1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

Dạy học tích hợp hóa học với đời sống và môi trường nhằm tăng hứng thú học tập bộ môn, nâng cao hiệu quả giáo dục của môn học

23 201 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 23
Dung lượng 769,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Về phía học sinh việc huy động kiến thức của nhiều môn học vào giảiquyết các tình huống sẽ giúp học sinh hiểu rộng hơn, sâu hơn về vấn đề đặt ratrong môn học đó, giúp học sinh phát huy s

Trang 1

II Mục đích nghiên cứu

III Đối tượng nghiên cứu

IV Phương pháp nghiên cứu

1 1 2 2

2

PHẦN II: NỘI DUNG SÁNG KIẾN

I Cơ sở lý luận

II Thực trạng

III Nội dung, biện pháp thực hiện để giải quyết vấn đề:

1 Nguyên tắc khi giảng dạy tích hợp

2 Hình thức giảng dạy tích hợp

3 Một số ví dụ cụ thể

IV Hiệu quả của sáng kiến:

2 3

4 4 4 6 19

3

PHẦN III: KẾT LUẬN – KIẾN NGHỊ

I Kết luận

Trang 2

PHẦN I: MỞ ĐẦU

I Lý do chọn đề tài:

Đổi mới phương pháp dạy học là một trong những vấn đề cấp thiết tronggiai đoạn hiện nay nhằm nâng cao chất lượng và hiệu quả giáo dục, phát huyđược tính tích cực, chủ động, sáng tạo của học sinh

Đổi mới phương pháp dạy học đòi hỏi người giáo viên bên cạnh việc cókiến thức tốt còn phải có kỹ năng truyền đạt kiến thức sao cho kiến thức đến vớingười học ngắn nhất, dễ hiểu nhất

Đổi mới phương pháp dạy học môn Hoá học cũng không ngoại lệ Ngoàiviệc nâng cao hiệu quả dạy học bằng nhiều phương pháp khác nhau như:phương pháp thực hành, phương pháp sử dụng đồ dùng trực quan, sử dụng côngnghệ thông tin …thì việc tạo hứng thú say mê học tập môn hoá học cũng là mộtnhiệm vụ hết sức quan trọng Do đó giáo viên bộ môn cần hình thành ở các emlòng yêu thích môn học, những cách học dễ nhớ, phương pháp làm việc khoahọc là nền tảng cho việc giáo dục xã hội chủ nghĩa, phát triển năng lực hànhđộng và hình thành kỹ năng sống

Qua thực tế quá trình dạy học bản thân tôi thấy rằng việc kết hợp kiếnthức các môn học, các tình huống thực tiễn vào giảng dạy bộ môn Hóa học làviệc làm hết sức cần thiết Điều đó đòi hỏi người giáo viên bộ môn không chỉnắm chắc môn mình dạy mà còn phải không ngừng tìm hiểu kiến thức các mônhọc khác để tổ chức, hướng dẫn các em giải quyết các tình huống, các vấn đề đặt

ra trong môn học một cách nhanh nhất, hiệu quả nhất

Về phía học sinh việc huy động kiến thức của nhiều môn học vào giảiquyết các tình huống sẽ giúp học sinh hiểu rộng hơn, sâu hơn về vấn đề đặt ratrong môn học đó, giúp học sinh phát huy sự suy nghĩ, tư duy, sáng tạo tronghọc tập và hứng thú hơn trong học tập Từ đó kích thích sự tìm tìm tòi, ham họchỏi và vận dụng kiến thức vào thực tế tốt hơn

Đặc biệt trong giai đoạn hiện nay cùng với sự phát triển thì vấn đề ônhiễm môi trường ngày càng nghiêm trọng, biến đổi khí hậu ngày càng phức tạpgây ảnh hưởng nghiêm trọng đến sự phát triển trong tương lai càng đặt ra chongành giáo dục một nhiệm vụ quan trọng đó là phải giáo dục ý thức trách nhiệmmỗi cá nhân trong vấn đề bảo vệ môi trường, ứng phó với biến đổi khí hậu

Xuất phát từ những lý do trên cùng với suy nghĩ làm thế nào giúp họcsinh ham học và yêu thích môn học, tạo tiền đề cho việc phát triển tư duy của

các em ở cấp cao hơn tôi mạnh dạn đưa ra phương pháp: " Dạy học tích hợp hóa học với đời sống và môi trường nhằm tăng hứng thú học tập bộ môn, nâng cao hiệu quả giáo dục của môn học”

II Mục đích nghiên cứu:

Việc tích hợp các kiến thức thực tế, các nội dung về môi trường trong họctập có tác dụng tăng hứng thú cho tiết học, giúp học sinh hăng say vào học tập,chống mệt mỏi không làm cho tiết học nặng nề, nhàm chán Tăng cường khảnăng vận dụng kiến thức để giải quyết các vấn đề thực tiễn Phát huy tính tưduy, tạo thói quen độc lập, chủ động và sự sáng tạo của học sinh lôi cuốn các em

Trang 3

vào những hoạt động học tập

Đặc biệt với việc lồng ghép các kiến thức về môi trường trong bài họcgóp phần giáo dục ý thức bảo vệ môi trường cho thế hệ trẻ góp phần vào việcphát triển bền vững

III Đối tượng nghiên cứu:

Cách thức, địa chỉ, phương pháp tích hợp áp dụng trong giảng dạy chươngtrình Hóa học THCS

IV Phương pháp nghiên cứu:

1 Phương pháp nghiên cứu tài liệu:

2 Phương pháp quan sát:

- Quan sát học sinh tiếp thu và vận dụng kiến thức đã học

- Giáo viên dự giờ, thăm lớp

3 Phương pháp điều tra và thực nghiệm:

- Dùng hệ thông câu hỏi và phiếu điều tra

- Trao đổi với giáo viên và học sinh

- Trực tiếp giảng dạy và kiểm tra kết quả của học sinh

4 Phương pháp tổng kết, đánh giá, rút kinh nghiệm

PHẦN II: NỘI DUNG SÁNG KIẾN

I Cơ sở lý luận:

Xuất phát từ đặc điểm tâm sinh lý của học sinh THCS, đặc biệt là HSlớp 8,9 – Đây có thể nói là giai đoạn khủng hoảng tâm lý, các em thường bịphân tán sự chú ý, khó tập trung vào một vấn đề nào đó Bên cạnh đó bộ mônHóa học lại là một môn khoa học tự nhiên, đòi hỏi sự tư duy logic, sự tập trungcao độ và có phần khô khan

Đồng thời đối với học sinh THCS các em chưa có nhiều định hướng nghềnghiệp cho tương lai nên ý thức học tập các bộ môn chưa cao, các em chỉ thíchmôn nào mình học có kết quả cao hoặc thích giáo viên nào thì thích học môn

đó Người giáo viên dạy hóa học phải biết nắm tâm lý và đặc điểm lứa tuổi củahọc sinh, để lựa chọn phương pháp dạy học phù hợp

Đối với học sinh những kiến thức đời sống, những hiện tượng trong thực

tế luôn làm cho các em thắc mắc, đặt ra những câu hỏi và muốn được giải đáp

Vì vậy phương pháp dạy học bằng cách khai thác các hiện tượng hóa học thựctiễn trong tự nhiên và trong đời sống hàng ngày sẽ đưa các em đến với (kíchthích) sự tò mò, muốn tìm hiểu, khám phá môn học

Thông qua việc lồng ghép các kiến thức thực tiến, gần gũi với đời sống đểcủng cố, luyện tập lại kiến thức của bài học hoặc phát hiện ra kiến thức của bàimới Bằng cách đó các kiến thức được truyền tải đến người học một cách nhẹnhàng, dễ nhớ và nhớ lâu

Tích hợp trong giảng dạy sẽ giúp học sinh thay đổi loại hình hoạt động,làm cho kiến thức thêm sinh động, phong phú, giờ học bớt căng thẳng, gây hứngthú, tạo cảm giác thoải mái, dễ chịu trong học tập Học sinh tiếp thu kiến thứcnhẹ nhàng, ham học và yêu thích bộ môn

Trang 4

Ngoài ra việc tích hợp các kiến thức thực tiễn còn giúp hình thành cho

HS một số kỹ năng cần thiết như: quan sát, phân tích, suy luận, kỹ năng vậndụng kiến thức để giải quyết tình huống thực tiễn…

II Thực trạng:

Thực trạng cho thấy với đặc thù của bộ môn, học sinh cảm thấy rất khókhăn trong vấn đề lĩnh hội và tiếp thu kiến thức, dẫn đến không yêu thích mônhọc, hoặc có tư tưởng chỉ học thuộc lòng những kiến thức Do đó, việc tiếp thukiến thức diễn ra một cách thụ động, hạn chế khả năng tư duy, sáng tạo, tầmnhìn, tầm hiểu biết kiến thức khoa học, các em rất nhanh quên kiến thức Các emthường gặp khó khăn và lúng túng trong cách giải quyết những bài tập liên quanđến nhiều kiến thức do sự liên kết các kiến thức là không có; không biết sử dụngkiến thức đã học vào những tình huống thực tiễn

Bên cạnh đó một số giáo viên chỉ chú trọng vào rèn kĩ năng, phương phápgiải các dạng bài tập mà chưa chú ý nhiều đến việc liên hệ kiến thức thực tế vớikiến thức bài học, phương pháp làm cho bài giảng sinh động… Điều đó ảnhhưởng không nhỏ tới việc nâng cao hiệu quả bài dạy, chưa phát huy được tínhtích cực chủ động sáng tạo của học sinh, học sinh không có động cơ học tậpđúng đắn, kiến thức thực tế còn nhiều thiếu xót Điều đó đã thôi thúc tôi cầnphải thực hiện vận dụng đề tài để góp phần đổi mới phương pháp dạy học nângcao chất lượng

Qua khảo sát khi chưa áp dụng phương pháp tích hợp vào giảng dạy bộmôn thì nhiều học sinh ngại học, chất lượng làm bài tập, kiểm tra bài cũ và khảnăng liên hệ, giải thích hiện tượng thực tế của các em học sinh qua từng nămhọc còn thấp, cụ thể:

là dân tộc thiểu số với trình độ còn hạn chế, năng lực tư duy chưa cao và sự đầu

tư cho học tập của đại đa số gia đình là không có Vì vậy trong quá trình giảngdạy và học tập gặp rất nhiều khó khăn đặc biệt là với bộ môn thực nghiệm nhưmôn Hóa Tuy nhiên bản thân tôi luôn trăn trở để tìm ra những hướng đi, cáchgiải quyết vấn đề sao cho ngắn gọn, dễ hiểu và dễ nhớ Trong sáng kiến này tôi

Trang 5

xin trình bày những kinh nghiệm của bản thân trong quá trình lồng ghép cáckiến thức thực tế và môi trường vào trong giảng dạy góp phần làm giảm sự khôcứng, tăng sinh động cho bài giảng, nâng cao hứng thú học tập của học sinh với

bộ môn Hoá học, tăng cường khả năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn và gópphần giáo dục y thức trách nhiệm về vấn đề bảo vệ môi trường vì sự phát triểnbền vững

III Nội dung, biện pháp thực hiện để giải quyết vấn đề:

1 Nguyên tắc khi giảng dạy theo hướng tích hợp:

Khi dạy kiến thức hóa học bất kể từ lĩnh vực nào: cấu tạo nguyên tử,phương trình hóa học, dung dịch, hóa vô cơ hay hữu cơ…đều liên quan đến kiếnthức nhiều môn học hoặc các hiện tượng thực tế Do đó, trong quá trình dạy học,

GV sử dụng kết hợp những câu hỏi mở rộng theo hướng tích hợp sẽ làm cho họcsinh chủ động tìm tòi câu trả lời, đồng thời thấy được sự liên hệ giữa các mônhọc với nhau và tăng khả năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn

Tuy nhiên để dạy theo cách trên, người giáo viên phải biết chọn nhữngvấn đề quan trọng, mấu chốt nhất của chương trình để giảng dạy Ngoài ra giáoviên phải chọn lựa các hiện tượng thực tiễn gần gũi, phù hợp với nội dung bàihọc, tránh việc tích hợp lan man, không trọng yếu

Nếu người giáo viên kết hợp tốt phương pháp dạy học tích hợp sử dụngcác hiện tượng thực tiễn không chỉ giúp học sinh chủ động, tích cực say mê họctập mà còn lồng ghép được nhiều nội dung, nhiều hoạt động khác nhau như: bảo

vệ môi trường, chăm sóc và bảo vệ sức khỏe con người thông qua các kiến thứcthực tiễn đó đồng thời góp phần hình thành và rèn luyện ở học sinh những kĩnăng cần thiết cho một con người trong thời đại mới Đây cũng là hướng đi màngành giáo dục nước ta đang đẩy mạnh trong các năm gần đây

Trong quá trình dạy, giáo viên luôn có định hướng liên hệ thực tế giữa cáckiến thức sách giáo khoa với thực tiễn đời sống hàng ngày Để hình thành ở các

em thói quen liên hệ từ kiến thức đến thực tiễn, hình thành kĩ năng vận dụngkiến thức vào đời sống

2 Hình thức giảng dạy tích hợp:

Trong quá trình dạy học nếu ta chỉ áp dụng một kiểu dạy thì học sinh sẽnhàm chán Giáo viên có thể áp dụng nhiều phương pháp dạy học lồng ghép vàonhau; Giáo viên cũng có thể tích hợp bằng cách thay đổi loại hình hoạt độngnhư khi thì tổ chức trò chơi, khi thì lồng ghép giải thích các hiện tượng thực tế,khi thì đặt ra các tình huống giả định… có thể lồng ghép bằng tranh ảnh; cácđoạn video; các thí nghiệm vui, thí nghiệm thực tế hoặc kể những mẩu chuyệnnhỏ liên quan đến nội dung bài học

Thông qua đó vừa phát huy tính chủ động, sáng tạo của học sinh vừa tạođược môi trường thoải mái để các em trao đổi từ đó giúp học sinh thêm yêuthích môn học hơn

2.1 Lồng ghép môi trường vào bài dạy:

Trong cuộc sống hằng ngày, những hiện tượng thường xuyên bắt gặp nhưvứt rác bừa bãi, nước thải sinh hoạt, nước thải của các nhà máy xí nghiệp, các

Trang 6

khu công nghiệp không qua xử lí được thải ra môi trường ; Việc sử dụng cácsản phẩm hóa học trong nông nghiệp (thuốc trừ sâu, trừ cỏ,…); khói bụi của cácphương tiện giao thông, của các khu công nghiệp, đã và đang ảnh hưởngnghiêm trọng tới môi trường, gây nên biến đổi khí hậu

Giáo viên dạy học bộ môn hóa có thể lồng ghép các hiện tượng đó khigiảng dạy tính chất của một chất cụ thể hoặc khi giảng dạy phần sản xuất cácchất, hay ứng dụng của một số chất Ngoài việc gây sự chú ý của học sinhtrong tiết dạy còn giáo dục ý thức, trách nhiệm bảo vệ môi trường cho từng họcsinh Tùy vào thực trạng của từng địa phương mà ta lấy các hiện tượng cho cụthể và gần gũi với các em

2.2 Liên hệ thực tế.

Nêu hiện tượng thực tiễn xung quanh đời sống thông qua những câuchuyện ngắn có tính chất khôi hài, gây cười có thể xen vào bất cứ thời gian nàotrong suốt tiết học Hướng này có thể góp phần tạo không khí học tập thoải mái

Đó cũng là cách kích thích niềm đam mê học hoá

GV có thể đưa học sinh vào “tình huống có vấn đề” bằng cách đặt ra mộtcâu hỏi rất khôi hài hoặc một vấn đề rất bình thường, gần gũi mà thường ngàyhọc sinh vẫn gặp thay cho lời giới thiệu bài giảng mới Cách nêu vấn đề này tạocho học sinh bất ngờ, tò mò từ đó lôi kéo các em vào các hoạt động học tập

Lồng ghép kiến thức thực tế sau khi đã kết thúc bài học hoặc kết thúc mộtphần có liên quan Bằng cách này giúp cho học sinh hiểu sâu hơn, ghi nhớ lâuhơn lượng kiến thức đã được tìm hiểu trước đó đồng thời hình thành cho các emthói quen liên hệ kiến thức khi bắt gặp hiện tượng liên quan, các em sẽ suy nghĩ,

ấp ủ câu hỏi vì sao lại có hiện tượng đó? Tạo tiền đề thuận lợi khi học bài họcmới tiếp theo

Liên hệ thực tế cũng có thể được sử dụng thông qua các phản ứng hoáhọc cụ thể trong bài học Cách này có thể sẽ mang tính cập nhật, làm cho họcsinh hiểu và thấy được ý nghĩa thực tiễn bài học Giáo viên có thể giải thích đểgiải tỏa tính tò mò của học sinh mặc dù vấn đề được giải thích có tính chất rấtphổ thông

Nêu hiện tượng thực tiễn xung quanh đời sống thường ngày thông quacác bài tập tính toán Vì muốn giải được bài toán hoá học sinh phải hiểu đượcnội dung kiến thức cần huy động, hiểu được bài toán yêu cầu gì? Và giải quyếtnhư thế nào? Từ đó có thể giúp cho học sinh củng cố kiến thức hoặc lĩnh hộiđược vấn đề cần truyền đạt, cần giải thích

Tiến hành tự làm thí nghiệm qua các hiện tượng thực tiễn xung quanh đờisống ngày thường ở địa phương, gia đình… sau khi đã học bài giảng Cách này

có thể giúp học sinh tự tái tạo lại kiến thức qua các thí nghiệm hay những lúcbắt gặp hiện tượng, tình huống đó trong cuộc sống Góp phần phát huy khả năngứng dụng hoá học vào đời sống thực tiễn

Từ hiện tượng thực tiễn, xung quanh đời sống liên hệ với nội dung bàigiảng để rút ra những kết luận mang tính quy luật Khi học xong bất kỳ vấn đề

gì học sinh thấy có ứng dụng cho thực tế cuộc sống thì các em sẽ chú ý hơn,

Trang 7

hứng thú hơn Từ đó các em sẽ tìm tòi, chủ động tư duy để tìm hiểu, để nhớhơn Do đó mỗi bài học giáo viên nên cố gắng đưa ra một số ứng dụng thực tiễn(nếu có) sẽ lôi cuốn được sự chú ý của học sinh hơn.

Giáo viên cũng cần chú ý vì cấp độ bộ môn hóa ở THCS chưa tìm hiểusâu quá trình diễn biến của sự việc hay hiện tượng nên khi sử dụng các hiệntượng hóa học thực tiễn nên khéo léo trong giải thích vấn đề, và phải biết lựachọn cách giải thích cho phù hợp

3 Một số ví dụ cụ thể:

Thay cho các câu hỏi thông thường để tránh nhàm chán giáo viên có thểcho HS xem một đoạn video khoảng 3- 4 phút có nội dung liên quan sau đó yêucầu học sinh giải quyết các vấn đề đặt ra

Ví dụ 1: Bài 29, hóa học 9 – Axit cacbonic và muối cacbonat

+ Động cây Đăng có nhiềuthạch nhũ với nhiều hình thù đẹpmắt

- Giải thích câu hỏi: Thành phầnchính của núi đá vôi là CaCO3.Khi gặp nước mưa và khí CO2

trong không khí, CaCO3 chuyểnhóa thành Ca(HCO3)2 tan trongnước chảy qua khe đá vào tronghang động Dần dần Ca(HCO3)2

lại chuyển hóa thành CaCO3 rắnkhông tan Quá trình chuyển hóanày xảy ra liên tục, lâu dài tạo nênnhững khối thạch nhũ với nhữnghình thù khác nhau

CaCO3+CO2+H2O Ca(HCO3)2

- Thông qua đoạnvideo học sinh đượccung cấp thêm thôngtin về địa lí địaphương góp phần làmtăng hiểu biết xã hội

- Việc trả lời câu hỏigiúp các em củng cốthêm kiến thức về tínhchất của muối cacbont

- Từ đó học sinh vậndụng để giải thích một

số hiện tượng kháctrong thực tế như: cácmảng bám ở đáy ấmkhi đun nấu nước cónhiều đá vôi và cáchkhắc phục (dùng giấmăn), giải thích câu tụcngữ: “nước chảy đámòn” …

Ví dụ 2: Sau khi học xong bài tính chất hóa học của oxit hoặc khi học đến

tính chất hóa học của canxi oxit Gv có thể yêu cầu học sinh trả lời câu hỏi trongđoạn video sau:

- Cây hô hấp thải ra khí CO2

- CO2 sinh ra làm đục nước vôitrong do xảy ra phản ứng giữa

CO2 với Ca(OH)2 tạo kết tủa trắng

- Thông qua đoạnvideo và trả lời câuhỏi học sinh đượccủng cố kiến thức về

Trang 8

biết, cốc nước vôi

trong có thay đổi

- Học sinh liên hệthực tế để bảo vệ sứckhỏe

Ví dụ 3: Khi học về tính chất của muối NaCl (Bài 10 – Một số muối quan

trọng - Hóa học 9), Gv có thể mở rộng kiến thức và thay đổi không khí học tập

bằng đoạn video sau:

- Yêu cầu kĩ thuật: rau luộcxanh, giòn, trình bày đẹp

* Giải thích: Muối ăn (NaCl) dễ

hòa tan trong nước, đặc biệt lànước nóng; nước muối có nhiệt

độ sôi cao hơn so với nước nênlàm rau nhanh chín Do đó giữđược độ xanh tự nhiên và độ giòncủa rau

- HS được củng cốkiến thức về cácphương pháp chế biếnmón ăn đã được họctrong bộ môn côngnghệ 6 (món luộc)đồng thời được cungcấp thêm kiến thức

mở rộng về muốingoài ra giải thíchđược hành động trongthực tế

- Thông qua đó gópphần hình thành ở các

em kĩ năng nội trợ

Ví dụ 4: Không khí – sự cháy (bài 28, hóa học 8) hoặc Dầu mỏ và khí

thiên nhiên (bài 40, hóa học 9)

- Có thể dùng cát, đất, chăn chùm kín(đối với đám cháy nhỏ), bình cứu hỏa

- HS được củng

cố kiến thức về

sự cháy (điềukiện phát sinh,nguyên tắc dậptắt đám cháy),tính chất của dầu

Trang 9

Tuyệt đối không dùng nước

- Khi phát hiện có đám cháy xảy ra cầnbình tĩnh và thực hiện các biện pháp thoáthiểm như sau:

+ Tìm cách thông báo cho những ngườixung quanh

+ Đi khom lưng hoặc bò dưới đất đểthoát khỏi đám cháy; đóng các cửa trênđường di chuyển

+ Dùng khăn ướt, chăn ướt chùm kín khichạy qua đám cháy

+ Khi bị bén lửa lăn nhiều vòng dưới đất+ Đóng hết các của lớn, cửa sổ để cô lậpđám cháy [8]

mỏ

- Mở rộng kiếnthức và góp phầnrèn luyện kĩ năngdập tắt đámcháy, kĩ năngthoát hiểm khi có

CO2 xâm nhập vào cơ thể sẽ đẩy khí O2

ra khỏi máu, khiến oxi không được đưatới các tế bào và tế bào sẽ chết Ngoài ra,khí CO tác dụng trực tiếp trên cơ tim làgiảm co bóp của tim, tác dụng trên nãolàm giảm các chất dẫn truyền thần kinh,

từ đó làm giảm huyết áp có thể dẫn đến

tử vong

Những nạn nhân bị nặng, được cứusống thường để lại di chứng thần kinh,như: bệnh parkinson, rối loạn tri giác vàrối loạn nhân cách [8]

* Triệu chứng: Khi bị ngạt khí nặng sẽ

có những biểu hiện như: đau ngực, hồi

hộp, mất định hướng, co giật, hôn mê, rốiloạn nhịp tim, tụt huyết áp, thiếu máu cơtim, phỏng da, tiểu tiện, đại tiện không tựchủ [8]

* Sơ cứu, xử lí khi bị ngạt:

- HS vận dụngcác kiến thứcliên quan để trảlời câu hỏi

+ Tính chấthóa học của

Cacbon (bài 27, hóa học 9)

+ Sự kết hợpcủa hemogrobintrong hồng cầuvới khí oxi, CO,

CO2 (bài 22: Vệ sinh hô hấp - sinh học 8)

+ Phươngpháp sơ cứungười bị ngạt

(Bài 23- Thực hành hô hấp nhân tạo – sinh học 8)

- Hình thành ỏcác em kĩ năngvận dụng kiếnthức đã học vàothực tế cuộc

Trang 10

để cấp cứu, hạn chế di chứng Quá trìnhtới viện nếu nạn nhân thở yếu hoặc bấttỉnh, cần phải hà hơi thổi ngạt.

- Trong trường hợp bản thân ngườiđang ở trong phòng kín mà sử dụng máyphát điện hoặc đồ dùng sinh ra khí CO2,thì lúc cơ thể cảm thấy khó thở, hơi

choáng thì nên nhanh chóng dậy mở cửa

phòng ngay, nếu để lâu cơ thể lịm dần đi

Sau khi mở cửa cần tắt ngay các thiết bịhoặc bước ra ngoài phòng để không bịmệt mỏi do thiếu khí.[8]

Để không bị ngạt khí, mọingười không dùng than, củi để đốt, sưởitrong phòng kín Không chạy động cơ sửdụng xăng, dầu trong các khu vực khépkín Không sử dụng thiết bị đốt khí gaskhông có thông hơi trong phòng kín hoặctrong phòng ngủ

sống để bảo vệsức khỏe, môitrường

- Hình thành kĩnăng sống cho

HS trong trườnghợp phát hiện và

sơ cứu người bịngạt khí độc

Ví dụ 6: Để củng cố kiên thức về thành phần của không khí (Bài 28 –

Hóa học 8), Gv yêu cầu HS giải thích một hiện tượng trong thực tế

- Liên hệ thực tế hiện tượnglấy một đồ vật từ tủ lạnh rangoài; khói bốc ra từ que kem;

trời lạnh thấy có khói thoát ra từmiệng khi nói, khi thở…

* Tác hại của sương mù:

- Giảm tầm nhìn, tăng nguy

cơ xảy ra tai nạn giao thông

- Gây nên các bệnh về đường

hô hấp: ho, sổ mũi, cảm cúm

Do đó: đi học, làm việc vào

- Thông qua việc giải thíchhiện tượng thực tế này, HSđược củng cố các kiếnthức liên quan như:

tế như: lấy một đồ vật từ

tủ lạnh ra ngoài; khói bốc

ra từ que kem; trời lạnh

Trang 11

sáng sớm khi có sương mù cần mặc thêm áo, đội mũ, đi giầy tất

ấm tránh bị nhiễm lạnh; di chuyển cần thận trọng, giảm tốc

độ các phương tiện để tránh gây tai nạn giao thông.

thấy có khói thoát ra từmiệng khi nói, khi thở…

- Hình thành cho các em ýthức và kĩ năng bảo vệ sứckhỏe, ý thức tham giagiao thông an toàn

Ví dụ 7: Bài 41 – Nhiên liệu – Hóa học 9

- GV đưa ra

câu hỏi sau:

Tại sao phải

- Dùng que lửa châm để đưanhiệt độ của chất cháy đạt đếnnhiệt độ cháy

- Quạt mạnh để lùa không khíbên ngoài vào bếp nhằm cungcấp thêm khí oxi cho sự cháydiễn ra Tuy nhiên khi quạt quámạnh thì lại làm giảm nhiệt độcủa sự cháy xuống vì phải tiêutốn một lượng nhiệt nhất định đểlàm ấm không khí dư

+ Điều kiện phản ứnghóa học xảy ra, điều kiện

phát sinh sự cháy (Bài 13, bài 28 – Hóa học 8)

+ Sử dụng nhiên liệu hiệu quả (bài 41 – Nhiên liệu – Hóa học 9)

- HS liên hệ để giải thíchđược một số hiện tượngtương tự như: thổi mạnhthì nến tắt, các biện phápdập tắt đám cháy…

- Hình thành cho các em ýthức sử dụng nhiên liệutiết kiệm và hiệu quả

GV cũng có thể tích hợp bằng cách kể cho các em nghe những mẩu truyệnngắn, đọc những bài thơ hay có những câu đố vui liên quan đến nội dung bài học

để thay đổi không khí của tiết học

Ví dụ 8: Bài 29, hóa học 9 – Axit cacbonic và muối cacbonat GV đưa

ra câu đố như sau:

- GV đưa ra câu hỏi sau:

Nguyên tố nào đi vào cổ tích

Thắm duyên nhau bởi một miếng

- Muối CaCO3 tham gia vào thành phầncủa xi măng dùng trong xây dựng

- Những viên đá vôi nhỏ (CaCO3) được

Ngày đăng: 14/08/2017, 08:07

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w