Hàng hóa công, công chứng
Trang 1Thành viên nhóm 10: Lớp ĐT01 K32
Nguyễn Thanh Bình
Hồ Diên Đạm
Hồ Quốc Hậu
Nguyễn Hà Thu
Nguyễn Thị Thùy Trang
Đào Văn Tình
Trang 2Hàng hóa công là gì?
Là loại hàng hóa mà tất cả mọi thành viên trong xã hội có thể sử dụng chung với nhau.Việc sử dụng của người này
không ảnh hưởng đáng kể đến việc sử dụng của người khác.
=> Không có tính loại trừ
Không có tính cạnh tranh
Trang 3 Hàng hóa công thuần túy:
Là loại hàng hóa công không thể định
suất sử dụng và việc định suất sử dụng là không cần thiết.
Hàng hóa công không thuần túy:
Là hàng hóa công có thể định suất sử
dụng có thể loại trừ nhưng phải chấp
nhận một khoản tốn kém chi phí nhất định.
Trang 4 Công chứng là hàng hóa công:
1. Không có tính loại trừ: các cá nhân trong xã hội
đều có quyền được công chứng
2. Không có tính cạnh tranh: khi có người sử dụng
hàng hóa này rồi thì người khác vẫn có quyền
được sử dụng nó
Chúng ta hoàn toàn có thể định suất sử dụng
nhưng rất tốn kém
=> Hàng hóa công không thuần túy
Trang 51. Khái quát về công chứng
Công chứng là hoạt động mang tính chất dịch
vụ, đối tượng là các hợp đồng giao dịch Công
chứng những hợp đồng này là công việc
chuyên môn của các luật gia
=> Bảo đảm cho sự an toàn pháp lý cho các bên
trong hợp đồng giao dịch, góp phần cho sự
kiểm soát của nhà nước
Nghị định 75/2000/NĐ-CP ngày 8/12/2000 ban hành những quy định về công chứng, chứng thực của PCC, UBND cấp huyện, UBND cấp xã
Trang 7 Cả nước có chưa đầy 140 phòng công chứng với khoảng 400 công chứng viên (Pháp: 60 triệu dân, 4.500 phòng công chứng và 8.000 CCV) => quá tải => nảy sinh các
vấn đề: tốn kém về thời gian, tiền bạc của cả Nhà nước và nhân dân; “cò” công chứng
Trình độ của công chứng viên còn nhiều hạn chế, một số công chứng viên thuộc loại “
con ông cháu cha”
Trang 8 Có sự nhầm lẫn về khái niệm giữa công chứng và chứng thực => phòng công chứng và cơ quan hành chính rơi vào tình trạng quá tải do thực hiện thêm 97% công việc không phải là của mình
Chưa có thời gian chuẩn bị về nghiệp vụ,
chuyên môn, nhân sự cho phường, xã và thị trấn
Cơ sở vật chất của một số phường, xã và thị trấn chưa đáp ứng được yêu cầu công chứng,
chứng thực
Trang 91. Hoàn cảnh ra đời
Ngày 18 tháng 7 năm 2007, Nghị Định
79/2007/NĐ-CP chính thức cho phép áp dụng hình thức công chứng tư nhân.
Tháng 7 năm 2008, 7 văn phòng công
chứng đầu tiên ra đời ở Hà Nội, sau đó đến tháng 9 năm 2008, 8 văn phòng công chứng tiếp theo ra đời ở TP HCM.
Trang 10 Tác động tích cực
- Giải quyết hiện tượng “con ông cháu cha” trong lực lượng CCV của phòng công chứng
- Giải quyết được tình trạng “hành dân “ của
phòng công chứng
- Gây áp lực khiến các phòng công chứng nhà nước phải nâng cao hơn nữa hiệu quả phục vụ
của mình
- Có dịch vụ công chứng tại nhà, có đường dây
nóng 24/24
- Giảm bớt tình trạng quá tải
Trang 12 Hạn chế
- Lệ phí: Ngoài việc áp dụng thu phí công chứng
theo mức thu quy định tại Thông tư liên tịch số 91/2008/TTLT-BTC-BTP, Văn phòng công
chứng còn được thỏa thuận thu thêm phí dịch vụ ngoài hợp đồng đối với khách hàng=> thiệt thòi cho khách hàng
- Non kém về nghiệp vụ => công chứng ẩu
=> hạ thấp uy tín, đạo đức nghề nghiệp của
công chứng viên trong mắt người dân
Trang 13 Hạn chế
- Các văn phòng công chứng vẫn chưa được người yêu cầu công chứng thừa nhận
- Luật công chứng còn chưa giải quyết được nhiều vấn đề thực tế Sự ràng buộc và sự thiếu chặt chẽ của pháp luật: Các luật vẫn còn mâu thuẫn với nhau Ví dụ như luật đất đai và luật công chứng
Trang 14 Nâng cao chất lượng và trình độ của
công chứng viên
Nâng cao trình độ quản lý của cơ quan
quản lý Nhà nước
Cần có sự liên thông thông tin, có sự phối hợp giữa các ngành các cấp : Để đảm bảo
an toàn cho hợp đồng, giao dịch của
người dân
Trang 15 Hoàn chỉnh hệ thống luật pháp , tránh có sự
chồng chéo giữa các quy định, nghị định
nghị quyết
Các văn phòng công chứng tiến hành mua bảo hiểm công chứng để đảm bảo mức độ an toàn việc công chứng và xác thực
Tiến hành ký quỹ để bồi thường thiệt hại do
công chứng viên làm sai
Công chứng tư nên có dấu quốc huy và trên con dấu của phòng công chứng tư cần có mã số của công chứng viên để dễ truy trách nhiệm