Và trong những sáng tác của mình, thì Nguyễn Khuyến cũng như Trần Tế Xương đều sử dụng yếu tố tự thuật như một phương tiện, một cách thức để họ thể hiện sự trải nghiệm về cuộc đời của bả
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC QUẢNG BÌNH KHOA KHOA HỌC XÃ HỘI
- -
CAO THỊ DIỆU THÚY
TỰ THUẬT TRONG THƠ NGUYỄN KHUYẾN, TRẦN TẾ XƯƠNG
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
NGÀNH: SƯ PHẠM NGỮ VĂN
Hệ đào tạo: Chính quy Khóa học: 2013 - 2017
ĐỒNG HỚI, NĂM 2017
Trang 2L ờ i c ả m ơ n
Trước hết tôi xin được bày tỏ lòng biết ơn chân thành và sâu sắc đến quý thầy cô giáo trường Đại học Quảng Bình đã tận tâm dạy dỗ, truyền đạt cho tôi những kiến thức quý báu trong suốt bốn năm ngồi trên ghế giảng đường
Tôi cũng xin được gửi lời cảm ơn đến quý thầy cô giáo trong khoa Khoa học Xã hội đã giúp đỡ, tạo điều kiện thuận lợi để tôi hoàn thành khóa luận này Đặc biệt tôi xin tỏ lòng biết ơn đến thầy giáo Lương Hồng Văn đã tận tình hướng dẫn tôi trong suốt quá trình nghiên cứu và hoàn thành khóa luận
Xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến Trung tâm học liệu Trường Đại học Quảng Bình đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi về nguồn tài liệu tham khảo Cảm ơn gia đình cũng như bạn bè, người thân đã luôn bên cạnh, động viên, khích lệ tôi trong suốt khóa học và trong suốt thời gian nghiên cứu và hoàn thành khóa luận tốt nghiệp
Trong quá trình thực hiện khóa luận, do điều kiện thời gian và năng lực còn hạn chế nên chắc chắn không tránh khỏi những thiếu sót, kính mong nhận được sự quan tâm góp ý của thầy cô và các bạn để khóa luận được hoàn thiện hơn
Chân thành cảm ơn !
Qu ả ng Bình, tháng 5 n ă m 2017 Tác gi ả
Cao Th ị Di ệ u Thúy
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu do chính tôi thực hiện dưới sự hướng dẫn của thầy giáo Lương Hồng Văn Các tài liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn là trung thực
Tôi xin chịu trách nhiệm hoàn toàn về nội dung khoa học của công trình này
Tác giả khóa luận
Cao Thị Diệu Thúy
Trang 4MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Lí do chọn đề tài 1
2 Lịch sử vấn đề 2
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 6
4 Phương pháp nghiên cứu 6
5 Đóng góp của khóa luận 7
6 Cấu trúc khóa luận 8
NỘI DUNG 9
CHƯƠNG I: TỰ THUẬT VÀ YẾU TỐ TỰ THUẬT TRONG THƠ CA CỦA NGUYỄN KHUYẾN, TRẦN TẾ XƯƠNG TRONG DÒNG CHẢY CỦA VĂN HỌC TRUNG ĐẠI VIỆT NAM 9
I.1 Tự thuật 9
I.2 Yếu tố tự thuật trong văn học trung đại Việt Nam 9
I.3 Yếu tố tự thuật trong thơ Nguyễn Khuyến, Trần Tế Xương dưới góc nhìn của lịch sử, văn hóa và xã hội Việt Nam nửa cuối thế kỷ XIX 11
CHƯƠNG II: HÌNH TƯỢNG NHÂN VẬT TRỮ TÌNH TRONG THƠ TỰ THUẬT CỦA NGUYỄN KHUYẾN VÀ TRẦN TẾ XƯƠNG 17
II.1 Nhân vật trữ tình trong thơ tự thuật của Nguyễn Khuyến, Trần Tế Xương 17
II.2 Các dạng thức nhân vật trữ tình trong thơ tự thuật của Nguyễn Khuyến 19
II.2.1 Hình tượng con người đời thường 20
II.2.2 Hình tượng con người trầm tư 25
II.3 Các dạng thức nhân vật trữ tình trong thơ tự thuật của Trần Tế Xương 33
II.3.1 Hình tượng con người thị tài 34
II.3.2 Hình tượng con người tự trào 38
CHƯƠNG III: BIỂU HIỆN CỦA YẾU TỐ TỰ THUẬT TRONG THƠ NGUYỄN KHUYẾN, TRẦN TẾ XƯƠNG 45
III.1 Giọng điệu 45
III.1.1 Giọng tâm tình 46
III.1.2 Giọng tự trào 50
III.1.3 Giọng cảm thương 54
Trang 5III.2 Một số biểu hiện khác của yếu tố tự thuật trong thơ Nguyễn Khuyến, Trần Tế
Xương 58
III.2.1.Yếu tố tự thuật biểu hiện qua nhan đề 58
III.2.2 Yếu tố tự thuật gắn liền với các sự kiện trong cuộc đời của mỗi nhà thơ 58
III.2.3 Yếu tố tự thuật biểu hiện qua cách dùng đại từ nhân xưng, trợ từ và lớp từ vựng khẩu ngữ 59
III.2.4 Yếu tố tự thuật biểu hiện qua các hình ảnh biểu trưng cho cái tôi tự thuật 62
III.3 Yếu tố tự thuật trong thơ Nguyễn Khuyến và Trần Tế Xương từ cái nhìn đối sánh 63
KẾT LUẬN 68
TÀI LIỆU THAM KHẢO 70
PHẦN PHỤ LỤC 72
Trang 6MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
Nguyễn Khuyến (1835-1909) và Trần Tế Xương (1870-1907) là hai nhà thơ ở cuối thế kỷ XIX nhưng họ vẫn còn viết cho đến những năm đầu thế kỷ XX - trên chặng đường chuyển tiếp giữa hai thời kỳ văn học: từ trung đại sang hiện đại Nếu
Nguyễn Khuyến là “nhà thơ mà tác phẩm có sự phong phú về cung bậc và giọng điệu,
và cũng là người mở đầu cho trường thơ không còn bị chi phối quá chặt chẽ trong các quan niệm công thức, ước lệ của văn học cổ truyền” [4, tr 7], thì Trần Tế Xương là
“nhà thơ chuyển tiếp từ nền văn học có tính chất thuần phong kiến sang nền văn học
bước đầu có tính chất thành thị theo lối tư bản chủ nghĩa Ông đem đến cho nền văn học dân tộc những bức ký họa đầu tiên về đời sống đa dạng, chân thực, cụ thể và chi
tiết.” [21, tr 434]
Nguyễn Khuyến và Trần Tế Xương là một trong những đại biểu lớn nhất và cuối cùng của văn học trung đại Việt Nam, họ là những người đã chứng kiến những bước thăng trầm bi thương của lịch sử dân tộc: tận mắt chứng kiến sự thất bại của triều đình nhà Nguyễn và các phong trào yêu nước trước một kẻ thù phương Tây hoàn toàn xa lạ
và hiện đại, và cũng chính họ là những người nhận thấy một cách đau xót nhất sự sụp
đổ của một hệ tư tưởng phong kiến đã lỗi thời, cũng như bất lực đến hài hước cho tầng lớp trí thức phong kiến đại diện cho hệ tư tưởng ấy trước thực tế lịch sử dân tộc Vì thế, cuộc đời và tác phẩm của họ mang nhiều tâm sự sâu sắc, quy tụ được nhiều vấn đề
xã hội và có một số yếu tố đổi mới của thơ ca Việt Nam trong giai đoạn chuyển mình
từ trung đại sang hiện đại
Và trong nền văn học trung đại Việt Nam thì ít có tác giả tự kể chuyện về đời mình, tự lấy cuộc sống của mình làm chất liệu cho những sáng tác thơ ca, điều đó gắn liền với ý thức giấu kín cái tôi cá nhân của người Việt xưa Nhưng cùng với quá trình đổi mới của văn học theo hướng thoát ly những lề lối phong kiến cũ mà khuynh hướng
tự thuật đang dần trở thành một khuynh hướng chủ yếu trong sáng tác thơ ca ở giai đoạn cuối thế kỷ XIX Và trong những sáng tác của mình, thì Nguyễn Khuyến cũng như Trần Tế Xương đều sử dụng yếu tố tự thuật như một phương tiện, một cách thức
để họ thể hiện sự trải nghiệm về cuộc đời của bản thân, đồng thời nó còn nhằm mục đích để giải phóng những sự bí bách, kìm hãm và giới hạn của cá nhân tác giả cũng như thời đại Tự thuật mặc dù không phải là đặc tính riêng trong các sáng tác của
Trang 7Nguyễn Khuyến và Trần Tế Xương, nhưng đây là một trong những nét ưu trội nhất tạo nên phong cách riêng của hai tác giả
Là những người học văn, yêu văn, khi đọc tác phẩm của Nguyễn Khuyến và Trần
Tế Xương đặc biệt là những vần thơ tự thuật, chúng tôi có một ấn tượng sâu sắc về phong cách độc đáo của mỗi nhà thơ được in dấu trên từng trang viết Với mong muốn được tìm hiểu sâu sắc hơn về yếu tố tự thuật và hiệu quả của nó trong việc góp phần làm nên giá trị cho văn chương của Nguyễn Khuyến và Trần Tế Xương mà chúng tôi
quyết định lựa chọn và thực hiện đề tài: Tự thuật trong thơ Nguyễn Khuyến, Trần Tế
Xương với hy vọng nó sẽ góp thêm một cái nhìn mới, một hướng tiếp cận mới với các
sáng tác của hai nhà thơ trên đồng thời tự trang bị, bồi dưỡng và nâng cao kiến thức cho bản thân trên con đường giảng dạy sau này
2.1 Về các tài liệu nghiên cứu thơ Nguyễn Khuyến
Thơ Nguyễn Khuyến đã được giới thiệu trên báo chí từ những năm 20 của thế kỷ
XX, đầu tiên là trên tạp chí Nam Phong, nhưng chủ yếu là phần thơ Nôm và cũng chưa thật đầy đủ Nhà nghiên cứu Dương Quảng Hàm trong Quốc văn trích diễm [8] đã giới
thiệu 7 bài thơ Nôm của cụ Tam Nguyên Yên Đổ
Đến năm 1959, trong Nguyễn Khuyến – nhà thơ Việt Nam kiệt xuất [27], nhà
nghiên cứu Văn Tân tìm hiểu một cách khá toàn diện về cuộc đời và sự nghiệp văn chương của Tam Nguyên Yên Đổ nhưng chưa có gì mới Một cái mốc quan trọng
trong giai đoạn nghiên cứu về Nguyễn Khuyến là sự ra đời của cuốn Thơ văn Nguyễn
Khuyến [20] Với một khối lượng thơ chữ Hán và thơ chữ Nôm tương đối lớn được
sưu tầm và giới thiệu, tập sách đã giúp cho việc nhìn nhận, đánh giá Nguyễn Khuyến
được đầy đủ hơn, bên cạnh “Nguyễn Khuyến – nhà thơ trào phúng xuất sắc” còn có
“Nguyễn Khuyến – nhà thơ trữ tình” và một “Nguyễn Khuyến – nhà thơ yêu nước”
Trang 8Nguyễn Khuyến được nghiên cứu một cách đầy đủ và toàn diện nhất là trong dịp
kỷ niệm 150 năm ngày sinh của nhà thơ (1835-1985) Trên cơ sở của một nguồn tư
liệu khá phong phú từ cuốn Nguyễn Khuyến - tác phẩm do Nguyễn Văn Huyền sưu tầm, biên dịch, giới thiệu thì cuốn sách Thi hào Nguyễn Khuyến - đời và thơ [4] ra đời
là sự thể hiện những thành tựu đáng ghi nhận trong việc nghiên cứu Nguyễn Khuyến của toàn bộ giới nghiên cứu Phần quan trọng nhất của tập sách là những bài viết tìm tòi bản sắc, phong cách thơ Yên Đổ, lý giải thỏa đáng những biến đổi trong quan điểm thẩm mĩ, trong tư duy nghệ thuật của nhà thơ Vấn đề xuất xử trước cuộc đời, những bi kịch diễn ra trong tâm trạng nhà thơ, cái nhìn nghệ thuật về con người, nghệ thuật trào phúng, trữ tình, tả thực, tài chơi chữ trong thơ văn Nguyễn Khuyến đều được đề cập
một cách thấu đáo Gần đây, Nguyễn Khuyến - về tác gia và tác phẩm [30] cũng đã
được ra mắt bạn đọc, từ những điểm hình dung và lăng kính quan sát khác nhau, các nhà nghiên cứu đã phát hiện thêm nhiều phương diện mới mẻ, góp phần khẳng định vị
trí Nguyễn Khuyến là: “nhà thơ làng cảnh Việt Nam”, “nhà thơ trào phúng xuất sắc”,
“nhà thơ trữ tình lớn của văn học Việt Nam cuối thế kỷ XIX”
Về nghiên cứu yếu tố tự thuật trong thơ Nguyễn Khuyến thì GS Nguyễn Lộc và
GS Đặng Thanh Lê đều có ý kiến cho rằng, những bài thơ viết về bản thân nhà thơ, những bài thơ có đề tài tự thuật, tự họa đều xuất phát từ những tâm sự riêng tây của tác
giả, đậm chất tự thuật và thể hiện rõ phong cách Nguyễn Khuyến “Nguyễn Khuyến
viết khá nhiều về mình, khi thì viết có tính chất trữ tình, khi thì viết có tính chất trào phúng Nhưng dù trào phúng hay trữ tình, nói chung đều buồn“ [13, tr 744], “Một loạt những bài thơ tự thuật hoặc gửi bạn bè, con cái là những bài thơ nổi tiếng được ưa thích của Nguyễn Khuyến Và những câu thơ hay thường là những câu thơ có giá trị như những bức tranh tự họa hóm hỉnh, sâu sắc của “ông già” Nguyễn Khuyến” [4, tr
121]
2.2 Về các tài liệu nghiên cứu thơ Trần Tế Xương
Công trình phê bình văn chương và thân thế Trần Tế Xương lần đầu tiên được
giới thiệu tương đối công phu, hệ thống khá đầy đủ là tập sách Trông dòng sông Vị của
Trần Thanh Mại [15] Bên cạnh việc đánh giá cao các giá trị nội dung và nghệ thuật thơ Tế Xương, Trần Thanh Mại cũng đã chỉ ra những phương diện hạn chế của đề tài cũng như là phạm vi đời sống hiện thực
Trang 9Việc nghiên cứu thơ Tế Xương chỉ thực sự phát triển mạnh cả về số lượng lẫn chất lượng kể từ sau năm 1954 Vấn đề thơ văn Tế Xương càng được nhấn mạnh hơn khi các nhà nghiên cứu và giảng dạy văn học thuộc nhóm Lê Quý Đôn đã xác định ông
là một tác gia văn học lớn, là “nhà thơ trào phúng có biệt tài”, “vận dụng ngôn ngữ
dân tộc một cách tài tình” [19] Tại miền Nam, Nguyễn Sỹ Tế đặc biệt đánh giá cao
thơ Tế Xương, là nhà thơ “đã ghi công đầu trong nền thi ca trào phúng của nước nhà” [29] Nhà nghiên cứu Văn Tân trong Văn học trào phúng Việt Nam từ thế kỷ XVIII đến
1958 [28] đã đặt Tế Xương trong dòng mạch thơ ca trào phúng của dân tộc, bên cạnh
nhiều đại biểu ưu tú khác như Hồ Xuân Hương, Nguyễn Khuyến, Tú Mỡ, Đồ Phồn
Vào những năm 60 của thế kỷ XX, công trình văn bản Tú Xương - con người và thơ
văn [16] được ra đời, với khả năng cảm nhận tinh tế của mình, các trang viết của Văn
Tân đã góp phần làm sáng rõ thêm các giá trị nghệ thuật trong thơ Tế Xương
Sang giai đoạn từ 1975 đến nay, tiến trình nghiên cứu thơ Tế Xương tiếp tục phát
triển, thể hiện sự đổi mới rõ nét Nhà văn Nguyễn Tuân trong Chuyện nghề [32] đã góp thêm hai mục bài Giọng cười trong tiếng nói Tú Xương và Hiện thực và trữ tình
trong thơ Tú Xương Nhờ bao quát được đầy đủ các nguồn tư liệu nên Nguyễn Đình
Chú đã đính chính và bổ sung thêm nhiều chi tiết có ý nghĩa, ông quan tâm lý giải cội
nguồn “gốc rễ trữ tình” và tài năng của bậc “thần thơ thánh chữ” [11] Trong Thi pháp
thơ Tú Xương [12], nhờ vận dụng các phạm trù và cách tiếp cận của thi pháp học hiện
đại, tác giả Hồ Giang Long đã nêu lên những nhận xét khá mới mẻ và chắc chắn về quan niệm con người, về không gian, giọng điệu trong thơ Tế Xương Tập sách đã đem lại một góc nhìn mới, nêu ra một số nhận định mới, bổ sung và giúp chúng ta hiểu
sâu hơn nhiều điều những người đi trước đã đánh giá về ông Gần đây, Trần Tế
Xương - về tác gia và tác phẩm [26] cũng đã được ra mắt bạn đọc, công trình đã tập
hợp các bài viết của nhiều nhà nghiên cứu, giảng dạy văn học thuộc nhiều thế hệ, đã khám phá, phát hiện thêm nhiều giá trị mới mẻ, góp phần khẳng định vị trí của nhà thơ
Tế Xương như một đại biểu xuất sắc của làng thơ trào phúng Việt Nam
Về yếu tố tự thuật trong thơ Tế Xương thì ở miền Bắc, nhà nghiên cứu Đỗ Đức
Hiểu có ý kiến cho rằng: “Trong một số bài tự thuật, Tế Xương tự giễu hoặc khoác lác
một cách tình tứ [ ] Trong một số bài thơ về tự thuật, ta thấy qua tiếng cười là nỗi lòng tủi cực, oán trách xót xa” [26, tr 168-170] Và theo ông thơ tự thuật của Tế
Xương có bài viết theo bút pháp trữ tình và có bài viết theo bút pháp tự trào Còn ở
Trang 10miền Nam, nhà nghiên cứu Thạch Trung Giã phân loại thơ Trần Tế Xương theo bốn
loại: “Tầng thứ nhất gồm những bài trào phúng, tầng thứ hai là những bài ưu thời,
tầng thứ ba là những bài triết lý, tầng thứ tư là những bài thơ tự thuật [ ] Nhưng cả
ba loại đó (trào phúng, ưu thời, triết lý) phải bắt đầu bằng loại tự thuật, nhờ loại này chúng ta thấy rõ thân phận tác giả với giai cấp tác giả [ ] Loại tự trào chỉ là một trường hợp của loại này” [26, tr 79-80] Như vậy, Thạch Trung Giã cũng xếp tự trào
vào trong thơ tự thuật
Đánh giá về thơ Tế Xương, GS Nguyễn Lộc nhận xét: “Tú Xương có những bài
viết về mình, về cuộc sống, tâm tư, tình cảm của mình Ở đây cái tôi của nhà thơ thể hiện rất rõ” [13, tr 778] “Ngoài chủ đề phản ánh cuộc sống, phản ánh sinh hoạt, Tú Xương còn có một bộ phận sáng tác viết về bản thân mình Ở đây yếu tố trữ tình và yếu tố trào phúng thường đan chéo vào nhau” [21, tr 435] Nhà nghiên cứu Trần Đình
Sử nhấn mạnh phương diện ý thức cá nhân và tiếng cười giải thoát trong thơ Trần Tế
Xương: “Nhà thơ đã dùng tiếng cười tự trào để giải thoát cho mình, tự khẳng định
nhân cách mình, tạo thành một thế cân bằng mới Tú Xương đi ngược lại truyền thống thơ ngôn chí, là thơ làm ra để tự khẳng định cái chí hướng, lý tưởng của mình Ở thời
Tú Xương, cái chí cũ đã mất thiêng mà cái chí mới chưa rõ” [26, tr 415] Trong Thơ
Tú Xương với kiểu tự trào thị dân, tác giả Đoàn Hồng Nguyên đã phân tích và làm rõ
đặc trưng trong kiểu tự trào của thơ Tế Xương: “Trong cảm thức thị dân, bằng lối tự
trào, tự vịnh, Tú Xương đã tạo nên một kiểu nhà nho thị dân, một kiểu trữ tình trào phúng thị dân” [26, tr 425] Tác giả đã so sánh sự khác biệt của hai phong cách tự trào
trong thơ Nguyễn Khuyến và Trần Tế Xương: “Nếu kiểu tự trào của Nguyễn Khuyến
là kiểu tự trào ngôn chí, [ ] kiểu tự trào vẫn mang tính chất giáo hóa, phi ngã hóa, chưa thoát ra khỏi quy phạm của văn chương nhà nho” [26, tr 420] thì kiểu tự trào của
Tế Xương “lại mang đậm tính chất thị dân” [26, tr 425], đây là một trong những “yếu
tố quyết định làm nên tính bất quy phạm, tạo nên sắc thái hiện đại trong văn chương nhà nho của Tế Xương qua kiểu tự trào” [26, tr 425] so với thơ của các nhà nho trung
đại
Như vậy, vấn đề về yếu tố tự thuật trong thơ Nguyễn Khuyến và Trần Tế Xương
dù có lúc không gọi ra đích danh thuật ngữ, nhưng các khía cạnh của yếu tố tự thuật trong thơ của hai tác giả đã được các nhà phê bình, nghiên cứu văn học quan tâm từ lâu qua việc dẫn chứng và giới thiệu thơ, qua các công trình nghiên cứu về tác giả, về
Trang 11lịch sử văn học Nhưng do tính chất của từng phạm vi đối tượng nghiên cứu, các khía cạnh tự thuật trong các tác phẩm của hai nhà thơ trên chỉ được quan tâm từ phía nội dung khách thể phản ánh trong tác phẩm
Tóm lại, các nhà nghiên cứu văn học Việt Nam đã có sự chủ ý để tìm hiểu, nghiên cứu đến yếu tố tự thuật trong thơ Nguyễn Khuyến và Trần Tế Xương Mặc dù
đó mới chỉ là những ý kiến đánh giá, nhận xét chung chung, nhưng nó đã thực sự trở thành nguồn tài liệu gợi mở rất quý giá giúp chúng tôi có thể kế thừa và khai triển một
số vấn đề về yếu tố tự thuật trong thơ Nguyễn Khuyến, Tế Xương Và có thể khẳng định, vấn đề nghiên cứu yếu tố tự thuật trong thơ Nguyễn Khuyến, Trần Tế Xương là một việc làm mới Đề tài của khóa luận đặt ra vấn đề tìm hiểu về các phương diện
cũng như cách thức biểu hiện của yếu tố “Tự thuật trong thơ Nguyễn Khuyến, Trần Tế
Xương” trong yêu cầu đổi mới quan niệm thẩm mĩ, quan niệm nghệ thuật về con người
và phương thức phản ánh hiện thực đời sống của văn học trung đại Việt Nam nửa cuối thế kỷ XIX Từ đó, đánh giá đúng những đóng góp quan trọng của Nguyễn Khuyến,
Tế Xương trong tiến trình vận động của thơ ca ở giai đoạn chuyển tiếp từ trung đại sang hiện đại
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Tự thuật trong thơ Nguyễn Khuyến và Trần Tế Xương
3.2 Phạm vi nghiên cứu
Về tư liệu thơ Nguyễn Khuyến, chúng tôi chủ yếu dựa vào tác phẩm Nguyễn
Khuyến - tác phẩm (Nguyễn Văn Huyền sưu tầm, biên dịch và giới thiệu) [10] có tổng
số 353 bài (86 bài thơ chữ Nôm và 267 bài thơ chữ Hán)
Về tư liệu thơ Trần Tế Xương, chúng tôi chủ yếu dựa vào tác phẩm Tú Xương -
tác phẩm và giai thoại (Nguyễn Văn Huyền chủ biên – Nguyễn Đình Chú giới thiệu)
[11] với 130 bài thơ chữ Nôm
Ngoài ra, để phục vụ cho việc nghiên cứu và hoàn thiện đề tài, chúng tôi còn sử dụng một số bài thơ, câu thơ của Nguyễn Đình Chiểu, Nguyễn Quang Bích, Phan Đình Phùng, Nguyễn Công Trứ, Dương Khuê, Nguyễn Trãi, Nguyễn Du để so sánh, đối chiếu và làm rõ vấn đề
4 Phương pháp nghiên cứu
Trang 12Trong quá trình thực hiện đề tài, chúng tôi sử dụng ba nhóm phương pháp nghiên cứu chính sau:
4.1 Phương pháp thống kê; so sánh
Phương pháp thống kê là phương pháp quan trọng đầu tiên chúng tôi vận dụng để
xử lý đề tài: thống kê, mô tả số lượng các bài thơ có yếu tố tự thuật trong thơ Nguyễn Khuyến và Tế Xương; thống kê và mô tả số lượng các bài thơ có yếu tố tự thuật trong thơ của một số tác giả tiêu biểu văn học Việt Nam thế kỷ XIX Cùng với phương pháp thống kê, trong quá trình phân tích, lý giải vấn đề, chúng tôi sử dụng phương pháp so sánh để so sánh, đối chiếu yếu tố tự thuật biểu hiện trong thơ Nguyễn Khuyến, Trần Tế Xương với nhau và với các nhà thơ cùng thời khác để từ đó làm nổi bật được những nét độc đáo trong thơ tự thuật của mỗi nhà thơ
4.2 Phương pháp phân tích; tổng hợp
Vận dụng phương pháp này, chúng tôi sẽ phân tích văn bản thơ; phân tích và tổng hợp các vấn đề liên quan đến yếu tố tự thuật trong phạm vi nội dung đề tài Qua
đó, chúng tôi có thể khái quát một cách hệ thống các bình diện nghiên cứu
4.3 Phương pháp thi pháp học; văn hóa học
Sử dụng phương pháp thi pháp học, chúng tôi nghiên cứu văn bản thơ trên hai bình diện cơ bản: quan niệm về con người trong thơ trữ tình trung đại (trong tương quan với cái tôi trữ tình - tự thuật của nhà thơ) và giọng điệu trong thơ tự thuật của Nguyễn Khuyến, Trần Tế Xương
Chúng tôi vận dụng phương pháp văn hóa học để đặt các yếu tố tự thuật trong thơ của hai tác giả vào môi trường văn hóa Việt Nam những năm nửa cuối thế kỷ XIX đến đầu thế kỷ XX nhằm lý giải, đánh giá những đóng góp của thơ tự thuật Nguyễn Khuyến, Tế Xương trong tiến trình vận động và phát triển của văn học dân tộc từ phạm trù trung đại sang hiện đại
5 Đóng góp của khóa luận
Khóa luận sẽ góp phần làm rõ vai trò của yếu tố tự thuật trong thơ Nguyễn Khuyến, Tế Xương với tư cách là một trong những phương diện đổi mới quan điểm thẩm mĩ, phương thức trữ tình và phương thức phản ánh đời sống của thơ ca Việt Nam giai đoạn cuối thế kỷ XIX Nêu bật được những đóng góp của thơ tự thuật Nguyễn Khuyến, Trần Tế Xương trong tiến trình vận động, chuyển mình của thơ ca trung đại Việt Nam cuối thế kỷ XIX sang những năm đầu thế kỷ XX ở sự xuất hiện con người
Trang 13cá nhân qua cái tôi trữ tình - tự thuật cùng những đặc trưng riêng trong phong cách thể hiện ở mảng thơ tự thuật của hai tác giả này Đồng thời việc nghiên cứu này sẽ giúp chúng ta nhận thấy được hình tượng dấu ấn của tác giả được in đậm ở trong thơ Từ đó khẳng định vị trí, vai trò của thơ Nguyễn Khuyến, Tế Xương trong quá trình vận động của thơ ca Việt Nam từ phạm trù trung đại sang phạm trù hiện đại
6 Cấu trúc khóa luận
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo và Phụ lục thì phần Nội
dung của khóa luận gồm ba chương:
Chương I: Tự thuật và yếu tố tự thuật trong thơ ca của Nguyễn Khuyến, Trần Tế Xương trong dòng chảy của văn học trung đại Việt Nam
Chương II: Hình tượng nhân vật trữ tình trong thơ tự thuật của Nguyễn Khuyến
và Trần Tế Xương
Chương III: Biểu hiện của yếu tố tự thuật trong thơ Nguyễn Khuyến, Trần Tế Xương
Trang 14NỘI DUNG CHƯƠNG I: TỰ THUẬT VÀ YẾU TỐ TỰ THUẬT TRONG THƠ CA CỦA NGUYỄN KHUYẾN, TRẦN TẾ XƯƠNG TRONG DÒNG CHẢY
CỦA VĂN HỌC TRUNG ĐẠI VIỆT NAM I.1 Tự thuật
Tự thuật là một đặc trưng của sáng tác văn học, bởi sáng tác văn học bao giờ cũng là một nhu cầu nội tại hóa bản thân, và chủ thể sáng tác luôn có nhu cầu để giải phóng những ẩn ức từ đó hướng đến sự chia sẻ thế giới nội tâm cùng độc giả Và nghiễm nhiên tự thuật sẽ trở thành một kênh giao tiếp tích cực giữa chủ thể sáng tạo với chủ thể tiếp nhận
Theo Từ điển tri thức văn hóa (Dictionary of Culturual Literacy) thì tự thuật là
“Một tác phẩm văn học viết về chính cuộc đời nhà văn” (E.D.Hirsch) Hoặc rõ ràng hơn, theo M.H.Abrams định nghĩa “Tự thuật là tiểu sử được một người viết về chính
bản thân anh ta hoặc cô ta” Tuy nhiên, định nghĩa của Abrams khá rộng cho cả
những người không phải là nhà văn, mà ở đây chúng ta chỉ giới hạn nội hàm khái niệm
là sáng tác của các nhà văn mà thôi Ở một tầm khái quát hơn, Philippe Lejeune - nhà
lí luận của thể loại này, trong cuốn Tự thuật ở Pháp (1971), đã định nghĩa tự thuật chính là “Truyện kể mang tính chất nhìn lại dĩ vãng, mà một người có thật viết về cuộc
sống của mình, khi người đó chú trọng đến đời sống riêng, nhất là sự hình thành nhân cách”
Trong cuốn Từ điển thuật ngữ văn học thì các tác giả cũng đã chỉ ra rằng tự thuật
là “yêu cầu trình bày một cách súc tích những sự kiện đã xảy ra trong cuộc đời nhà
văn […] Tự thuật đòi hỏi người viết phải hết sức tôn trọng tính xác thực của các sự kiện” [9, tr 330]
Với những khái niệm “tự thuật” như trên thì ta có thể hiểu nội hàm khái niệm tự thuật tức là kể về bản thân mình, hoặc là ghi lại những chuyện về gia đình, về bạn bè
và về xã hội nơi bản thân đang sống, đang chứng kiến và tham gia… Những cách tự thuật này phải liên quan và gắn bó hữu cơ với bản thân người tự thuật: tác giả - nhà thơ, tự kể về chuyện mình, chuyện người qua điểm nhìn của “cái tôi tự thuật”
I.2 Yếu tố tự thuật trong văn học trung đại Việt Nam
Thời trung đại Việt Nam không phải là “đêm trường trung cổ” như quan niệm của các sử gia Châu Âu, mà là thời đại phát triển rực rỡ của dân tộc Đây là thời kỳ mà
Trang 15hầu hết các truyền thống quý báu của dân tộc đều được hình thành Văn học, ngôn ngữ
đã phát triển và đạt tới đỉnh cao; tâm hồn Việt Nam, nhân cách Việt Nam được khẳng định và được biểu hiện thành văn Bởi vậy mà chúng ta khó có thể hiểu được văn hóa, con người Việt Nam hiện đại nếu như không nghiên cứu kỹ lưỡng thời kỳ văn học này Văn thơ trung đại Việt Nam là một nền văn học gắn liền với một giai đoạn cực kỳ quan trọng trong lịch sử đất nước – giai đoạn nhà nước phong kiến Việt Nam được xác lập, đạt tới sự cực thịnh rồi chuyển dần tới chỗ suy vi Thơ ca giai đoạn này được phát triển trong môi trường xã hội phong kiến với ý thức hệ Nho giáo và lực lượng sáng tác chủ yếu là tầng lớp trí thức - những người có trình độ cao lúc bấy giờ Thơ ca trung đại tồn tại và phát triển trong suốt mười thế kỷ nhưng không bao giờ tách rời khỏi cảm hứng yêu nước, cảm hứng nhân đạo, thế sự
Có thể nói nền thơ ca trung đại Việt Nam giai đoạn cuối thế kỷ XIX phát triển trong sự suy thoái của chế độ xã hội phong kiến kèm theo đó là sự sụt giảm vị trí của Nho giáo trong xã hội nên các tác phẩm thơ của những tầng lớp trí thức phong kiến mang nhiều tâm sự sâu sắc, chất chứa nỗi niềm bất lực nhiều hơn, bởi vậy mà các vần thơ tự thuật dần được ra đời, nó phản ánh rõ đời sống tâm hồn cùng với những biến cố trong cuộc đời của mỗi người cũng như những chuyển vần của lịch sử xã hội Việt Nam ở thế kỷ XIX Yếu tố tự thuật trong thơ trung đại được xem như là phương thức
“trữ tình bằng cách thuật kể nỗi lòng mình, cảm xúc, chí hướng của mình” [24, tr 483]
Theo chúng tôi, nội hàm yếu tố tự thuật trong thơ ca trung đại Việt Nam được thể hiện
ở hai phương diện chủ yếu sau:
Thứ nhất, yếu tố tự thuật trong thơ trung đại Việt Nam biểu hiện ở phạm vi đề tài
sáng tác, “hầu như nhà thơ, nhà Nho nào cũng có một vài bài để tự trào, tự thuật” [4,
tr 121] và đề tài này thường thể hiện ở nhan đề bài thơ như: Tự thuật, Tự thán, Tự
vịnh, Mạn thuật, Thuật hoài, Cảm hoài, Tự tình, Tự trào,… Chẳng hạn, Thuật hoài
(Phạm Ngũ Lão), Cảm hoài (Đặng Dung), Mạn thuật (Nguyễn Mộng Tuân), các bài thơ Mạn thuật và Thuật hứng của Nguyễn Trãi trong Quốc âm thi tập, một số bài Tự
thuật (Thơ Nôm) của Lê Thánh Tông, Tự thuật (Nguyễn Bỉnh Khiêm), Tự tình I-II-III
Trang 16hành của Nguyễn Du, Dương phụ hành của Cao Bá Quát…) Có thể nói mỗi biến cố,
mỗi thăng trầm mà nhà thơ đi qua đều để lại dấu ấn trên từng trang thơ
Như vậy, nhìn chung thì yếu tố tự thuật trong giai đoạn văn học trung đại được biểu hiện khá phong phú, nó trở thành phương thức sáng tác mới cho thơ ca của các nho sĩ, đem đến cho văn chương lúc bấy giờ một diện mạo mới khởi sắc hơn
I.3 Yếu tố tự thuật trong thơ Nguyễn Khuyến, Trần Tế Xương dưới góc nhìn của lịch sử, văn hóa và xã hội Việt Nam nửa cuối thế kỷ XIX
Văn học Việt Nam giai đoạn nửa cuối thế kỷ XIX, về lịch sử thì nó được bắt đầu
từ sự kiện thực dân Pháp xâm lược Việt Nam (năm 1858) rồi kết thúc bằng sự thất bại của phong trào Cần Vương (năm 1896) và thực dân Pháp bắt đầu công cuộc khai thác
thuộc địa của chúng “Về văn học, giai đoạn nửa cuối thế kỷ XIX bắt đầu bằng thơ văn
yêu nước của Nguyễn Đình Chiểu và kết thúc bằng thơ văn tố cáo hiện thực của Tú Xương và Nguyễn Khuyến” [13, tr 577] Do phát triển trong điều kiện xã hội có những
biến cố trọng đại, và sau lưng nó có một truyền thống lâu đời về văn học và văn hóa
mà văn học giai đoạn nửa cuối thế kỷ XIX có những nét đặc thù riêng và có những
cống hiến nhất định cho lịch sử phát triển của văn học dân tộc “Trên quan điểm sự
vận động của lịch sử, có thể nói giai đoạn văn học nửa cuối thế kỷ XIX đánh dấu sự kết thúc truyền thống cổ trong văn học Việt Nam và văn học những năm đầu thế kỷ XX
sẽ mở ra một thời kỳ mới, chuẩn bị cho sự phát triển hiện đại của văn học” [13, tr
578]
Cùng với sự xâm lăng của thực dân Pháp, chế độ phong kiến Việt Nam cuối thế
kỷ XIX bị rơi vào khủng hoảng về tư tưởng và chính trị; các giá trị văn hóa, đạo đức
truyền thống bị đảo lộn và đổ vỡ trước sự gia nhập của văn hóa phương Tây “Trong
nhiều thế kỷ trước, Khổng giáo đã là nguồn nuôi dưỡng trí tuệ và quy phạm đạo đức cho xã hội nói chung, cho vua quan và trí thức nói riêng, để ứng phó với mọi tình huống xảy ra trong đời sống của cộng đồng Nhưng ở nửa sau thế kỷ XIX, trước cuộc đụng độ ngột ngạt giữa Việt Nam và Pháp, Khổng giáo đã không còn giữ được chức năng tinh thần trước kia của nó Sự giảm thiểu hiệu năng tinh thần của Khổng giáo đã
là nguyên nhân trực tiếp đưa đến sự khủng hoảng tư tưởng lúc bấy giờ ở Việt Nam”
[17, tr 18] Những năm cuối thế kỷ XIX – đầu thế kỷ XX, xã hội Việt Nam đang từng bước thay đổi trước sự đô hộ và khai thác kinh tế của thực dân Pháp Yếu tố ngoại lai
và ngoại xâm thâm nhập sâu hơn vào mọi mặt của đời sống dân tộc, từ kinh tế, chính
Trang 17trị đến xã hội, văn hóa…Tất cả những biến động đó đã tác động sâu sắc đến đời sống của văn học dân tộc trong giai đoạn này Qua các tác phẩm của các nhà thơ Việt Nam nửa cuối thế kỷ XIX, chúng ta nhận ra được “khuôn mặt” tâm trạng của một thế hệ nhà nho trí thức trước thời khắc giao thời của lịch sử dân tộc Một Nguyễn Tri Phương, một Hoàng Hoa Thám tuẫn tiết để giữ vững khí tiết “trung quân ái quốc” của người
quân tử; một Nguyễn Đình Chiểu “Thà đui mà giữ đạo nhà”; một Nguyễn Quang Bích
hiên ngang khí phách của người anh hùng thời loạn:
Đường gập ghềnh hiểm trở chẳng sợ khó đi, Tuổi già yếu này thề đem tấc lòng son để lo đền nợ nước
Chữ trung hiếu đội trên đầu có mặt trời chiếu dọi, Khắp nơi non sông che chở cho được bình yên
(Sơn lộ hành tự ủy - Đi đường núi, tự an ủi - Lời thơ dịch)
Một Phan Đình Phùng bất khuất mãi “thẹn với tiếng anh hùng”:
Xa giá của vua đang ở ngoài quan sơn, Nhân dân bốn bể như sống trong nước sôi lửa bỏng
Trách nhiệm càng cao thì mối lo càng lớn, Nghĩ mình cũng trong cửa tướng, mà riêng thẹn với tiếng anh hùng
(Lâm chung thời tác - Làm lúc sắp mất - Lời thơ dịch)
“Phan Đình Phùng ngã xuống đã kết thúc phong trào Cần Vương Cùng với cái
chết của ông, một mẫu người đẹp, một hình tượng văn học đẹp trong văn học trung đại – người trung nghĩa, người hành đạo theo nhà nho chính thống – cũng kết thúc” [5, tr
76]
Trong thời đại giao thoa với phương Tây những năm nửa cuối thế kỷ XIX đến đầu thế kỷ XX, cùng với sức mạnh về khoa học kỹ thuật của nó đã buộc các nhà nho
Việt Nam “với tính cách là nhân vật văn hóa, kẻ trước người sau phải nhận ra sự vô
nghĩa, vô dụng của tài năng dù là tài năng thiên phú, nghi ngờ cái học thuyết được cho là thiên kinh địa vĩ đại […] Sự rạn nứt của quan niệm về nhân cách nho giáo ngày càng rõ nét, không gì ngăn cản được đã đem đến những cái mới cho thơ ở giai đoạn cuối thế kỷ XIX đầu thế kỉ XX” [31, tr 605] Đến cuối thế kỷ XIX, khi Nho giáo
như một hệ thống giá trị văn hóa đã bộc lộ những mặt hạn chế không thể khắc phục trước sự xâm nhập của văn hóa phương Tây, những phẩm chất cao quý mà các nhà nho cố gắng gìn giữ, nuôi dưỡng bấy lâu nay đã không chặn đứng được cuộc xâm lược
Trang 18của thực dân Pháp thì lịch sử mới chứng kiến một sự thay đổi to lớn trong quan niệm
về nhân cách của nhà nho Và lúc này thơ ca trào phúng Việt Nam đã có đủ các cung
bậc khác nhau, và “cái cười đã đóng vai trò của cái nhìn thẩm mỹ đối với cuộc sống,
báo hiệu sự suy giảm của quan điểm coi sáng tác để giáo hóa như quan niệm văn học Nho gia truyền thống” [31, tr 688]
Và trên nền tảng của thời kỳ văn học ấy, chúng tôi đã tiến hành khảo sát yếu tố tự thuật trong tư liệu thơ của sáu tác giả tiêu biểu: thơ chữ Hán của Nguyễn Du, thơ Nguyễn Công Trứ, thơ Cao Bá Quát, thơ Nguyễn Thông, thơ Nguyễn Xuân Ôn và thơ Nguyễn Quang Bích (Xem bảng thống kê ở phụ lục 1) Có thể nhận thấy trong thơ của sáu tác giả trên, số lượng các bài thơ có yếu tố tự thuật chiếm tỉ lệ trung bình khoảng 45,2%, còn trong thơ Nguyễn Khuyến và Tế Xương, số lượng các bài thơ có yếu tố tự thuật chiếm tỉ lệ khoảng 65,5% Như vậy ta có thể nhận thấy rằng, nhu cầu tự giãi bày của các nhà thơ Việt Nam ở thế kỷ XIX là rất lớn, đặc biệt là trong thơ tự thuật của Nguyễn Khuyến và Trần Tế Xương Đây chính là sự thức tỉnh về ý thức cá nhân, về cái tôi trữ tình - tự thuật, một thành tựu nổi bật về nội dung của thơ ca Việt Nam thế kỷ XIX
Với những vần thơ tự thuật ấy, Nguyễn Khuyến cũng như Trần Tế Xương ở các mức độ khác nhau đã giám đưa mình ra cười cợt, chế giễu, thậm chí là tự trào về bản thân mình, trình bày bản thân như là một kẻ vô tích sự, một kiểu người thừa trong cả gia đình lẫn xã hội, bởi một khi không nhìn mình bằng lý tưởng thánh nhân quân tử thì nhà thơ cũng không nhìn đời bằng cặp mắt giáo huấn nữa Trở về với con người thực, con người tự nhiên, các tác giả đồng thời nhìn cuộc sống xã hội như tự nó vốn có Nhà
thơ đã “phát hiện ra mặt đáng cười của thế giới và đưa thế giới cười ấy vào thi ca, đó
là bước chuyển của văn học, mở đường cho cách tiếp cận hiện thực mới, chuẩn bị cho văn học hiện thực ở giai đoạn sau” [31, tr 686] Và với các sáng tác trào phúng,
Nguyễn Khuyến cũng như Tế Xương “không còn là tác giả văn học nhà Nho truyền
thống” nữa [34, tr 307]
Xã hội Việt Nam cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, đặc biệt là ở các thành thị đã chuyển mình vào môi trường thành thị tư sản hóa và bản thân các nhà nho – nhà thơ cũng đã từng bước tiểu tư sản hóa Thơ Tế Xương in đậm hình ảnh đời sống xã hội thị dân, thể hiện sự chiêm nghiệm sâu sắc những lối sống của nhà thơ cùng sự ra đời một
Trang 19lớp người mới pha tạp, nhố nhăng, nhếch nhác Tế Xương đứng giữa dòng văn hóa truyền thống và phương Tây mới mẻ, giữa “bút lông” và “bút chì” để tự thuật:
Dẫu không bia đá còn bia miệng
Vứt bút lông đi, giắt bút chì
(Đổi thi)
Hay: “Hẩu lố”, “mét xì” thông mọi tiếng,
Chẳng sang Tàu cũng tếch sang Tây”
(Mai mà tớ hỏng)
Xã hội Việt Nam cuối thế kỷ XIX cũng đã báo hiệu sự sụp đổ của hệ thống nhân sinh quan phong kiến, sự đảo ngược của luân thường đạo lý đã tạo ra một xã hội đầy quái tượng: vua chẳng ra vua, quan chẳng ra quan, sĩ phu chẳng ra sĩ phu, tăng lữ chẳng ra tăng lữ, người chẳng ra người… đã khiến Tế Xương phải giương mắt nhìn đời để rồi lại cười trong bất lực:
Bắt chước ai, ta chúc mấy lời:
Chúc cho khắp hết cả trong đời
Vua, quan, sĩ, thứ, người muôn nước, Sao được cho ra cái giống người
(Chúc tết)
Khác với các tác giả văn học Việt Nam cuối thế kỷ XVIII đến nửa đầu thế kỷ XIX – tiếp tục mạch văn chương về thân phận con người đặc biệt là con người tài tử giai nhân, Nguyễn Khuyến và Trần Tế Xương lại lấy nỗi đau bản thân để tự thuật, để soi rọi tâm hồn mình Từ đó đã xác lập một lý tưởng thẩm mỹ cách tân so với truyền thống: từ một quan điểm thẩm mỹ đang phổ biến trong xã hội kẻ sĩ lúc bấy giờ là cảm hứng hướng về “cái cao cả” đã nhanh chóng ngả về một phía quan điểm thẩm mỹ đối lập – tìm thấy vẻ đẹp chân thực của “cái thông tục”, đời thường, đời tư Sự thay đổi về quan niệm thẩm mỹ dẫn đến sự đổi mới quan niệm nghệ thuật về con người vừa phù hợp với sự thay đổi của lịch sử xã hội – văn hóa, vừa là một tất yếu của sự vận động lịch sử văn học: từ kiểu con người yêu nước, con người trung quân ái quốc trong thơ
ca Lý Trần, trong thơ Nguyễn Trãi, Nguyễn Bỉnh Khiêm; con người thể hiện bản năng trong thơ Hồ Xuân Hương; con người cô đơn trong thơ chữ Hán của Nguyễn Du; đến kiểu con người thị tài, con người công danh hưởng lạc trong thơ Nguyễn Công Trứ, Cao Bá Quát; và cuối cùng là kiểu con người đời thường, đời tư, tự trào trong thơ
Trang 20Nguyễn Khuyến, Tế Xương Như vậy, đến thơ tự thuật của Nguyễn Khuyến và Tế Xương, quan niệm nghệ thuật về con người trong văn học trung đại Việt Nam đã có những đổi mới so với kiểu con người trong văn học các giai đoạn trước và cũng rất gần với kiểu con người trong văn học hiện đại
Cùng với sự đổi thay trong quan niệm nghệ thuật về con người thì không gian và thời gian nghệ thuật trong thơ tự thuật của Nguyễn Khuyến, Tế Xương cũng có sự đổi mới Trong thơ ca trung đại Việt Nam, mô hình không gian nghệ thuật cơ bản là không gian vũ trụ, trong đó đã lần lượt xuất hiện không gian nhàn tản - ẩn dật trong thơ Nguyễn Trãi, Nguyễn Bỉnh Khiêm; không gian tiêu điều – biến dịch trong thơ Nguyễn
Du, không gian trần tục hóa trong thơ Hồ Xuân Hương; không gian thế tục hóa trong thơ Nguyễn Khuyến và cuối cùng là sự phai nhạt không gian vũ trụ trong thơ Tế
Xương “Sự biến đổi không gian gắn liền với sự thay đổi xã hội, sự tự ý thức của con
người và tư duy nghệ thuật trong văn học… Yếu tố cảm thụ cá nhân đã làm cho thời gian trong thơ đa dạng và biến đổi rõ nét” [24, tr 527-528] Có thể nói thơ Nguyễn
Khuyến và Tế Xương đã “đánh dấu sự phai nhạt của không gian nghệ thuật truyền
thống, mở ra không gian sinh hoạt đời thường và đô thị… ít tính ước lệ và càng giàu tính sáng tạo độc đáo” [24, tr 528]
Văn học Việt Nam giai đoạn nửa cuối thế kỷ XIX đã có những cố gắng mới để nhằm phá vỡ những quy tắc biểu hiện truyền thống trong văn học phong kiến để đi đến
một lối biểu hiện phong phú như hình thức của bản thân đời sống “Về phương diện
nghệ thuật […] cách thể hiện của nó cũng dần dần từ bỏ tính chất đài các, ước lệ, tượng trưng để tiến tới dùng lối thể hiện bằng hình thức bản thân đời sống, không ngại nôm na mách qué, giàu tính chất trữ tình, đồng thời cũng rất giàu tính chất trào lộng, khôi hài dân gian” [13, tr 802] Đề tài cơ bản trong văn học giai đoạn này không phải
là lịch sử và thiên nhiên, mà là những vấn đề cốt yếu trong cuộc sống như vấn đề số phận con người, con người hiện ra không chỉ có hai loại quân tử - tiểu nhân, mà còn có những kiểu con người khác và bắt đầu xuất hiện kiểu con người đời thường, con người
tự trào… “Có thể nói, lý tưởng thẩm mỹ của văn học giai đoạn này đã khác trước, về
cơ bản nó không còn đồng nhất với lý tưởng đạo đức mà tách ra khỏi lý tưởng đạo đức Cái đẹp ở đây không phải là cái đạo đức được gọi tên một cách khác, mà là cuộc sống” [13, tr 49]
Trang 21Tóm lại văn học Việt nam giai đoạn nửa cuối thế kỷ XIX, từ phạm trù thẩm mỹ của “cái cao cả” đã chuyển sang phạm trù “cái đời thường”; từ kiểu nhà nho tài tử đến kiểu nhà nho mất gốc vào những năm đầu thế kỷ XX; từ kiểu con người quan phương, con người trung nghĩa, con người đạo đức chuyển sang con người đời thường, con người đời tư với cái tôi trữ tình – tự thuật rõ nét Điều này được biểu hiện khá đậm nét trong các bài thơ, câu thơ mang tính chất tự thuật của thơ ca Việt Nam nửa cuối thế kỷ XIX nói chung và trong thơ Nguyễn Khuyến, Trần Tế Xương nói riêng
Trang 22CHƯƠNG II: HÌNH TƯỢNG NHÂN VẬT TRỮ TÌNH TRONG THƠ TỰ THUẬT CỦA NGUYỄN KHUYẾN VÀ TRẦN TẾ XƯƠNG II.1 Nhân vật trữ tình trong thơ tự thuật của Nguyễn Khuyến, Trần Tế Xương
Nhân vật trữ tình là “hình tượng nhà thơ trong thơ trữ tình, phương thức bộc lộ ý
thức tác giả Nhân vật trữ tình thường là con người “đồng dạng” của tác giả - nhà thơ hiện ra từ văn bản của kết cấu trữ tình… như một con người có đường nét, hay một vai sống động có số phận cá nhân xác định hay có thế giới nội tâm cụ thể, đôi khi có cả nét vẽ chân dung” [9, tr 197] Mặt khác khi sáng tác, các nhà thơ lại có thể hóa thân
trong một nhân vật khác, tạo thành nhân vật trữ tình nhập vai Tất nhiên, “yếu tố nhập
vai và yếu tố tự thuật tâm trạng trong tác phẩm trữ tình cũng liên hệ mật thiết với nhau Những điều tưởng như rất chủ quan riêng biệt của nhà thơ lại có thể tiêu biểu cho tâm trạng, quan điểm và xu hướng của một nhóm người, của một giai cấp, một thời đại” [14, tr 361] Đây chính là tính chất tiêu biểu, khái quát, làm nên ý nghĩa của
việc sáng tạo nhân vật trữ tình
Đặc biệt, trong những vần thơ tự thuật thì hình tượng nhân vật trữ tình lại có mối
liên hệ trực tiếp với cái tôi trữ tình của chính tác giả, bởi “thơ ca mang tính chất tự
truyện, là tiểu sử tình cảm của nhà thơ Tác giả trùng khít với chủ thể trữ tình trong thơ” [24, tr 454] Hình tượng tác giả là sự nhập thân của toàn bộ con người – đặc biệt
là ý thức của người sáng tạo vào trong tác phẩm nghệ thuật Sự nhập thân này thể hiện
ở cái nhìn, góc nhìn, sự quan tâm, sự lựa chọn chủ đề, đề tài, thể loại; ở thái độ, tình cảm, lý tưởng, lập trường xã hội, sự lí giải đối với những vấn đề miêu tả; ở ngôn ngữ,
hành động, cảm xúc, tâm lí nhân vật…Và “cái tôi tác giả - tiểu sử với những nét rất
riêng tư, là một loại nhân vật trữ tình đặc biệt khi tác giả miêu tả, kể chuyện, biểu hiện
về chính mình” [22, tr 21]
Không những thế, hình tượng tác giả còn là một bộ phận quan trọng trong cấu
trúc nghệ thuật của tác phẩm, bởi nó “là phạm trù thể hiện cách tự ý thức của tác giả
về vai trò xã hội và vai trò văn học của mình trong tác phẩm Cơ sở tâm lí của hình tượng tác giả là hình tượng cái tôi trong nhân cách mỗi người thể hiện trong giao tiếp
Cơ sở nghệ thuật của hình tượng tác giả trong văn học là tính chất gián tiếp của văn bản nghệ thuật: văn bản của tác phẩm bao giờ cũng là lời của người trần thuật, người
kể chuyện hoặc nhân vật trữ tình Nhà văn xây dựng một văn bản đồng thời với việc
Trang 23xây dựng ra hình tượng người phát ngôn văn bản ấy với một giọng điệu nhất định” [9,
tr 124] “Các trào lưu văn học thời cận đại và cận hiện đại đã sản sinh ra nhiều hình
tượng – tượng trưng (thường mang tính triết lý) về sự tự ý thức của tác giả Ví dụ, có
sự liên hệ giữa tâm trạng Nguyễn Khuyến và Tế Xương với các vai “mẹ Mốc”, “anh giả điếc”, “chú Mán” trong thơ của họ” [2, tr 145] Đồng thời, “ở các tác phẩm có bình diện tự thuật, tác giả vừa là người chủ xướng, vừa là người tham dự, tức là như một hình tượng con người được thể hiện bằng nghệ thuật” [2, tr 146] Như vậy sự xuất
hiện của cái tôi trữ tình và ý thức con người cá nhân trong văn học trung đại luôn song hành cùng với sự xuất hiện cái tôi tự thuật trong thơ Điều này cũng có nghĩa là, trong thơ tự thuật sẽ xuất hiện cái tôi trữ tình – tự thuật và cũng chính là hình tượng nhân vật trữ tình – tự thuật
Nếu trong thơ trung đại Việt Nam đặc biệt là trong thơ của các nhà nho, ta chỉ bắt gặp hai loại nhân vật trữ tình chủ yếu: “cái tôi” nhà thơ trong tương quan với thiên nhiên và “cái tôi” trong tương quan với xã hội, thì đến thơ Nguyễn Khuyến, Tế Xương
ở mức độ khác nhau đã cho ta thấy sự rạn nứt của nhân cách nho giáo cùng với sự thế
tục hóa của nó “Nhà thơ giai đoạn này, chủ yếu là vào khoảng cuối giai đoạn, sáng
tác không phải nhân danh con người nói chung, hay nhân danh một tầng lớp xã hội, một nguyên lý đạo đức, mà nhân danh một cá nhân, một cá thể Trong thơ xuất hiện khá phổ biến những đại từ ngôi thứ nhất số ít như tôi, tớ, ông, mình, em để thay thế cho ta, hoặc một chủ ngữ ẩn đồng loại, phong cách cá nhân cũng nhờ đó mà rõ nét”
[13, tr 601] Mặt khác, với điều kiện lịch sử, xã hội, văn hóa và quan điểm thẩm mỹ
mới, trong thơ ca Việt Nam cuối thế kỷ XIX, “Cái tôi nhà thơ không còn đứng cao
hơn trong xã hội, không còn trình diện như bậc thiên sứ nữa Cái tôi ấy bây giờ trở lại
tư cách một thành viên bình thường của xã hội và nhìn cuộc sống bằng con mắt của một thành viên như thế Hiện tượng này đã đem lại nhiều cái mới về chất cho thơ ca”
[31, tr 605]
Bởi vậy mà ta có thể khẳng định cái tôi trữ tình hay chính nhân vật trữ tình trong thơ tự thuật của Nguyễn Khuyến, Trần Tế Xương là những lời tự thuật tâm trạng của mỗi nhà thơ về bản thân, về cuộc đời Qua mỗi bài thơ tự thuật của họ, người đọc nhận
ra các biến cố chính trị - lịch sử dân tộc và những suy tư, trăn trở lo âu của mỗi nhà thơ
về thời cuộc, về vận nước, vận dân Đúng như nhận xét của nhà nghiên cứu văn học
Trang 24Nga V.E Khalizep “Những bài thơ mà chủ thể trữ tình đồng nhất hoặc gần gũi nhiều
nhất với bản thân nhà thơ được người ta gọi là tự thuật tâm trạng” [23, tr 326-327]
Từ các tiền đề lý luận trên, chúng tôi rút ra các vấn đề cơ bản của hình tượng nhân vật trữ tình trong thơ tự thuật của Nguyễn Khuyến và Trần Tế Xương như sau: Thứ nhất, nhân vật trữ tình trong thơ tự thuật Nguyễn Khuyến, Trần Tế Xương
chính là cái tôi trữ tình – tự thuật, là con người bên trong của tác giả mang một thái độ
tình cảm, một lý tưởng thẩm mỹ nhất định, một điểm nhìn nghệ thuật và một giọng điệu nhất định trong quá trình cảm nhận cuộc sống, xã hội và chính bản thân nhà thơ Thứ hai, nhân vật trữ tình trong thơ tự thuật của Nguyễn Khuyến, Trần Tế Xương
là hình tượng tác giả, đó chính là bức “chân dung tự họa” của nhà thơ với những biến
cố trong cuộc đời và xã hội
Thứ ba, nhân vật trữ tình trong thơ tự thuật Nguyễn Khuyến và Trần Tế Xương tuy liên hệ mật thiết với bản thân tác giả nhưng đôi khi nó không đồng nhất, bởi cái tôi
trữ tình của nhà thơ còn xuất hiện như “người đại diện cho xã hội, thời đại và nhân
loại” (Bêlinxki), nhà thơ đã tự nâng mình lên một tầm khác với cái tôi đời thường
II.2 Các dạng thức nhân vật trữ tình trong thơ tự thuật của Nguyễn Khuyến
Nguyễn Khuyến lớn lên, đi thi và đỗ đạt rồi ra làm quan trong bối cảnh đời sống chính trị, lịch sử dân tộc có nhiều biến động: thực dân Pháp xâm lược Việt Nam, triều đình nhà Nguyễn chống cự yếu ớt rồi thất bại Tuy con đường hoạn lộ của Nguyễn Khuyến tương đối bằng phẳng nhưng đời sống nội tâm của ông lại chất chứa những nỗi niềm giằng xé, trăn trở, suy tư Từ chốn quan trường trở về với cuộc sống yên bình nơi thôn dã, gắn bó với những người dân quê chân tình, chất phác nhưng tấm lòng cụ Tam Nguyên Yên Đổ vẫn đầy ắp những ưu tư Cho nên, chúng ta cũng dễ hiểu vì sao
từ khi về quê sống ẩn dật, Nguyễn Khuyến sáng tác rất nhiều và có nhiều bài thơ hay đến thế, đặc biệt thơ chữ Hán là mảng thơ chất chứa nhiều tâm sự nhất của ông
Trong thơ Nguyễn Khuyến có ba kiểu con người: con người chính thống- xuất hiện trong thơ vịnh sử; con người sinh hoạt- trong thơ trào phúng, tự trào; con người
đối diện với chính mình xuất hiện trong thơ trữ tình, tâm trạng [4, tr 35] “Tuy nhiên, xuyên qua ba con người rất đặc trưng ấy, ta vẫn thấy hiện lên đây đó hình ảnh Nguyễn Khuyến như một nhân vật tự họa, với những dằn vặt, khắc khoải, một sự chiêm nghiệm đầy vị tha về tình người và tình đời” [4, tr 54], với các bài thơ tự thuật của ông thì
Trang 25nhận xét này lại càng chính xác hơn Bỏ lại sau lưng “mười năm gió bụi” nhưng vẫn trăn trở cho lý tưởng “trí quân trạch dân” và nhận thấy sự bất tài của mình, Nguyễn Khuyến đã tìm tới sự cân bằng trong gia đình, trong tình làng nghĩa xóm, trong các quan hệ bạn hữu Tuy vậy, nhà thơ vẫn không thoát khỏi sự bế tắc, đến nỗi phải tự trào, tự giễu mình, ông đặc biệt có biệt tài dùng những chữ nghĩa bông lơn để diễn đạt những cơn sóng lòng dữ dội:
Nghĩ mình cũng gớm cho mình nhỉ Thế cũng bia xanh, cũng bảng vàng!
(Tự trào)
Trong thơ Nguyễn Khuyến, số lượng các bài thơ tự thuật chữ Hán nhiều hơn thơ chữ Nôm và yếu tố tự thuật trong thơ ông giai đoạn sau khi trở về Yên Đổ đậm đặc hơn trong thời gian khi ông đương làm quan (Xem phụ lục 2) Điều này chứng tỏ sau khi từ quan để trở về vườn Bùi, Nguyễn Khuyến lại chất chứa nhiều suy tư, trăn trở hơn, bởi vậy mà hình tượng nhân vật trữ tình ở trong thơ tự thuật của ông cũng rất phong phú
II.2.1 Hình tượng con người đời thường
Con người đời thường là kiểu con người sống bình dân, phi nho, gắn bó với người dân quê và cuộc sống đời thường Quan niệm nghệ thuật về con người trong
hành trình sáng tác thơ của Nguyễn Khuyến luôn vận động, biến đổi, “là một quá trình
lâu dài và nỗ lực chiếm lĩnh hiện thực khách quan của chủ thể thẩm mĩ, tương ứng với một quá trình chuyển biến khá căn bản con người xã hội ở trong ông: từ ông nghè Tam Nguyên trở thành ông “tiến sĩ giấy”; từ vị quan hàn lâm trong triều đến “ông phỗng đá” trong dinh Hoàng Cao Khải; từ cụ Thượng Và đến một “lão nông” thực thụ” [4, tr 36] Nguyễn Khuyến làm quan tất cả có mười một năm (1872-1883), còn
phần lớn cuộc đời ông là ở quê nhà, một vùng đồng chiêm trũng nước Thời gian làm quan cũng như lúc về già, Nguyễn Khuyến bao giờ cũng nghèo và được tiếng là thanh liêm, chính trực Trong thời gian từ quan về nhà, Nguyễn Khuyến sống gần gũi với dân chúng và hiểu biết những lo toan, tâm tình của họ Nhà thơ trở về vườn Bùi - nơi anh khóa Thắng (tên nhà thơ trước khi đi thi Hội) đã hăm hở bước chân vào con đường hoạn lộ để quyết giật cho được ngôi vị cao nhất chốn quan trường Đó là sự trở về không hề đơn giản mà chứa đựng trong đó biết bao nhiêu dằn vặt nghĩ suy Bởi một con người khác trong ông vẫn còn hăm hở với đời lắm, chừng vẫn còn tiếc nuối lắm,
Trang 26vẫn còn muốn “đan tay vào hội lạc” chứ không muốn vứt bỏ một cách dễ dàng những
gì mình phải khó nhọc bao năm trời mới giành dật được từ cuộc đời Nhưng may mắn thay cho lịch sử văn học dân tộc, “con người thứ hai” lớn hơn, con người đầy nhân cách và trách nhiệm với non sông đất nước, con người tỉnh táo trước thực tế lịch sử trong Nguyễn Khuyến đã chiến thắng Sự trở về vườn Bùi của ông là minh chứng sáng
rõ cho một nhân cách cao đẹp, là sự bất hợp tác với kẻ thù của dân tộc Và cao hơn là
sự từ bỏ phần nào nhưng không kém day dứt với tư tưởng trung quân đã lỗi thời Nguyễn Khuyến bây giờ không còn băn khoăn một tý nào về việc “trở về” của mình,
mà còn khẳng định dứt khoát trở về là đúng:
Thập tải bôn ba thử nhất đồ, Quy lai, ngô hạnh đắc vi ngô
(Mười năm trời bôn ba trên một con đường - tức con đường làm quan, Nay trở về may mắn ta vẫn còn là ta.)
(Mộ xuân tiểu thán - Lời than lúc cuối xuân)
Không có dũng cảm chiến đấu với quân thù, đành lui về ở ẩn, nhà thơ chỉ còn một cách là khiêm tốn giữ mình cho trong sạch, lánh xa những việc nhơ bẩn của cuộc đời Chính vị Tam Nguyên về vườn ấy, chính con người từ đỉnh cao danh vọng vốn áo
mũ xênh xang ấy nay đã trở về hòa mình cùng người dân nghèo “chân lấm tay bùn”, chân đi đất, mình bận bộ quần áo thôn quê:
Vườn Bùi chốn cũ, Bốn mươi năm lụ khụ lại về đây
Trông ngoài sân đua nở mấy chồi cây, Thú khâu hác lâm tuyền âu cũng thế
(Trở về vườn cũ)
Nguyễn Khuyến đã bỏ lại sau mình những tầm thường, trích cú, những vay mượn
ồn ào, những vần thơ quý phái tẻ nhạt, đưa văn học về với cội nguồn dân tộc, với làng quê, với người nông dân nghèo khó vất vả Nhưng nếu không có những ngày vinh quang sôi kinh nấu sử ở chốn kinh đô, không tắm mình trong không khí văn chương bác học, quý phái chốn quan trường, không tiếp thu tự do những giá trị nhân bản truyền thống thì cũng khó mà có được những vần thơ vừa sang trọng, uyên bác, vừa gần gũi, dân giã nơi vườn Bùi Giai đoạn lều chõng đi thi rồi làm quan chính là thời gian nhà thơ làng Yên Đổ góp mặt với đời, học hành hết sức mình, bôn ba đây đó, tiếp
Trang 27xúc và chứng kiến bao sự đời, tham gia vào các biến cố lịch sử, xã hội, mở rộng tri thức và tầm mắt Chính vì vậy khi về sống ẩn mình nơi thôn xóm thì tầm nhìn và trí tuệ của ông cũng không hề bị bó hẹp trong giới hạn của lũy tre làng, nó vẫn bắt nhịp
cùng với thời đại và góp phần tạo nên sự phát triển liên tục cho văn học dân tộc “Đó
là sự trở về triệt để cả trong tư tưởng lẫn trong nghệ thuật” (GS Nguyễn Huệ Chi)
Những nhà yêu nước cùng thời với Nguyễn Khuyến nói chung đều đã sáng tác dưới sự điều phối của quan điểm “văn dĩ tải đạo”, đó là những sáng tác cùng một kiểu
đề tài, quay theo cùng một trục duy nhất - trục vận hành của lịch sử chính trị Trong khi đó, Nguyễn Khuyến đã sớm biết chuyển sang những loại đề tài khác, đó là trục quay của thế sự Nhờ đó ông không bị lịch sử đào thải mà trái lại còn tồn tại vượt sang
cả chặng đường sau Ông vừa là một hiện tượng giao thoa lịch sử giữa thế kỷ XIX và
thế kỷ XX, lại vừa là một chứng nhân lịch sử “Từ sự chuyển hướng sang đề tài thế sự,
Nguyễn Khuyến đã xác lập một lý tưởng thẩm mĩ cách tân so với truyền thống: từ một quan điểm thẩm mĩ đang phổ biến trong xã hội kẻ sĩ lúc bấy giờ là cảm hứng hướng về
“cái cao cả”, Nguyễn Khuyến đã nhanh chóng ngả về phía một quan điểm thẩm mĩ đối lập - ông tìm thấy vẻ đẹp chân thực của “cái thông tục” với một trường thơ đặc sắc: trường thơ dân tình làng cảnh Việt Nam với sinh hoạt nông thôn và phong cảnh làng mạc” [4, tr 21] Các nhà nghiên cứu đã nói nhiều tới những bài thơ mà trong đó
Nguyễn Khuyến đã kể lại các hình thức sinh hoạt có tính chất đặc trưng cho văn hóa ở nông thôn: cảnh của ông cùng các bạn đồng tuế lên lão năm mươi, cảnh chợ Đồng ngày giáp tết Nguyên Đán, đêm giao thừa Những bài thơ này diễn tả không khí, sắc màu, âm thanh cuộc sống văn hóa độc đáo ở nông thôn rõ nét, tưởng như làm cho người đọc cũng có thể hít thở được không khí ấy:
Anh em hàng xóm xin mời cả, Giò bánh, trâu heo cũng gọi là
Chú Đáo bên làng lên với tớ, Ông Từ ngõ chợ lại cùng ta
(Lên lão)
Không đứng ở bên ngoài hay bên trên để quan sát nữa, cụ Tam Nguyên Yên Đổ
đã là người có mặt thật sự, hiện diện thường trực trong cuộc sống hàng ngày ấy, tắm mình, đằm mình trong không khí ấy Điều đó dẫn tới một sự hoán chuyển ngấm ngầm các mối quan hệ giữa chủ thể và khách thể, có tác dụng bổ sung hoặc điều chỉnh quan
Trang 28niệm thẩm mỹ của tác giả “Việc Nguyễn Khuyến từ bỏ vị trí, tư cách nhà nho để trở về
làm một người dân bình thường, sống hòa đồng trong làng xã quê hương, đã đem lại sắc thái mới mẻ cho văn thơ ông […] Với tư thế bình dân, phi nho của mình, Nguyễn Khuyến có lẽ là người đầu tiên trong lịch sử văn học Nôm phản ánh một cách khá cụ thể, sinh động bức tranh sinh hoạt hàng ngày của làng quê vào trong thơ” [31, tr 564]
Đi vào đời thường để quan sát cuộc sống xã hội và tự nhiên, nhà thơ đã bước đầu thoát ly được tính chất công thức của lối cảm thụ thế giới khách quan của nhà nho để
phản ánh được cái cụ thể, cái bề bộn đa dạng mà phức tạp trong thực tại ấy “Cố nhiên
xét trên toàn thể thì cảm hứng trữ tình chính trị - đạo đức vẫn là cảm hứng nổi bật của thơ Nguyễn Khuyến Ông vẫn chưa đoạn tuyệt với cái nhìn đạo đức của nhà nho, tức chưa đoạn tuyệt được nguyên tắc chỉ lựa chọn những hiện tượng đời sống có liên quan với triết lý chính trị - đạo đức của nhà nho Nhưng việc ông bỏ tư thế nhà nho để sống với tư thế một người bình thường và do đó đã phản ánh được cái thường ngày của đời sống trong thơ, đã báo hiệu bước chuyển biến quan trọng của văn chương nhà nho ở cuối thế kỷ XIX hướng về phản ánh thực tại khách quan” [31, tr 570]
Là một nhà thơ giàu tình cảm, Nguyễn Khuyến cũng không ngoại lệ khi nói về tình bạn, những bài thơ bất hủ của ông khi đề cập đến bạn là những minh chứng hùng hồn sâu sắc, đó quả thật là những tình bạn vẫn còn sống mãi cho đến những thế kỷ sau:
Ai lên nhắn hỏi bác Châu Cầu Lụt lội năm nay bác ở đâu?
Hai câu đầu của bài thơ Nước lụt hỏi thăm bạn tự nhiên, thân tình Rồi sau đó
hỏi luôn cả ổ lợn con, gian nhà chứa lúa nếp Với đôi chút hóm hỉnh pha trò về tính keo kiệt của bạn, nhà thơ đã khuyên thật nhẹ nhàng:
Phận thua suy tính càng thêm thiệt Tuổi cả chơi bời họa sống lâu
Và sau cùng là gửi chút tin tức của mình cho bạn:
Em cũng chẳng no mà chẳng đói Thung thăng chiếc lá, rượu lưng bầu
Nhưng cảm động nhất khi nói về tình bạn của Nguyễn Khuyến, phải kể đến bài
thơ Khóc Dương Khuê, một bài thơ để đời và là mẫu mực của tình bạn:
Bác Dương thôi đã thôi rồi, Nước mây man mác ngậm ngùi lòng ta!
Trang 29Hai câu mở đầu thật ngỡ ngàng, chua xót trước tin bạn mất Rồi những câu kế
tiếp mở ra một ký ức thâm giao từ thuở đăng khoa, đến “sớm hôm tôi bác cùng nhau” đèn sách, khi thì vui ngoài thiên nhiên với “suối reo róc rách lưng đèo” khi thì vui nơi
“tầng gác cheo leo” với bài ca chén rượu; nhớ những ngày “cùng nhau hoạn nạn”,
sớm tối có nhau như “duyên trời” cho gặp gỡ Thế mà “bác” đã vội “lên tiên” để lại
trên đời người bạn cô đơn, ngậm ngùi, chua xót:
Rượu ngon không có bạn hiền, Không mua không phải không tiền không mua
Câu thơ nghĩ đắn đo không viết, Viết đưa ai, ai biết mà đưa!
Giường kia treo cũng hững hờ, Đàn kia gẩy cũng ngẩn ngơ tiếng đàn
Nói về tình cảm của con người, kể cả những tình cảm riêng tư, Nguyễn Khuyến không phải là người đầu tiên Giai đoạn trước từng có Phạm Thái khóc người yêu, Nguyễn Hữu Chỉnh khóc chị, Phạm Nguyễn Du và Ngô Thì Sĩ khóc vợ… Còn nói về tình giao hữu bạn bè thì có nhan nhản trong thơ chữ Hán Tất nhiên những sáng tác ấy
có những ý nghĩa riêng của nó, và đối với sự hình thành con người cá thể của giai đoạn văn học trước, nó có những đóng góp nhất định Nhưng giai đoạn trước, ngay trong xã hội con người cá thể cũng chưa có điều kiện để hình thành, thì trong văn học những tình cảm riêng tư cũng thường mang một sắc thái chung, có tính cách đạo đức cộng đồng Đặc sắc của Nguyễn Khuyến là những tình cảm của ông được giữ nguyên vẹn tính chất cá thể, cụ thể của nó, mà không tan biến vào cái chung, và cái cá thể cụ thể
ấy lại có tính cách nông thôn rõ rệt Câu đối khóc vợ của nhà thơ rất chân thành, xúc động, nó là tiếng khóc riêng của ông đối với bà vợ già lam lũ, suốt đời chịu thương chịu khó:
“Nhà chỉn cũng nghèo thay, nhờ được bà hay lam hay làm, thắt lưng bó que, xắn váy quai cồng, tất tả chân đăm đá chân chiêu, vì tớ đỡ đần trong mọi việc
Bà đi đâu vội mấy, để cho lão vất vơ vất vưởng, búi tóc củ hành, buông quần lá tọa, gật gù tay đũa chạm tay chén, cùng ai kể lể chuyện trăm năm !”
(Câu đối khóc vợ)
So với các nhà thơ khoa bảng khác cùng thời, Nguyễn Khuyến là một người đã
có sự vận động rõ rệt trong tư tưởng, bởi văn chương của các nhà nho có thể có sự đổi
Trang 30thay về đề tài nhưng nội dung chuyển tải của nó cơ bản vẫn là “trung quân ái quốc” và không có gì khác trước Thơ Nguyễn Khuyến thì không phải như vậy, đây là kết quả
của một xáo trộn lớn trong cuộc đời của ông, là bước ngoặt trở về vườn Bùi, là thời điểm “Nguyễn Khuyến từ bỏ tư cách ông quan với địa vị phẩm tước cao sang mà quay
về làm người dân chân đất Chính bước ngoặt này đã mở ra một thế giới mới trong thi
ca của ông mà trước kia ông chưa bao giờ có […] Vậy, nhân tố mới tạo nên thơ ca Nguyễn Khuyến là sự vận động đột biến của chủ thể thẩm mĩ - một nhân tố nội tại trong quan hệ tương tác nhiều mặt của lịch sử” [4, tr 19]
Một điều đặc biệt là những tình cảm ấy luôn mang dấu ấn cá nhân của nhà thơ, của cái tôi trữ tình - tự thuật, điều mà trong văn học truyền thống trước đó khó tìm thấy Sự gần gũi với cuộc sống bình thường, sự xa vời với phương thức phản ánh cũ nặng về ước lệ tượng trưng, sự chối bỏ những chủ đề trung quân chung chung để tiếp cận các đề tài về cuộc sống của người dân với nỗi lo toan hàng ngày của họ đã khiến cho thơ Nguyễn Khuyến có phần tách rời khỏi truyền thống và hết sức gần gũi với thơ
ca hiện đại Có thể nói đó là những gạch nối đầu tiên giữa văn học trung đại và văn học hiện đại Có lẽ bản thân Nguyễn Khuyến cũng chưa hề ý thức về điều đó, nhưng chính những bài thơ có yếu tố tự thuật xuất chúng của ông lại chứa đựng sự tiếp nối này
Chính sự hòa mình vào cuộc sống hồn nhiên nơi thôn dã đã giúp cho nhà thơ giải tỏa được phần nào tâm trạng luôn day dứt, khổ đau và mặc cảm của mình để tìm đến cuộc sống của một con người bình thường Nguyễn Khuyến đã tìm thấy trong thiên nhiên, trong cuộc sống lam lũ của người dân quê ông sự thanh thản của tâm hồn, niềm lạc quan yêu đời, tình cảm xóm làng trong sáng Và đằng sau những bài thơ tự thuật chân tình, dân giã ấy ta lại thấy chất chứa một nỗi niềm nóng bỏng của nhà thơ về vận mệnh của đất nước, về cuộc sống của nhân dân, về tâm sự của một trái tim nhiều mẫn cảm, âu lo, trăn trở trước cuộc sống Đó cũng chính là nguyên do làm xuất hiện kiểu
con người thứ hai trong thơ tự thuật của ông, đó là hình tượng con người trầm tư
II.2.2 Hình tượng con người trầm tư
Con người trầm tư là kiểu con người hay nghĩ ngợi ưu tư, khắc khoải nhiều tâm
sự, chất chứa nhiều xúc cảm dằn vặt, lo âu Ở các bài thơ tự thuật, đặc biệt là thơ chữ Hán của Nguyễn Khuyến bộc lộ rất rõ kiểu con người này:
Trang 31- Trầm tư thế biến tuyệt kham thương
(Ngẫm thời thế biến chuyển thật đáng thương tâm.)
(Hữu cảm)
- Dĩ phận điền viên thập lục kỳ, Trầm tư vãng sự nhật tăng bi
(Đã yên phận nơi ruộng vườn mười sáu năm rồi, Ngẫm nghĩ lại việc đã qua mà ngày một thêm buồn.)
(Xuân nhật hữu cảm – II)
- Bút nghiên trầm tư hữu lệ, Sơn hà cử mục bất thăng thu
(Ngẫm đến bút nghiên đáng trào ra nước mắt, Ngước nhìn sông núi khôn xiết buồn đau.)
(Tiễn môn đệ Nghĩa Định sứ quân Lê Như Bạch,
nhân ký kinh thành chư môn đệ)
- Trầm tư ty lạp quân ân trọng
(Suy nghĩ cho kỹ thì ơn của vua dù bé nhỏ như sợi tơ hạt thóc vẫn là nặng)
(Xuân nhật thị nhi)
Đọc các bài thơ có yếu tố tự thuật của Nguyễn Khuyến, người ta thấy trong thơ
ông nhất là thời kỳ sau khi ông từ quan về quê càng ngày càng toát lên “một không khí
lạnh lùng, u uất, dằn vặt, một tâm trạng cô đơn buồn khổ…, những màu sắc lạnh lẽo, khắc khoải những âm điệu cô liêu” [10, tr 45] Các bài thơ tự thuật của Nguyễn
Khuyến biểu hiện rõ tâm trạng của ông đặc biệt là tâm trạng dằn vặt đầy ưu tư khi thấy mình trở thành người thừa trong xã hội
Các nhà nho hành đạo luôn tin tưởng vào sứ mệnh thiêng liêng cao cả mà một nhân cách đứng giữa đất trời như mình có được, tin tưởng vào tính hữu ích của cái học vấn mà mình học tập sách thánh hiền để “kinh bang tế thế” Với nhận thức về trọng trách của người trí thức trong cuộc đời và xã hội như vậy mà Nguyễn Công Trứ đã
khẳng định “Đã mang tiếng ở trong trời đất / Phải có danh gì với núi sông” (Đi thi tự
vịnh) Nhưng đến Nguyễn Khuyến, dường như mỗi khi nghĩ tới điều đó, ông lại mang
một nỗi mặc cảm lớn ở trong lòng “Ông luôn tự dằn vặt, trăn trở, day dứt về sự bất lực
của bản thân trong tư cách một nhà nho, một nhân vật văn hóa Có thể nói qua thơ Nguyễn Khuyến, lần đầu tiên trong lịch sử, nhà nho tự thú về sự vô dụng của mẫu
người mà mình đại diện” [31, tr 557]
Trang 32Hoạn lộ của Nguyễn Khuyến nhìn chung có vẻ trôi chảy, xuất chính vào tuổi tráng niên, làm quan ở Huế rồi ở Nam Trung Bộ, Nguyễn Khuyến sống ở môi trường trung tâm của những biến cố chính trị - xã hội của đất nước Không phải chỉ vì bệnh tật, cũng không phải vì hôn quân nịnh thần ở chốn triều đình mà ông cáo quan, lui về vườn Bùi chốn cũ Lý do cáo quan chủ yếu là do sự chi phối của một tâm lý bất lực,
thất bại chủ nghĩa Ông nhìn thấy “Cờ đương dở cuộc không còn nước” nên đành
“Bạc chửa thâu canh đã chạy làng”(Tự trào), vừa cao ngạo về sự thành đạt tột độ thì
ngay đấy Nguyễn Khuyến đã cảm thấy nhục nhã Vừa mới dương dương “Cưỡi đầu
người kể đã ba phen”, lại chột dạ ngậm ngùi “Ơn vua chửa chút báo đền/ Cúi trông
hổ đất, ngửa lên thẹn trời” (Di chúc - 1)… “Những dằn vặt nội tâm dữ dội ấy đã khiến
Nguyễn Khuyến trở thành người phát ngôn điển hình cho cả một đẳng cấp xã hội vốn
tự coi mình mặc nhiên là kẻ tiên tri, tiên giác, giờ đây trở thành kẻ “ăn dưng”, thành
kẻ phải đi lụy kẻ khác” [34, tr 304] Những bài thơ tự thuật của Nguyễn Khuyến nhiều
khi thành thật đến nhức nhối:
Ta cũng chẳng giàu, cũng chẳng sang, Chẳng gầy, chẳng béo, chỉ làng nhàng
Cờ đương dở cuộc, không còn nước, Bạc chửa thâu canh đã chạy làng
Mở miệng nói ra gàn bát sách, Mềm môi chén mãi tít cung thang
Nghĩ mình lại gớm cho mình nhỉ, Thế cũng bia xanh, cũng bảng vàng
(Tự trào)
Nguyễn Khuyến tự thấy mình lẻ loi, vô tích sự, thấy mình thừa thãi giữa cuộc đời nên đã nhiều phen ông muốn tìm nơi trốn tránh Ông tìm đến những thú vui trần thế:
“Thú vui con hát lựa chiều cầm xoang” (Khóc Dương Khuê) hay “Chiếu trung đình
ngất ngưởng ngồi trên” (Cáo quan), rồi lại tự thấy sao mà vô nghĩa, Nguyễn Khuyến
tìm đến rượu và thơ tự thuật của ông cũng nói nhiều đến rượu (78 bài), dường như ông muốn uống để quên đi hết cái sự đời:
Có rượu Trung Sơn cho lũ tớ, Tỉnh ra hỏi đã thái bình chưa?
(Nói chuyện với bạn)
Trang 33Và cái cảnh “Tuổi thêm, thêm được tóc râu phờ” phải nhận mình là “lơ láo, ngất
ngơ”, cho nên khi say là nỗi buồn da diết, “say ngã đùng” chỉ là vờ, “buồn không nói” mới là thật Cơn khủng hoảng nội tâm ấy dường như có chiều dày vũ trụ:
Da trời ai nhuộm mà xanh ngắt, Mắt lão không vầy cũng đỏ hoe
(Thu ẩm)
Không chỉ buồn cho cá nhân, cho giai cấp mình, mà đó là một tâm trạng phổ biến của một người dân bị mất nước, bị o ép, bị hành hạ cùng cực Nguyễn Khuyến đã cố
gắng tìm một phương thức tối ưu để tồn tại được giữa cuộc đời “Mọi ứng xử cổ điển
của nhà nho trước kia đã được Nguyễn Khuyến dấn mình nếm trải: hết hành đạo đến
ẩn dật, hết “thú quê” đến thú tiêu dao, và rồi “thơ túi rượu bầu, đầu mày cuối mắt”, ông cũng đã thử làm người tài tử Tất cả đều không làm ông yên lòng” [34, tr 306]
Nguyễn Khuyến không có một quan niệm nào khác rằng làm dân trong một nước trước hết phải trung với vua, nhất là khi làm một nho sĩ của triều đình thì càng phải thờ vua giúp nước Cho nên không phải ngẫu nhiên mà trong khi thi đậu, mặc dù tình hình xã hội phức tạp, ông vẫn cứ ra làm quan rồi có tang mẹ, ông về để tang ít lâu sau lại ra tiếp tục, và trong mười một năm trên đường hoạn lộ, ông tỏ ra rất tận tụy Đối với ông, làm quan là con đường duy nhất để nhà nho có thể thực hiện lý tưởng “trí quân trạch dân” của mình
Vào thời buổi thái bình của xã hội phong kiến thì một quan niệm như vậy có thể làm cho Nguyễn Khuyến trở thành một ông quan mẫu mực Nhưng những năm Nguyễn Khuyến ra làm quan, thực dân Pháp xâm lược Việt Nam và phong trào Cần Vương chống Pháp nổ ra khắp nơi rồi thất bại Một bộ phận nho sĩ trí thức không có cái dũng cảm xả thân cứu nước thì từ quan về nhà, bất hợp tác với giặc Còn một bộ phận tiếp tục làm quan, một số không ít như Nguyễn Hữu Độ, Hoàng Cao Khải, Nguyễn Thân…thì làm tay sai cho giặc Nguyễn Khuyến không có cái dũng cảm lấy cái chết của mình để đền nợ nước, nhưng ông cũng không tiếp tục làm quan khi đất nước rơi vào tay giặc, ông chọn con đường từ quan về nhà Đối với một nhà nho từng lấy việc làm quan làm con đường thực hiện lý tưởng như Nguyễn Khuyến, thì việc từ quan về nhà không phải là chuyện dễ Nhà thơ có lúc cay đắng nhận ra và xót xa cho
sự bất lực của mình:
Tài tiểu nan phân đa lũy nhục,
Trang 34Giúp nước, bạn bè còn lại đó
Về nhà, con cháu chắc hiền đâu?
(Khứ quốc khởi vô bằng bối tại, Quy gia vị tất tử tôn hiền.)
(Cảm tác)
Cho nên “Nói chung âm điệu trong phần lớn thơ trữ tình của Nguyễn Khuyến là
buồn […] Trong nỗi đau buồn của nhà thơ, có một phần ông thấy mình không làm được gì để đền ơn cho nhà Nguyễn” [13, tr 742] Ông dặn con cháu: “Trầm tư ty lạp quân ân trọng” (Suy nghĩ cho kỹ thì ơn vua dù bé nhỏ như sợi tơ hạt thóc vẫn là
nặng); ông tự nói với chính bản thân “Quân ân vị báo đầu tiên bạch” (Ơn vua chưa trả được mà đầu đã bạc) Tuy nhiên, cái “buồn trong thơ Nguyễn Khuyến không phải là
loại buồn tự hạ thấp mình, mà trái lại, vẫn có tác dụng nâng mình lên… Nguyễn Khuyến là người nghiêm túc, mực thước nhưng Nguyễn Khuyến lại say nhiều, có lẽ là say nhiều nhất trong thơ” [4, tr 31-32] Say như thế chính là có phần tỉnh, vì trong cái
say của Nguyễn Khuyến vẫn tiềm ẩn một vẻ đẹp, một tâm trạng ưu thời, mẫn thế:
Túy ông ý chẳng say vì rượu Say vì đâu nước thẳm với non cao
(Uống rượu ở vườn Bùi)
Mạc quái bằng song liên nhật túy Ngã vi bất túy thục vi tinh ?
(Đừng trách bên song say khướt mãi Không say thì tỉnh với ai mà)
(Lão thái – Vẻ già)
Cuộc xâm lăng của thực dân Pháp là một thực tế có tác động mạnh chưa từng có đến sự tự ý thức của tầng lớp trí thức Việt Nam, buộc các nhà nho phải nhận thức lại
Trang 35thực chất vai trò, vị trí xã hội của đẳng cấp mình Bài Cận thuật (Thuật lại gần đây)
của ông có câu:
Cánh vô thực học tỳ suy thế, Thặng hữu dư danh quán đại đình
(Đã không có cái học thực dụng để giúp đời đang suy, Lại còn mang cái hư danh đỗ đầu thi đình.) Đây là tâm sự rất thật của người đã đỗ đại khoa, đứng nhìn non sông đất nước chìm đắm trong thất bại mà chẳng có cách gì cứu vãn Sự nổi tiếng của ông nhờ khoa
cử đáng tự hào một thời nay ngẫm lại chỉ càng thấy thêm hổ thẹn Bài Ngày xuân dặn
các con của ông bày tỏ tâm sự ấy:
Sách vở ích gì cho buổi ấy,
Áo xiêm nghĩ lại thẹn thân già
Sách vở ở đây chính là văn chương - Văn chương có ích dụng gì trong thời buổi
loạn ly, khi mà chính Tế Xương cũng phải thốt lên “Nào có ra gì cái chữ Nho”(Chữ
Nho) Đã bao đời, người ta yên tâm tin rằng học thi thư, học văn chương là cái học cần
thiết có ích cho xã hội, nhưng bây giờ cái học ấy không đánh bại được súng đạn của kẻ thù Nhà nho có lương tâm không chỉ đau buồn mà còn tự hổ thẹn vì có tài học nên làm quan và được hưởng bổng lộc hơn người, vậy mà bây giờ lại làm kẻ vô dụng giữa cuộc đời! Cho nên, Nguyễn Khuyến đã phải thốt lên trong đau đớn lòng mình:
Rẻ rúng văn chương, cơn mạt học, Ngậm ngùi mái bạc, chí bình sinh
(Thủy niên ý khí quy song mấn, Mạt học văn chương nhập hạ tằng.)
(Cảm xúc)
Nguyễn Khuyến vẫn tiễn con đi Huế thi Hội và mừng vì con đỗ phó bảng nhưng ông lại cảm thấy chuyện khoa cử và làm quan của con trai giống như canh bạc tổ tôm đến hồi tàn:
Lãng chú kim ngân nang dĩ khánh, Bất tri hà đổ cục tương tàn
(Dốc bừa tiền bạc ra, túi đã rỗng tuếch, Không biết rằng canh tổ tôm đã sắp tàn.)
(Thị tử Hoan – Dặn con là Hoan)
“Do có một sự tự ý thức rất cao về tính chất vô dụng của cái học mà mình theo
đuổi, cũng tức là năng lực của bản thân mình trước đòi hỏi nghiệt ngã của thời cuộc,
Trang 36Nguyễn Khuyến đã dũng cảm duyệt xét lại bản thân như một nhân cách Đó là tiền đề
xã hội và tâm lý của cảm hứng tự trào trong thơ Nguyễn Khuyến” [31, tr 561] Không
phải người trí thức nào trong cơn phong ba của lịch sử cũng có thể nhận ra được bộ mặt thật của giai cấp mình và thừa nhận sự bất lực của nó trước lịch sử Nguyễn Khuyến lớn chính vì ông là một trong rất ít trí thức thời kỳ ấy sớm nhận ra sự bất lực của giai cấp mình, của vốn học vấn được đào tạo theo kiểu “kinh bang tế thế” trước thực tế lịch sử, để đem ra trào phúng, châm biếm thần tượng cao nhất của cả một thể chế xã hội đã tồn tại hàng ngàn năm - ông tiến sĩ, nay đã trở thành thứ đồ chơi bằng giấy để “dử thằng cu”:
Ghế chéo, lọng xanh ngồi bảnh chọe, Tưởng rằng đồ thật hóa đồ chơi!
(Tiến sĩ giấy - II)
Thật là một hình ảnh thảm hại! Giá trị phê phán càng trở nên sâu sắc hơn khi bản chất sự phê phán ấy lại chính là sự tự phê phán tự trào bởi trong số những “ông nghè tháng Tám” hết thời ấy có cả bản thân Nguyễn Khuyến Có lẽ ông là người trí thức đầu tiên trong thời đại mình có được cái nhìn như vậy Con người ta tự hài hước mình, tự
“bôi nhọ” mình, tự hạ bệ mình khó lắm, nhất là lúc đang ở đỉnh cao của vinh quang, hoa mắt vì danh vọng là chuyện thường tình Còn việc dám đem cái lỗi thời của mình
ra để nhạo báng, châm biếm thì không phải ai, không phải giai cấp nào cũng dám làm
Từ quan, bất hợp tác với thực dân Pháp, dùng ngòi bút để phơi bày những quan lại xấu xa, những giả dối, đen bạc của xã hội thời bấy giờ và cố gắng để giữ tấm lòng ngay thẳng cho đến cuối đời - đó đã là một nhân cách lớn Bi kịch của Nguyễn Khuyến không phải là bi kịch của một cá nhân mà chính là bi kịch lịch sử, bi kịch của cả một giai cấp trước những biến động của đời sống lịch sử dân tộc GS.Trần Đình Sử cho
rằng: “Nguyễn Khuyến là người đầu tiên nhận ra sự trống rỗng, hư vô, mất ý nghĩa
trong con người mình” [25, tr 187] Quan niệm nghệ thuật về con người này đã chi
phối, làm nên giá trị nội dung đặc sắc và mới mẻ ở thơ tự thuật Nguyễn Khuyến so với thơ tự thuật của các nhà nho truyền thống trước đó
Trước đây, chúng ta rất hiếm để có thể bắt gặp được tiếng cười tự trào trong thơ
ca nhà nho, trong xã hội phong kiến bởi sứ mệnh cao cả của họ là học hành, thi cử, đỗ đạt và làm quan để giúp vua trị nước đồng thời truyền bá, thực thi các tư tưởng, đạo lý Nho gia trong xã hội, trên vì vua - dưới vì dân Nhưng đến cuối thế kỷ XIX, khi Nho
Trang 37học đã bắt đầu bộc lộ những yếu kém của nó trước kẻ thù xâm lược có những tiến bộ cao về khoa học kỹ thuật thì các nhà nho bắt đầu đem bản thân mình ra làm đối tượng cười nhạo Với Nguyễn Khuyến, ông đã thống mạ sự vô dụng của tuổi già Trong khẩu ngữ dân gian, người xưa thường kiêng nhắc đến những khuyết tật của cơ thể, bởi các khuyết tật như điếc, đui, mù, què… chỉ thường được nhắc đến mỗi khi chửi rủa Nhưng ông lại liệt kê và cố ý cường điệu những biểu hiện khuyết tật cùng với sự già yếu của mình:
Năm nao năm nảo hãy còn ngây, Sầm sập già đâu đã đến ngay
Mái tóc phần sâu, phần lốm đốm, Hàm răng chiếc rụng, chiếc lung lay
Nhập nhèm bốn mắt tranh mờ tỏ, Khấp khểnh ba chân dở tỉnh say
Còn một nỗi này thêm chán ngán,
Đi đâu lủng củng cối cùng chày
(Than già)
Khác với nhà thơ Tế Xương có cái cười chửi đời, ngông nghênh thì Nguyễn Khuyến thường mượn cái cười để bộc bạch tâm sự Đó là cái cười xót xa, cái cười đau đớn của một một bậc đại trí nhưng vô dụng trước thời cuộc Trong lòng ông chứa đựng một mâu thuẫn lớn lao: có một Nguyễn Khuyến thanh cao luôn muốn làm những điều ích quốc lợi dân; lại như có một Nguyễn Khuyến khác cam chịu, “chạy làng”, dấn thân vào “hội lạc” Và nơi ông, con người thứ hai như thắng thế, nên ông luôn thán phục những người dũng cảm như ông nghè Dao Cù đã khởi nghĩa chống Pháp và bị tử hình, như “con thiêu thân” chết khi thân hình vẫn luôn cháy sáng; ông chế giễu những quan lại tay sai, và mượn hình ảnh “chuột ăn lúa” để chỉ trích chính bọn thực dân Thế nhưng điểm chính vẫn là nói về thái độ sống của mình: khi thì cười mình như một người đứng ngoài cuộc, khi thì coi mình như Mẹ Mốc, mà ông coi mình là người trong cuộc để tự thuật, để giễu, để cười mới là chính Có thể nói, con người trầm tư trong thơ Nguyễn Khuyến chính là những trăn trở, ngẫm suy của ông về thời cuộc, về đời mình Đau đớn, xót xa, cười mình và cười đời, có tài nhưng vô dụng là những dằn vặt dữ dội của một nhân cách lớn, của nỗi đau bị nén lại tạo nên những nỗi buồn riêng tây trong tâm hồn cụ Tam Nguyên Yên Đổ - một tấm lòng ít khi thanh thản mà bao giờ
Trang 38cũng day dứt Có thể nói dưới dạng một nho sĩ ở ẩn thì tâm hồn nhà thơ vẫn luôn có trăm nghìn mối dây bện chặt với cuộc đời của đất nước, của nhân dân
II.3 Các dạng thức nhân vật trữ tình trong thơ tự thuật của Trần Tế Xương
Thời đại Tế Xương là thời đại đặc biệt trong lịch sử dân tộc, khi cuộc chiến đấu chống Pháp của nhân dân ta bước vào giai đoạn thoái trào, thực dân Pháp đặt ách thống trị trên cả ba miền và tiến hành khai thác thuộc địa Trong tầng lớp nho học ở thành phố, một số khá đông bi quan với thời cuộc, khủng hoảng về lòng tin, họ đã sống theo kiểu sống bất mãn, chán ghét xã hội thực dân, nhưng cũng bị xã hội thực dân lôi cuốn; họ không phải là những người giàu có trong xã hội, nhưng cũng đua đòi
kẻ giàu có ăn chơi “Họ ăn chơi để khinh đời, nhưng rồi cuối cùng vì ăn chơi mà họ tự
khinh mình Có thể nói họ là những “con người thừa” - một sản phẩm tất yếu của xã hội thực dân giai đoạn này” [13, tr 781] Tế Xương là nhà thơ điển hình của giai đoạn
giao thời từ chế độ phong kiến sang chế độ thực dân nửa phong kiến - thời kỳ đặt nền móng cho nền văn học thị dân cận đại Đồng thời nhà thơ cũng là sản phẩm bất thành
của chế độ khoa cử đương thời - hay như cách nói của nhà văn Nguyễn Tuân: “Thơ và
đời Tú Xương dính liền khít với thiết chế trường thi và sự thi cử ở trường Nam Định [ ] Thơ và phú Tú Xương là những hồi quang tê tái về sự thi cử lúc nó sắp tàn cục”
[26, tr 378]
Thơ Tế Xương là một đặc sản của thời buổi Tây - Tàu nhố nhăng Thực dân Pháp
áp đặt văn hóa, lối sống Tây phương vào lối sống và phong tục người Việt Họ tạo ra một thứ người Việt tôi tớ, đấy là bọn quan lại, tay sai phủ, huyện, tổng đốc, nhưng đông hơn, gặp nhan nhản ngoài đời và tạo nên nét đổi thay cả xã hội, lại là lớp công chức ăn lương Pháp, ấy là các thứ thông, ký, phán, tham cho đến các thầy cẩm, thầy
cò, lớp người này sống ở các thành thị, làm nên nét đặc trưng của phố phường thời ấy
Xã hội Nam Định cuối thế kỷ XIX – đầu thế kỷ XX hiện lên cụ thể, chi tiết ở trong thơ
Tế Xương Và chỉ trong thơ Tế Xương nó mới phong phú, sinh động, đủ cho hôm nay chúng ta đọc mà như được chung khóc, chung cười với tác giả:
Muốn mù trời chẳng cho mù nhỉ, Giương mắt trông chi buổi bạc tình?
(Đau mắt)
Có thể khẳng định trong các nhà thơ viết bằng thứ chữ vuông tượng hình, Tế Xương là người đầu tiên và cũng là người cuối cùng đã đưa được không khí thị dân
Trang 39tiền tư bản vào thơ Ông đã mang được chất liệu lẫn cảm xúc hiện đại của thế kỷ XX vào các câu thơ được gọi là cổ điển, khuôn thước Các bài thơ có yếu tố tự thuật của
Tế Xương đã mang đến sinh khí mới, tạo nên sự khởi sắc cho thơ ca Việt Nam cuối thế kỷ XIX thoát dần hệ thống quy phạm của văn học trung đại Và cùng với đó chính
là sự đa dạng trong việc xây dựng hình tượng nhân vật trữ tình ở trong thơ ông
II.3.1 Hình tượng con người thị tài
“Con người thị tài là con người tự đề cao tài năng của bản thân Quan niệm
nghệ thuật về con người không chỉ thể hiện cái nhìn hướng ngoại mà còn là cái nhìn hướng nội của nhà văn Nhà văn tự phân tích, mổ xẻ bản thân mình để từ đó hình thành nên một quan niệm nghệ thuật về con người Con người thị tài chính là kết quả cắt nghĩa, lý giải của chủ thể sáng tạo khi hướng cái nhìn vào cá nhân mình” [12, tr
46]
Tài, đức là hai yếu tố hợp nên giá trị mỗi cá thể, nhưng trong xã hội phong kiến thì lại có sự “đối xử” thiếu bình đẳng với tài, trong khi đó lại đề cao giá trị của đức Do vậy mà chữ tài thường bị cái nhìn thành kiến, xem nhẹ:
Có đức thì hơn nữa có tài
(Nguyễn Trãi)
Chữ tâm kia mới bằng ba chữ tài
(Nguyễn Du) Trước thế kỷ XVIII, con người thị tài là kiểu con người không được sự khuyến khích, hưởng ứng trong xã hội nho giáo Bởi vì, con người mà đạo nho đề cao là con
người “có thể được sử dụng để nêu gương đạo đức, chứ không phải là con người có
tài năng” [33, tr 48], là con người biết tu thân, khắc kỷ chứ không phải là con người vì
danh lợi mà tự đề cao bản ngã Sang cuối thế kỷ XVIII - đầu thế kỷ XIX, với sự ra đời loại hình nhà nho tài tử, văn học trung đại Việt Nam xuất hiện một kiểu người mới, một quan niệm mới về con người - con người tài tử - với sự đề cao về tài năng Nhà nghiên cứu Phan Ngọc cho rằng, vào giai đoạn văn học cuối thế kỷ XVIII - nửa đầu
thế kỷ XIX thì “Tư tưởng thị dân đòi hưởng lạc, đòi hạnh phúc, chống lại thói an bần
lạc đạo xuất hiện, và trở thành xu hướng chính Các tài tử ra đời để thay thế các quân
tử, các trượng phu, là những người độc chiếm văn đàn trước đây Các tài tử ấy học đạo thánh hiền, nhưng suy nghĩ theo lối thị dân Nguyễn Du, Nguyễn Công Trứ, Cao
Bá Quát đều tự xưng là tài tử Con người tài tử là điển hình mới của thời đại Con