềm Demo chạy trên một máy
và chỉ là một ví dụ trong số rất nhiều các dịch vụ SMS đã và sẽ được phát triển.Phần kết luận tóm tắt các kết quả đạt được và đưa ra phương hướng tiếp tụchoàn thiện phát triển nó và các dịch vụ khác
Trang 7Luận văn được nhóm 2 người thực hiện, các công việc được phân công cho cácthành viên của nhóm:
- Nguyễn Hữu Hoàng: Phát triển phần mềm làm cơ sở tiếp nhận và gửi gói tin
tại cổng giao tiếp SMPP (SMPP gateway) từ/tới trung tâm dịch vụ tin ngắn(SMSC) đồng thời thực hiện việc chuyển đổi các gói tin giữa hai giao thứcSMPP và TCP/IP
- Nguyễn Trung Dũng: Phát triển phần mềm thực hiện các ứng dụng trên máy
chủ ứng dụng (App Server) bao gồm các việc:
+ Nhận gói tin yêu cầu từ cổng giao tiếp.
+ Truy cập vào cơ sở dữ liệu để lấy ra dữ liệu theo yêu cầu của gói tin sau đó
đóng gói và gửi đến cổng giao tiếp
Mặc dù khóa luận đã đạt được các kết quả như đã trình bày và nhóm đã cố gắngrất nhiều nhưng do hạn chế về mặt thời gian và kinh nghiệm cho nên khóa luận chắcchắn không tránh khỏi sai sót Vì vậy chúng em rất mong nhận được sự đánh giá, góp
ý của các thầy, cô và bạn bè để ứng dụng được tiếp tục hoàn thiện
Cuối cùng, một lần nữa chúng em xin chân thành cảm ơn sự hướng dẫn tận tìnhcủa thầy giáo - Thạc sỹ Nguyễn Hoàng Anh và sự giúp đỡ to lớn của kỹ sư NguyễnThanh Bình và kỹ sư Nguyễn Thanh Tùng cùng công ty VDC
Hà Nội ngày 06 tháng 06 năm 2005
Nhóm sinh viên
Trang 8PHẦN A CƠ SỞ LÝ THUYẾT CHUNG CHƯƠNG I LÝ THUYẾT CHUNG VỀ MẠNG
1.1 Giới thiệu
Trong hương này chúng ta sẽ đi xem xét một cách khái quát về mạng truyềnthông và công nghệ mạng, tình hình phát triển của mạng Internet, các mô hình thamchiếu OSI và TCP/IP là cơ sở kỹ thuật cho dịch vụ tra cứu thông tin từ điện thoại diđộng vào Internet
1.2 Giới thiệu mạng truyền thông và công nghệ mạng.
Mạng máy tính ngày càng thâm nhập vào thực tế cuộc sống của xã hội loàingười Internet trở thành cơ sở hạ tầng cho nhiều loại dịch vụ khác như thương mạiđiện tử, giải trí… Bất kỳ con người trong xã hội hiện đại đều phải có khả năng tậndụng các tài nguyên của Internet: sử dụng thư điện tử, tìm kiếm tra cứu thông tin …
Truyền thông máy tính là quá trình truyền dữ liệu từ một thiết bị này sang mộtthiết bị khác Trước đây chúng ta thường hiều thiết bị là các máy tính, nhưng ngày naythiết bị không chỉ là các máy tính mà còn bao gồm nhiều chủng loại thiết bị khác ví dụnhư máy điện thoại di động, máy tính PAM… Số lượng các thiết bị có khả năng lấythông tin từ Internet ngày càng tăng Một từ phổ biến có nghĩa tương tự như vậy làtruyền dữ liệu Mặc dù hai cụm này có thể sử dụng thay thế cho nhau, một số ngườicoi thuật ngữ dữ liệu (data) chỉ bao gồm những sự kiện đơn giản và thô (chưa được xửlý), và sử dụng thuật ngữ thông tin (information) để chỉ việc tổ chức những sự kiệnnày thành dạng thông tin có nghĩa đối với con người
Khái niệm mạng (networking) chỉ khái niệm kết nối các thiết bị lại với nhaunhằm mục đích chia sẻ thông tin Để chia sẻ thông tin và sử dụng các dịch vụ trênmạng, các thành phần của mạng phải có khả năng truyền thông được với nhau Để đápứng được yêu cầu này, chúng ta phải xét đến 2 tiêu chí của mạng: khả năng liên kết(connectivity) và ngôn ngữ (language) Khả năng liên kết chỉ đường truyền hoặt kếtnối vật lý giữa các thành phần; ngôn ngữ chỉ một bảng từ vựng cùng các quy tắctruyền thông mà các thành phần phải tuân theo
Để máy tính trên mạng có thể trao đồi thông tin với nhau, cần có một bộ phầnmềm cùng làm việc theo chuẩn nào đó Giao thức truyền thông (Protocol) là tập quytắc quy định phương thức truyền nhận thông tin giữa các máy tính trên mạng
Giao thức: ngôn ngữ được sử dụng bởi các thực thể mạng gọi là giao thức
truyền thông mạng Giao thức giúp các bên truyền thông “hiểu nhau” bằng cách địnhnghĩa một ngôn ngữ chung cho các thành phần mạng Từ ý nghĩa khái quát như vậy,
có thể hiểu giao thức truyền thông mạng là các thủ tục, quy tắc hoặc các đặc tả chínhthức đã được chấp nhận xác định hành vi và ngôn ngữ trao đổi giữa các bên Trongmạng truyền thông, giao thức mạng là bản đặc tả chính thức định nghĩa cách thức “xửsự” của các thực thể tham gia truyền thông với nhau Ở đây khái niệm thực thể baogồm các thiết bị phần cứng cũng như các tiến trình phần mềm Giao thức mạng cũngđịnh nghĩa khuôn dạng dữ liệu được trao đổi giữa các bên Nói một cách ngắn ngọn,
Trang 9giao thức mạng định nghĩa bảng từ vựng và các quy tắc áp dụng truyền thông dữ liệu.Không có môi trường truyền, không thể trao đổi thông tin giữa các thực thể mạng,không có một ngôn ngữ chung, không thể hiểu được nhau Vì vậy đường truyền cungcấp môi trường để truyền dữ liệu truyền thông, trong khi đó ngôn ngữ chung đảm bảohai bên truyền thông hiểu được nhau.
Các mạng máy tính hiện đại được thiết kế bằng cách phân chia cấu trúc ở mức
độ cao nhằm làm giảm độ phức tạp khi thiết kế Các giao thức mạng thường được chiathành các tầng (layer) mỗi tầng được xây dựng dựa trên dịch vụ của tầng dưới nó vàcung cấp dịch vụ cho tầng cao hơn
1.3 Mô hình OSI
ISO (the International Standards Organization) là một tổ chức được thành lậpvới mục đích thiết lập các tiêu chuẩn quốc tế Một trong các chuẩn ISO bao hàm mọimặt của truyền thông mạng gọi là mô hình OSI – Open Systems Interconnection model(mô hình liên kết giữa các hệ thống mở) Đây là mô hình cho phép bất cứ 2 hệ thốngnào (cho dù khác nhau) có thể truyền thông với nhau mà không cần quan tâm đến kiếntrúc bên dưới của chúng Các giao thức riêng của một hãng sản xuất thường ngăn ngừaviệc truyền thông giữa hai hệ thống cùng một kiểu Mô hình OSI ra đời với mục đíchcho phép hai hệ thống bất kỳ truyền thông với nhau mà không cần thay đổi về mặtlogic của bất cứ phần cứng hoặc phần mềm nào bên dưới Mô hình OSI không phải làmột giao thức, nó là một mô hình để nhận biết và thiết kế một kiến trúc mạng linhđộng, vững chắc và có khả năng liên tác
Mô hình OSI được phân tầng với mục đích thiết kế các hệ thống mạng cho phépviệc truyền thông thực hiện được qua tất cả các kiểu hệ thống máy tính khác nhau
Các nguyên tắc xây dựng mô hình tham chiếu:
Để đơn giản, tạo danh giới các tầng sao cho các tương tác và dịch vụ là tối thiểu
các chức năng khác nhau được tách biệt, các chức năng giống nhau được đặtmột tầng
chọn danh giới các tầng theo kinh nghiệm thành thông của các hệ thống trongthực tế
Các chức năng được định vị sao cho có thể thiết kế lại tầng mà không ảnh hưởngđến các tầng khác
Tạo danh giới giữa các tầng sao cho có thể chuẩn hóa giao diện tương ứng
Tạo một tầng khi dữ liệu được xử lý một cách tách biệt
Mỗi tầng sử dụng dịch vụ của tầng dưới nó, cung cấp dịch vụ cho các tầng trên,tầng trên sử dụng dịch vụ của tầng dưới mà không cần quan tâm đến cách thứcthực hiện dịch vụ đó
Có thể chia một tầng thành các tầng con khi cần thiết
Tạo các tầng con để cho phép giao diện với các tầng kế cận
Trang 10Mô hình OSI gồm 7 tầng:
Tầng vật lý (Physical layer)
Tầng liên kết dữ liệu (Datalink layer)
Tầng mạng (Network layer)
Tầng giao vận (Transport layer)
Tầng phiên (Session layer)
Tầng trình diễn (Presentation layer)
Tầng ứng dụng (Application layer)
Mỗi tầng đều có chức năng, nhiệm vụ xác định như sau:
Tầng vật lý (Physical): đảm bảo việc thiết lập, truyền tin dạng bit qua kênh
vật lý
Tầng liên kết dữ liệu (data link): đảm bảo việc cung cấp cac phương tiện
truyền thông tin qua tầng liên kết vật lý đảm bảo tính tin cậy thông qua các cơchế đồng bộ hóa, kiểm soát lỗi và kiểm soát luồng dữ liệu
Tầng mạng (network):đảm bảo việc truyền chính xác, hiệu quả số liệu giữa
các thiết bị đầu cuối trong mạng, đảm bảo việc tìm đường tối ưu cho các gói
dữ liệu bằng các giao thức chọn đường, đồng thời điều khiển lưu lượng số liệutrong mạng để tránh xảy ra tắc nghẽn bằng cách chọn các chiến lược tìm đườngkhác nhau
Tầng giao vận (Transport): đảm bảo việc truyền dữ liệu chính xác giữa hai
thực thể thuộc tầng phiên (session), nó còn có chức năng điều khiển lưu lượng
số liệu để đồng bộ giữa thực thể thu và phát và tránh tắc nghẽn số liệu khi vẫnchuyển qua lớp mạng
Tầngphiên (Session): đảm bảo việc liên kết giữa hai thực thể có nhu cầu trao
đổi số liệu, ví dụ như người dùng và một máy tính ở xa được gọi là một phiênlàm việc Nó qunả lý việc trao đổi số liệu như thiết lập giao diện giữa ngườidùng và máy tính, xác định thông số điều khiển trao đổi số liệu,…
Tầng trình diễn (Presentation): đảm bảo việc thích ứng các cấu trúc dữ liệu
khác nhau của người dùng với cầu trúc dữ liệu thống nhất sử dụng trong mạng
Nó có chứa thư viện các yêu cầu của người dụng, thư viện tiện ích chẳng hạnnhư: thay đổi dạng thể hiện của các tệp, nén tệp …
Tầng ứng dụng (Application): đảm bảo việc cung cấp các phương tiện để
người sử dụng có thể truy nhập được vào môi trường OSI một cách tiện lợi
Sự phát triển lớn mạnh của mạng thông tin toàn cầu Internet, dựa trên cơ sở là
bộ giao thức TCP/IP (Transmission Control Protocol/Internet Protocol), đó là một họgiao thức cùng làm việc với nhau để cung cấp phương tiện truyền thông liên mạng Bộgiao thức này được hình thành từ những năm 1970
Trang 11Hình 1.1 Mô hình OSI
Trong mỗi máy, mỗi tầng sử dụng các dịch vụ do tầng bên dưới cung cấp Tạitầng vật lý, việc truyền thông là trực tiếp: Máy A gửi 1 luồng bít đến máy B Tuynhiên tại các tầng cao hơn trên máy A, dữ liệu được chuyển dần xuống các tầng bêndưới, đến máy B và tiếp tục đi lên các tầng cao hơn (trong máy B) Mỗi tầng trongmáy gửi dữ liệu đi (máy A) thêm các thông tin của tầng đó vào thông điệp nhận được
từ phía trên rồi sau đó chuyển toàn bộ gói dữ liệu xuống tầng phía dưới Các thông tinđược thêm vào này tạo thành header (tiêu đề chèn trước) và trailer (tiêu đề chèn sau) làcác thông tin điều kiển được thêm vào đầu hay vào cuối gói dữ liệu Header được thêmvào thông điệp tại mỗi tầng 6, 5, 4, 2 và 2, trailer được thêm vào tại tầng 2 Tại tầng 1,toàn bộ gói dữ liệu được chuyển thành dạng sao cho có thể truyền đi tới máy nhận Tạithiết bị nhận, các tiêu đề được nói ra dần dần khi chuyển dữ liệu dần lên trên
Giao diện giữa các tầng:
Nói chung trên cùng một máy tính hai tầng kề nhau trao đổi dữ liệu với nhauqua các giao diện (interface) Giao diện định nghĩa cách thức và khuôn dạng dữ liệutrao đổi giữa hai tầng kề nhau trên cùng một thiết bị Định nghĩa giao diện giữa cáctầng một cách rõ ràng sẽ cho phép thay đổi cách thức triển khai tại một tầng mà khôngảnh hưởng đến các tầng khác
Có thể chia 7 tầng thành 3 nhóm Tầng vật lý, liên kết dữ liệu và mạng tạothành nhóm hỗ trợ tầng mạng; chúng chịu trách nhiệm về các vấn đề liên quan đến mặtvật lý khi truyền dữ liệu từ một thiết bị này đến một thiết bị khác (ví dụ: những đặc tảđiện, các kết nối vật lý định thời gian và tính tin cậy) Tầng phiên, tầng trình diễn vàứng dụng có thể được coi như nhóm tầng hỗ trợ người dùng; chúng cho phé khả năngliên tác giữa các hệ thống phần mềm không liên quan đến nhau Tầng 4-tầng giao vậnđảm bảo việc chuyển dữ liệu đầu cuối (end-to-end) tin cậy, trong khi tầng 2 đảm bảoviệc truyền dữ liệu tin cậy trên một đường truyền (vật lý) riêng lẻ Nói chung các tầng
NetworkData link
Physical
Trang 12dưới được triển khai dưới sự kết hợp của cả phần cứng và phần mềm Tầng vật lý hầunhư được triển khai bởi phần cứng.
1.4 Bộ giao thức TCP/IP.
Ví dụ về một giao thức mạng quen thuộc là giao thức TCP/IP, một trong nhữnggiao thức của bộ giao thức TCP/IP (Transmisstion Control Protocol/Internet Protocol).TCP/IP được coi là xương sống của Internet Tuy tên gọi TCP/IP chỉ chỉ hai giao thức
cụ thể là TCP và IP nhưng nó thường được sử dụng để chỉ nhóm gồm nhiều giao thứcngoài TCP và IP Tập các giao thức này được gọi là bộ giao thức TCP/IP Có thể kểđến một số giao thức trong bộ giao thức TCP/IP như FTP (File Transfer Protocol) địnhnghĩa cách chuyển file; HTTP (Hypertext Transport Protocol) được dùng cho WorldWide Web (www), định nghĩa cách các server cần phải chuyền các tài liệu (trangWeb) tới các client (Web Browser) như thế nào Ngoài ra cũng phải kể đến 3 giao thứcđược sử dụng cho thư điện tử (email) là Post Office Protocol (POP), Simple MailTransfer Protocol (SMTP) và Internet Mail Access Protocol (IMAP) Ngày nay cácmạng sử dụng rất nhiều giao thức khác nhau từ đơn giản đến phức tạp Có thể nói cácgiao thức là “keo dán” ràng buộc mạng máy tính lại với nhau bởi vì chúng định nghĩacách thực hiện các hoạt động cụ thể
Các giao thức mạng thông thường được phát triển trên các tầng mạng, mỗi tầng
sẽ đảm nhiệm một chức năng trong quá trình truyền tin trên mạng Đối với bộ giaothức TCP/IP, đó là sự kết hợp của các giao thức khác nhau trên các tầng ChuẩnTCP/IP thường được xem như là một hệ thống 4 tầng:
Application Telnet, FTP, e-mail, etc
Transport TCP, UDP Network IP, ICMP, IGMP Link device driver and interface card Mỗi một tầng sẽ đảm nhiệm các chức năng khác nhau:
1 Tầng Link (hay còn gọi là tầng data_link hoặc tầng network_interface),
thường bao gồm trình điều khiển trong hệ điều hành và card giao diện mạng(network interface card) tương ứng gắn lên máy tính., chúng kết hợp với nhau
để điều khiển các chi tiết của phần cứng
Trang 13Hình 1.2 Mô hình bộ giao thức TCP/IP
2 Tầng Network ( hay còn gọi là tầng Internet) có nhiệm vụ điều khiển sự
di chuyển và định tuyến cho các gói tin trên mạng Các giao thức trong bộ giaothức TCP/IP được sử dụng tại tầng Network: giao thức IP (Internet Protocol),giao thức ICMP (Internet Control Message Protocol) và giao thức IGMP( Internet Group Management Protocol)
3 Tầng Transport cung cấp một lưu lượng (flow) dữ liệu giữa các host
cho tầng Application ở phía trên Trong bộ giao thức TCP/IP có hai giao thứctransport rất khác nhau đó là: giao thức TCP (Transmission Control Protocol)
và giao thức UDP (User Datagram Protocol)
Giao thức TCP cung cấp một quá trình truyền dữ liệu đáng tin cậy(reliable) giữa hai Host Nó đề cập đến nhiều vấn đề, chẳng hạn như việcphân chia dữ liệu thông qua nó từ những ứng dụng vào trong các đoạn đãđặt trước một cách phù hợp cho tầng network ở phía dưới, để báo chobiết là đã nhận được các gói tin thì nó sẽ thiết lập timeout để chắc chắnrằng các gói tin ack(các gói tin này có nhiệm vụ thông báo đã nhận đượccác gói tin đã gửi) đã được gửi Do quá trình truyền dữ liệu tại tầngtransport là quá trình đáng tin cậy do vậy tại tầng ứng dụng có thể bỏ quacác chi tiết này
Một giao thứ khác cũng có thể được sử dụng cho tầng Transport,
đó là giao thức UDP (User Datagram Protocol), cung cấp dịch vụ đơn
Trang 14liệu (được gọi là datagram) từ host này đến host khác, nhưng nó không
đảm bảo sự toàn vẹn của gói tin trong toàn bộ quá trình truyền gói tin
Do vậy tính tin cậy phải kiểm tra qua tầng Application
4 Tầng Application , điều khiển đến mức chi tiết các ứng dụng cụ thể: Một số giao thức hoạt động tại tầng Application :
FTP: File Transfer Protocol
SMTP: the Simple Mail Transfer Protocol
SNMP: the Simple Network Management Protocol
1.5 Đối chiếu mô hình OSI và mô hình Internet
Hình 1.3 So sánh hai mô hình OSI và TCP/IP
Bộ giao thức TCP/IP (được sử dụng trên internet) ra đời trước khi có mô hìnhOSI Do vậy, các tầng trong bộ giao thức TCP/IP không giống hệt như các tầng trong
mô hình OSI Bộ giao thức TCP/IP thực hiện phân chia theo 5 phần: vật lý, liên kết dữliệu, mạng, giao vận và ứng dụng Bốn tầng đầu tiên cung cấp các chuẩn vật lý, giaotiếp mạng, liên mạng và chức năng giao vận tương ứng với 4 tầng đầu tiên trong môhình OSI Tuy nhiên 3 tầng trên cùng trong mô hình OSI được nhập thành tầng ứngdụng trong mô hình Internet
Cũng giống như mô hình tham chiếu OSI, dữ liệu từ tấng Application đi xuốngngăn xếp, mỗi tầng có những định nghĩa riêng mà nó sử dụng Tại nơi gửi, mỗi tầng
Trang 15coi gói tin của tầng trên gửi xuống là dữ liệu của nó và thêm vào gói tin các thông tinđiều khiển của mình sau đó chuyển tiếp xuống tầng dưới Tại nơi nhận, quá trình diễn
ra ngược lại, mỗi tầng lại tách thông tin điều khiển của mình ra và chuyển dữ liệu lêntầng trên
TCP/IP là một giao thức phân cấp, được tạo thành bởi các module độc lập, mỗimodule cung cấp một chức năng nhất định, các module này không nhất thiết phải độclập với nhau Mô hình OSI xác định rõ chức năng nào thuộc về tầng nào; trong khi đócác tầng của bộ giao thức TCP/IP chứa các giao thức tương đối độc lập với nhau,nhưng các giao thức này vẫn có thể kết hợp với nhau tùy thuộc nhu cầu hệ thống.Thuật ngữ “phân cấp” mang nghĩa mỗi giao thức ở tầng trên được hỗ trợ bởi một hoặcnhiều giao thức ở tầng dưới
1.6 Kết luận
Qua chương này các vấn đề được đề cập đến đó là kiến thức cơ sở về mạng vàcác công nghệ truyền thông mạng, mô hình cách phân tầng của mô hình OSI và mộtgiao thức mạng quen thuộc đó là giao thức TCP/IP Điểm nổi bật của các mô hình này
là dữ liệu từ tấng Application đi xuống ngăn xếp, mỗi tầng có những định nghĩa riêng
mà nó sử dụng Tại nơi gửi, mỗi tầng coi gói tin của tầng trên gửi xuống là dữ liệu của
nó và thêm vào gói tin các thông tin điều khiển của mình sau đó chuyển tiếp xuốngtầng dưới Tại nơi nhận, quá trình diễn ra ngược lại, mỗi tầng lại tách thông tin điềukhiển của mình ra và chuyển dữ liệu lên tầng trên
Trang 16CHƯƠNG II GIỚI THIỆU TRUNG TÂM DỊCH VỤ TIN
NGẮN SMSC 2.1 Giới thiệu
Chương này trình bày khái quát về hệ thống thông tin di động toàn cầu (GSM –
Global System for Mobile communication) Giới thiệu về trung tâm dịch vụ tin ngắn
thông minh (ISMSC – Intelligent ShortMessage Service Center) một hệ thống thực
hiện quản lý các tiến trình bao gồm nhận các bản tin SMS từ các thuê bao di động gửitới hoặc từ mạng Internet chuyển đến Lưu trữ và sắp xếp hàng đợi để chuyển tin đi,tính cước người gửi tới người nhận nếu thấy cần thiết Qua đó trình bày 2 dịch vụ điểnhình được thực hiện qua SMSC là dịch vụ tin ngắn SMS và các dịch vụ tin ngắn đaphương tiện MMS
2.2 Giới thiệu về mạng thông tin di động toàn cầu GSM
Mạng điện thoại di động toàn cầu GSM (Global System for Mobility) ra đờikhá muộn (năm 1982) so với mạng Internet (tiền thân là mạng APRAnet vào năm1969) nhưng phát triển khá mạnh mẽ Hện nay trên thế giới đã có một hệ thống GSMtrải rộng khắp các vùng châu Âu, bắc Mĩ, Nam Mĩ, Ailen, châu Á, châu Phi vàAustraylia cho đến thời điểm này vẫn đang liên kết với nhau theo xu hướng và ràngbuộc chung gọi là “Các quy ước ghi nhớ” – Memorandum of Understanding, phần tạonên tiêu chuẩn GSM và các pha tiến hành trong giao tiếp mạng diện rộng (world –wide implementation)
- Năm 1982: là năm bắt đầu hình thành Viện nghiên cứu truyền thông Bắc Âu
và Hà Lan (Netherlands PTT) đề xuất tới hội nghị các nước châu Âu về bưu điện vàviễn thông (CEPT - Conference of European Post and Telecommunication) sự pháttriển của một chuẩn kết nối kĩ thuật số có thể đảm đương được với các nhu cầu pháttriển của các mạng điện thoại di động châu Âu Hội đồng chung châu Âu (EC) banhành hướng dẫn đòi hỏi các mạng thành viên dành riêng tần số 900 MHz cho cácmạng GSM hoạt động
- Năm 1986: Các kỹ thuật truyền sóng cơ bản cho GSM được chọn lựa
- Năm 1987: ngày 13 tháng 9 các nhà phân phối và quản trị mạng GSM từ 12vùng lãnh thổ đã cùng nhau ký bản hiến chương GSM, hiến chương này được thựchiện bắt đầu từ tháng 1 năm 1991 GSM chính thức được hiểu là Global System forMobile Communications nhưng tên cũ GSM vẫn được tồn tại
- Năm 1989: Viện tiêu chuẩn châu Âu (ETSI – European TelecommunicationsStandards Institute) đã định nghĩa GSM như một mạng điện thoại quốc tế kỹ thuật số.Bước 1 của đặc tả cho GSM được hoàn thành Sự kiểm soát hệ thống được tiến hành.Hội nghị thế giới đầu tiên về GSM được nhóm họp ở Roma (Italy) với 650 thành viên
- Năm 1992: Người quản lý mạng đầu tiên là Oy Radionlinja Ab ở Phần Lan.Tháng 12 năm 1992 có 13 mạng GSM hoạt động trên 7 khu vực Hội nghị Beclin vềGSM có 630 thành viên
- Năm 1994: Mạng GSM đầu tiên tại Nam Phi được lắp đặt
Trang 17- Pha 2: Nền tảng truyền dữ liệu và fax được thiết lập Vodacom trở thành mạngGSM đầu tiên trên thế giới có thể truyền tải dữ liệu và fax Tháng 12 năm 1994 đã có
Trên đây là một vài con số về sự phát triển của mạng GSM trên thế giới Đứngtrước một xu thế phát triển như vậy, Việt Nam cũng không ngoài cuộc Hiện nay mạngGSM Việt nam cũng phát triển nhiều dịch vụ với 2 mạng chính là Vinaphone vàMobilePhone cùng với sự ra đời của các nhà cung cấp dịch vụ thông tin di động mớigần đây như: công ty viễn thông Sài Gòn với S-Phone, Hà nội và Thành Phố Hồ ChíMinh với mạng CityPhone, công ty viễn thông quân đội VietTel
Đến nay mạng này đã phủ sóng tại 63/63 tỉnh thành Ngoài ra, mạng GSM cungcấp cho người dùng rất nhiều những ứng dụng tiện lợi mà chưa có mạng di động nàoViệt Nam có thể đáp ứng được như vậy Cụ thể, người dùng có thể nhắn tin SMS, truycập Internet, xem điểm thi, nhận tin tức, tỷ giá hối đoái, thanh toán cước điện thoại quaSMS
Một số đặc điểm kỹ thuật của mạng GSM.
- Dịch vụ tin ngắn SMS (Short Message Service) cho phép người dùng gửi vànhận thông báo dài 126 kí tự (chỉ riêng tin, không tính các phần như địa chỉ,loại dịch vụ)
- Khả năng dùng máy điện thoại nhưng có thể đàm thoại trong các nước có liênkết mạng GSM
- Cho phép truyền và nhận dữ liệu trên mạng GSM với tốc độ hiện tại là 9600bit/giây
- Chuyển tiếp các cuộc gọi tới một máy di động khác
- Mã hóa cuộc gọi để không bị nghe trộm
- Cho phép biết số điện thoại của người gọi đến trên màn hình của điện thoại diđộng
- Chi phí cuộc gọi có thể tính theo thời gian thực trên máy di động
- Thông báo cho người khác đang gọi đến máy của mình trong khi đang đàmthoại
- Không có liên kết tĩnh
Trang 182.3 Các dịch vụ trên mạng thông tin di động
2.3.1 Dịch vụ tin nhắn SMS (Short Message Service)
Dịch vụ tin ngắn SMS (Short Message Service) có khả năng gửi (và nhận) cáctin nhắn dạng text từ/tới các điện thoại di động Các tin nhắn dạng text này chỉ baogồm các từ hoặc số kết hợp giữa các từ và các số
Đặc tính:
Mỗi tin nhắn có độ dài không quá 160 ký tự với các ký tự là ký tự Latin và độdài không quá 70 ký tự với các ký tự sử dụng không phải là ký tự Latin như tiếngTrung Quốc và tiếng Ảrập và không chứa hình ảnh
Các bản tin SMS có thể được gửi (hoặc nhận) đồng thời với các cuộc gọi thoại,truyền số liệu và fax GSM Điều này có thể thực hiện được vì các dịch vụ thoại, truyền
số liệu truyền trên một kênh vô tuyến cố định còn SMS được truyền thông qua kênhbáo hiệu
SMS là một hệ thống nhắn tin tương đối đơn giản được cung cấp bởi các mạng
di động Các bản tin SMS hiện nay đang được hỗ trợ bởi các mạng di động GSM,TDMA và CDMA
Khi một bản tin được gửi đi, bản tin đó được nhận tại trung tâm dịch vụ bản tinngắn SMSC (Short Message Service Center) Từ SMSC, bản tin được gửi thẳng tớimáy di động của người nhận Hệ thống SMSC này thực hiện một số công việc sau:
SMSC gửi một yêu cầu SMS (SMS Request) tới bộ đăng ký thường trú (HLR)
để xác định thông tin của thuê bao nhận HLR sẽ trả lời SMSC về trạng thái củathuê bao nhận: hoạt động (active) và không hoạt động (inactive) và nơi thuê baođang đăng ký vị trí
Lưu trữ và chuyển tiếp: Nếu thông tin trả lời là “active” SMSC tiến hànhchuyển tiếp bản tin tới địa chỉ nhận Nếu câu trả lời là “inactive”, SMSC sẽ giữlại bản tin bản tin đó với một khoảng thời gian định trước Trong khoảng thờigian đó khi thuê bao bật máy, HLR sẽ gửi tới SMSC một bản tin xác nhận SMS(SMS Notification) và sau đó SMSC sẽ bắt đầu tiến hành chuyển tiếp bản tin
SMSC truyền bản tin tới hệ thống phục vụ Hệ thống thực hiện quá trình tìm gọi
và nếu tìm gọi thành công bản tin sẽ được phân phát
Chứng thực truyền tin: Cơ chế này cho phép bên gửi có thể thực hiện chứngthực xem tin nhắn của mình đã được gửi tới bên nhận chưa Sau đó phân loạibản tin đã gửi và kết thúc quá trình gửi tin
Ngoài ra hệ thống SMSC còn cung cấp cho chúng ta một số giao diện với mạngInternet, cho phép người sử dụng có thể nhận và gửi các tin nhắn từ mạng Internet Hệthống SMSC sẽ được mô tả chi tiết trong phần sau
Các ứng dụng cơ bản trên SMS:
- Dịch vụ thông báo có thư điện tử
- Dịch vụ gửi/nhận thư điện tử trên các máy đầu cuối
Trang 19- Tải nhạc chuông, logo cho máy điện thoại di động
- Tải và gửi các bản tin, hình ảnh đơn giản
- Gửi bản tin SMS đến thuê bao di động từ Internet
- Lập lịch
- Dịch vụ chat
- Dự đoán kết quả thể thao
- Tra cứu thông tin thời tiết, kết quả xổ số, bóng đá, tỷ giá
2.3.2 Dịch vụ tin nhắn đa phương tiện MMS (Multimedia Message Service)
Dịch vụ tin nhắn đa phương tiện là dịch vụ lưu trữ và chuyển tiếp tin nhắn, nócho phép thuê bao di động này có thể thực hiện trao đổi tin nhắn đa phương tiện vớithuê bao di động khác giống như là gửi SMS
Dịch vụ tin ngắn mở rộng sử dụng cơ chế móc nối của dịch vụ tin ngắn, điềunày cho phép tin ngắn có thể dài hơn 140 byte Thực tế thì có thể tối đa 255 gói tin cóthể móc nối với nhau, mỗi gói tin có chiều dài 140 byte đưa dung lượng của một tinngắn mở rộng có thể tăng lên thành 38 Kb
Dịch vụ tin ngắn mở rộng có thể cung cấp tin ngắn có nội dung phong phú hơn.Thực vậy dịch vụ tin ngắn mở rộng được thiết kế để truyền dữ liệu cho điện thoại diđộng nhiều hơn là dịch vụ tin ngắn ngày nay có thể truyền được Luồng dữ liệu củadịch vụ tin ngắn sẽ phức tạp hơn bởi vì nó có thể chứa theo sau một số yếu tố đaphương tiện như sau:
- Định dạng văn bản (loại chữ, kích cỡ chữ, kiểu chữ chéo, nghiêng)
- Kết hợp của Text, Picture, Audio và Video
Dịch vụ tin ngắn đa phương tiện là dịch vụ rất quan trọng hiện nay, nó cho phépgửi đa phương tiện trong một tin nhắn đơn và có khả năng gửi một tin ngắn tới nhiềungười nhận
Chúng ta có thể dễ dàng tạo một tin nhắn đa phương tiện bằng cách sử dụngcamera hoặc các hình ảnh, âm thanh đã được lưu trữ trước trên máy điện thoại hoặc cóthể tải nó về từ các Website trên Internet
Trang 20Một tin nhắn đa phương tiện gồm một số trang Trên mỗi trang sẽ có một ảnhhoặc một tập hợp ký tự Một file audio có thể đính kèm trong nó.
Các bước làm việc với MMS:
Để một tin nhắn MMS có thể gửi và nhận giữa hai người đòi hỏi máy điện thoạiphải hỗ trợ MMS Các bước thực hiện như sau:
- Sử dụng máy điện thoại hỗ trợ MMS và lựa chọn photo
- Sử dụng máy điện thoại để thêm text, âm thanh
- Gửi tin nhắn đa phương tiện
Đối với điện thoại tương thích MMS người nhận sẽ thấy xuất hiện một tin nhắnmới, đối với tin nhắn hình ảnh, người dùng có thể xem nó ngay trên màn hình, văn bản
sẽ xuất hiện bên dưới ảnh, còn âm thanh sẽ tự động chạy
Nếu tin nhắn được gửi tới điện thoại không hỗ trợ MMS người nhận sẽ nhậnđược một tin nhắn SMS với dòng chữ: “Có người gửi cho bạn một tin nhắn có hìnhảnh!”, chúng sẽ chỉ cho người dùng một địa chỉ website và tên truy nhập để ngườidùng hiển thị tin nhắn đó
Các dịch vụ có thể được khai thác trên nền MMS bao gồm:
- Gửi thiệp điện tử đa phương tiện: Người dùng có thể soạn thảo một bản tin đaphương tiện có nội dung phong phú từ máy đầu cuối; tải về từ một máy chủcung cấp nội dung thông tin hoặc thâu trực tiếp từ camera kêt nối trực tiếp, lưutrữ và gửi đến bạn bè, người thân
- Trò chuyện (Chatting) trực tuyến đa phương tiện: Khả năng hỗ trợ trực tuyếntrên MMS giống như trong mô hình chát trên SMS hiện tại nhưng với nội dungphong phú hơn rất nhiều Người tham gia chát có thể gửi hình, thiệp chúcmừng, bài hát cho nhau ngay khi đang chat
- Hộp thư thoại thế hệ mới: Lời thoại gửi tới người nhận có thể được bổ sung cảtext, hình ảnh, âm thanh và gửi cho đối tác
- Gửi nhận thư điện tử đa phương tiện: thư điện tử có thể được soạn thảo, đínhkèm âm thanh hình ảnh với kích thước tương đối lớn để gửi tới hòm thư bất kỳtrên Internet Ngoài ra người dùng có thể đăng ký nhận thư từ một địa chỉ xácđịnh dưới dạng một bản tin MMS
- Fax di động: Sử dụng máy Fax bất kỳ để in ra các bản tin MMS Dịch vụ này
hỗ trợ rất nhiều trong công tác kinh doanh Ví dụ, doanh nghiệp có thể nhận faxtại bất kỳ đâu, kết nối với máy tính để in ra khi cần chỉ với một chiếc điện thoại
di động
- Tải nội dung từ máy chủ: Nội dung có thể gồm ringtone, logo, game, đoạnvideo hình ảnh đẹp, cung cấp bởi các nhà cung cấp nội dung cho phép ngườidùng tải về và sử dụng trên máy trạm đầu cuối di động
Trang 21- Cung cấp thông tin theo yêu cầu: các thông tin như: tin đấu giá, xổ số, thịtrường chứng khoán, thời tiết có thể được gửi định kỳ đến người dùng theođăng ký dưới dạng bản tin đa phương tiện.
- Gửi thiệp đa phương tiện giữa các người dùng: Yêu cầu máy đầu cuối củangười gửi hỗ trợ soạn thảo, hiển thị MMS, máy đầu cuối của người nhận cũngphải hỗ trợ và hiển thị MMS
Khả năng ứng dụng dịch vụ MMS:
Mặc dù dịch vụ MMS tỏ ra rất hấp dẫn nhưng các chuyên gia cho rằng, giốngnhư các dịch vụ tin nhắn khác, cần phải có một mô hình kinh doanh thích hợp để đảmbảo sự thành công của MMS MMS có thể thực hiện được mọi thứ mà SMS đã làmthậm chí là hơn thế rất nhiều Tuy nhiên xem MMS như là một loại hình dịch vụ SMS
là sai lầm Đó có thể là cách diễn giải về dịch vụ cho khách hàng một cách dễ hiểu và
là một hình thức quảng cáo hiệu quả Tuy nhiên, việc cung cấp dịch vụ cần phải có môhình kinh doanh khác hẳn Nhà khai thác phải thận trọng cân nhắc các vấn đề về giácước, thỏa thuận với các nhà khai thác khác, thỏa thuận với nhà cung cấp dịch vụInternet và với đối tác cung cấp nội dung
2.4 Trung tâm dịch vụ tin ngắn SMSC
2.4.1 Khái niệm SMSC
Các Short Message được truyền giữa các máy di động thông qua SMSC SMSC
là một phần mềm thuộc về mạng khai thác và nó thực hiện quản lý các tiến trình baogồm nhận các bản tin SMS từ các thuê bao di động gửi tới hoặc từ mạng Internetchuyển đến Lưu trữ và sắp xếp hàng đợi để chuyển tin đi, tính cước người gửi tớingười nhận nếu thấy cần thiết
Trang 22Hiện nay tại Việt Nam đang sử dụng trung tâm dịch vụ tin ngắn thông minh(ISMSC – Intelligent Short Message Service Center) của hãng Comverse Đây là mộtthiết bị có tính năng cao và rất ổn định đối với mạng thông tin di động toàn cầu GSM.Trung tâm dịch vụ tin ngắn thông minh này sử dụng rất nhiều giao diện cho phép dễdàng triển khai các dịch vụ khác nhau như thông báo có thư điện tử, gửi và nhận tinngắn thông minh cùng rất nhiều các dịch vụ khác… Với người dùng có thể gửi vànhận các bản tin ngắn từ máy di động với số lượng không quá 160 ký tự đối với mạngGSM Các bản tin này có thể được gửi giữa các máy di động hoặc giữa các máy diđộng với các nguồn tin ngoài Các nguồn tin này có thể là máy tính kết nối mạng máynhắn tin, máy fax, …
Hiện nay nhiều nhà khai thác dịch vụ viễn thông di động đã đưa ra các giaodiện Web cho hệ thống SMSC của họ vì vậy chúng ta có thể thực hiện gửi tin nhắn tớibất cứ máy di động nào từ Website
Cấu trúc của hệ thống SMSC: Được xây dựng bởi một số thành phần sau:
Thiết bị SIU: thực hiện kết nối giữa SMSC với mạng GSM thông qua hệ thống
báo hiệu số
Server – Interface Internet: Thực hiện giao tiếp giữa SMSC với Internet Server – Store & Forward: Làm nhiệm vụ quản lý tin nhắn, lưu trữ và gửi
chuyển tiếp các tin ngắn tới GSM và mạng Internet
Mannager Remote: cung cấp giao diện cho người quản trị thực hiện các công
việc điều khiển từ xa
VLR
Trang 23MSC: Mobile Service Switching Center (trung tâm chuyển mạch di động).
VLR: Visitor Location Register: Bộ đăng ký tạm trú VLR được lắp đặt ngay trong
tổng đài MSC và được gọi chung là MSC/VLR, thu thập thông tin của người dùngcuối và yêu cầu kênh lưu lượng chuyển đến SMSC
HLR: Home Location Regiter: Bộ đăng ký thường trú
SMS GMSC: SMPP gateway MSC
SMSC: Short Message Service Center: SMSC lưu trữ và điều khiển việc xử lý các tin
nhắn SMSC xác định khoảng thời gian có hiệu lực của tin nhắn và thêm dấu hiệu thờigian khi nhận được tin nhắn Đồng thời SMSC tiến hành kiểm tra liệu có nhiều tinnhắn được gửi tới địa chỉ hay không và định mức ưu tiên cho các tin nhắn
Từ SMSC, bản tin được gửi thẳng tới máy di động của người nhận Để thựchiện công việc này, SMSC thông qua hệ thống GMSC để xác định thuê baonhận thông qua bộ đăng ký thường trú HLR GSMC định tuyến cuộc gọi đếnMSC/VLR xác định vị trí hiện tại của thuê bao và tiến hành tìm gọi thuê bao.SMSC sẽ nhận thông báo về trạng thái thuê bao: active(hoạt động),inactive(không hoạt động) Nếu đáp ứng là “inactive”, SMSC sẽ giữ lại bản tintrong một khoảng thời gian định trước (3 ngày) tại Server – Store & Forward.Trong khoảng thời gian đó, khi thuê bao bật máy và nằm trong vùng phủ sóng.HLR sẽ gửi tới SMSC một bản tin xác nhận SMS (SMS Notification) và bắtđầu việc phân phát bản tin
Mạng di động cung cấp các cơ chế cần thiết để tìm gọi các máy nhận tin nhắn
và truyền tin nhắn giữa SMSC với các thiết bị đầu cuối di động Khi bản tin đãđược gửi tới địa chỉ nhận, SMSC được xác minh rằng bản tin đã được nhận bởingười nhận, sau đó phân loại thành bản tin đã gửi và kết thúc quá trình gửi tin
Sự thống nhất mạng viễn thông nhờ hợp tác và thỏa thuận giữa các mạng diđộng lên tầm quốc tế và đôi khi được hỗ trợ bởi nhiều hơn một kĩ thuật mạng di động.Điểm mới này của nhà cung cấp dịch vụ đòi hỏi các sản phẩm được đưa lên mạngkhông bị ràng buộc bởi sự khai thác và quản lý, sự điều tiết dung lượng thuê bao,thông lượng tin nhắn, sự phát triển tương lai cũng như các dịch vụ Các giải pháp choSMSC dựa trên mạng thông tin di động là sự lựa chọn thích hợp nhất cho các yêu cầutrên
Trang 24tin đến thời gian truyền thì nó sẽ tương tự như các bản tin khác tức là cũng có cơchế lưu trữ và truyền tiếp cho đến khi bản tin ngắn đến đích.
Đặt quyền ưu tiên cho các bản tin Đối với mạng GSM những bản tin được đặtquyền ưu tiên cao sẽ được truyền lại ngay sau khi thất bại
Thông báo nhận được Khi một bản tin được gửi đến đích, mạng sẽ truyền mộtbản tin xác nhận đến người gửi
Cơ chế truyền lại thông minh Trừ các bản tin đã được định thời điểm truyềntrước, các bản tin đang lưu trữ trong cơ sở dữ liệu sẽ được cố gắng truyền càngsớm càng tốt Nếu thuê bao tắt máy hoặc ra khỏi vùng phủ sóng bản tin sẽ đượclưu trữ tạm thời lại cho đến khi có thể truyền tùy theo cơ chế truyền lại Cơ chếtruyền lại này do nhà quản trị đặt trước
Chuyển lại giờ Khi mạng di động trải ra trên nhiều múi giờ, một bản tin khitruyền từ múi giờ này sang múi giờ khác sẽ được tự động cập nhật Điều này sẽtránh cho thuê bao không phải nhận được các bản tin chậm trễ
Thay thế các bản tin Mạng có thể thay thế các bản tin đang được lưu trữ tại cơ
sở dữ liệu của trung tâm và bộ nhớ của máy di động Mạng sẽ thực hiện khitrung tâm nhận được bản tin thay thế Chức năng này có thể được sử dụng đểnâng cấp các phần mềm cũ trên máy di động ví dụ như thay đổi giai điệu chomáy di động … Điều này đảm bảo việc giải phóng bộ nhớ cho máy di động
Trung tâm dịch vụ tin ngắn này cũng hỗ trợ nhiều ngôn ngữ Các ngôn ngữ này
có thể là ngôn ngữ latin hoặc không như tiếng Nga, Trung Quốc, Ả rập …
Gửi đến một danh sách Để gửi một tin ngắn đến nhiều người cùng một lúcngười gửi có thể nhóm các thuê bao thành một danh sách và đích gửi tin ngắn làtên của danh sách Trung tâm sẽ tự động gửi tin ngắn đến tất cả các thuê baotrong danh sách
Tạo danh sách đen Trung tâm cho phép tạo ra một danh sách đen Đây lànhững thuê bao còn chưa trả tiền hoặc những máy di động bị đánh cắp Những
số máy trong danh sách đen sẽ không được phục vụ
Hỗ trợ WAP Trung tâm này hỗ trợ các dịch vụ WAP cho phép thuê bao chạycác chương trình đặc biệt bằng máy di động thông qua giao diện đồ họa ngườidùng Khi được kết hợp với WAP gateway trung tâm sẽ thực hiện như một dịch
vụ mạng cho phép máy di động hỗ trợ WAP có thể chạy được các dịch vụ WAP
Trung tâm cũng cung cấp một giao diện quản trị đồ họa người dùng cho phépnhà quản trị có thể dễ dàng vận hành bảo dưỡng hệ thống
Tính cước Hệ thống tính cước cho phép ghi đầy đủ các thông tin chi tiết baogồm cả thông tin không truyền các bản tin được, ngày giờ truyền tin, địa chỉnguồn địa chỉ đích … Các thông tin tính cước sẽ được truyền về cho nhà quản trịthông qua giao thức truyền file đơn giản (FTP)
Cài đặt thông số Thông qua giao diện quản trị, nhà quản trị có thể cài đặt cácthông số cho quá trình lưu trữ và truyền, định dạng các tin ngắn theo các ngônngữ khác nhau, giám sát bản tin gửi, lấy file nhật ký và tạo các bản thông báo
Trang 25 Các công cụ chăm sóc khách hàng của trung tâm dịch vụ tin ngắn thông minhcung cấp một dịch vụ nhằm thỏa mãn yêu cầu khách hàng Đối với những kháchhàng than phiền rằng tin ngắn của họ đã không được nhận, trung tâm có mộtcông cụ để giám sát những bản tin ngắn một cách chính xác và đưa các thông tin
đó lên mạng Hệ thống sẽ lưu trữ thông tin về các bản tin ngắn trong thời gian
30 ngày Sau thời gian đó các thông tin này sẽ bị hủy để có thể cập nhật thêmcác thông tin mới Điều này giúp cho người dùng có thể kiểm tra trạng thái củacác bản tin do mình gửi đi một cách nhanh chóng và hiệu quả khi truy cập mạng.Các thông tin này chủ yếu là ngày giờ tin ngắn được truyền đi, truyền lại …
Trung tâm dịch vụ tin ngắn thông minh còn có chức năng giám sát hoạt độngcủa thiết bị Hãng Comverse kết hợp chức năng thu thập số liệu vào cơ chế lưutrữ và truyền của SMSC Hệ thống sẽ tự giám sát các hoạt động chung và trạngthái của giao điện ngoài Trung tâm sẽ thu thập các thông tin thống kê về cácbản tin ngắn và đưa ra dưới dạng các biểu đồ họa cho nhà quản trị Các thông sốthống kê cũng chỉ ra rằng cơ chế lưu trữ và truyền lại đã tối ưu hay còn cần phảiđiều chỉnh lại Nó cũng giúp cho nhà quản trị xác định dung lượng khi cần phảinâng cấp Trung tâm cho phép nhà quản trị chỉ thu thập các thông tin cần thiết
để không tốn tài nguyên cho các công việc xử lý khác Sau đây là giao diện màSMSC tạo ra
Cơ chế lưu trữ và truyền tiếp (SFE – Store and Forward Enginering) là trái timcủa một SMSC Nó nhận các bản tin và gửi chúng đến các đích khác nhau Cơ chế này
có một cơ sở dữ liệu để lưu trữ tạm thời các bản tin Nó kiểm soát hàng đợi để truyềncác bản tin SFE còn có một đồng hồ dùng để phục vụ các bản tin được định thờitruyền trước và cơ chế truyền lại
Cả phần cứng và phần mềm của SMSC đều được chạy dự phòng Kiến trúcchạy dự phòng nóng như vậy có một số những ưu điểm sau:
- Một hệ thống SMSC dự phòng nóng được chạy trên một nền phần cứng độclập Nếu SMSC hỏng, hệ thống dự phòng sẽ được kích hoạt trong thời gian nhỏ
30 giây để đảm bảo không bị mất các tin ngắn
- Các nguồn tin ngoài được kết nối đến cả hệ thống hoạt động và hệ thống dựphòng
- Để đảm bảo hệ thống có thể hoạt động được ngay tức thì, cơ sở dữ liệu và hàngđợi của hệ thống dự phòng cũng phải giống hệ thống ở hệ thống đang chạy.Việc cập nhật cho hệ thống dự phòng được thực hiện theo thời gian thực trongkhi đang chạy
- Trong thời gian nâng cấp các phần mềm, thiết bị vẫn có thể chạy phục vụ kháchhàng
2.4.4 Các loại trung tâm dịch vụ tin ngắn
Có 3 loại trung tâm dịch vụ tin ngắn (loại dung lượng nhỏ, dung lượng trungbình và dung lượng lớn):
Trang 26- SMSC dung lượng nhỏ có thể hỗ trợ xử lý 50.000 bản tin ngắn trong 1 giờ bận.
Hệ thống này rất thuận lợi cho những mạng yêu cầu dung lượng nhỏ vì nó cógiá thành thấp, tiết kiệm tài nguyên, đồng thời cũng dễ dàng nâng cấp dunglượng khi cần thiết
- SMSC dung lượng trung bình là một hệ thống riêng rẽ có thể hỗ trợ lên tới130.000 bản tin trong 1 giờ bận Hệ thống luôn đảm bảo cho sự họat động liêntục nhờ sự dự phòng đồng thời nó cũng dễ dàng nâng cấp lên khi cần tăng dunglượng
- SMSC dung lượng lớn có thể hỗ trợ xử lý tới 250.000 bản tin ngắn trong mộtgiờ bận Hệ thống này cho phép dễ dàng kết nối với những thiết bị khi cần mởrộng dung lượng
Khi dung lượng hệ thống tăng lên ta cũng có thể lắp thêm các SMSC mới vào
hệ thống
2.4.5 Sử dụng giao thức trong SMSC
SMS được phát triển như là một kênh phân thối dịch vụ của WAP (WirelessApplication Protocol) và thương mại điện tử di động Các nhà khai thác và cung cấpdịch vụ ngày càng tạo ra nhiều dịch vụ mới Sự cung cấp dịch vụ ứng dụng không dây
là cấu trúc dịch vụ mới và hấp dẫn cho sự cung cấp dịch vụ dựa trên SMS Nguyên lýchung là chỉ sử dụng một SMSC duy nhất để mã hóa các bản tin được đưa qua mạngGSM Khó khăn lớn và cơ bản trong việc phát triển dịch vụ dựa trên SMS là số lượnglớn các giao thức phải sử dụng trong các SMSC
Viện tiêu chuẩn viễn thông châu Âu (ETSI) đã phê chuẩn 4 giao thức SMSC:SMPP (do Logical xây dựng), CIMD (do Nokia xây dựng), UCP/EMI (do CMG xâydựng) và SMS2000 (do SEMA xây dựng) Các chuẩn này có chức năng khác nhaukhông đáng kể và hỗ trợ lẫn nhau Việc hỗ trợ tất cả các giao thức này là một nhiệm vụkhắt khe cho các nhà cung cấp Một số SMPP gateway có thể tương tác với một vàihoặc cả 4 giao thức SMS kể trên Tuy nhiên không có một phương thức tiêu chuẩndành cho các nhà cung cấp dịch vụ để tương tác với các SMPP gateway Tương tự chỉ
có một số ít các SMPP gateway hỗ trợ mọi giao thức SMS Giao thức SMPP (ShortMessage Peer to Peer) là giao thức được sử dụng phổ biến hơn cả và dễ dàng thích ứngvới các SMSC hoặc SMPP gateway cho các nhà cung cấp dịch vụ Giao thức SMPP sẽđược mô tả chi tiết trong phần sau của khóa luận
2.5 Kết luận
Chương 2 của khóa luận đã trình bày chi tiết về mạng thông tin di động toàncầu GSM, công nghệ GSM cung cấp cho người dùng rất nhiều những ứng dụng tiệnlợi mà chưa có mạng di động nào ở Việt Nam có thể đáp ứng được như vậy Đó là cácdịch vụ tin nhắn trên nền SMS Một hệ thống không thể thiếu với dịch vụ này đó là hệthống SMSC với các đặc điểm kỹ thuật, cách hoạt động và tính năng cơ bản cũng đãđược trình bày
Trang 27CHƯƠNG III GIAO THỨC SMPP
3.1 Giới thiệu
Trong chương này, chúng ta sẽ xem xét một giao thức quan trọng được sử dụngtrong các ứng dụng của mobile phone, đó là giao thức SMPP Giao thức SMPP(ShortMessage Peer to Peer) là một giao thức dùng để chuyển (transfer) các gói tin ngắn(short message) từ/tới mạng Mobile, thông qua trung tâm dịch vụ tin ngắn (SMSC-Short Message Service Centre) là cơ sở kỹ thuật cho các dịch vụ tin nhắn của hệ thốngđiện thoại di động
3.2 Tổng quan về giao thức SMPP.
SMPP (Short Message Peer to Peer) là một giao thức dùng để chuyển (transfer)các gói tin ngắn (short message) từ/tới mạng Mobile, thông qua trung tâm dịch vụ tinngắn (SMSC- Short Message Service Centre) Đồng thời một bên (không phải phíamobile) xem xét và nhận các gói tin được gọi là các thực thể tin ngắn mở rộng(ESMEs- External Short Message Entities)
Giao thức SMPP không trực tiếp quy định cách truyền tin trên mạng mà nótruyền tin trên cơ sở là giao thức TCP/IP Do đó liên kết giữa tổng đài dịch vụ tin ngắn
và thực thể tin ngắn mở rộng thực tế là liên kết theo chuẩn TCP/IP
Hình 3.1 Giao thức SMPP trong mạng di động
Giao thức SMPP:
1 Thiết lập một quá trình trao đổi gói tin ngắn (short message) giữa ESME (External Short Message Entity) và SMSC (Short Message Service Centre – Trung tâm dịch vụ gói tin ngắn)
2 Dữ liệu của ESME phải được trao đổi với SMSC trong suốt quá trình hoạt động của giao thức SMPP.
Trang 283.2.1 Hoạt động của giao thức SMPP.
ESME: External Short Message Entity
SMSC: Short Message Service Centre
Để trao đổi các Message giữa ESME và SMSC thông qua giao thức SMPP thì
có thể phân ra làm 3 quá trình cụ thể sau:
1 Các message được gửi từ ESME tới SMSC (SMPP như là mộtTransmitter)
2 Các message được gửi từ SMSC đến ESME (SMPP như là mộtReceiver)
3 Các message được gửi từ SMSC đến ESME và ngược lại (SMPP như làmột Transceiver)
Hình 3.2 Hoạt động của giao thức SMPP
3.2.2 Phiên làm việc của SMPP.
Một phiên làm việc của giao thức SMPP giữa SMSC (Short Message ServiceCentre) và ESME (External Short Message Entity) được bắt đầu bằng việc ESME thiếtlập kết nối với SMSC rồi gửi tới giao thức SMPP, yêu cầu mở phiên làm việc SMPP.ESME sẽ xem sét và nhận message đã được yêu cầu để thiết lập hai quá trình kết nốimạng và hai phiên làm việc của SMPP (Transmitter và Receiver)
Trong suốt phiên làm việc của SMPP, ESME sẽ gửi hàng loạt các yêu cầu tớiSMSC và nhận lại những câu trả lời phù hợp với mỗi request từ SMSC Tương tự nhưvậy phía SMSC cũng gửi các yêu cầu tới ESME nhưng phải phù hợp với các câu trảlời
Một phiên làm việc của SMPP có thể được xác định trong các phạm vi cáctrạng thái dưới đây:
Trang 29OPEN (Khi kết nối và trong khi chờ đợi đóng kết nối: Connected and Bind
pending): Một ESME đã thiết lập kết nối tới SMSC nhưng vẫn chưa đưa ra yêu cầu kếtnối (Bin)
BOUND_TX: Khi một ESME đã kết nối nó sẽ yêu cầu nối kết (to bind) như là
một ESME Transmitter (được gọi là bin_transmitter PDU) và nhận được câu trả lời
từ SMSC cho những yêu cầu nối kết của nó
Khi đó ESME đã nối kết như một transmitter (máy phát), có thể gửi các shortmessage tới một SMSC rồi chuyển tới trạm Mobile hoặc ESME khác ESME đó cóthể thay thế, xem xét hoặc loại bỏ short message trước
BOUND_RX: Một ESME đã kết nối sẽ yêu cầu nối kết như một ESME
Receiver (được gọi là bind_receiver PDU) và nhận trả lời từ SMSC cho những yêu
cầu nối kết của nó
Khi đó ESME đã nối kết như là một receiver (máy thu) có thể nhận các shortmessage từ một SMSC, có thể bắt nguồn từ một trạm Mobile hoặc từ ESME khác hoặc
từ chính SMSC
BOUND_TRX: Một ESME đã kết nối sẽ yêu cầu nối kết như một ESME
transceiver (còn được gọi là một bind_transceiver PDU) và nhận một câu trả lời từ
SMSC cho yêu cầu của nó
Một ESME đã nối kết như một transceiver hỗ trợ toàn bộ một quá trình hoạtđộng bởi một ESME transmitter và một ESME receiver Bởi vậy một ESME đã nối kếtnhư một transceiver có thể gửi các short message tới một SMSC rồi gửi tới một trạmMobile hoặc ESME khác ESME cũng có thể nhận các short message từ một SMSC,
có thể bắt nguồn từ một trạm Mobile hoặc từ ESME khác hoặc từ chính SMSC
CLOSE (tháo và ngắt kết nối): một ESME tháo và ngắt kết nối với SMSC và
SMSC cũng tháo và ngắt kết nối với ESME
*Outbind:
Mục đích của sự hoạt động của outbind là cho phép SMSC phát tín hiệu cho
một ESME có thể bắt đầu một yêu cầu bind_receiver tới SMSC.
Một phiên làm việc SMPP giữa một SMSC và một ESME có thể được bắt đầubằng việc SMSC thiết lập một kết nối mạng với ESME Khi một quá trình kết nốimạng được thiết lập thì SMSC sẽ nối kết với ESME và đưa ra một yêu cầu outbind
ESME sẽ trả lời cho yêu cầu bind_receiver, và SMSC sẽ hồi âm với một
bind_receiver_resp Nếu ESME không chấp nhận phiên làm việc của outbind (chẳng
hạn do hệ thống hoặc mật khẩu bị lỗi) thì ESME có thể ngắt kết nối mạng
Một phiên làm việc của SMPP khi được thiết lập thì đặc điểm cơ bản nhất của
Trang 30Các bước tuần tự trong phiên làm việc của outbind:
Hình 3.3 Phiên làm việc của SMPP
3.2.3 SMPP PDUs (SMPP Protocol Data Units - Các bộ dữ liệu giao thức SMPP)
Bảng dưới đây liệt kê tập hợp bộ dữ liệu giao thức SMPP (SMPP PDU) và cáctrường hợp mà các PDU có thể được dùng:
phiên SMPP yêu cầu
Được đưa ra
từ phái ESME
Được đưa ra từ phía SMSC
BOUND_RXBOUND_TRX
YesYesYes
YesYesYes
Trang 31Tên SMPP PDU Trạng thái của
phiên SMPP yêu cầu
Được đưa ra
từ phái ESME Được đưa ra từ phía SMSC
BOUND_RXBOUND_TRX
NoNo
BOUND_TRX
NoNo
YesYes
BOUND_TRX
YesYes
NoNo
submit_sm_multi_resp BOUND_TX
BOUND_TRX
NoNo
YesYes
BOUND_RXBOUND_TRX
YesYesYes
YesYesYes
BOUND_RXBOUND_TRX
YesYesYes
YesYesYes
BOUND_TRX
NoNo
YesYes
BOUND_TRX
YesYes
NoNo
BOUND_TRX
YesYes
NoNo
BOUND_TRX
NoNo
YesYes
Trang 32Tên SMPP PDU Trạng thái của
phiên SMPP yêu cầu
NoNo
BOUND_TRX
NoNo
YesYes
BOUND_RXBOUND_TRX
YesYesYes
YesYesYes
enquire_link_resp BOUND_TX
BOUND_RXBOUND_TRX
YesYesYes
YesYesYes
alert_notification BOUND_RX
BOUND_TRX
NoNo
YesYes
BOUND_RXBOUND_TRX
YesYesYes
YesYesYes
Như vậy tại tầng SMPP thì ESME và SMSC đều coi sự kết nối như là một quátrình truyền đáng tin cậy để quản lý các quá trình trao và nhận các SMPP PDU Hình
Trang 33vẽ dưới sẽ cung cấp giao diện SMPP cơ bản thực hiện quá trình trao đổi thông tin giữaSMSC và ESME:
Hình 3.4 Quá trình trao đổi thông tin giữa ESME và SMSC
3.2.5 SMPP messages gửi từ ESME đến SMSC:
Một ESME gửi một short message tới SMSC phải được kết nối tới SMSC như
là một ESME transmitter hoặc như là một ESME transceiver Chẳng hạn SMPP gửicác bộ giao dữ liệu giao thức (PDUs-Protocol Data Units) có thể gửi từ một ESMEtransmitter tới SMSC, bao gồm:
• submit_sm
•data_sm
Hơn nữa để xem xét các message từ phía SMSC thì ESME có thể thực hiện cáchoạt động dưới đây của SMPP sử dụng các từ đặc tả của message đã được gửi trả lạibởi SMSC trong message ACK:
• query_sm - Query the SMSC for the status of a previously submitted message.
• cancel_sm - Cancel delivery of a previously submitted message.
• replace_sm - Replace a previously submitted message.
3.2.5.1 SMPP messages phản hồi từ SMSC đến ESME:
Bộ dữ liệu của giao thức SMPP trả lời một messge từ SMSC bảo gồm địnhdanh của message (phải được gán tên duy nhất liên quan đến đặc điểm của message)
và trạng thái để báo cho ESME biết rằng message đã được submit có giá trị hay khôngcòn giá trị Trong một số trường hợp SMSC sẽ trả về mọt trạng thái lỗi thích hợp:
• submit_sm_resp
Trang 34Sơ đồ dưới đây mô tả một trình tự yêu cầu/trả lời SMPP (SMPP
request/response) giữa một SMSC và một ESME như một trạm phát (transmitter)
Sự trao đổi của các PDU yêu cầu/trả lời (request/response) SMPP giữa
một ESME transmitter và SMSC có thể sảy ra đồng thời hoặc không đồng thờinhư hình dưới Bởi vậy, nếu ESME muốn gửi nhiều yêu cầu tới SMSC màkhông cần cùng một lúc thì sẽ chờ các PDU trả lời
Hàng loạt các yêu cầu SMPP liên tiếp được đưa ra không đồng thời cùngmột lúc của một ESME (như số thứ tự trong ngoặc đơn của hình dưới) phảiđược sinh ra ngay sau khi có các câu trả lời từ phía SMSC
Các câu trả lời SMPP sẽ được trả về từ phía SMSC theo đúng trình tựcác yêu cầu đã nhận được từ phía ESME Tuy nhiên điều này thì không bắtbuộc trong SMPP và ESME có khả năng quản lý trình tự các câu trả lời mà nónhận được
ESME sẽ trả về các câu trả lời SMPP tới SMSC theo đúng trình tự mà nó
đã nhận được yêu cầu ban đầu
Trang 35Hình 3.5 Trình tự một SMPP request/response của một ESME Transmiter
3.2.6 SMPP message gửi từ SMSC tới ESME :
SMSC chuyển một tin ngắn tới ESME, trong trường hợp này ESME phải đượckết nối với SMSC như là một ESME Receiver hoặc một ESME Transceiver
Ứng dụng điển hình của ESME là hoạt động như một SMPP receiver, bao gồm:
Một cổng email lấy tin được tạo ra bởi trạm mobile rồi chuyển ra ngoàihộp email Internet
Phía SMSC có thể cũng gửi một “deliver receipt” (xác nhận đã chuyển)tới ESME, xác nhận này sẽ chứa trạng thái deliver (chuyển) của tin ngắn đượcchuyển lần trước
Các ví dụ về bộ dữ liệu giao thức của tin nhắn SMPP được gửi từ một SMSCtới tới một ESME receiver bao gồm :
• deliver_sm
Trang 36• data_sm
3.2.6.1 SMPP Message phản hồi từ ESME tới SMSC
Các câu trả lời SMPP PDU từ ESME receiver phải được duy trì trong quá trìnhgiải quyết các PDU bằng các từ định danh (chứa trong tham số parameter) được gửibởi SMSC Các câu trả lời cũng phải bao gồm các trạng thái dòng lệnh để báo cho phíaSMSC biết được rằng các tin đã gửi tới ESME có giá trị (chẳng hạn như đã đượcESME chấp nhân) hoặc không có giá trị Trong trường hợp các tin nhắn gửi không cógiá trị thì ESME sẽ trả về trạng thái lỗi SMPP tương ứng
Các câu trả lời SMPP có thể được gửi từ ESME tới SMSC bao gồm:
• deliver_sm_resp
• data_sm_resp
3.2.6.2 Trình tự phiên làm việc của SMPP - ESME Receiver
Sơ đồ dưới đây mô tả một trình tự yêu cầu/trả lời SMPP (SMPP
request/response) giữa một SMSC và một ESME như một trạm thu (Receiver)
Sự trao đổi của các PDU yêu cầu/trả lời (request/response) SMPP giữa một
ESME transmitter và SMSC có thể xảy ra đồng thời hoặc không đồng thời như
hình dưới Bởi vậy, SMSC có thể gửi nhiều yêu cầu deliver_sm tới ESME mà
không cần cùng một lúc thì sẽ chờ các PDU trả lời
Hàng loạt các yêu cầu SMPP liên tiếp được đưa ra không cùng một lúc bởiSMSC (như thứ tự của các số trong ngoặc đơn của hình dưới) phải được sinh rangay sau khi có các câu trả lời từ phía ESME
Phía ESME luôn trả về các câu trả lời SMPP tới SMSC theo đúng trình tự cácyêu cầu ban đầu mà nó đã nhận được từ phía SMSC Tuy nhiên điều này thìkhông bắt buộc trong SMPP và SMSC có khả năng quản lý trình tự các câu trảlời mà nó nhận được
Các câu trả lời SMPP sẽ được trả về từ phía SMSC theo đúng trình tự các yêucầu đã nhận được từ phía ESME Tuy nhiên điều này thì không bắt buộc trongSMPP và ESME có khả năng quản lý trình tự các câu trả lời mà nó nhận được
Trang 37Hình 3.5 Trình tự một SMPP request/response của một ESME Receiver
3.3 Kiểu và định dạng SMPP PDU (Short Message Peer to Peer
Protocol Data Unit)
3.3.1 Các kiểu của SMPP PDU:
Dưới đây là các định nghĩa về kiểu dữ liệu SMPP PDU mà các kiểu dữ liệu nàyđược sử dụng để xác định trong các tham số SMPP:
Kiểu Interger: là số mang giá trị không dấu, được định nghĩa như là một
số octets Số octets luôn được chuyển thành MSB(Most Significant Byte-Bytequan trọng nhất) (Big Endian)đầu tiên
Kiểu C-Octets string: là một chuỗi các các ký tự ASCII được kết thúc
bởi ký tự NULL
Kiểu C-Octets string(Decimal): là một chuỗi các ký tự ASCII, mỗi ký
Trang 38 Kiểu C-Octets string(Hex): là một chuỗi các ký tự ASCII, mỗi ký tự
biểu diễn một số hexadecimal (hệ thập lục phân-hệ đếm 16) và kết thúc bởi ký
4 Interger Trường Interger có kích thước cố định, trong trường hợp
này thì là một số có 32 bit (4 octets)
Var
Max 16
C-OctetString
Xâu này có chiều dài thay đổi được từ 1 đến 15 ký tựASCII, theo sau là một octet mà kết thúc bởi ký tự NULL.Một xâu rỗng thì được mã hóa như là một octet chứa ký tựNULL (0x00)
Fix
1 hoặc 17
C-OctetString
Chiều dài của xâu này là cố định, có 2 khả năng: trường hợpthứ nhất là có một octet chứa ký tự NULL, trường hợp thứ 2
là chứa một số cố định các ký tự và được kết thúc bởi ký tựNULL(trong trường hợp này thì sẽ có 16 ký tự và một ký tựNULL)
Var
0 đến 254
OctetString
Giá trị của Octet string có thể thay đổi được(trong trườnghợp này nó có thể thay đổi từ 0 đến 254 octet)
3.3.2 Định dạng SMPP PDU (Bộ dữ liệu giao thức SMPP):
Thông thường, gói dữ liệu SMPP PDU bao gồm một phần đầu (header) PDU vàmột phần thân (Body) PDU như bảng dưới đây:
SMPP PDU
chọn)
Command
length Commandid Commandstatus Sequencenumber PDU body
4 octets Length=( Command Length value – 4) octets
Trang 39SMPP PDU header là phần bắt buộc đối với mọi bộ dữ liệu giao thức SMPP
(SMPP PDU) và luôn luôn có mặt trong bộ dữ liệu giao thức SMPP Ngược lại phần
PDU body có thể có hoặc không trong các bộ dữ liệu giao thưc SMPP.
Định dạng trong mỗi bộ dữ liệu giao thức SMPP sẽ được mô tả chi tiết trong
phần 3.3 (Mô tả chi tiết các bộ dữ liệu SMPP PDU).
Command_length 4 Interger Trường Command_length xác định
tổng chiều dài các octet của gói tin
SMPP PDU kể cả trường length.
Command_id 4 Interger Trường Command_id sẽ xác định
một SMPP PDU cụ thể, chẳng hạn
submit_sm, query_sm,
Một lệnh duy nhất cho phépmỗi SMPP yêu cầu PDU trongkhoảng 0x00000000 đến0x000001FF
Một lệnh duy nhất cho phépmỗi SMPP trả lời PDU trongkhoảng 0x80000000 đến0x800001FF
Lưu ý rằng mỗi một lệnh yêu cầu SMPP sẽ tương ứng với một lệnh trả lời SMPP.
Command_status 4 Interger Trường Command_status sẽ cho
biết một yêu cầu SMPP là thànhcông hay thất bại Nó chỉ liên quantrong câu trả lời của SMPP tớiPDU và nó phải chứa giá trị NULLtrong một yêu cầu SMPP đối vớiPDU
Sequence_number 4 Interger Trường này chứa số thứ tự cho
phép SMPP yêu cầu và trả lời đượckết hợp với nhau trong các mục
Trang 40Sử dụng số hiệu tuần tự này đốivới những message tương quan chophép các SMPP PDU trao đổi trạngthái không đồng bộ.
Nhiệm vụ của số tuần tự làkhởi tạo SMPP PDU Số tuần tự sẽtăng đều đặn sau mỗi lần SMPPyêu cầu PDU và phải được duy trìcùng với việc SMPP trả lời PDU
Số tuần tự có thể thay đổi từ0x00000001 đến 0x7FFFFFFF
Var Mixed Một danh sách các tham số bắt
buộc tương ứng với SMPP PDU đãđịnh nghĩa trong trường
Command_id Optional
Parameters
Var Mixed Một danh sách các tham số tùy
chọn tương ứng với SMPP PDU đãđược định nghĩa trong trường
Command_id
Trên đây là định dạng chung nhất cho tất cả các Message giữa ESME và SMSC
thường bao gồm 2 phần: phần đầu (header) và phần thân (body) Các loại Message
khác nhau thường có phần header giống như trên, khác nhau ở phần body, phần headerbắt buộc phải có, phần body có thể có hoặc không Định dạng thân các loại Message sẽ
được chi ra chỉ rõ hơn trong phần 3.3 (Mô tả chi tiết các bộ dữ liệu SMPP PDU).
3.3.2.2.Độ dài của một SMPP PDU
Trường Command_length bắt đầu của SMPP PDU header, trường này có nhiệm
vụ xác định tổng số octets chứa trong SMPP PDU Trường Command_length chứa một
số 4 octets được chuyển sang định dạng Big Endian (hay còn gọi là MSB-MostSignificant Byte-Byte quan trọng nhất)
Để giải mã được SMPP PDU thì ESME (External Short Message Entity-Thựcthể tin ngắn mở rộng) hoặc SMSC (Short Message Service Centre-Trung tâm dịch vụ
tin ngắn) đầu tiên phải đọc trường Command_length (4 octets) để xác định chiều dài
của PDU Lượng dữ liệu còn lại sẽ được xác định bằng cách lấy tổng chiều dài của
PDU trừ đi chiều dài của trường Command_length (4 octets) Giả sử chiều dài của
dòng lệnh là N thì độ dài phần thân của PDU là N- 4 octets
Ví dụ: Dữ liệu của phần header của SMPP PDE được mã hóa như sau: