Giải thích câu ca dao Anh đừng bắc bậc làm cao Phèn chua em đánh nước nào cũng trong Giải thích: Phèn chua là muối sunfat kép của nhôm và kali.. Phèn chua không độc, có vị chát chua, í
Trang 1Dành tặng những người yêu Hóa học
Copyright© Võ Ngọc Bình, http://ngocbinh.webdayhoc.net
Ca dao tục ngữ với Hóa học
Trang 21 Giải thích câu ca dao
Anh đừng bắc bậc làm cao Phèn chua em đánh nước nào cũng trong
Giải thích:
Phèn chua là muối sunfat kép của nhôm và kali ở dạng tinh thể
K2SO4.Al2(SO4)3.24H2O
Phèn chua còn được gọi là phèn nhôm, người ta biết phèn nhôm còn trước cả kim loại nhôm
Phèn nhôm được điều chế từ các nguyên liệu là đất sét (có thành phần chính là Al2O3), axit sunfuric và K2SO4
Phèn chua không độc, có vị chát chua, ít tan trong nước lạnh nhưng tan rất nhiều trong nước nóng nên rất dễ tinh chế bằng kết tinh lại trong nước Cũng do tạo ra kết tủa Al(OH)3 khi khuấy phèn vào nước đã dính kết các hạt đất nhỏ lơ lửng trong nước đục thành hạt đất to hơn, nặng và chìm xuống làm trong nước
Anh đừng bắc bậc làm cao Phèn chua em đánh nước nào cũng trong
Phèn chua rất cần cho việc xử lí nước đục ở các vùng lũ để có nước trong dùng cho tắm, giặt
Vì cục phèn chua trong và sáng cho nên đông y còn gọi là minh phàn (minh là trong sáng, phàn là phèn)
Theo y học cổ truyền thì:
Phèn chua, chua chát, lạnh lùng Giải độc, táo thấp, sát trùng ngoài da
Dạ dày, viêm ruột, thấp tà Dùng liều thật ít, thuốc đà rất hay
Trang 3Phèn chua làm hết ngứa, sát trùng vì vậy sau khi cạo mặt xong, thợ cắt tóc thường lấy một miếng phèn chua to xoa vào da mặt cho khách
Phèn chua dùng để bào chế ra các thuốc chữa đau răng, đau mắt, cầm máu, ho ra máu (các loại xuất huyết)
2 Theo đông y, hàn the có vị ngọt mặn, tính mát dùng hạ sốt, tiêu viêm, chữa bệnh viêm họng, viêm hạnh nhân hạch, sưng loét răng lợi Nên có câu cao dao sau:
Hàn the ngọt, mặn, mát thay Tiêu viêm, hạ sốt, lại hay đau đầu Viêm họng, viêm lợi đã lâu Viêm hạch, viêm mắt thuốc đâu sánh bằng
Tây y dùng dung dịch axit boric loãng làm nước rửa mắt, dùng natri tetraborat để chế thuốc chữa đau răng, lợi Vậy hàn the là chất gì ?
Giải thích:
Hàn the là chất natri tetraborat (còn gọi là borac) đông y gọi là bàng sa hoặc nguyệt thạch, ở dạng tinh thể ngậm 10 phân tử H2O (Na2B4O7.10H2O) Tinh thể trong suốt, tan nhiều trong nước nóng, không tan trong cồn 900
Trước đây người ta thường dùng hàn the làm chất phụ gia cho vào giò lụa, bánh phở, bánh cuốn… để cho những thứ này khi ăn sẽ cảm thấy dai và giòn Ngay từ năm 1985 tổ chức thế giới đã cấm dùng hàn the làm chất phụ gia cho thực phẩm vì nó độc, có thể gây sốc, trụy tim, co giật và hôn mê
Natri tetraborat tạo thành hợp chất màu với nhiều oxit kim loại khi nóng chảy, gọi là ngọc borac
Trong tự nhiên, borac có ở dạng khoáng vật tinkan, còn kenit chứa
Na2B4O7.4H2O Borac dùng để sản xuất men màu cho gốm sứ, thuỷ tinh màu và thuỷ tinh quang học, chất làm sạch kim loại khi hàn, chất sát
Trang 4trùng và chất bảo quản, chất tẩy trắng vải sợi Hàn the còn được dùng để bào chế dược phẩm
Theo đông y, hàn the có vị ngọt mặn, tính mát dùng hạ sốt, tiêu viêm, chữa bệnh viêm họng, viêm hạnh nhân hạch, sưng loét răng lợi
Hàn the ngọt, mặn, mát thay Tiêu viêm, hạ sốt, lại hay đau đầu Viêm họng, viêm lợi đã lâu Viêm hạch, viêm mắt thuốc đâu sánh bằng
Tây y dùng dung dịch axit boric loãng làm nước rửa mắt, dùng natri tetraborat để chế thuốc chữa đau răng, lợi
3 Gừng có nhiều công dụng nên có câu dao:
"Chua, cay, mặn, ngọt đã từng
Gừng cay, muối mặn xin đừng quên nhau"
Gừng có những công dụng gì ?
Giải thích:
Trong ăn uống gừng có nhiều công dụng như:
- Chống lạnh cho thức ăn có tính lạnh như bầu bí, các loại cải, các món thuỷ sản (ốc, cua, cá), gia cầm ( ở miền Nam, vịt luộc phải chấm nước mắm gừng), gia súc như thịt trâu, thịt bò… ốc hấp gừng là món đặc sản
- Làm dậy mùi thơm ở bánh mứt, chè, rượu, bia…
- Chống nhiễm vi sinh vật (dưa, kim chi…)
Trong phòng chữa bệnh, gừng có nhiều tác dụng:
- Chữa cảm lạnh, rối loạn tiêu hoá
- Trong gừng có chất jamical có tính diệt nấm, mecin có tính diệt khuẩn
- Làm giảm mỡ máu, hạ thuyết áp, kích thích tiêu hoá Do gừng có nhiều công dụng nên có câu dao:
"Chua, cay, mặn, ngọt đã từng
Gừng cay, muối mặn xin đừng quên nhau"
Trang 54 Miếng trầu mang rất nhiều ý nghĩa:
Miếng trầu dùng trong giao tiếp, miếng trầu là đầu câu chuyện:
"Tiện đây ăn một miếng trầu Hỏi rằng quê quán ở đâu chăng là "
Miếng trầu dùng để trao duyên:
"Trầu này trầu quế, trầu hoa Trầu Loan, trầu Phượng, trầu ta, trầu mình"
Miếng trầu dùng để trách người bạn trai chậm chân:
"Ba đồng một mớ trầu cay Sao anh không hỏi những ngày còn không
Bây giờ em đã có chồng Như là cá chậu, chim lồng biết sao "
Miếng trầu dùng để khuyên nhủ lứa đôi
"Có phải duyên nhau thì thắm lại Đừng xanh như lá, bạc như vôi"
Miếng trầu dùng nói khi giúp đỡ việc cưới xin:
"Giúp cho quan tám tiền cheo Quan năm tiền cưới lại đèo buồng cau"
Miếng trầu dùng để trang điểm:
"Trầu này trầu tính, trầu tình
Ăn vào thêm đỏ môi mình, môi ta"
Miếng trầu dùng để đo thời gian:
"Láng giềng đã đỏ đèn đâu Chờ em ăn giập bã trầu em sang Đôi ta cùng ở một làng Cùng đi một ngõ vội vàng chi anh"
Hoặc là:
"Ngồi chơi mới giập bã trầu Mong anh nán lại, đôi câu giãi bày"
Trang 6Ông cha ta đã dùng miếng trầu để diễn đạt các cung bậc của tình cảm Cây cau, giàn giầu (trầu) đã đi vào văn thơ ca
Thơ Nguyễn Bính:
"Nhà em có một giàn giầu Nhà tôi có một hàng cau liên phòng Thôn Đoài ngồi nhớ thôn Đông Cau thôn Đoài nhớ giầu không () thôn nào ? "
Và:
"Cái ngày em đi lấy chồng Giầu không dây chẳng buồn leo vào giàn"
Dân ca quan họ Bắc Ninh"
"Cau non sánh với trầu vàng Con non kết bạn, trầu vàng kết duyên"
Hay:
"Tương tư môi đỏ dạ sầu Chưa ăn mà đã thấy say miếng trầu"
Và:
"Say nhau quan họ càng say Nâng niu một miếng trầu này mời nhau
Đã thương đến tận vườn cau
Đã yêu xin gửi miếng trầu làm tin"
Và lúc giã bạn:
"Miếng trầu cánh phượng hồng môi Dạt dào câu hát người ơi đừng về"
Văn hoá trầu cau có ý nghĩa hoá học và nhân văn như thế nào ?
Giầu không là tên cây cho lá để ăn trầu (ăn giầu)
Trang 7Giải thích:
Truyền thuyết dân gian "trầu cau" được lưu truyền từ đời Văn Lang đến nay Ngày nay còn rất ít người ăn trầu nhưng miếng trầu đã
đi vào đời sống văn hoá, tình cảm
và phong tục của dân tộc ta hàng mấy ngàn năm văn hiến Văn hoá
"Trầu cau" mang tính độc đáo của người Việt Nam Tích truyện "Trầu cau' đã được điện ảnh Việt Nam dựng thành phim truyện hấp dẫn, còn ca khúc về tích "trầu cau" đã có từ trước cách mạng tháng 8 (1945)
ý nghĩa hoá học :
Trước đây người ta thường mời nhau ăn miếng trầu cho vui, cho
ấm người, cho thơm miệng có đúng ăn trầu sẽ làm cho vui, ấm và sạch miệng hay không ?
Lá trầu có chứa từ 1,8 - 2,4% tinh dầu, chủ yếu là chavibetol và chavicol cùng một số phenolic khác Nước ép lá trầu có tác dụng tăng áp, giảm mạch ngoại vi và tính kháng sinh rất mạnh Đông y dùng trầu đánh gió, chữa cảm cúm, bỏng, chữa vết thương
Trong hạt cau (y học cổ truyền gọi là - đinh lang) có khoảng 18% tanin, 14% chất dầu, 2% muối khoáng và các hợp chất ancaloit, đặc biệt
là arecolin (C6H13NO2) chiếm 0,5% Chính arecolin có tác dụng làm tiết nước bọt, làm co đồng tử mắt, kích thích thần kinh phó giao cảm
Trầu cau không thể thiếu vôi, không có vôi miếng trầu không thể chuyển sang màu đỏ Vôi là chất kiềm, khi tác dụng với arecolin, chất này
có tính độc và chuyển thành arecaidin không độc mà có tác dụng gây hưng phấn
Trang 8Người ta thường thêm vào miếng trầu một lát vỏ rễ cây chay Vỏ
có tác dụng tăng thêm tanin cho miếng trầu Nhai miếng trầu khoảng 15 -
20 phút, bắt đầu "giập bã trầu", ở nhiệt độ cơ thể 370C, các phản ứng hoá học, phản ứng sinh màu giữa các phenolic, arecolin, arecaidin, tanin và các chất khác trong môi trường kiềm đã xảy ra Chính các phản ứng này tạo cho người ăn trầu cảm giác say, hưng phấn, ấm áp làm cho da mặt hồng hào, môi đỏ thắm, chống cảm cúm, diệt khuẩn, làm sạch miệng, làm chặt chân răng Ăn trầu chính là một cách trang điểm của người phụ nữ trước đây Miếng trầu làm cho đôi má thêm hồng, đôi môi thêm thắm, cho lòng thêm say
ý nghĩa nhân văn:
Lá trầu, quả cau là hai thứ không thể thiếu trong các đồ tế lễ, thờ cúng thần thánh, tổ tiên Người ta thường nói "hương, hoa, phù, tửu, bạc
lễ chi nghi" (hương, hoa, trầu, rươu, bạc lễ là nghi thức)
Miếng trầu có mặt trong mọi lễ nghi, cưới hỏi, giỗ chạp, tang gia
đã trở thành phong tục, truyền thống của người Việt Nam Ngày nay tuy không ăn trầu nhưng trong các lễ nghi người ta vẫn giữ phong tục truyền thống nghĩa là vẫn có trầu, cau Lễ dạm hỏi còn gọi là lễ "bỏ cơi trầu"
5 Ngày xưa, các cụ có câu: “Nam vô tửu như kỳ vô phong” đã nói lên
tác dụng hưng phấn của rượu Rượu ngâm thuốc gọi là rượu thuốc dùng
để chữa bệnh và tẩm bổ cơ thể
Cái nguy hiểm là ai cũng biết uống nhiều rượu là có hại nhưng hay
bị “quá chén” và dễ nghiện khi đã nghiện thì rất khó từ bỏ Đối với một
số người nó như tình yêu Nhà thơ Tản Đà đã viết:
“Say sưa nghĩ cũng hư đời
Hư thì hư thật, say thời (thì) vẫn say”
Trong các cuộc vui chúng ta nên “tửu bất khả ép” vì ngạn ngữ Nga
có câu: “Khi say biển chỉ đến đầu gối” mà nghiện thì “Trời chỉ bé bằng
Trang 9vung” Lý Bạch một nhà thơ lớn đời Đường ở Trung Quốc, đã quá say
khi làm thơ mà nhảy xuống sông vớt ánh trăng vàng
Văn hoá rượu có ý nghĩa hoá học và nhân văn như thế nào? Vì sao rượu giả có thể làm chết người?
Giải thích:
Rượu uống tên hoá học là etanol
có công thức C2H5OH Rượu trắng
là dung dịch của C2H5OH trong nước với nồng độ khác nhau Độ rượu là phần trăm thể tích của rượu trong dung dịch nước Rượu
400 là loại rượu mà 100 ml dung dịch rượu này thì có 40ml rượu và 60ml nước Rượu có nồng độ cao khoảng 80 0 90 gọi là cồn
Về hoá học, rượu là dẫn xuất của hidrocacbon trong đó một hoặc nhiều nguyên tử hiđro được thay thế bằng nhóm hidroxyl (OH) Đó là khái niệm chung về rượu, nhưng chỉ có etanol mới uống được Trên thế giới, chẳng dân tộc nào không dùng rượu, có khác chăng chỉ là khẩu vị từng vùng
Rượu là con dao hai lưỡi, nếu dùng ít và hợp lí thì có lợi còn khi lạm dụng dẫn đến nghiện lại là kẻ thù nguy hiểm
Về mặt y học, rượu có tính gây ngủ và an thần, ức chế thần kinh, giảm đau, nếu uống ít sẽ tăng tiết dịch vị, tăng hấp thụ, tăng nhu động ruột,
ăn ngon miệng Vì vậy sẽ là bất công và thiếu khách quan nếu chỉ hoàn toàn lên án rượu, coi rượu là kẻ thù nguy hiểm như ma tuý và thuốc lá Ngày xưa, các cụ có câu: “Nam vô tửu như kỳ vô phong” đã nói lên tác dụng hưng phấn của rượu Rượu ngâm thuốc gọi là rượu thuốc dùng để chữa bệnh và tẩm bổ cơ thể
Trang 10Cái nguy hiểm là ai cũng biết uống nhiều rượu là có hại nhưng hay
bị “quá chén” và dễ nghiện khi đã nghiện thì rất khó từ bỏ Đối với một
số người nó như tình yêu Nhà thơ Tản Đà đã viết:
“Say sưa nghĩ cũng hư đời
Hư thì hư thật, say thời (thì) vẫn say”
Trong các cuộc vui chúng ta nên “tửu bất khả ép” vì ngạn ngữ Nga
có câu: “Khi say biển chỉ đến đầu gối” mà nghiện thì “Trời chỉ bé bằng vung” Lý Bạch một nhà thơ lớn đời Đường ở Trung Quốc, đã quá say khi làm thơ mà nhảy xuống sông vớt ánh trăng vàng
Tổ chức y tế Thế giới kêu gọi mọi người bỏ rượu vì quá nhiều tác hại: hàng năm tiêu tốn 50 tỷ đô la ở Mỹ; 96 tỷ mác ở Đức; 70% tai nạn xe cộ; tỷ lệ nghiện và chết cao (26% do ngộ độc cấp bởi các tạp chất độc hại như anđêhit, metanol… có trong rượu)
Thế nhưng, một số nước như Liên Xô (cũ), Cô - oet đã cấm rượu
mà không thành công Chúng ta không khuyến khích uống rượu, nhưng rượu vẫn tồn tại trong cuộc sống hàng ngày Vì vậy cũng nên tìm hiểu về văn hoá rượu (Drrinking Culture)
Rượu có 2 loại: Loại chế từ hoa quả và loại chế từ ngũ cốc
Rượu chế từ hoa quả, trước tiên phải kể đến rượu nho (vang nho)
Có vang trắng, vang đỏ (cho phụ nữ) vang Bordeaux, Alsace (Pháp), vang Alazan (Georgie), vang Mônđavi, vang Bungari v.v
Loại vang sủi bọt, sâm banh mang địa danh Champagne (Pháp) đặc biệt vùng Reims, cách thủ đô Pari (Pháp) 140 km Hãng Piper - Heidseik
ở vùng này, thành lập từ 200 năm trước, có hầm rượu dài tới 16 km, thường xuyên chứa được 15 triệu chai và một bảo tàng dưới lòng đất chuyên lưu giữ các loại sâm banh của hầu hết các vùng trên Trái Đất Cầu kì hơn là rượu Cognac Cogac là một địa danh cách Pari 600
km Rượu Cognac đắt vì được làm từ loại nho đặc biệt do được chọn giống kĩ Qua quá trình lên men chưng cất, ủ trong các thùng gỗ sồi đặc sẳn
Trang 11(loại sồi Limousin hoặc Troncais do nhà nước quản lí) với thời gian khá dài
từ 3 đến 40 năm
Nếu ủ trong khoảng 3 - 5, rượu có nhãn V * S *; nếu ủ trên 5 năm: nhãn VSOP; từ 25 - 35 năm: nhãn XO Loại này được 4 hãng sản xuất: Hennesy, Martel, Remy Martin, hay Martel có giá từ vài trăm đến vài ngàn đô la Có loại Cognac dành cho vua chúa hay tỉ phú - nhãn XO trị giá 19000 franc Pháp, hoặc 4000 USD (40 triệu đồng Việt Nam)
ở nước ta do điều kiện khí hậu, thổ nhưỡng không có các loại nho ngon nên dùng vang táo, mơ, mận, dâu cũng theo nguyên tắc lên men, chưng cất nói trên và chỉ ủ trong thời gian ngắn ở Hà Nội có làng rượu
Mơ nổi tiếng, đã tồn tại cách đây 6, 7 trăm năm ở vùng Bạch mai - Hoàng Mai - Tương mai nay là xã Hoàng Văn Thụ, Trương Định thuộc quận Hai Bà Trưng Đó là rượu ngon nhất Hà Thành, “bất ẩm bất tri kỳ vị” Trong Tam Quốc, Tào Tháo và Lưu Bị đã uống rượu mơ mỗi khi bàn luận anh hùng Vua Tấn khi đấu cờ với Chung Vô Diệm cũng dùng rượu mơ
Rượu chế từ ngũ cộc (tinh bột); trước hết phải kể đến rượu Whissky, tiêu biểu và thường gặp là Whissky Chivas Regal ở vùng Scotland phía Bắc nước Anh Whisky loaị này được làm từ mạch nha với
3 loại thuần chủng: Glenlivet, Long mann và Glen Grant do một thợ chuyên nghiệp pha chế Rượu được ủ trong thùng gỗ sồi ít nhất 12 năm Rượu được sản xuất từ năm 1801, do hãng Chivas and Glenlivet Group thành lập từ năm 1786 Với ngót 2 thế kỉ kinh nghiệm, hãng đã cho ra thị trường một loại rượu ngon có tiếng, khoảng 430, mỗi năm 3 triệu thùng, mỗi thùng 12 chai 750 ml, ở 150 nước trên thế giới
Sau này có hãng Seagram Spiret to hơn, bao trùm cả Whisky Bourbon, Canda và Bắc Mỹ, còn được gọi là “ông hoàng Whissky” (Prince of Whisky)
Trang 12Ở Nga, Ba Lan, Đông Âu có Vodka cũng là rượu trắng, ngon nấu từ ngũ cốc ở Cu ba có rượu Rhum từ mía, ở Nhật có rượu Sakê từ gạo, ở Trung Quốc có rượu Mao Đài, chế từ cao lương, chưng cất và ủ trong 6 năm tại một địa danh tên là mao Đài cách Bắc Kinh 700 km Rượu Mao Đài đã được huy chương vàng ở hội chợ Panama do Mỹ tổ chức năm 1913
Ở Việt Nam có Lúa Mới, rượu đế (ở miền Nam) Đó đều là các loại rượu chế từ ngũ cốc, có nồng độ cao từ 40 - 600 ở miền Bắc ngày xưa có rượu Tăm, rượu Ngang Rượu Tăm là loại rượu mà khi lắc mạnh chai cho tăm rượu bốc mạnh lên như reo, rồi để chai đứng yên, thì tăm lặn ngay lập tức Cất 10 lít rượu thường mới cất được một chai rượu tăm, vì thế nên mới có câu : “Giúp em một thúng xôi vò, một con lợn béo một vò rượu tăm” Còn rượu Ngang là thứ rượu trắng mà người bán phải đựng vào bong bóng, thắt ngang lưng để che mắt các nhà thi hành pháp luật, vì ngày xưa cấm nấu rượu lậu
Ngày nay, trong các quầy rượu ta còn gặp một thứ gọi là liquơ (liqueur) Chúng cũng được chế từ ngũ cốc (gạo, ngô, khoai, sắn ) rồi qua chưng cất công nghiệp thành rượu nặng (trên 900) sau tinh chế loại bỏ bớt chất độc (anđehit, metanol; để thu được “cồn thực phẩm” có độ cồn thấp hơn, khoảng 40 - 600 Các cơ sở sản xuất rượu dùng loại cồn thực phẩm này pha thêm đường, màu thực phẩm và tinh dầu chanh, cam, dâu, táo thành các loại liquơ nhẹ, ngọt mà dễ uống mà ta vẫn quen gọi là rượu mùi (rượu màu)
ở nước ta, trong phong tục truyền thống, thờ cúng tổ tiên, ma chay, cưới hỏi đều phải có trầu và rượu, đó là những thứ không thể thiếu được, nhất là khi cưới hỏi:
“Cao tay nâng chén rượu hồng Mừng em, em sắp lấy chồng xuân nay”