Như vậy nhà nghiên cứu Vũ Thanh mới chỉ làm rõ tiếng cười trào phúng trong thơ Nguyễn Khuyến trước và sau khi về Yên Đổ mà chưa đưa ra một cách cụ thể những cung bậc tiếng cười và những
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÂY BẮC
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Sơn La, năm 2014
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÂY BẮC
Chuyên ngành: Văn học Việt Nam
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Người hướng dẫn: TS Ngô Thị Phượng
Sơn La, năm 2014
Trang 3Lời cảm ơn
Em xin chân thành cảm ơn Phòng Đào tạo, các thầy cô giáo trong khoa Ngữ Văn, đặc biệt là các thầy cô trong tổ Văn học Việt Nam, Thư viện của trường, các bạn bè đã giúp đỡ em trong quá trình thực hiện khóa luận
Em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới cô giáo - Tiến sĩ Ngô Thị Phượng đã giúp đỡ, chỉ bảo em tận tình trong quá trình thực hiện khóa luận
Em xin chân thành cảm ơn!
Sơn La, ngày 15 tháng 4 năm 2014
Nguyễn Thị Hồng K51 ĐHSP Văn - GDCD
Trang 4MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU 1
1 Lí do chọn đề tài 1
2 Lịch sử nghiên cứu 1
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 4
4 Nhiệm vụ nghiên cứu 5
5 Phương pháp nghiên cứu 5
6 Đóng góp của khóa luận 5
7 Cấu trúc của khóa luận 6
PHẦN NỘI DUNG 7
CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG 7
1.1 Tác giả Nguyễn Khuyến 7
1.1.1 Cuộc đời và con người 7
1.1.2 Sự nghiệp sáng tác 9
1.2 Trào phúng và tự trào 14
1.2.1 Trào phúng 14
1.2.2 Tự trào 16
1.3 Khảo sát, thống kê những bài thơ thuộc mảng tự trào của Nguyễn Khuyến 17 1.3.1 Thơ chữ Nôm 17
1.3.2 Thơ chữ Hán 19
1.3.3 Tổng số bài thơ có nội dung tự trào 22
1.3.4 Nhận xét 22
Tiểu kết chương 1 23
CHƯƠNG 2 TIẾNG CƯỜI TỰ TRÀO TRONG THƠ NGUYỄN KHUYẾN 24 2.1 Tiếng cười tự tin thể hiện bản lĩnh 24
2.2 Tiếng cười phê phán bản thân ở chốn quan trường 29
2.2.1 Tiếng cười đối với bản thân 29
2.2.2 Gián tiếp phê phán chốn quan trường 35 2.3 Tiếng cười hóm hỉnh, tươi vui của một tâm hồn giàu cảm xúc yêu thương 38
Trang 52.3.1 Tiếng cười khi cá thể được giải thoát 38
2.3.2 Tiếng cười khi ở bên gia đình, bạn bè và làng xóm 41
Tiểu kết chương 2 45
CHƯƠNG 3: NGHỆ THUẬT BIỂU HIỆN TIẾNG CƯỜI TỰ TRÀO CỦA NGUYỄN KHUYẾN 46
3.1 Nghệ thuật xây dựng hình tượng thơ độc đáo 46
3.2 Ngôn ngữ và giọng điệu 48
3.2.1 Ngôn ngữ 48
3.2.2 Giọng điệu 50
3.3 Thủ pháp tự trào 54
3.3.1 Cách nói ngược nghĩa 54
3.3.2 Cường điệu phóng đại 55
Tiểu kết chương 3 56
PHẦN KẾT LUẬN 57
TÀI LIỆU THAM KHẢO 59
Trang 6Nguyễn Khuyến đã đóng góp nhiều thành công cho dòng thơ văn trào phúng Việt Nam Trong đó, thơ tự trào của ông chiếm vị trí quan trọng cả về
số lượng và giá trị nghệ thuật Có nhiều bài thơ mang ý vị tự trào vào loại hay
và tiêu biểu nhất trong văn học dân tộc Thơ tự trào là một trong những mảng thơ thể hiện rõ tâm trạng của nhà thơ một cách khá chân thực, vừa thể hiện ý thức cá nhân lại vừa mang ý nghĩa xã hội Qua những bài thơ tự trào, chúng ta
có thể cảm nhận được tiếng lòng của tác giả Như vậy không chỉ thơ trữ tình
có thể giúp nhà thơ bày tỏ tâm trạng, tình cảm mà chính mảng thơ tự trào cũng giúp nhà thơ bộc lộ cảm xúc, suy tư một cách rất hữu hiệu Để hiểu
thêm về vấn đề này, tôi xin chọn nghiên cứu đề tài: “Tiếng cười tự trào trong
thơ Nguyễn Khuyến”
2 Lịch sử nghiên cứu
Nguyễn Khuyến là một trong những cây đại thụ của văn học dân tộc Xuân
Diệu từng đánh giá: “Nguyễn Khuyến là một nhà thơ lớn có biệt tài và có giá trị
Trang 7Yên Đổ nhẹ nhàng mà sâu sắc Trải qua biết bao những thăng trầm lịch sử nhưng thơ văn của ông vẫn chiếm một vị trí quan trọng trong lòng người dân Việt Nam, đặc biệt là những độc giả yêu mến thơ trào phúng Vì vậy, có rất nhiều công trình nghiên cứu về sự nghiệp thơ văn của ông Trong số đó có rất nhiều tác giả đề cập đến mảng thơ tự trào
Trần Quốc Vượng khi viết về Tam Nguyên Yên Đổ có nhận xét: “Với nhiều
day dứt trong nội tâm, Nguyễn Khuyến đã giải tỏa mặc cảm bằng nhiều cách và ông đã trở thành một nhà thơ châm biếm lớn, cười mình, cười người Dùng tiếng cười châm biếm để phủ định, để đưa ma cái cũ” [21, tr.50]
Một trong những tác giả viết về Nguyễn Khuyến nhiều nhất phải kể đến đó
là nhà nghiên cứu Vũ Thanh Trong bài Tâm trạng Nguyễn Khuyến qua thơ tự
trào, nhà nghiên cứu đã chia thơ tự trào của Nguyễn Khuyến thành hai giọng
điệu trào phúng tiêu biểu thể hiện hai loại thái độ với bản thân: Thái độ tự tin
vào bản thân và từ nghi ngờ đi đến phủ định
Và theo nhà nghiên cứu thì “giá trị tư tưởng nghệ thuật lớn nhất ở đây là sự
phản ánh sâu sắc tâm trạng trữ tình của tác giả qua từng chặng đường đời, qua những cảnh ngộ của cuộc sống Những biến đổi của thời cuộc và sự trưởng thành nhận thức của nhà thơ, từ tin tưởng chờ mong đến gan lì chai sạn, từ tin tưởng lạc quan đến thất vọng đau khổ, từ khẳng định nhiệt tình đến hoàn toàn phủ định” [21, tr.267]
Cũng trong vấn đề nghiên cứu nói trên, nhà nghiên cứu Vũ Thanh đã viết:
“Thơ tự trào của Nguyễn Khuyến ta thấy những bước phát triển khá lí thú của
tâm trạng tác giả qua những chặng đường đời,… Trước khi về ở ẩn thơ tự trào Nguyễn Khuyến khác hẳn khi ông đã về Yên Đổ Nợ thật, nghèo thật nhưng khi nói đến điều đó chính là để chứng tỏ cái chí của mình, coi khinh vật chất tầm thường, quyết đạt được vinh quang trên con đường khoa cử Phần lớn tiếng cười
tự trào của giai đoạn này chưa thật sự sâu sắc, thâm túy Khi bước vào quan trường thì thơ tự trào đã có sự biến đổi khác hẳn là một giọng thơ ngang ngạnh
có vẻ như gàn dở (Tự trào) và tất cả như đượm một nỗi buồn triền miên đau khổ, thất vọng, dằn vặt, đó là nỗi buồn lớn lao, hơn hẳn cái buồn của anh khóa
Trang 8Thắng trước kia Nếu như trước kia Nguyễn Khuyến tự khẳng định mình thì đến bây giờ Nguyễn Khuyến phủ định mình, giễu cợt mình một cách chua chát (Vịnh Tiến sĩ giấy) Nguyễn Khuyến lên án bọn quan lại vô đạo, không biết chăm lo đến cuộc sống của nhân dân Tiếng cười ở đây không chỉ mang sắc thái mua vui, giải trí mà còn mang ý nghĩa sâu cay, thâm thúy (Ông phỗng đá) [12,
tr.263] Như vậy nhà nghiên cứu Vũ Thanh mới chỉ làm rõ tiếng cười trào phúng trong thơ Nguyễn Khuyến trước và sau khi về Yên Đổ mà chưa đưa ra một cách
cụ thể những cung bậc tiếng cười và những phương diện thể hiện tiếng cười trong thơ tự trào của Nguyễn Khuyến
Trong bài viết Nguyễn Khuyến – thi hào dân tộc của nhà nghiên cứu Vũ Thanh đã nói về điều này: “Nguyễn Khuyến lớn chính vì ông là một trong rất ít
những trí thức thời kì ấy sớm nhận ra được sự bất lực của giai cấp mình Ông đem
ra trào phúng và châm biếm thần tượng cao nhất của cả một thể chế xã hội đã tồn tại hàng ngàn năm – Ông tiến sĩ nay đã trở thành thứ đồ chơi bằng giấy để “dứ thằng cu”… Giá trị phê phán càng trở nên sâu sắc hơn khi bản thân sự phê phán lại chính là sự tự phê phán – tự trào Bởi trong số những “ông nghè tháng Tám” hết thời ấy có cả bản thân ông Tam Nguyên làng Yên Đổ” [21, tr.12]
Quả thực con người ta tự hài hước mình, tự bôi nhọ mình, tự hạ bệ mình và
nói như nhà nghiên cứu Vũ Thanh là “tự ăn thịt mình” thì thực là khó lắm Nhưng còn cay đắng hơn khi Nguyễn Khuyến nhận ra mình cũng là “một quan
nhọ, một tiến sĩ giấy, là bậc ăn dưng, lão già giả điếc,…” Nguyễn Khuyến là nhà thơ có những bài thơ tự trào vào loại sâu sắc nhất trong văn học Việt Nam - người giã từ thế kỉ XIX bằng những bài thơ cười ra nước mắt “Năm canh máu chảy đêm hè vắng” [21, tr.13]
Có lẽ nhà nghiên cứu Vũ Thanh là người có thể nói gần đây nhất, trực tiếp nhất đề cập đến mảng thơ tự trào của Nguyễn Khuyến và có những nhận định thật sâu sắc về những vần thơ này Tuy nhiên, bên cạnh đó cũng có một
số tác giả khi nghiên cứu về nhà thơ Nguyễn Khuyến đã ít nhiều đề cập đến mảng thơ tự trào
Trang 9Bài viết Sự đa dạng và thống nhất trên quá trình chuyển động của một
phong cách và dấu hiệu chuyển mình của tư duy thơ dân tộc của Nguyễn Huệ
Chi cũng có những nhận xét về con người Tam Nguyên Yên Đổ: “Con người
đó cũng không quên nhìn lại mình, tự vấn mình như một kẻ sỹ chân chính thầm để những giọt nước mắt chảy vào trong và đành cười nhạo thân phận nhơ nháo tỉnh say, say tỉnh của mình” [21, tr.55]
Và khi nói về nội dung thơ tự trào của Nguyễn Khuyến, Trần Quốc Vượng
đã nhận định: “Nguyễn Khuyến cáo quan về quê làm một cụ nghè sống cuộc đời
như phỗng đá, anh giả điếc, mù lòa, mẹ mốc, gái góa Sống như vậy dường như nhà thơ muốn chạy trốn cuộc đời, chạy trốn giai cấp” [1, tr.48]
Như vậy, nhìn một cách tổng thể cho đến bây giờ cũng đã có một số học giả cùng với các công trình nghiên cứu về thơ tự trào của Nguyễn Khuyến Do những mục đích nghiên cứu khác nhau nên các tác giả, các công trình nghiên cứu trên đã phần nào phản ánh những cung bậc, phương diện của tiếng cười tự trào trong thơ Nguyễn Khuyến Từ sự kế thừa, tiếp thu những phát hiện của các
học giả, tôi chọn vấn đề: “Tiếng cười tự trào trong thơ Nguyễn Khuyến” để
nghiên cứu làm rõ đặc điểm, sắc thái của tiếng cười trong mảng thơ tự trào với
hi vọng góp một phần nhỏ vào việc tìm hiểu nghiên cứu Nguyễn Khuyến – một nhà thơ lớn của văn học trung đại Việt Nam
3 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của khóa luận là những bài thơ tự trào của Nguyễn Khuyến Tiếng cười tự trào của Nguyễn Khuyến được thể hiện ở nhiều góc độ
và nhiều phương diện khác nhau
3.2 Phạm vi nghiên cứu
Thơ Nguyễn Khuyến có số lượng và nội dung phản ánh cuộc sống khá phong phú và sinh động Với thời gian, trình độ và khả năng nghiên cứu có hạn cho nên chúng tôi chỉ tập trung làm nổi bật tiếng cười tự trào qua những tác phẩm tiêu biểu trong cuốn Thơ văn Nguyễn Khuyến - Mã Giang Lân – NXB Giáo dục
Trang 104 Nhiệm vụ nghiên cứu
Nhiệm vụ của khóa luận là nghiên cứu một cách có hệ thống, toàn diện nội dung và nghệ thuật thơ tự trào của Nguyễn Khuyến để từ đó thấy được đặc điểm
và ý nghĩa của tiếng cười tự trào trong thơ của ông
5 Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện khóa luận này chúng tôi sử dụng một số phương pháp sau:
5.1 Phương pháp thống kê phân loại
Phương pháp này được sử dụng để thống kê phân loại cụ thể số lượng những bài thơ, câu thơ theo từng cấp độ, phương diện của tiếng cười tự trào, qua
đó rút ra được kết luận chính xác
5.2 Phương pháp phân tích tác phẩm văn học
Đây là phương pháp được sử dụng chủ yếu trong đề tài này Qua việc phân tích tác phẩm ta có thể thấy được nội dung tư tưởng và nghệ thuật độc đáo được gửi gắm trong mỗi tác phẩm, cũng như thấy được tài năng và trí tuệ uyên thâm
6 Đóng góp của khóa luận
- Tìm hiểu “Tiếng cười tự trào trong thơ Nguyễn Khuyến” để hiểu sâu hơn
về nội dung, tư tưởng, tình cảm mà tác giả muốn gửi gắm đến người đọc
- Thấy được những đóng góp to lớn của Nguyễn Khuyến trong thơ văn trào phúng Việt Nam cuối thế kỉ XIX – đầu thế kỉ XX, đặc biệt là mảng thơ tự trào
- Là tài liệu tham khảo cho học sinh, những người nghiên cứu, tìm hiểu
thơ văn Nguyễn Khuyến
Trang 117 Cấu trúc của khóa luận
Ngoài phần Mở đầu và phần Kết luận, khóa luận gồm ba chương:
Chương 1: Những vấn đề chung
Chương 2: Tiếng cười tự trào trong thơ Nguyễn Khuyến
Chương 3: Nghệ thuật biểu hiện tiếng cười tự trào của Nguyễn Khuyến
Trang 12PHẦN NỘI DUNG CHƯƠNG 1
NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG 1.1 Tác giả Nguyễn Khuyến
1.1.1 Cuộc đời và con người
Nguyễn Khuyến tên thật là Nguyễn Thắng, hiệu Quế Sơn (một ngọn núi
cao, đẹp trong huyện), tự là Miễn Chi (nghĩa là “Gắng lên”, do chữ “Khuyến” mà
ra) Ông sinh ngày 15-2-1835 (tức ngày 18 tháng Giêng năm Ất Mùi, Minh Mệnh thứ 16) tại quê mẹ ở làng Hoàng Xá, huyện Ý Yên, tỉnh Nam Định Lớn lên ông sống ở quê cha làng Yên Đổ, huyện Bình Lục, tỉnh Hà Nam Sau khi thi rớt khoá Hội năm 1865 ông mới đổi tên là Nguyễn Khuyến
Nguyễn Khuyến xuất thân từ một gia đình nhà nho nghèo, hai bên nội ngoại đều có truyền thống khoa bảng Bên nội quê gốc ở vùng Treo Vọt, huyện Can Lộc, Hà Tĩnh di cư ra Yên Đổ, cho đến đời nhà thơ đã được năm trăm năm Cha Nguyễn Khuyến là Nguyễn Liễn, vẫn theo đời Nho học, đỗ ba khoa tú tài, chuyên nghề dạy học Cụ Liễn là người thanh bạch, giản dị, trọng đạo lí, tính tình hào phóng Cuộc sống ấy, tính cách ấy của cụ có ảnh hưởng sâu sắc đến nhà thơ sau này Mẹ Nguyễn Khuyến là Trần Thị Thoan rất mực thương người, mọi việc nữ công gia tránh đều thông thạo Cả một đời bà chịu thương chịu khó phụng dưỡng bố mẹ chồng, chăm chỉ làm việc, có lúc phải bán cả tư trang, may thuê, vá mướn kiếm sống để khuyến khích và nuôi chồng, con ăn học, thi cử Lòng nhân ái bao la, gương đảm đang, chịu thương chịu khó của bà mẹ, đặc biệt là chí quyết tâm thúc đẩy con trai học tập thành tài đã tác động rất lớn đến anh khóa Thắng
Từ nhỏ Nguyễn Khuyến nổi tiếng là thông minh và chăm học, 12 tuổi đã thông thạo kinh sử Năm 15 tuổi đỗ đầu kì thi phúc khảo hàng tỉnh, nhưng chưa kịp thi Hương thì thân phụ mất phải ở nhà cư tang Gia cảnh từ đó sa sút dần Từ năm 1854 Nguyễn Khuyễn phải đi dạy học để lấy lương ăn Có lúc ông đã thấy chán nản đường khoa thi cử, định chuyển nghề dạy học hẳn để kiếm sống và nuôi gia đình thì được người bạn Vũ Văn Báo nhận chu cấp lương ăn và khuyên
Trang 13Xang (tức huyện Lý Nhân, tỉnh Hà Nam) Vì vậy đến khoa thi năm 1864, ông đỗ
cử nhân đầu trường Hà Nội Năm sau thi hội không đỗ ông ở lại Huế, học ở Quốc Tử Giám chờ khoa thi khác Năm Tân Mùi (1871), ông thi hội đỗ Hội Nguyên, rồi thi đình đỗ Đình Nguyên, khi đó ông 37 tuổi Vì đỗ đầu 3 khoa như thế nên người ta gọi ông là “Tam Nguyên Yên Đổ” Ngay trong năm 1871, Nguyễn Khuyến được bổ làm quan ở nội các Huế Năm 1973, làm Đốc học Thanh Hóa, rồi thăng nhanh lên Án Sát tỉnh ấy Năm 1874, mẹ ông mất tại tỉnh đường Thanh Hóa, ông xin nghỉ ba năm về quê chịu tang mẹ Mãn tang ông vào kinh nhận chức Biện lí bộ Hộ Năm 1877, ông làm bố chánh Quảng Ngãi Năm 1878, ông và các quan đầu tỉnh Quảng Ngãi bị triều đình triệt hồi Trong dịp này ông bị giáng phạt và điều về Sử quán Bốn năm năm làm Quản Tu ở Sử quán từ 1879 đến 1883, vẫn sống trong cảnh thanh bần, lại thêm đau yếu, ông
đã có tâm trạng chán ngán cảnh quan trường
Tháng 12 - 1883, quân Pháp đánh chiếm Sơn Tây Tổng đốc Sơn Tây lúc ấy
là Nguyễn Đình Nhuận không chống nổi, đã lên Hưng Hóa cùng Nguyễn Quang Bích lập căn cứ kháng chiến Lúc bấy giờ, Nguyễn Hữu Độ, Kinh lược sứ Bắc
Kỳ, nhân danh triều đình cử Nguyễn Khuyến làm Tổng đốc Sơn Tây Nhưng ông lấy cớ đau mắt nặng, không đi nhận chức và xin cáo quan luôn Mùa thu năm
1884 ông trở về Yên Đổ
Tiếng rằng làm quan với triều Nguyễn từ 1871 – 1884 song trong thời gian
ấy ông đã ở quê chịu tang mẹ ba năm Còn khoảng mười năm thì đến hai phần
ba thời gian ông chỉ làm học quan và sử quan Từ 1884 đến khi mất chỉ trừ một vài năm (khoảng 1891 – 1892) buộc phải lên Thái Hà ấp (Hà Nội) làm gia sư dạy con
cả Hoàng Cao Khải là Hoàng Mạnh Chi Gần hai mươi lăm năm ông sống ở Yên
Đổ trong cảnh thanh bần Ông khéo léo khước từ mọi thủ đoạn mua chuộc, chèo kéo của thực dân Pháp thông qua bọn tay sai, mời ông ra cộng tác với chúng Một phần tư thế kỉ về ở Yên Đổ này có ý nghĩa quyết định để nhà thơ trở thành bất tử, khi ông sáng tác nhiều và hay gấp nhiều lần một nửa thế kỉ trước đó
Ngày 5 - 2 - 1909 (Tức ngày 15 tháng Giêng năm Kỷ Dậu) ông qua đời tại làng Yên Đổ, thọ 75 tuổi
Trang 141.1.2 Sự nghiệp sáng tác
Nguyễn Khuyến sáng tác khá nhiều thơ văn bằng cả chữ Nôm và chữ Hán Số lượng tác phẩm của ông cho đến nay là hơn 800 bài và phần lớn được sáng tác sau lúc ông từ quan Thơ chữ Hán có Quế Sơn thi tập với khoảng 200 bài thơ và thơ chữ Nôm có khoảng 100 bài với nhiều thể loại khác nhau Trong bộ phận thơ Nôm, Nguyễn Khuyến vừa là nhà thơ trào phúng, vừa là nhà thơ trữ tình Còn trong thơ chữ Hán thì hầu hết là thơ trữ tình Có thể nói, trên cả hai lĩnh vực, Nguyễn Khuyến đều thành công
Nguyễn Khuyến ra làm quan giữa lúc nhà Nguyễn gần như sụp đổ, các phong trào đấu tranh yêu nước bị dập tắt, Nguyễn Khuyến bất lực vì không làm được gì để thay đổi thời cuộc và cũng không cam tâm làm tay sai cho Pháp nên ông xin cáo quan về ở ẩn Đây cũng là một trong những yếu tố có ảnh hưởng lớn, chi phối sự nghiệp sáng tác và nội dung thơ văn của ông Thơ văn Nguyễn Khuyến gồm ba nội dung cơ bản:
- Tấm lòng yêu nước thiết tha sâu nặng
- Thái độ phản kháng đối với xã hội thực dân nửa phong kiến
- Tình cảm của nhà thơ dành cho quê hương, gia đình, bạn bè, làng xóm Nguyễn Khuyến là một bậc đại Nho, được đào tạo theo khuôn mẫu đạo đức của Nho giáo Đối với ông, con người sinh ra ở đời sau khi học hành đỗ đạt phải ra làm quan để “thờ vua giúp nước” Nhưng nước ta lúc bấy giờ thực dân Pháp đang đánh chiếm, triều đình bạc nhược đã lần lượt đầu hàng giặc,
xã hội với những biểu hiện lố lăng kệch cỡm, mọi giá trị đạo đức bị đảo lộn, Trong bối cảnh như thế, Nguyễn Khuyến đã quyết định từ quan để giữ phẩm chất của mình nhưng trong lòng đầy chua xót:
Trang 15Năm canh máu chảy đêm hè vắng
Sáu khắc hồn tan bóng nguyệt mờ
Có phải tiếc xuân mà đứng gọi
Hay là nhớ nước vẫn nằm mơ
(Cuốc kêu cảm hứng)
Thực ra lấy tiếng kêu con chim cuốc để kí thác tâm tư thì văn học nước
ta không chỉ có Nguyễn Khuyến, nhưng cái nỗi đau quặn thắt, da diết như trong Cuốc kêu cảm hứng thì không ở đâu có nổi Chính Nguyễn Khuyến cũng là một con chim cuốc rỏ máu vì nỗi đau nước mất, tan đàn Và cho đến lúc sắp từ giã cuộc đời, ông vẫn nói:
Ơn vua chưa chút báo đền
Cúi trông hổ đất, ngửa lên thẹn trời
(Di chúc)
Xuất phát từ tấm lòng yêu nước sâu nặng, Nguyễn Khuyến thể hiện rõ thái độ phản kháng đối với xã hội thực dân nửa phong kiến bằng cách ông đã vạch trần tất cả những thói hư tật xấu của đủ mọi hạng người Trước hết là
đám nho sĩ, quan lại Ông gọi họ là “tiến sĩ giấy”, là “phỗng đá”, là “ anh hề
chèo” Ông đả kích thói rởm đời, lố lăng, thứ con đẻ của xã hội thực dân bằng
một thái độ châm biếm, tố cáo sâu sắc Ngòi bút đả kích của Nguyễn Khuyến
trở nên chua xót, cay đắng khi ông tả cảnh ngày Hội Tây:
Khen ai khéo vẽ trò vui thế
Vui thế bao nhiêu, nhục bấy nhiêu
Có thể nói, cũng như các nhà thơ thuộc khuynh hướng hiện thực tố cáo giai đoạn này, Nguyễn Khuyến đã bám vào hiện tượng cụ thể để đả kích Từng con người, từng hiện tượng và những sự việc lố lăng trong xã hội đều bị vạch trần và thể hiện rõ phong cách độc đáo của ông
Phần lớn cuộc đời Nguyễn Khuyến sống ở nông thôn, gắn bó thân thiết, sống chan hòa, sống nhiều với làng quê nên ông hiểu rất sâu sắc làng quê Việt Nam Các sáng tác của ông viết rất nhiều về con người, về thiên nhiên, cảnh vật ở nông thôn Đọc thơ Nguyễn Khuyến ta dễ dàng nhận thấy bức tranh
Trang 16làng quê thôn dã mộc mạc, thô sơ với đủ màu sắc Có thể nói nông thôn Việt Nam lần đầu tiên đã được Nguyễn Khuyến đưa vào trong văn học tạo nên những giá trị nhất định
Bức tranh cuộc sống với những lo toan tính toán của nhà nông được Nguyễn Khuyến miêu tả rất cụ thể:
Năm nay cày cấy vẫn chân thua
Chiêm mất đằng chiêm, mùa mất đằng mùa
(Chốn quê)
Tâm trạng vui vẻ của người nông dân vào những ngày tết được mùa cũng
được ông ghi lại:
Trong nhà rộn rịp gói bánh trưng
Ngoài cửa bi bô rủ chung thịt
(Cảnh tết)
Ông sống rất chan hoà với gia đình, bạn bè, làng xóm Những tình cảm tưởng chừng như bình thường ấy đã đi vào thơ Nguyễn Khuyến với một giá trị chân thật, đáng quý Cũng chính những tình cảm đó đã khiến cho tấm lòng nhà thơ thanh thản hơn bao giờ hết
Toàn bộ thơ văn Nguyễn Khuyến phản ánh chân thật cá tính và đời sống tâm hồn ông Có thể khẳng định cả về mặt trữ tình và trào phúng, thơ Nguyễn Khuyến đều thành công Ông là một nhà thơ lớn trên thi đàn văn học Việt Nam
Về mặt nghệ thuật, thơ văn Nguyễn Khuyến cũng có một vài đặc điểm cơ
bản sau:
Về thể loại, thơ văn Nguyễn Khuyến được viết theo nhiều thể: Thất ngôn bát cú, thất ngôn tứ tuyệt, ngũ ngôn, lục bát, song thất lục bát, ca trù, trường thiên, Nguyễn Khuyến dùng thể văn này hay thể văn khác là tùy theo yêu cầu của nội dung tư tưởng, của từng đề tài Khi tự trào ông hay dùng thể thơ thất ngôn bát cú Vì nội dung “tự thuật” có thể thích hợp với thể thơ đường luật Khi
viết những bài “Lời gái góa”, “Lời vợ người hát chèo”, “Khóc Dương Khuê”,
Nguyễn Khuyến lại dùng thơ trường thiên vì chỉ có thể thơ này mới cho phép ông nói hết được ý nghĩ, tình cảm của mình
Trang 17Nguyễn Khuyến có học vấn uyên thâm Ông có tài sử dụng ngôn ngữ
để xây dựng hình tượng nhưng các câu thơ vẫn đối nhau một cách nghiêm chỉnh đúng với yêu cầu của thể thơ Đường:
Tứ canh thoan liệt chân vi khổ,
Vạn thặng thô sơ thử diệc nan
(Vịnh Lương Vũ Đế)
Hay: Nghiêu Thuấn dĩ tiền vô Tửu cáo
Thương chu chi hậu hữu Tân Diên
(Tửu)
Nguyễn Khuyến là một nhà nho, tiếp xúc chủ yếu với nền Hán học nên cũng có sự ảnh hưởng của văn thơ chữ Hán Trong những sáng tác của mình, khi cần phải nói hết tư tưởng thì Nguyễn Khuyến chú trọng nội dung hơn là hình thức nghệ thuật Do đó ở thơ văn ông, bên cạnh những câu có chữ đối chữ chan chát, lại có những câu mà chữ với chữ không cần đối chọi nhau cho lắm Đây cũng là nét độc đáo của thơ văn Nguyễn Khuyến:
Tuyết hoa hữu ý tô dân mịch
Thạc thú hà cừu thực ngã miêu
(Miễn nông phu)
Nguyễn Khuyến không phải là một nhà văn viết theo cảm hứng, viết theo một chủ đề hay một đề tài đã được định sẵn nào đó mà ông chủ yếu viết về những đề tài tiêu biểu nhất Hơn nữa qua một số tác phẩm chữ Hán, có bài ông thể hiện niêm luật chặt chẽ, nghiêm chỉnh, có bài ông lại chú ý đến nội dung mà niêm luật không chặt chẽ mấy, điều đó chứng tỏ Nguyễn Khuyến đã có sự cân nhắc kĩ lưỡng trong việc sáng tác Có trường hợp ông muốn thể hiện được nội dung tư tưởng tình cảm nhiều hơn thì ông lại hướng về nội dung Điều này
chứng tỏ Nguyễn Khuyến chú trọng nội dung nhiều hơn hình thức
Về ngôn ngữ, Nguyễn Khuyến sáng tác cả chữ Hán và chữ Nôm nên ở mỗi loại khác nhau đều có những đặc điểm ngôn ngữ riêng Ở thơ chữ Hán phảng phất có vị thơ Đường Ngôn ngữ ở thơ chữ Hán xác thực, chính xác và hàm xúc Ở thơ chữ Nôm ngôn ngữ được tạo thành bởi các nhân tố: Ngôn ngữ
Trang 18văn học Việt Nam thế kỉ XVIII - XIX (ngôn ngữ Hồ Xuân Hương, Đoàn Thị Điểm, Nguyễn Du,…), ngôn ngữ của văn học dân gian (ca dao, tục ngữ), ngôn ngữ của nhân dân, Với sự tiếp thu những thành tựu của ngôn ngữ trước đó Nguyễn Khuyến đã làm cho ngôn ngữ của mình: Xác thực, gợi tả, hồn nhiên,
sáng sủa Ông có làm một bài thơ cùng tên với câu tục ngữ dân gian Nhất vợ nhì
trời để lý giải vì sao như vậy:
Trời dẫu yêu nhưng vì có phận
Vợ mà vụng dại đếch ăn ai
Cớ sao vợ lại hơn trời nhỉ?
Vợ chỉ hơn trời có cái chai!
Nguyễn Khuyến đã sử dụng các yếu tố ngôn ngữ của ca dao, tục ngữ một cách độc đáo, tinh tế:
Thiên hạ bao giờ cho hết đĩ
…Đĩ bao tử càng chơi càng lịch
Tha hồ khúc khích cho chị em cười
Người ba đấng của ba loài
Nếu những như ai thì đĩ mốc!
Đĩ mà có tận, có tán, có hương, có án, bàn độc
… Vợ bợm chồng quan đành phận đó
Để mai sau ngày giỗ có văn nôm
Cha đời con đĩ cầu nôm
(Đĩ cầu Nôm)
Những yếu tố của ca dao, tục ngữ làm cho thơ văn Nguyễn Khuyến gần gũi với người dân, qua đó thể hiện thái độ mỉa mai, châm biếm của nhà thơ đối với
những kẻ đi “làm đĩ”, kiếm tiền một cách không chính đáng
Ngôn ngữ thơ bao giờ cũng thể hiện tư tưởng tình cảm của chính tác giả và được tác giả chọn lọc rất tinh tế Nguyễn Khuyến đã chọn ngôn ngữ có tính xác thực gợi tả để thể hiện tư tưởng tình cảm của mình Đó là tình cảm chân thành, thắm thiết:
Trang 19Rượu ngon không có bạn hiền,
Không mua không phải không tiền không mua
Câu thơ nghĩ đắn đo không viết
Viết đưa ai, ai biết mà đưa
(Khóc Dương Khuê)
Về hình ảnh, Nguyễn Khuyến thường sử dụng những hình ảnh đơn sơ, khêu gợi thể hiện qua những chi tiết thật bình dị, sống động Hình ảnh hoa nở, trăng trôi, chiếc thuyền thấp thoáng, ngõ trúc quanh co, đóm lập lòe… đầy sức sống cùng với âm thanh của tiếng muỗi, tiếng dế, tiếng ngỗng, tiếng sóng vỗ
có giá trị làm cho các câu thơ tăng sức biểu cảm:
Bóng thuyền thấp thoáng vờn trên vách
Tiếng sóng long bong vỗ trước nhà
(Vịnh lụt)
Đặc biệt, màu sắc trong thơ ông có khả năng gợi tả cao: Màu xanh của nước, xanh của trời, xanh của ngọc, xanh của tre, màu sương chiều, màu sáng của trăng… đã tạo nên màu sắc đậm nhạt, mờ ảo:
Làn ao lóng lánh bóng trăng loe
(Thu ẩm)
Nguyễn Khuyến là bậc thầy trong việc sử dụng ngôn ngữ và hình ảnh, nhất là trong việc tả cảnh sắc thiên nhiên Ông đã có những cống hiến quan trọng làm cho ngôn ngữ đi sát với đời sống và ông đã thành công trong việc chuyển cái bình dị của đời thường thành thơ
1.2 Trào phúng và tự trào
1.2.1 Trào phúng
Theo Từ điển Hán Việt, “trào” tức là cười, giễu “phúng” là nói bóng gió
Vậy trào phúng là giễu cợt, nói bóng gió [4, tr.477]
Trào phúng là một loại đặc biệt của sáng tác văn học và đồng thời cũng là nguyên tắc phản ánh nghệ thuật trong đó các yếu tố của tiếng cười mỉa mai, châm biếm, phóng đại, khoa trương, hài hước được sử dụng để chế nhạo, chỉ chích, tố cáo, phản kháng… những tiêu cực, xấu xa, lỗi thời, độc ác trong xã hội
Trang 20Trong cuốn Từ điển thuật ngữ văn học các tác giả đã viết: “Trào phúng
theo nghĩa từ nguyên là dùng lời lẽ bóng bẩy, kín đáo để cười nhạo, mỉa mai kẻ khác, song trong lĩnh vực văn hoc, trào phúng gắn liền với phạm trù mĩ học cái hài với cung bậc hài hước, mỉa mai, châm biếm Văn học trào phúng bao hàm một lĩnh vực rộng lớn với những cung bậc hài hước khác nhau từ truyện cười, truyện tiếu lâm đến tiểu thuyết, từ các vở hài kịch cho đến những bài thơ trào phúng, châm biếm Đó là một khái niệm bao trùm lĩnh vực văn học của tiếng cười Do yêu cầu của thực tế đấu tranh xã hội mà từ trào phúng tách ra loại châm biếm như một vũ khí sắc bén, nhưng không nên đồng nhất loại này với trào phúng”
Cũng trong tài liệu trên, trong mục thơ trào phúng, các tác giả viết tiếp:
“Thể thơ thuộc loại trào phúng dùng tiếng cười để xây dựng tư tưởng, tình cảm
cho con người, chống lại cái xấu xa, lạc hậu, thoái hóa, rởm đời, hoặc để đả kích, vạch mặt kẻ thù, đánh vào những tư tưởng hành động nào là bản chất thù địch với con người”
Thơ trào phúng dùng tiếng cười đểvạch rõ sự mâu thuẫn giữa cái bên ngoài
và cái thực chất bên trong, để làm cho người đọc nhận thấy ý nghĩa mỉa mai, trào lộng của sự vật Vì vậy, thơ trào phúng thường sử dụng lối nói ví von, lối chơi chữ dí dỏm hay lời nói mát mẻ, sâu cay
Có thể chia thơ trào phúng ra làm hai: Thơ châm biếm và thơ đả kích Thơ châm biếm nhằm mục đích giáo dục xã hội, giáo dục con người bằng nụ cười nhẹ nhàng mà kín đáo, dí dỏm mà sâu sắc Nụ cười đó bao hàm cả việc phê phán lẫn tinh thần xây dựng Thơ đả kích nhằm lột mặt nạ kẻ thù, sát phạt kẻ thù bằng
nụ cười có sức công phá mãnh liệt
Trong bài viết Nghệ thuật trào phúng trong truyện ngắn của Nguyễn
Công Hoan, tác giả Lê Thị Đức Hạnh đã chia tiếng cười trào phúng ra làm ba
loại chính:
Loại thứ nhất thường dừng ở mức khôi hài
Loại thứ hai ở dạng mỉa mai, giễu cợt
Loại thứ ba thuộc loại châm biếm, tố cáo, lên án
Trang 21Như vậy, trào phúng có nghĩa là mượn lời nói bóng gió để tạo ra tiếng cười để kích thích người khác khiến họ nhìn ra vấn đề để tự đi đến hoàn thiện mình
Có thể chia thơ trào phúng theo ba cung bậc sau:
- Khôi hài: Tiếng cười hiền lành, vui đùa, thường là tự trào
- Châm biếm: Thường là chế giễu, giễu cợt với mục đích phê phán
- Đả kích: Lên án, tố cáo mạnh mẽ, đánh thẳng vào kẻ thù
Tự trào biểu hiện trên nhiều phương diện:
- Tự trào về diện mạo
- Tự trào về phẩm chất tính cách
- Tự trào về bản thân, gia đình, cuộc sống
Như vậy, đối tượng bị cười nhạo trong thơ tự trào chính là chủ thể Nói cách khác, đối tượng cười nhạo chính là tác giả Mỗi nhà thơ đều có nỗi niềm, những tâm sự riêng và những điều bất mãn về bản thân để từ đó tạo ra những vần thơ tự trào theo từng tâm trạng khác nhau, phủ định hay khẳng định Tiếng cười tự trào không chỉ để tự răn mình mà từ đó còn phê phán, lên án mạnh mẽ, vạch trần bản chất xấu xa của kẻ thù.Nhưng chung quy lại thơ tự trào để thổ lộ, giãi bày tâm sự, những điều bí bách trong lòng
Ở nước ta thời trung đại, không chỉ có Nguyễn Khuyến mà Cao Bá Quát,
Hồ Xuân Hương, Tú Xương… cũng có thơ tự trào Nhưng một trong những người làm thơ tự trào nhiều nhất và hay nhất phải kể đến là Tam Nguyên Yên
Đổ Nguyễn Khuyến Thơ tự trào của Nguyễn Khuyến có vị trí quan trọng không
Trang 22chỉ tạo nên thành công trong sự nghiệp sáng tác thơ của ông mà còn góp phần không nhỏ vào sự phát triển của dòng văn học trào phúng Việt Nam
1.3 Khảo sát, thống kê những bài thơ thuộc mảng tự trào của Nguyễn Khuyến 1.3.1 Thơ chữ Nôm
Số thứ tự Tác phẩm thơ chữ Nôm Tác phẩm có xuất hiện
tiếng cười tự trào
12 Lời gái góa
Trang 2324 Chơi chợ trời Hương Tích
25 Chơi núi Non Nước
Trang 2453 Tạ lại người cho hoa trà
Trang 2511 Xuân dạ liên nga
31 Giả sơn ngâm
Trang 2640 Oa cổ
41 Trung thu tiền nhất nhật, dữ huyện
doãn Dương quân, Nam bang Vũ quân, châu trung xướng ca
42 Trung thu vô nguyệt tam nhật hậu
Trang 271.3.3 Tổng số bài thơ có nội dung tự trào
Nội dung Tổng số bài thơ có nội
Qua khảo sát thống kê những bài thơ có chứa tiếng cười tự trào của
Nguyễn Khuyến, chúng tôi rút ra những nhận xét sau:
Tổng số bài thơ có chứa tiếng cười tự trào là 45 bài Thơ chữ Nôm có 27 bài thơ chiếm 42.1% trong tổng số 64 bài Thơ chữ Hán có 18 bài thơ chiếm 26.1% trong tổng số 69 bài Như vậy, số lượng bài thơ có chứa tiếng cười tự trào chiếm khá lớn, trong đó thơ chữ Nôm nhiều hơn thơ chữ Hán
Nguyễn Khuyến được coi là nhà thơ trào phúng chủ yếu căn cứ vào thơ chữ
Nôm của ông Còn thơ chữ Hán thì hầu hết là thơ trữ tình Thơ tự trào của Nguyễn Khuyến chứa đựng tiếng cười hóm hỉnh nhưng sâu cay, thâm thúy, thể hiện những nỗi niềm riêng, những tâm sự riêng của nhà thơ Ông làm thơ tự trào, tự cười chính bản thân mình để răn mình Mỗi bài thơ tự trào lại có những nét độc đáo riêng biệt cho thấy tài năng nghệ thuật của Nguyễn Khuyến
Trang 29CHƯƠNG 2 TIẾNG CƯỜI TỰ TRÀO TRONG THƠ
NGUYỄN KHUYẾN
Nguyễn Khuyến là một trong những nhà thơ kiệt xuất của thơ ca trào phúng Việt Nam, trong đó mảng thơ tự trào chiếm một vị trí không nhỏ Những bài thơ tự trào phản ánh sâu sắc và chân thực tâm trạng trữ tình của tác giả thông qua tiếng cười
ở từng chặng đường, qua những cảnh ngộ cuộc sống, những biến đổi thời cuộc Ở mảng thơ này ít tìm thấy giá trị phê phán, tố cáo xã hội nói chung mà chủ yếu là đời sống tâm hồn tác giả Hầu như nhà nho nào cũng có một vài bài thơ để tự trào, tự thuật, cười bản thân để tự răn mình Nguyễn Khuyến không nằm ngoài số đó
Theo số liệu thống kê, thơ tự trào của Nguyễn Khuyến chiếm số lượng khá lớn, 45 tác phẩm Đối tượng trào phúng của nhà thơ chính là chân dung của bản thân mình Nguyễn Khuyến đã dùng tiếng cười để chế giễu bản thân, từ hình dáng bên ngoài đến phẩm chất bên trong, từ bản thân đến cuộc sống gia đình… Mỗi bài thơ tự trào là những nỗi niềm, những tâm sự riêng và thậm chí còn có cả những điều bất mãn về bản thân của nhà thơ theo từng tâm trạng khác nhau, phủ định hay khẳng định Quy chung lại, thơ tự trào để thổ lộ, giãi bày tâm sự, những điều bí bách trong lòng của nhà thơ
2.1 Tiếng cười tự tin thể hiện bản lĩnh
Tuổi trẻ ai chẳng có những lí tưởng, khát vọng cho tương lai Nguyễn Công Trứ là người có ý thức sâu sắc về những phẩm chất, giá trị của mình với niềm tin tưởng mạnh mẽ:
Hữu kì đức ắt trời kia chẳng phụ
(Hàn nho phong vị phú)
Còn Cao Bá Quát lại khác, từ thuở còn chưa trắng nợ anh hùng đã tự tin bay bổng:
Nghiêng cánh nhạn tếch mái rừng Nhan, Khổng;
Chí xông pha nào quản chông gai
Tựa đôi hình toan vượt bể Trình, Chu;
Tài bay nhảy ngại chi lao khổ
(Tài tử đa cùng phú)
Trang 30Tương tự như Nguyễn Công Trứ, Cao Bá Quát, Nguyễn Khuyến khi còn
là anh khoá Thắng cũng có những khát vọng vươn tới đỉnh cao thành công, anh vẫn có những giấc mơ bay bổng:
Gặp hội rồng mây cao chót vót,
Đã lên lên bổng tít cao chừng
(Cá chép vượt đăng)
Ước mơ của tuổi trẻ luôn đẹp và trong sáng Khi ấy trong tim mỗi người luôn rạo rực, cháy bỏng khao khát được khẳng định bản thân với cuộc đời Tuy nhiên, trong cuộc sống không phải lúc nào ý chí cũng đủ vững vàng bước qua thất bại để đi tiếp Ban đầu lúc hỏng thi Tú Xương còn lạc quan, tự tin được nhưng rồi khoa sau vẫn hỏng thì đâm buồn, đã mặc cảm, buông xuôi:
Bụng buồn còn muốn nói năng chi
Đệ nhất buồn là cái hỏng thi
Một việc văn chương thôi cũng nhảm
Trăm năm thân thế có ra gì?
(Buồn hỏng thi)
Sống trong một bối cảnh tù hãm không lối thoát, gia đình nghèo khó, nợ nần chồng chất, Tú Xương luôn trong trạng thái căng thẳng, thụ động trước hoàn cảnh Ông đã thuật lại cho mọi người thấy một cách chân thật, trần trụi nhất tất
cả cái cảnh thê thảm của một cuộc đời thường, cảnh nghèo túng, sự quẫn bách:
Cái khó theo nhau mãi thế thôi
Có ai hay chỉ một mình tôi
Bạc đâu ra miệng mà mong được
Tiền chửa vào tay đã hết rồi
Van nợ lắm phen trào nước mắt
Chạy ăn từng bữa mướt mồ hôi
(Than nghèo)
Nếu như Tú Xương cay cú và thiếu tự tin bao nhiêu vì những lần thi trượt thì anh khoá Thắng trái lại Với anh dẫu cho:
Bốn khoa hương thí không đâu cả,
Một mảnh vườn hoang bán sạch rồi
Trang 31Nhưng anh vẫn là một anh khóa “tầm cỡ”, “văn chương lừng vũ trụ”
Trên bước đường công danh Nguyễn Khuyến cũng gặp nhiều trắc trở, lao đao Ông thi hương rớt liên tiếp bốn khoa: 1852, 1855, 1858, 1861 đến năm 1864 mới đỗ cử nhân Tuy đỗ đầu thi Hương nhưng vào thi Hội ông lại trượt liên tiếp
ba khoa Đến năm 1871 ông mới đỗ thi Hội, thi Đình Bởi vậy, con đường khoa
cử cũng ảnh hưởng ít nhiều tới nội dung thơ ông
Những đấng nam nhi thời xưa họ thường đặt công danh lên đầu, mong muốn đỗ đạt làm quan để được phục vụ đất nước Cao Bá Quát quan niệm:
Trượng phu sinh bất năng phi can chiết hạm vị thế phù cương thường Tọa thị đương đạo kiêu sài lang,
Bạch đầu trú cẩm ô cố hương
Phụ bất năng thuẫn tỵ ma mặc, phi hịch
(Tống Nguyễn Trúc Khê xuất ly Thường Tín, kiêm trí Lê Hy Vĩnh lão khế)
Đối với Cao Bá Quát, cuộc đời có ý nghĩa phải là một cuộc đời hoạt động sôi nổi, có cống hiến cho dân, cho nước, chứ không chỉ tìm chốn an nhàn Nguyễn Khuyến cũng vậy, ông khao khát được cống hiến và phục vụ nhân dân
Vì vậy, dù hoàn cảnh khó khăn ông vẫn không từ bỏ lý tưởng, từ bỏ con đường khoa bảng Dù hỏng thi, dù có phải bán cả gia tài cuối cùng chỉ là mảnh vườn hoang ông vẫn lạc quan, tự tin vào bản thân Nếu như Tú Xương nao núng trước cảnh nghèo thì Nguyễn Khuyến luôn tự tin làm chủ cuộc sống Với ông nợ nần, hỏng thi là lẽ bình thường, ông vẫn nuôi trong mình ý chí:
Quyết chí phen này trang trải sạch
Cho đời rõ mặt cái thằng tao
(Than nợ)
Chỉ có cái “thằng tao” “quyết chí” và đầy sức mạnh đối diện với cái “nợ
đời” tầm thường vô nghĩa Nợ thật, nghèo thật, nhưng Nguyễn Khuyến không
hề chán nản, bỏ cuộc Nhà thơ nói lên điều đó chính là để chứng tỏ cái chí của mình, coi khinh vật chất tầm thường, quyết đạt được vinh quang trên con đường khoa cử Bằng sự tự tin, tin vào tài năng của mình, tin vào cuộc đời cùng bản
Trang 32lĩnh mạnh mẽ, Nguyễn Khuyến vượt qua mọi khó khăn để thả hồn với niềm hi vọng tươi sáng và lớn lao
Có thể nói sự tự tin luôn tồn tại trong nhà thơ và nó không bị mất đi theo năm tháng Trải qua nhiều sóng gió, khó khăn trên đường đời, răng đã rụng, tóc
đã bạc nhưng tâm hồn nhà thơ vẫn rất khoẻ Ông vẫn tự tin khẳng định mình vẫn còn sung sức lắm:
Quyên đã gọi hè quang quác quác
Gà từng gáy sáng tẻ tè te Lại còn giục giã về hay ở Đôi gót phong trần vẫn khoẻ khoe
(Về hay ở)
Từ những câu thơ trên có thể thấy tác giả là một con người khá lạc quan với tiếng cười tự tin vào bản thân Cho dù tuổi đã già nhưng tấm lòng muốn cống hiến cho non sông đất nước, dân tộc thì dường như còn khoẻ lắm Nhà thơ nghĩ rằng sự cống hiến của mình từ trước đến giờ vẫn còn chưa đủ, vẫn chưa thoả lòng cho nên dù tuổi đã cao, đã đến lúc phải nghỉ ngơi nhưng nhà thơ vẫn
“chửa dám già” Hay vì đất nước còn gian truân, nhân dân còn đói khổ, một tấm
lòng vì dân, vì nước như nhà thơ sao đành lòng đứng yên? Cũng vì lý tưởng
“trung quân ái quốc”, hết mình cống hiến cho nhân dân nên tiếng cười của nhà
thơ là sự chứng tỏ niềm tin, sự khát khao cống hiến
Tuổi cao, người ta thường mặc cảm với bản thân mình, không còn sự tự tin bay bổng của tuổi trẻ nữa mà tự mình cho mình là vô dụng, xấu xí Nhà thơ Nguyễn Trãi
khi “ngoại ngũ tuần” đã viết về mình thật đáng thương với tướng “lù khù”, lưng
“gầy”, da “sỉ”:
Vừa sáu mươi dư tám chín thu
Lưng gầy da sỉ, tướng lù khù
(Thơ Nôm, số 15)
Còn Nguyễn Khuyến cũng chừng tuổi ấy nhưng lại rất vô tư trẻ trung, ông viết về mình rất lạc quan:
Trang 33Một năm một tuổi trời cho tớ Tuổi tớ trời cho tớ lại càng…
(Khai bút)
Mỗi năm tết đến, thêm một mùa xuân là thêm một tuổi, nhưng nhà thơ dường như không chú ý đến sự trôi chảy của thời gian, ông vẫn đón xuân trong không khí vui tươi, nhộn nhịp, những âm thanh quen thuộc với tiếng trống làng, tiếng pháo nổ hòa cùng không khí đón năm mới trong ngày đầu xuân:
Ình ịch đêm qua trống các làng
Ai ai mà chẳng đón xuân sang Rượu ngon nhắp giọng đưa vài chén, Bút mới xô tay thử một hàng
(Khai bút) Theo tập quán thường lệ, nam giới đến tuổi 55 là vào hội các bô lão
Nguyễn Khuyến giật mình chẳng hay mình năm nay cũng đã đến tuổi “lên
lão”, đến “bậc ăn dưng”:
Ông chẳng hay ông đã tuổi già
Năm lăm ông cũng lão đây mà…
Bây giờ đến bậc ăn dưng nhỉ
Có rượu thời ông chống gậy ra
(Lên lão)
Với Nguyễn Khuyến, thời gian không làm già đi tinh thần, ý chí, nghị lực,
mà ngược lại nó mang đến cho ông những trải nghiệm mới đầy thú vị Có lẽ cái
sự già ấy là già về ý chí, về khát khao được cống hiến của nhà thơ Với tiếng cười trẻ trung, lạc quan và trong sáng, Nguyễn Khuyến nhìn cuộc đời đầy tươi đẹp, ý nghĩa Mặc dù bạn đến chơi nhà trong gia cảnh nghèo khó, túng thiếu, cái
gì cũng không có nhưng giọng cười đùa vui hóm hỉnh của ông vẫn sôi nổi, chan chứa ân tình, vẫn khẳng định được tình bạn chân thành, thắm thiết:
Đã bấy lâu nay bác tới nhà,
Trẻ thời đi vắng chợ thời xa
Ao sâu nước cả khôn chài cá
Trang 34Vườn rộng, rào thưa, khó đuổi gà
Cải chửa ra cây, cà mới nụ
Bầu vừa rụng rốn, mướp đương hoa
Đầu trò tiếp khách, trầu không có
Bác đến chơi đây ta với ta!
(Bạn đến chơi nhà)
Phảng phất trong “Bạn đến chơi nhà” có những điểm tương tự như
“Khách chí” của thi nhân Đỗ Phủ Thi nhân đời Đường đã mượn cái nghèo của
mình để nêu bật tình bạn cao đẹp:
Mâm cơm vì chợ xa nên thiếu món ăn
Rượu vì nhà nghèo chỉ có thứ củ chưa lọc
Ta hãy cùng ông lão bên hàng xóm đối ẩm
Qua hàng rào hết rượu sẽ lấy thêm
(Khách chí)
Tiếng cười tự tin, yêu đời được Nguyễn Khuyến thể hiện trong nhiều sáng tác của mình Bằng tiếng cười này, nhà thơ đã tự động viên mình vượt qua những thử thách cuộc sống Sự tự tin của thời trai trẻ không hề mất đi cho dù thi trượt, nghèo khó, nợ nần hay tuổi già Qua tiếng cười tự tin đó, nhà thơ đã khẳng định mình, khẳng định phẩm chất, năng lực, quyết tâm của mình muốn vượt lên trên hoàn cảnh khắc nghiệt của cuộc sống từ lúc mới bước vào đời cho đến lúc mãn chiều xế bóng Con người nhà thơ hiện lên đầy tự tin, lạc quan, giàu sức trẻ, trong sáng và ấm áp tình người Đọc những bài thơ này ta thêm yêu mến, kính trọng nhà thơ, một con người tài giỏi, đầy nghị lực trong cuộc sống
2.2 Tiếng cười phê phán bản thân ở chốn quan trường
2.2.1 Tiếng cười đối với bản thân
Nguyễn Khuyến là một người có lòng yêu nước, một nhà nho chân chính Nhưng khi giấc mộng khoa bảng thành công, Nguyễn Khuyến đối mặt với hiện thực thì lại tận mắt chứng kiến sự lụi tàn của Nho học, sự nhu nhược của triều đình phong kiến, Nguyến Khuyến đã thất vọng hoàn toàn Ông nhận ra
hệ tư tưởng Nho học được cả xã hội tôn thờ nay không còn nữa, hay chính bản thân ông cũng trở thành vô nghĩa Việc ông lui về ở ẩn cũng không làm quên đi khát vọng, lí tưởng Nho học một thời Chính vì vậy trong thơ Nguyễn
Trang 35Khuyến, bên cạnh tiếng cười tự tin, khẳng định, đã xuất hiện hàng loạt tiếng cười đau đớn, xót xa, cười ra nước mắt, tiếng cười nhạo báng chính mình:
Nếu như trước kia nhà thơ đã từng làm tới quan tổng đốc thì nay thay vào
đó là một ông già giả câm, giả điếc với thái độ lãnh đạm với thiên hạ:
Trong thiên hạ có anh giả điếc
Khéo ngơ ngơ, ngác ngác, ngỡ là ngây
(Anh giả điếc)
Thay cho ý thức “trí quân, trạch dân” là một thái độ:
Đắp tai ngoảnh mặt làm ngơ
Rằng khôn cũng kệ rằng khờ cũng thây
(Mẹ Mốc)
Quả thực đó là một nỗi đau khổ, thất vọng, dằn vặt của một con người
muốn cống hiến hết sức mình nhưng nhưng trước hiện thực “đau đớn lòng” đành phải trở thành “anh giả điếc” Nỗi đau ấy của nhà thơ là một nỗi đau sâu
sắc, cái anh giả điếc ấy cũng khiến cho người đời khâm phục với tấm lòng
cao cả: “thà chết trong còn hơn sống đục”
Cùng với sự suy sụp của nền chính trị, Nguyễn Khuyến nhận ra hệ tư tưởng Nho học trước hoàn cảnh hiện tại đã không còn phát huy được sức mạnh
kinh bang tế thế như cha ông trước kia:
Việc xưa ngẫm nghĩ lại càng buồn ghê Sống theo học cũ có ích gì?
Trang 36Nhưng Nguyễn Khuyến đặc biệt hơn các bạn cùng thời Nhà thơ đã từng làm đến quan tổng đốc, được xã hội dành cho những tôn vinh nhưng thứ tôn vinh ấy hoá
ra cũng là ảo tưởng Tự giễu cợt mình, tự nhạo báng mình cũng chính là tác giả đã giễu cợt cả một tầng lớp đại diện cho một xã hội đã hết thời Quả thực ở góc độ này, chúng ta thấy Nguyễn Khuyến là một trong những người sớm nhận ra bản chất thật của tầng lớp mình Cùng với việc phê phán triều đình phong kiến, chấp nhận Nho học đã suy tàn, ông đã nhìn thấy sự vô nghĩa của bản thân, của giai cấp phong kiến trước những yêu cầu mới của lịch sử Chính những điều đó đã trở thành một bi kịch
cứ dai dẳng trong lòng nhà thơ:
Nghĩ mình cũng gớm cho mình nhỉ Thế cũng bia xanh cũng bảng vàng (Tự trào)
Sự nhìn nhận, phủ định bản thân trong câu thơ là sự phản tỉnh hiện thực sắc nét và rõ ràng nhất Vì ông là một người được triều đình trọng vọng và ban tặng nhiều danh lộc
Nguyễn Khuyến cáo quan về ở ẩn Đây không phải là một cuộc trốn chạy,
mà là sự thoái lui để chờ cơ hội, vì ông hiểu rất rõ triều đình nhà Nguyễn hiện tại đã mất hết khả năng bảo vệ, chống đỡ đất nước Tâm tư này được gửi gắm trong nhiều bài thơ:
Tựa gối ôm cần lâu chẳng được,
Cá đâu đớp động dưới chân bèo
(Thu điếu)
Thật đáng tiếc Nguyễn Khuyến có lòng nhưng bị hiện thực chối bỏ:
Sông Châu ta lại nhớ ta,
Chỗ ngồi câu đó đã hoa rụng đầy
(Kí Châu giang Bùi Ân Niên)
Bởi Nguyễn Khuyến là một người có khát khao, có lí tưởng, luôn yêu đời, tự tin vào bản thân mình nên mặc dù về quê ở ẩn, ông vẫn day dứt tiếc nuối,
vì chưa thoả khát vọng thời trai trẻ:
Ba phần tóc bạc càng thêm tủi
Một tấm lòng son vẫn còn thừa
(Lão Thái)
Trang 37Cờ đương dở cuộc không còn nước,
Bạc chửa canh thâu đã chạy làng
(Tự trào)
Trước sang say lại nằm khoèo,
Những toan xỏ dép mà chèo non xanh
(Xuân nhật III)
Và ông cảm thấy hổ thẹn với cổ nhân:
Nhân hứng cũng vừa toan cất bút,
Nghĩ ra lại thẹn với ông Đào
(Thu vịnh)
Ông Đào ở đây là Đào Tiềm, một nhà thơ nổi tiếng của Trung Quốc đời Tấn Ông nổi tiếng vì thơ hay là một lẽ, lẽ khác còn nổi tiếng vì việc sau một năm làm quan ở Bành Trạch đã rũ áo từ quan bởi không chịu vì ba đấu thóc mà phải cúi lưng Nguyễn Khuyến soi mình trước cổ nhân mà thấy sự cáo quan của mình không được hiên ngang như người xưa Ông tự thấy thẹn là bởi tâm hồn ông đang mang nặng nỗi u hoài, bởi ông chưa thực sự hài lòng về mình Ông cáo quan
về ở ẩn là vì bất lực trước vận nước Tâm sự ấy vừa đáng thương, vừa đáng trọng Khi trở về quê ngoài việc lấy thơ điền viên làm niềm vui, khuây khỏa để thoát khỏi nỗi đau tinh thần, Nguyễn Khuyến còn có một chí thú nữa là uống rượu giải sầu để quên đi nỗi buồn về thế thái nhân tình Một loạt hình ảnh triền miên say suốt hiện lên trong các tác phẩm:
Nhập nhèm bốn mắt tranh mờ tỏ
Khấp khếnh ba chân dở tỉnh say
(Than già)
Được thua hơn kém lưng hầu rượu,
Hay dở khen chê một trận cười
(Ngẫu hứng)
Cho nên say, say khướt cả ngày
Say mà chẳng biết say ngã đùng
(Uống rượu vườn Bùi)
Trang 38Một hình ảnh tha hoá về tâm hồn, lệch lạc về hình thể trái ngược với phong cách nhà thơ Đó là sự lẩn tránh lương tri của mình Nhưng càng lẩn tránh thì nỗi đau càng trỗi dậy Một mình nhà thơ uống rượu để giải sầu nhưng đã uống đến say nhòe mà nỗi sầu muộn đâu có vơi Càng say càng tỉnh, càng thấm thía nỗi lòng u uất Say đâu vì rượu, mà vì cảnh đất nước chìm nổi loạn li
Tuý ông chẳng say vì rượu,
Say vì đâu nước thẳm non cao
(Uống rượu vườn Bùi)
Say đâu vì muốn chìm vào hành lạc tầm thường, nếu không say thì chỉ nhận
ra sự tồn tại vô nghĩa của cuộc đời:
Thế gian say đã được chưa,
Không say đời cũng bằng thừa kể chi
(Tuý ngâm)
Mặc cảm về sự vô trách nhiệm đối với đất nước luôn là điều trở đi trở
lại trong lòng Nguyễn Khuyến Trong một loạt bài thơ về “Ông phỗng đá” Nguyễn Khuyến đã kín đáo lên án loại người “ngây ngây dại dại”, “lạnh
lùng vô cảm” trước nỗi đau dân tộc:
Ông đứng làm chi đó hỡi ông
Trơ trơ như đá, vững như đồng
Đêm ngày gìn giữ cho ai đó?
Non nước đầy vơi có biết không?
(Ông phỗng đá)
Nhưng quay đi quay lại, ông phỗng đá đáng trách ấy hoá ra lại chính là cụ Tam Nguyên:
Đi về cõi hoá có ngày
Biết đâu lão đấy, ta đây một người
(Úy Thạch lão nhân)
Rõ ràng đối tượng trào phúng của nhà thơ chính là bản thân mình và cái cười của ông là cái cười tâm trạng Nguyễn Khuyến trách lão đá và cũng tự trách mình rằng trong hoàn cảnh bon chen của thời cuộc lúc ấy ông không thể giúp gì
Trang 39cho đất nước, cho nhân dân Nguyễn Khuyến không dừng lại ở đấy, ông còn tự bỡn cợt một cách chua chát hơn, ông lấy lời của người trong tiệc khuyên ông phỗng đá đừng lấy mối lo về trách nhiệm đối với giang sơn, xã tắc, hãy cứ lăn vào cuộc vui chơi cho thoả sức:
Thôi cũng đừng nghĩ chuyện đâu đâu
Túi vũ trụ mặc đàn sau gánh vác
(Ông phỗng đá 2)
Chỉ bấy nhiêu dòng thơ mà mang theo bao nhiêu lớp nghĩa Vừa là một lời chê trách, phủ định lối sống hành lạc tầm thường, lại vừa là sự thừa nhận đắng cay rằng mình cũng chẳng đứng cao hơn sự tầm thường được mấy nỗi Vừa dùng ngôn từ của chính những kẻ đang cố tình mời mọc mình đến với họ, vừa là những lời tự bạch, tự mỉa mai, tự hài hước với bản thân mình
Khi cáo quan về quê, gia cảnh nghèo khó, có người đi ăn cỗ đem về tặng Nguyễn Khuyến một miếng thịt Trước tình thế đó Nguyễn Khuyến đã tâm sự
rất thành thật:
Không ăn cái bụng đói meo,
Ăn vào, cái nhục mang theo bên người
Không ăn mình phải còm còi
Ăn vào, mang tiếng con người bê tha
(Nhân tặng nhục)
Sau những đắn đo ông đã nhận, nhận vì lòng chân thành của người đem tặng, nhận vì không muốn đi nhờ cậy kẻ khác:
Âu đành nhận lấy còn hơn,
Kẻo đi cửa khác van lơn cũng rầy
Chuyện trò chốc lát cũng khuây
Gió thanh đâu bỗng rung cây trúc già
(Nhân tặng nhục)
Xưa kia các bậc quân tử thường được ví với hình ảnh cây trúc Ở câu thơ
Gió thanh đâu bỗng rung cây trúc già Nguyễn Khuyến muốn khẳng định mình
là một quân tử không nhuốm bụi đời, làm quan mà không tham, về hưu gia cảnh
Trang 40nghèo nhưng không hèn, việc nhận thịt không phải vì nhu cầu tầm thường mà vì tình thân giữa hai người hàng xóm với nhau
Trong bài Tiểu thán nhà thơ cũng bộc lộ một tâm sự chua chát như thế:
Trải mấy phong sương luống nửa đầu Quan già nay được trở về hưu
Đường đời nay lại nhiều gian hiểm Cuộc lợi hòng chi ít oán thù
Nịnh bạn phẩy râu, rồi tráo trở, Nhịn người nhổ mặt, vẫn lo âu
Nguyễn Khuyến đã tự cười chính bản thân mình, than thở cho mình, tự chế giễu mình, chế giễu cái khoa bảng của mình, chế giễu cái tuổi già của mình Tiếng cười đó không phải để đùa vui mà là để phê phán, để tố cáo hiện thực xã hội Chính vì thế, sắc thái đẫm nét nhất trong tiếng cười của Nguyễn Khuyến đó
là cái cười tâm trạng, cười ra nước mắt, cười với giọng nhẹ nhàng mà không kém phần chua cay Từ đó thể hiện rõ phong cách độc đáo của ông
2.2.2 Gián tiếp phê phán chốn quan trường
Nguyễn Khuyến từng làm quan nên đã thấy rõ hiện thực quan trường và thế giới khoa bảng nói chung là đổ nát và thảm hại, bọn quan tham hãm hại, chà đạp
lẫn nhau “cá ăn cá”, “tre ăn tre”:
Lòng tham không chán, cá ăn cá
Cùng giống tranh nhau, tre trói tre
(Độc thán)
Ngòi bút của ông đã vạch trần nhiều mặt xấu xa thối nát của bọn quan lại, nào là bất tài, vô dụng, dốt nát…Vua quan sống sung sướng, bắt dân phục vụ mình, đến khi dân lâm vào cảnh khó khăn thì lại bạc nhược:
… “ Thần không dân, lấy cóc ai thờ!
Không mưa sao cứ hững hờ,
Để dân đói khổ biết nhờ cậy ai?
“ Này dân hỡi! lại đây ta nhủ:
Mưa hay không ta không biết đâu!
Việc ta ăn uống hàng đầu”
(Đảo vũ)