1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

các ngành luật trong hệ thống pháp luật việt nam

33 814 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 33
Dung lượng 199 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Phương pháp điều chỉnh của Luật hành chính: Phương pháp điều chỉnh của ngành luật hành chính là phương phápmệnh lệnh – phục tùng, mang tính chất đặc thù được quy định bởi tính chất củaqu

Trang 1

CÁC NGÀNH LUẬT TRONG HỆ THỐNG PHÁP LUẬT VIỆT NAM Sử dung để tham khảo cho chương 10.

THAM KHẢO ĐỂ ÔN THI

1 Ngành luật hành chính

Luật hành chính là ngành luật điều chỉnh những quan hệ xã hội phátsinh trong quá trình tổ chức và thực hiện hoạt động chấp hành và điều hành củacác cơ quan Nhà nước Khái niệm “hoạt động chấp hành – điều hành” có thểđược hiểu với nội dung và phạm vi gần như các khái niệm “hoạt động hànhpháp”, “hoạt động hành chính nhà nước” hoặc “hoạt động quản lý nhà nước”; do

đó có thể nói ngành luật hành chính là ngành luật về quản lý nhà nước

a Đối tượng điều chỉnh của Luật hành chính:

Đối tượng điều chỉnh của luật hành chính là những quan hệ xã hội phátsinh trong lĩnh vực quản lý nhà nước, bao gồm ba nhóm quan hệ xã hội cơ bảnsau:

- Nhóm thứ nhất: Những quan hệ xã hội phát sinh trong hoạt động quản

lý nhà nước của các cơ quan hành chính nhà nước, đây là bộ phận cơ bản trongđối tượng điều chỉnh của ngành luật hành chính, gồm các quan hệ chủ yếu sau

+ Quan hệ giữa các cơ quan hành chính nhà nước với nhau (cơ quancấp trên và cơ quan cấp dưới theo hệ thống dọc, cơ quan có thẩm quyền chuyênmôn cấp trên với cơ quan có thẩm quyền chuyên môn cấp dưới; cơ quan có thẩmquyền chung và cơ quan có thẩm quyền chuyên môn cùng cấp, giữa các cơ quan

có thẩm quyền riêng cùng cấp)

Ví dụ: Quan hệ giữa Chính phủ với UBND cấp tỉnh, UBND cấp tỉnh

với UBND cấp huyện; quan hệ giữa Bộ giáo dục và đào tạo với Sở Giáo dụcThành phố Hồ Chí Minh, Quan hệ giữa Bộ Công nghiệp với UBND cấp tỉnh;quan hệ giữa Sở Giáo dục và Sở Y tế,

+ Quan hệ giữa các cơ quan hành chính nhà nước với các cá nhân, tổchức thuộc phạm vi quản lý của nó (các đơn vị cơ sở trực thuộc, các đơn vị cơ

sở của trung ương hoặc của cấp trên đóng tại địa phương, các tổ chức kinh tế, tổchức xã hội, công dân, người nước ngoài

Trang 2

Ví dụ: Quản lý nhà nước về hộ khẩu, về hộ tịch, quản lý hoạt động kinh

doanh, cấp phép hoạt động kinh doanh, quản lý về vệ sinh an toàn thực phẩm ;quan hệ quản lý giữa UBND TPHCM với Công ty nưới Giải khát Sài Gòn, Tổngcông ty du lịch Sài Gòn Tourist; quan hệ giữa UBND TPHCM với Công ty May

10 đóng tại TPHCM; quan hệ giữa Sở Y tế với các bệnh viện công; Sở giáo dụcvới các trường PTTH công lập

- Nhóm quan hệ thứ hai: Những quan hệ có tính chất quản lý, hìnhthành trong quá trình các cơ quan Nhà nước xây dựng, củng cố tổ chức bộ máy

và chế độ công tác nội bộ của cơ quan, nhằm ổn định về tổ chức để hoàn thànhchức năng, nhiệm vụ của mình

Ví dụ: Quan hệ giữa CBCC toà án với Chánh án TAND, giữa Kiểm sát

viên với Viện trưởng VKSND, giữa Quốc hội với các đại biểu Quốc hội, giữa

QH với các cơ quan chuyên trách của QH,

- Nhóm quan hệ thứ ba: là những quan hệ quản lý hình thành trong quátrình một số tổ chức và cá nhân thực hiện chức năng quản lý nhà nước đối vớinhững vấn đề cụ thể được Nhà nước trao quyền thực hiện theo quy định phápluật

Ví dụ: Tổng liên đoàn Lao động được trao quyền quản lý đối với các

Doanh nghiệp để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của Công dân, Đoàn thanhniên được trao quyền quản lý những vấn đề liên quan đến thanh niên,

b Phương pháp điều chỉnh của Luật hành chính:

Phương pháp điều chỉnh của ngành luật hành chính là phương phápmệnh lệnh – phục tùng, mang tính chất đặc thù được quy định bởi tính chất củaquan hệ quản lý; đó là mối quan hệ “quyền uy – phục tùng”; giữa một bên làngười có quyền nhân danh nhà nước ra lệnh, ban hành những quy định có tínhchất bắt buộc đối với bên kia – là người phải phục tùng mệnh lệnh những quyđịnh đó Quan hệ này thể hiện sự không bình đẳng giữa các chủ thể tham giaquan hệ quản lý nhà nước: một bên ra lệnh, bên kia phải phục tùng thi hành

Ví dụ: Cảnh sát giao thông ra lệnh người điều khiển phương tiện giao

thông ngừng xe lại để kiểm tra giấy tờ; hay thủ trưởng UBND ra lệnh nhân viêngiải quyết khiếu nại của người dân; Thủ tướng yêu cầu Bộ Y tế giải trình về vụnước tương có chứa chất MDPC-3,

Trang 3

Lưu ý: trong một số trường hợp đặc biệt luật hành chính cũng sử dụng

phương pháp thoả thuận như trong trường hợp ban hành các quyết định liên tịch,

ký kết và thực hiện các hợp đồng hành chính; quan hệ giữa các bên tham gia cácquan hệ này là quan hệ bình đẳng; không có ai có quyền ra lệnh ép buộc bên kia(ví dụ như: UBND ký kết Liên tịch với Trường 6 về tiếp nhận học viên nghiện

ma tuý của địa phương; UBND TPHCM ký với Công ty xây dựng để xây dựngsửa chữa trụ sở làm việc của UBND )

c Một số nội dung cơ bản của Luật hành chính:

Địa vị pháp lý của các chủ thể Luật hành chính:

Đây là chế định pháp luật bao gồm các quy phạm quy định về chế độpháp lý của các chủ thể như: cơ quan hành chính nhà nước, cán bộ - công chức,

tổ chức xã hội, đoàn thể, đơn vị kinh doanh, cơ quan sự nghiệp, công dân, ngườinước ngoài, người không có quốc tịch trong lĩnh vực quản lý nhà nước tuynhiên, những người này chỉ có thể trở thành chủ thể của quan hệ pháp luật hànhchính khi tồn tại quy phạm pháp luật hành chính tương ứng và xuất hiện sự kiệnpháp lý phù hợp đã được dự kiến trong phần giả định của quy phạm đó

Ví dụ: Khi một người thực hiện hành vi vi phạm pháp luật giao thông

thì người đó mới trở thành chủ thể của quan hệ pháp luật hành chính với tư cách

là người vi phạm và sẽ bị người có thẩm quyền (là cảnh sát giao thông) xử lýtheo quy định của pháp luật về giao thông đường bộ

+ Cơ quan hành chính, là chủ thể chủ yếu của quan hệ pháp luật hànhchính, thực hiện các hoạt động chấp hành – điều hành bằng các hình thức vàphương pháp do pháp luật quy định Luật hành chính quy định về trình tự thiếtlập, thay đổi tổ chức, bãi bỏ các cơ quan này; quy định thẩm quyền và cơ cấunội bộ, quy định vế chế độ hoạt động và những quan hệ công tác chủ yếu; quyđịnh chế độ thanh tra kiểm tra hoạt động; quy định hệ thống tổ chức và trình tựthực hiện hoạt động quản lý theo từng ngành, từng lĩnh vực

Ví dụ: Bộ giao thông vận tải, UBND TPHCM, Sở giáo dục.

+ Chế độ pháp lý của cán bộ công chức bao gồm các quy định vềnguyên tắc tổ chức công tác phục vụ nhà nước, quy định về nhiệm vụ và quyềnhạn của cán bộ công chức khi thực hiện chức năng nhiệm vụ của mình; quy địnhchế độ khen thưởng, xử lý kỷ luật, chế độ trách nhiệm

Trang 4

+ Chế độ pháp lý của công dân, người nước ngoài, người không cóquốc tịch; các tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội : gồm những quy định về quyền vànghĩa vụ của các cá nhân và tổ chức này và những biện pháp quản lý để đảm bảothực hiện và bảo vệ những quyền và nghĩa vụ của họ.

Lưu ý: Quan hệ pháp luật hành chính là quan hệ bất bình đẳng Nhưng

điều đó không có nghĩa là quan hệ này chỉ xuất hiện giữa các cơ quan cấp trên

và cấp dưới, giữa các chủ thể trực thuộc nhau mà xuất hiện ở khắp nơi, kể cảgiữa các chủ thể hoàn toàn không trực thuộc nhau hoặc thậm chí ngang cấp vớinhau trong Bộ máy Nhà nước, điều quan trọng là ở chỗ giữa chúng có mối liên

hệ trong việc thực hiện chức năng hành chính nhà nước nào đó Mặc khác cầnlưu ý là quan hệ pháp luật hành chính không thể xuất hiện chỉ giữa các côngdân, bởi vì một bên tham gia quan hệ này bao giờ cũng với tư cách đại diện chonhà nước, bảo vệ quyền lợi của nhà nước và do đó thực hiện quyền lực nhànước, có quyền đơn phương ra lệnh Chính vì vậy quan hệ pháp luật hành chính

là quan hệ bất bình đẳng Bên có quyền ra lệnh được gọi là bên bắt buộc, nghĩa

là bên không thể thiếu được, vì nếu thiếu thì không thể phát sinh quan hệ quyềnlực – phục tùng Đây chính là đặc điểm quan trọng nhất của quan hệ pháp luậthành chính; còn các chủ thể kể trên có thể là bên bắt buộc hoặc bên không bắtbuộc tuỳ theo từng quan hệ cụ thể

Các hình thức quản lý Nhà nước:

Hình thức quản lý Nhà nước là sự biểu hiện ra bên ngoài của nhữnghoạt động quản lý với cùng nội dung, tính chất và phương thức tác động của chủthể lên khách thể quản lý

Hình thức quản lý được phân loại thành hai nhóm căn cứ vào nhữngquan hệ của chúng với pháp luật: những hình thức pháp lý và những hình thứckhông hay ít mang tính pháp lý

+ Những hình thức pháp lý: là hình thức được pháp luật quy định cụthể và gắn liền với việc ban hành những quy phạm pháp luật và áp dụng phápluật, bao gồm:

▪ Hoạt động ban hành những quyết định quản lý chủ đạo (chứa được những chủ trương, đường lối, những nhiệm vụ chung).

Ví dụ: Nghị quyết của Chính phủ về xây dựng chương trình phát triển

kinh tế - xã hội năm 2007

Trang 5

▪ Hoạt động ban hành những văn bản quy phạm pháp luật.

Ví dụ: Nghị định của Chính phủ về xử lý vi phạm hành chính trong

lĩnh vực giao thông, văn hoá thông tin, quản lý hộ tịch, Quyết định của UBNDthành phố Hồ Chí Minh về ban hành khung giá đất trên địa bàn TPHCM,

▪ Hoạt động ban hành những quyết định cá biệt – cụ thể.

Ví dụ: Quyết định xử lý cán bộ công chức vi phạm kỷ luật, quyết định

xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực an toàn vệ sinh thực phẩm, quyết địnhtiêu huỷ văn hoá phẩm đồi trụy, độc hại

Lưu ý: Khi thực hiện hoạt động ban hành các văn bản quản lý nhà

nước cần hết sức chú ý đảm bảo các yêu cầu đối với nội dung, hình thức và đốivới trình tự ban hành quyết định Ví dụ: UBND thì không được ban hành vănbản mang tên là Nghị định, Nghị quyết, không được ban hành những quy định

về xử lý vi phạm hành chính; Nghị quyết, Nghị định của một tập thể thì khôngthể do một cá nhân hoặc một vài cá nhân thông qua dù đó là những người cóthẩm quyền nhất, v.v

+ Những hình thức ít hoặc không mang tính pháp lý, được thể hiệndưới những hình thức sau:

▪ Những biện pháp tổ chức – xã hội trực tiếp: đó là những hoạt

động tuyên truyền, giải thích, hướng dẫn thực hiện pháp luật, tổ chức thực hiệnpháp luật; ví dụ: tổ chức các cuộc hội thảo, mít tinh, biểu tình của quần chúng,các phong trào thi đua, nêu gương điển hình,v.v

▪ Những hoạt động tác nghiệp vật chất – kỹ thuật: đó là những hoạt

động cụ thể như công việc của người đánh máy, người trực tổng đài, thủ thư,cán bộ văn thư lưu trữ, người bảo vệ, v.v Đây là những hoạt động mang tínhchất phục vụ cho các hoạt động quan trọng kể trên nhưng nếu thiếu nó, nhữnghoạt động quan trọng không thể tiến hành được bình thường, có trật tự và hiệuquả Hoạt động này thường được gọi là công tác hành chính của cơ quan Quản

lý nhà nước trong thời đại khoa học và công nghệ phát triển khi mà được cácphương tiện kỹ thuật, đặc biệt là công nghệ thông tin được áp dụng ngày càngnhiều thì hoạt động tác nghiệp vật chất – kỹ thuật càng đóng vai trò quan trọng,ảnh hưởng rất lớn tới hiệu quả hoạt động của quản lý nhà nước

Trang 6

▪ Những hoạt động mang tính quyền lực pháp lý: Đó là những hoạt

động thi hành các biện pháp cưỡng chế như: dẫn giải tội phạm, canh gác trạigiam, chỉ huy ở nút giao thông, v.v Những hoạt động này không phải là hìnhthức pháp lý vì không làm thay đổi hệ thống quy phạm pháp luật hoặc thay đổicác quan hệ pháp luật cụ thể (không đặt ra để thay đổi hoặc chấm dứt nhữngquyền và nghĩa vụ của các chủ thể cụ thể), nhưng mang tính quyền lực rất cao vìcác chủ thể áp dụng có thể thi hành các biện pháp cưỡng chế khi cần thiết trongphạm vi mà pháp luật và quyết định của người có thẩm quyền cho phép

▪ Hợp đồng hành chính: Đó là sự thoả thuận giữa các chủ thể quản

lý nhà nước để thực hiện các nhiệm vụ, chức năng quản lý, mà việc thực hiệnhợp đồng đó không xuất phát trực tiếp từ thẩm quyền của các chủ thể này Mộtbên thực hiện hợp đồng được trả thù lao Ví dụ: Công an hợp đồng canh gác,bảo vệ cho một công ty, ngân hàng có thù lao khi mà nhiệm vụ bảo vệ khôngphải là trách nhiệm trực tiếp của cơ quan công an

Phương pháp quản lý Nhà nước

Phương pháp quản lý nhà nước là những phương thức, cách thức, biệnpháp mà chủ thể quản lý áp dụng để tác động lên khách thể quản lý (hành vi củađối tượng quản lý) nhằm đạt được những mục đích đề ra

Căn cứ vào nội dung những phương pháp quản lý: Có hai loại phươngpháp chủ yếu là: phương pháp thuyết phục và phương pháp cưỡng chế

▪ Phương pháp thuyết phục: bao gồm những biện pháp như: giáo

dục chính trị tư tưởng, đạo đức; áp dụng những biện pháp khuyến khích về vậtchất, tinh thần; tuyên truyền vận động giải thích, hướng dẫn,v.v

Ví dụ: Quyết định khen thưởng cá nhân, tập thể có thành tích xuất sắc

trong công tác đấu tranh phòng ngừa tệ nạn xã hội; tuyên truyền sống và họctập, làm theo tư tưởng Hồ Chí Minh

▪ Phương pháp cưỡng chế: bao gồm những biện pháp như: ban

hành những quy định mang tính bắt buộc, cấm; những quyết định cá biệt, cụ thểmang tính bắt buộc; áp dụng các biện pháp xử phạt hoặc những biện pháp cưỡngchế mang tính chất phòng ngừa, ngăn chặn vi phạm

Ví dụ: Quyết định tiêu huỷ gia cầm nghi ngờ nhiễm bệnh H5N1, quyết

định xử phạt vi phạm giao thông,

Trang 7

Căn cứ vào tính chất sự tác động, còn được phần thành hai loại rất quantrọng, đó là: phương pháp hành chính và phương pháp kinh tế:

▪ Phương pháp hành chính: là những biện pháp tác động một cách

trực tiếp tới đối tượng bị quản lý bằng cách trực tiếp quy định nghĩa vụ của đốitượng bị quản lý dưới hình thức những mệnh lệnh mang tính quyền lực Nhànước Đây là phương pháp đặc trưng không thể thiếu trong quản lý, bởi vì bảnchất của quản lý mang tính mệnh lệnh, tính quyền uy Phương pháp này cònđược gọi là phương pháp mệnh lệnh hành chính, có thể được thể hiện dướidạng văn bản pháp luật chứa đựng những quy định có tính bắt buộc trực tiếphoặc những quy định cấm, những quyết định, chỉ thị, cá biệt trao nghĩa vụ cụthể, hoặc dưới hình thức những biện pháp tổ chức, điều hành trực tiếp

▪ Phương pháp kinh tế: là những phương pháp tác động một cách

gián tiếp tới tập thể, cá nhân thông qua việc sử dụng những đòn bẩy kinh tế nhưchính sách giá cả, tín dụng, tiền lương, tiền thưởng, lãi suất ngân hàng, chínhsách thuế nhằm tác động tới lợi ích của các nhân, tổ chức và do đó tăngcường lòng nhiệt tình hăng say lao động, sự quan tâm của người lao động tớikết quả cuối cùng của hoạt động lao động của mình Trong thời đại ngày nay,phương pháp này ngày càng phát huy hiệu quả và chứng tỏ sức sống mạnh mẽcủa mình Tuy vậy, muốn áp dụng phương pháp kinh tế trong thực tiễn đờisống cần phải thông qua những văn bản theo quy định của luật hành chính,nghĩa là phương pháp hành chính là phương tiện đưa phương pháp kinh tế vàocuộc sống

Người ta còn chia phương pháp quản lý thành những loại như: phươngpháp lãnh đạo chung, phương pháp điều chỉnh, phương pháp quản lý tácnghiệp, phương pháp quản lý theo chương trình – mục tiêu, v.v

d Vi phạm hành chính và trách nhiệm hành chính

Vi phạm hành chính:

* Khái niệm: Vi phạm hành chính là những hành vi (hành động hoặc

không hành động) trái pháp luật do các chủ thể của Luật hành chính thực hiệnmột cách cố ý hoặc vô ý xâm hại tới các quan hệ xã hội do luật hành chính bảo

vệ và theo quy định của pháp luật phải bị xử phạt vi phạm hành chính

Một vi phạm hành chính phải có đầy đủ các dấu hiệu chủ yếu sau:

Trang 8

- Là hành vi (hành động hoặc không hành động) của cá nhân hoặc tổchức; ý nghĩa, tư tưởng nếu chưa thể hiện thành hành vi không bao giờ được coi

là vi phạm pháp luật

- Tính trái pháp luật của hành vi (trái pháp luật hành chính)

- Có lỗi, nghĩa là hành vi đó được thực hiện bởi tổ chức hoặc cá nhân cóđầy đủ năng lực hành vi trách nhiệm hành chính (người từ đủ 14 tuổi trở lênphát triển bình thường về thể chất)

- Xâm hại tới những quan hệ xã hội do luật hành chính bảo vệ

- Được pháp luật hành chính quy định là phải chịu xử phạt hành chính.Người có hành vi vi phạm hành chính thì phải bị xử lý vi phạm hànhchính Xử lý vi phạm hành chính chủ yếu thuộc thẩm quyền của các cơ quanNhà nước và được tiến hành theo trình tự thủ tục hành chính Chủ thể vi phạmhành chính có thể là cá nhân, tổ chức, kể cả người nước ngoài, người không cóquốc tịch sống trên lãnh thổ Việt Nam

Trách nhiệm hành chính:

Đó là sự áp dụng những biện pháp cưỡng chế hành chính mang tính chất

xử phạt hoặc khôi phục lại những quyền và lợi ích bị xâm hại được quy địnhtrong những chế tài của quy phạm pháp luật hành chính bởi cơ quan nhà nước,người có thẩm quyền đối với những chủ thể thực hiện hành vi vi phạm hànhchính

Do đó, trách nhiệm hành chính thể hiện sự phản ứng tiêu cực của nhànước đối với chủ thể thực hiện hành vi vi phạm hành chính, kết quả là chủ thểthực hiện hành vi vi phạm hành chính phải gánh chịu những hậu quả bất lợi, bịthiệt hại về vật chất hoặc tinh thần so với tình trạng ban đầu

Cơ sở của trách nhiệm hành chính là vi phạm hành chính

Trang 9

- Mọi hành vi vi phạm hành chính phải được phát hiện kịp thời và phảiđình chỉ ngay; việc xử lý vi phạm hành chính phải được tiến hành nhanh chóng,công minh, triệt để; mọi hậu quả do vi phạm hành chính gây ra phải được khắcphục theo đúng quy định của pháp luật.

- Một hành vi vi phạm hành chính chỉ bị xử phạt một lần; một người thựchiện nhiều hành vi vi phạm hành chính thì bị xử phạt về từng hành vi vi phạm.Nhiều người cùng thực hiện hành vi vi phạm hành chính thì mỗi người vi phạmđều bị xử phạt

- Việc xử lý phải căn cứ vào tính chất, mức độ vi phạm, nhân thân củangười vi phạm và những tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ

- Không xử lý hành chính trong những trường hợp như: tình thế cấp thiết,phòng vệ chính đáng, sự kiện bất ngờ hoặc người thực hiện hành vi trái phápluật hành chính bị mắc những chứng bệnh làm mất khả năng nhận thức hoặc khảnăng điều khiển hành vi của mình

* Thời hiệu xử lý vi phạm hành chính:

- Một năm kể từ ngày vi phạm hành chính được thực hiện

- Hai năm nếu vi phạm hành chính trong các lĩnh vực: tài chính, chứngkhoán, sở hữu trí tuệ, xây dựng, môi trường, an toàn và kiểm soát bức xạ, nhà ở,đất đai, đê điều, xuất bản, xuất nhập cảnh hoặc vi phạm hành chính là hành vibuôn lậu, sản xuất, buôn bán hàng giả

- Ba tháng kể từ ngày người có thẩm quyền nhận được quyết định đình chỉđiều tra hoặc đình chỉ vụ án hình sự

- Nếu cố tình trốn tránh, cản trở việc xử phạt thì không áp dụng thời hiệunói trên

Trang 10

năm đến 02 năm đối với người nghiện ma tuý, từ 03 tháng đến 18 tháng đối vớingười bán dâm); quản chế hành chính (từ 06 tháng đến 03 năm).

- Các biện pháp ngăn chặn bảo đảm việc xử lý vi phạm: tạm giữ ngườitheo thủ tục hành chính (không quá 48 giờ); tạm giữ tang vật, phương tiện viphạm; khám người; khám phương tiện vận tải, đồ vật; khám nơi cất giấu tangvật, phương tiện vi phạm

* Thủ tục xử phạt và mức phạt:

Đình chỉ hành vi vi phạm; thủ tục xử phạt đơn giản: xử phạt tại chỗ (ápdụng đối với các vi phạm có mức phạt từ 10.000 đến 200.000đồng); thủ tục xửphạt phức tạp: lập biên bản vi phạm hành chính, ra quyết định xử phạt

Mức phạt theo từng loại vi phạm, thấp nhất là 10.000 đồng và cao nhất là500.000.000 đồng

* Đối tượng chịu trách nhiệm hành chính:

- Các cá nhân từ đủ 16 tuổi trở lên hoặc từ đủ 14 tuổi cho đến dưới 16 tuổivới lỗi cố ý

- Cơ quan nhà nước, tổ chức xã hội, đơn vị kinh tế phải chịu trách nhiệm

về mọi hành vi vi phạm do cơ quan tổ chức gây ra

- Cá nhân, tổ chức nước ngoài vi phạm hành chính trên lãnh thổ ViệtNam

2 Ngành luật dân sự

Khái niệm: Ngành luật dân sự là một ngành luật độc lập trong hệ thống

pháp luật Việt Nam, điều chỉnh các quan hệ tài sản mang tính chất hàng hoá –tiền tệ và các quan hệ nhân thân trên cơ sở bình đẳng, độc lập của các chủ thểtham gia vào quan hệ đó Đây là ngành luật xuất hiện rất sớm và có vị trí quantrọng nhất trong hệ thống pháp luật quốc gia

a/ Đối tượng điều chỉnh:

- Đối tượng điều chỉnh của ngành luật dân sự là các quan hệ tài sản vàquan hệ nhân thân phi tài sản phát sinh trong giao dịch dân sự nhằm thoả mãnnhu cầu của các chủ thể trong xã hội

+ Quan hệ tài sản là quan hệ giữa người với người thông qua tài sản được

biểu hiện dưới những dạng khác nhau

Trang 11

Tài sản bao gồm: vật, tiền, giấy tờ có giá trị và các quyền tài sản.

Tuy nhiên ngành luật dân sự không điều chỉnh tất cả các quan hệ tài sản

mà chỉ điều chỉnh các quan hệ như:

-> Các quan hệ tài sản liên quan đến quyền sở hữu thông qua việcchiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản

-> Các quan hệ tài sản có tính chất đền bù ngang giá trong trao đổi tàisản, nghĩa vụ tài sản, trách nhiệm đền bù trong và ngoài hợp đồng

-> Các quan hệ về thừa kế tài sản

Ví dụ: Chiếm hữu trong các điều kiện do pháp luật quy định đối với vật vô chủ,

vật bị đánh rơi, bị bỏ quên, bị chôn giấu, gia súc, gia cầm bị thất lạc, vật nuôidưới nước di chuyển tự nhiên…

+ Quan hệ nhân thân là quan hệ liên quan đến các giá trị tinh thần của con

người, về nguyên tắc luôn gắn với một người nhất định và không dịch chuyển từngười này sang người khác

Trong khoa học pháp lý người ta chia quan hệ nhân thân thành 2 loại:-> Quan hệ nhân thân không liên quan đến tài sản (quan hệ nhân thânphi tài sản) là những quan hệ gắn liền với tên gọi, danh dự, nhân phẩm, uy tíncủa công dân hoặc tổ chức nhất định

Ví dụ: Cá nhân có quyền có họ, tên Họ, tên của một người được xác định theo

họ, tên khai sinh của người đó

+ Quan hệ nhân thân có liên quan đến tài sản: là những quan hệ nhânthân làm cơ sở phát sinh quan hệ tài sản tiếp theo; như: quan hệ về quyền tácgiả, quan hệ về quyền sở hữu công nghiệp, quan hệ về phát minh sáng chế

Ví dụ: Trong lĩnh vực quyền tác giả, quyền phát minh sáng chế ở đây quan hệ

nhân thân là cơ sở khẳng định rằng người sáng tạo ra tác phẩm, công trình vănhọc nghệ thuật, khoa học kỹ thuật có quyền đứng tên là tác giả của tác phẩm đó;quyền này là quyền nhân thân không thể tách rời, chuyển dịch của chính ngườisáng tạo; nhưng chính việc thừa nhận họ là tác giả của những công trình đó thìkhi công trình, tác phẩm đó đem lại lợi ích về tài sản thì tác giả phải được nhậnnhững lợi ích về tài sản như tiền nhuận bút, tiền thưởng vì đã bỏ công sức sángtạo ra tác phẩm đó Như vậy lợi ích vật chất ở đây xuất phát từ quan hệ nhânthân có trước

b/ Phương pháp điều chỉnh:

- Phương pháp điều chỉnh của ngành luật dân sự là những biện pháp, cáchthức mà Nhà nước tác động đến các quan hệ tài sản, các quan hệ nhân thân làm

Trang 12

cho các quan hệ này phát sinh, thay đổi, chấm dứt phù hợp với ý chí của Nhànước

Ngành luật dân sự sử dụng phương pháp tự do thương lượng thoảthuận giữa các chủ thể trong quan hệ dân sự nhưng không được xâm phạm đếnlợi ích của Nhà nước, lợi ích công cộng, quyền và lợi ích của hợp pháp củangười khác

Những biện pháp, cách thức mà nhà nước tác động lên các quan hệ dân

sự có những đặc điểm sau:

+ Bảo đảm sự bình đẳng về mặt pháp lý giữa các chủ thể (các bên)tham gia quan hệ pháp luật dân sự Không có sự phân biệt về địa vị xã hội, tìnhtrạng kinh tế

+ Bảo đảm quyền tự định đoạt của các chủ thể; thể hiện các chủ thể tựquyết định tham gia hay không tham gia quan hệ pháp luật dân sự, tự thoả thuậnvới nhau mà không bị ép buộc của bất kỳ ai, kể cả nhà nước; nội dung của mốiquan hệ thể hiện sự tự nguyện nhất trí của các bên

+ Các bên phải gánh chịu trách nhiệm pháp lý dân sự với nhau do hành

vi gây thiệt hại cho người khác nếu có đủ điều kiện luật quy định về bồi thườngthiệt hại

c/ Quan hệ pháp luật dân sự:

* Khái niệm: Quan hệ pháp luật dân sự là những quan hệ tài sản và quan

hệ nhân thân xuất hiện trên cơ sở các quy phạm pháp luật dân sự

Các quy phạm pháp luật dân sự quy định cho các bên tham gia quan hệ xãhội đó có thể hoặc cần phải thực hiện những hành vi nhất định phù hợp với lợiích của Nhà nước; quy định cho các chủ thể tham gia những quyền và nghĩa vụpháp lý cũng như trách nhiệm dân sự nếu không thực hiện các quyền và nghĩa

vụ đó hoặc có hành vi vi phạm quyền và lợi ích hợp pháp của bên kia Nhưngcác quyền và nghĩa vụ pháp lý chỉ xuất hiện khi có những sự kiện, pháp lý màquy phạm pháp luật dân sự đã dự liệu

Ngoài những đặc điểm của quan hệ pháp luật nói chung, quan hệ phápluật dân sự còn có những đặc điểm riêng như sau:

- Là quan hệ bình đẳng giữa những người tham gia

- Được bảo đảm và duy trì bằng sự cưỡng chế của Nhà nước

* Cơ cấu của quan hệ pháp luật dân sự:

Quan hệ pháp luật dân sự có ba bộ phận cấu thành là chủ thể, kháchthể và nội dung

Trang 13

- Chủ thể của quan hệ pháp luật dân sự là những người tham gia vào

quan hệ pháp luật dân sự mang quyền và nghĩa vụ trong quan hệ đó

Người nói ở đây bao gồm: cá nhân, pháp nhân, hộ gia đình và tổ hợptác – là những chủ thể có năng lực pháp luật và hành vi dân sự theo quy định củapháp luật; trong đó hộ gia đình và tổ hợp tác là chủ thể đặc biệt của quan hệpháp luật dân sự

- Khách thể của quan hệ pháp luật dân sự: là các hành vi của chủ thể

thực hiện các quyền và nghĩa vụ dân sự

- Nội dung quan hệ pháp luật dân sự: là tổng hợp các quyền và nghĩa

vụ của các bên tham gia vào quan hệ đó

+ Quyền dân sự: là cách xử sự được phép của người có quyền năng; cụ

 Khi các quyền dân sự bị vi phạm, chủ thể có quyền sử dụng cácbiện pháp bảo vệ mà pháp luật cho phép như tự bảo vệ, áp dụng các biện pháptác động khác hoặc yêu cầu cơ quan nhà nước có thẩm quyền bảo vệ quyềndân sự của mình như kiện ra toà, khiếu nại đến cơ quan hành chính nhà nước

+ Nghĩa vụ dân sự: là cách xử sự bắt buộc của người có nghĩa vụ; cụ

 Phải gánh chịu trách nhiệm pháp lý khi không thực hiện các xử

sự nhất định nói trên

d/ Một số chế định cơ bản:

* Chế định quyền sở hữu:

Trang 14

- Sở hữu là một quan hệ xã hội biểu hiện ở việc nắm giữ, sử dụng, địnhđoạt những của cải vật chất thông qua quan hệ của chủ sở hữu đối với ngườikhác.

- Quyền sở hữu là một phạm trù pháp lý gồm tổng hợp các quy phạmpháp luật điều chỉnh những quan hệ về sở hữu đối với các lợi ích vật chất trong

xã hội Hay nói cách khác, quyền sở hữu là chế định trung tâm của ngành luậtdân sự, tổng hợp các QPPL điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong lĩnhvực chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản

Chế định quyền sở hữu là chế định trung tâm, quan trọng nhất khôngnhững chỉ riêng luật dân sự mà còn cho cả hệ thống pháp luật Đây là một nhómcác quy phạm pháp luật xác nhận các hình thức sở hữu ở nước ta như: sở hữunhà nước, sở hữu tập thể, sở hữa của các tổ chức chính trị - xã hội, sở hữu tưnhân và các loại sở hữu chung Chế định này quy định về cách thức pháp sinh,trình tự thực hiện và các phương pháp, hình thức nhằm bảo vệ quyền sở hữu

- Đối tượng của quyền sở hựu là tài sản, bao gồm: vật, tiền, giấy tờ có giá

và các quyền tài sản

- Nội dung quyền sở hữu: Quyền sở hữu bao gồm quyền chiếm hữu, quyền

sử dụng và quyền định đoạt tài sản của chủ sở hữu theo quy định của pháp luật

+ Quyền chiếm hữu: là quyền nắm giữ, quản lý tài sản Chủ sở hữu có

quyền kiểm soát, chi phối tài sản của mình mà không bị hạn chế

+ Quyền sử dụng: là quyền khai thác công dụng và những lợi ích vật

chất của tài sản trong phạm vi pháp luật cho phép để thoả mãn nhu cầu của chủ

sở hữu

+ Quyền định đoạt: là quyền của chủ sở hữu trong việc quyết định số

phận của tài sản, thể hiện trên 2 phương diện: định đoạt số phận thực tế của tàisản như tiêu dùng hết, huỷ bỏ, từ bỏ quyền sở hữu tài sản) hay định đoạt về sốphận pháp lý của tài sản (như chuyển giao quyền sở hữu thông qua các giao dịchdân sự như mua bán, trao đổi, tặng cho )

- Căn cứ xác lập quyền sở hữu:

+ Do lao động, do hoạt động sản xuất, kinh doanh hợp pháp;

+ Được chuyển quyền sở hữu theo thoả thuận hoặc theo quyết địnhcủa cơ quan nhà nước có thẩm quyền;

+ Thu hoa lợi, lợi tức;

+ Tạo thành vật mới do sáp nhập, trộn lẫn, chế biến;

+ Được thừa kế tài sản;

Trang 15

+ Chiếm hữu trong các điều kiện do pháp luật quy định đối với vật

vô chủ, vật bị đánh rơi, bị bỏ quên, bị chôn giấu, gia súc, gia cầm bị thấtlạc, vật nuôi dưới nước di chuyển tự nhiên;

+ Chiếm hữu tài sản không có căn cứ pháp luật nhưng ngay tình,liên tục, công khai phù hợp với thời hiệu quy định của pháp luật;

+ Các trường hợp khác do pháp luật quy định

- Căn cứ chấm dứt quyền sở hữu:

+ Chủ sở hữu chuyển quyền sở hữu của mình cho người khác;

+ Chủ sở hữu từ bỏ quyền sở hữu của mình;

+ Tài sản bị tiêu huỷ;

+ Tài sản bị xử lý để thực hiện nghĩa vụ của chủ sở hữu;

+ Tài sản bị trưng mua;

+ Tài sản bị tịch thu;

+ Vật bị đánh rơi, bị bỏ quên, gia súc, gia cầm bị thất lạc, vật nuôidưới nước di chuyển tự nhiên mà người khác đã được xác lập quyền sởhữu trong các điều kiện do pháp luật quy định; tài sản mà người khác đãđược xác lập quyền sở hữu theo quy định của pháp luật;

+ Các trường hợp khác do pháp luật quy định

* Chế định nghĩa vụ dân sự và hợp đồng dân sự:

- Nghĩa vụ dân sự là việc mà một hoặc nhiều chủ thể (còn gọi là người

có nghĩa vụ) phải làm một công việc hoặc không được làm một công việc vì lợiích của một hay nhiều chủ thể khác (còn được gọi là người có quyền)

+ Đối tượng của nghĩa vụ dân sự là tài sản, công việc phải làm hoặccông việc không được làm

+ Nghĩa vụ dân sự phát sinh từ hợp đồng, hành vi pháp lý đơn phương,được lợi về tài sản không có căn cứ pháp luật, hành vi gây thiệt hại trái phápluật

Ví dụ: nghĩa vụ trả tiền thuê nhà trong hợp đồng thuê nhà, nghĩa vụ trả tiền mua

xe trong hợp đồng mua bán…

Hoặc nghĩa vụ chuyển giao nhà cho thuê sang cho bên thuê, nghĩa vụ giao xe…

+ Căn cứ phát sinh nghĩa vụ dân sự

Hợp đồng dân sự;

Hành vi pháp lý đơn phương;

Thực hiện công việc không có uỷ quyền;

Trang 16

Chiếm hữu, sử dụng tài sản hoặc được lợi về tài sản không có căn

cứ pháp luật;

Gây thiệt hại do hành vi trái pháp luật;

Những căn cứ khác do pháp luật quy định

+ Chấm dứt nghĩa vụ dân sự:

Nghĩa vụ đã hoàn thành, theo thoả thuận của các bên, bên có quyềnmiễn việc thực hiện nghĩa vụ, nghĩa vụ được thay thế bởi một nghĩa vụ kháchoặc trường hợp hai bên cùng có nghĩa vụ đối với nhau về một đối tượng cùngloại thì nghĩa vụ dân sự sẽ chấm dứt

Ngoài ra, pháp luật cũng quy định chấm dứt nghĩa vụ dân sự khi bên

có quyền và bên có nghĩa vụ sáp nhập làm một, khi thời hiệu khởi kiện đã hết,một bên trong quan hệ nghĩa vụ chết, đối tượng là vật đặc định không còn màphải giao đúng vật đó, khi bị tuyên bố phá sản

- Hợp đồng dân sự là thoả thuận của các bên về việc xác lập, thay đổi hay

chấm dứt quyền và nghĩa vụ dân sự

Việc giao kết hợp đồng phải chấp hành các nguyên tắc: tự do thể hiện

ý chí và bình đẳng Tức là các bên tự do giao kết nhưng không được trái vớipháp luật và đạo đức xã hội; tự nguyện cùng nhau xác lập quan hệ nhưng nộidung quan hệ phải thể hiện sự tương xứng về quyền và nghĩa vụ, đảm bảo lợiích cho các bên Hình thức của hợp đồng thể hiện dưới hình thức trao đổi bằnglời nói, văn bản viết hay bằng hành vi cụ thể Khi không đảm bảo các yêu cầucủa pháp luật trong giao kết hợp đồng thì hợp đồng dân sự có thể bị toà án tuyên

điều kiện phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại, ấn định mức bồi thườngthiệt hại, cách thức tiến hành việc bồi thường thiệt hại

Ngoài ra, trong chế định nghĩa vụ còn quy định người có hành vi viphạm pháp luật gây thiệt hại về tài sản, danh dự, nhân phẩm hoặc xâm phạm đếntính mạng, sức khoẻ của người khác phải bồi thường thiệt hại, đó là trách nhiệmbồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng

Ngày đăng: 15/11/2014, 11:44

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w