Một số nét văn hoá dân tộc Mường áp dụng trong dạy học phần Ngữ văn địa phương... Theo tác giả Đặng Văn Lung, cho đến thời điểm năm 1988, có khoảng trên mười bản Đẻ đất đẻ nước.. Văn bả
Trang 111/30/23 1
Trang 2Một số nét văn hoá dân tộc Mường áp dụng
trong dạy học phần Ngữ văn địa phương
Trang 3A Lý thuyết
I.Văn học dân gian I.Văn học dân gian
1 Truyện dân gian: 1 Truyện dân gian:
1.2 -Thần thoại:
Mặt trời và mặt trăng
1.3 -Cổ tích: Sự tích mường Bi 1.4 -Truyện cười: Trứng ngựa
Trang 42 Sử thi: Đẻ đất đẻ nước ( TiÕng M êng: Te tấc te đác )
Trang 5Theo tác giả Đặng Văn Lung, cho đến thời điểm năm 1988, có khoảng trên mười bản Đẻ đất đẻ nước Bản trung bình là 8000 câu, bản dài nhất là 16000 câu, bản ngắn nhất là 3500 câu Văn bản được biên soạn công phu nhất là văn bản của Vương Anh, Hoang Anh Nhân, Đặng Văn Lung sưu tập (Đặng Văn Lung giới thiệu và khảo dị), nxb KHXH, 1988 Chúng tôi xin giơi thiệu
văn bản này.
Trang 6Toàn văn bản có độ dài 4629 câu, được chia làm 26 rằng (chương, khúc), bao gồm: 1- Mở đầu; 2- Đẻ đất; 3- Đẻ nước; 4- Đẻ cây si; 5-
Đẻ mường; 6 -Đẻ người; 7- Đẻ năm tháng; 8-
Đẻ Dịt Dàng; 9- Đẻ Lang Tá Cài; 10 -Đẻ Lang Cun Cần; 11- làm nhà ở; 12- Tìm lửa nước; 13- Tìm lúa, tìm cơm; 14- Đẻ rượu cần; 15- Tìm lợn gà, trâu bò; 16 -Lang Cun Cần lấy vợ; 17- Đẻ trống đồng và chia ruộng đất; 18- Tìm cây Chu; 19- Chặt cây Chu, kéo Chu; 20- Làm nhà chu; 21- Đốt nhà chu; 22- Săn con Moong lồ; 23- Đánh cá điên, quạ điên; 24 -Đánh ma ruộng; 25- Đánh ma May, ma lang; 26- Đưa nhà vua về Đồng chì Tam quan Kẻ chợ.
Trang 7Thuở ấy, khi đất trời còn hỗn mang, bỗng "mưa dầm mưa dãi" nước ngập mênh mông, 50 ngày sau mới rút hết Tự nhiên mọc lên một cây xanh có 90 cành, có một cành cao trọc trời, biến thành ông Thu Tha, Bà Thu Thiên Hai Thần truyền lệnh làm ra Đất, Trời và Vạn vật Sau đó, nắng dữ dội suốt 12 năm liền, mặt đất xơ xác Thần Pồng Pêu ao ước một trận mưa lớn Tức thì mưa to gió lớn suốt chín, mười ngày đêm; hạt mưa to bằng quả bưởi, nước lại ngập bao la Bẩy tháng sau nước rút cạn, có một cây si khổng lồ mọc lên tua tủa
1919 cành Trời sai con Sâu Gang khoét ruỗng ruột cây si
Cây đổ, mỗi cành hoá ra một bản mường:
"Một cành đổ về đất Sạ
Nên mường Sạp.
Một cành đổ về đất Giạp Nên mường Giạp.
Trang 93.Tục ngữ, ca dao
3.1 Ca dao
- Yêu nhau chẳng quản khó nghèo
Non cám cũng nuốt, già bèo cũng ăn
- Yêu nhau không lấy được nhau
Đi qua cửa ngõ ruột đau quằn quằn
Về nhà cơm chẳng buồn ăn
Nước chẳng buồn uống băn khoăn trong lòng
Trang 103.Tục ngữ, ca dao
- Tục ngữ về địa danh và đặc sản:
Nhất Bi, nhì Vang, tam Thàng, tứ Động.
Rau dớn mường Kha ăn ngon hơn
thịt gà xóm Mận.
- Tục ngữ về kinh nghịêm sản xuất:
Sấm mường lạ,để dạ mà ăn
Sấm mường Ngay quăng bừa cày lên gác.
Trang 11II.Văn hoá dân gian
Trang 121 Nhà ở
Người Mường ở nhà sàn đây là kiểu kiến trúc cổ truyền Nhà sàn truyền thống thường được lợp bằng cỏ gianh
Trang 131 Nhà ở
Người Mường ở nhà sàn đây là kiểu kiến trúc cổ truyền Nhà sàn truyền thống thường được lợp bằng cỏ gianh
Trang 142 Món ăn
Người Mường thích ăn các món đồ như xôi đồ, cơm tẻ đồ, rau, cá đồ…
Trang 152 Món ăn
Trang 16Rượu cần của người Mường nổi tiếng bởi cách chế biến và hương vị đậm đà của men được đem ra mời khách quý và
uống trong các cuộc vui tập thể.
Trang 173.Trang phục