1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Vấn đề văn hóa dân tộc việt nam trên tạp chí tao đàn (1939)

126 157 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 126
Dung lượng 2,22 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tôi xin cảm ơn tạp chí Khoa học & Công nghệ - Đại học Thái Nguyên, tạp chí Diễn đàn Văn nghệ Việt Nam, Báo Người Hà Nội đã tạo điều kiện cho tôi công bố những kết quả nghiên cứu trong

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI & NHÂN VĂN

LUẬN VĂN THẠC SĨ BÁO CHÍ HỌC

Người hướng dẫn khoa học: PGS TS NGUYỄN NGỌC THIỆN

Hà Nội - 2018

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Những tư liệu và số liệu trong luận văn là trung thực do tôi thực hiện Đề tài nghiên cứu và các kết luận chưa được ai công bố

Tác giả luận văn

Vi Thị Phương

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Để hoàn thành luận văn thạc sĩ này, trước hết, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn

sâu sắc tới thầy giáo hướng dẫn, nhà báo, PGS.TS Nguyễn Ngọc Thiện – người

đã luôn ủng hộ tôi trong quá trình hình thành, triển khai và hoàn chỉnh luận văn

Tôi xin chân thành cảm ơn các thầy giáo, cô giáo nhiều thế hệ trong Khoa

Báo chí - Truyền thông, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học

Quốc gia Hà Nội đã không ngừng dìu dắt và chia sẻ kiến thức, niềm say mê

nghiên cứu tới cho tôi, tạo điều kiện để tôi có được môi trường học tập và

nghiên cứu thuận lợi nhất

Tôi xin cảm ơn thư viện Viện Khoa học xã hội, thư viện Đại học Quốc gia;

thư viện Trường Đại học Khoa học Xã hội & Nhân văn – Đại học Quốc gia Hà

Nội; Trung tâm học liệu – Đại học Thái Nguyên; thư viện Trường Đại học Khoa

học Thái Nguyên; thư viện gia đình thầy Nguyễn Ngọc Thiện đã tạo điều kiện

thuận lợi cho tôi tiếp cận với nguồn tư liệu trong quá trình học tập và hoàn

thành luận văn

Tôi xin cảm ơn tạp chí Khoa học & Công nghệ - Đại học Thái Nguyên,

tạp chí Diễn đàn Văn nghệ Việt Nam, Báo Người Hà Nội đã tạo điều kiện cho

tôi công bố những kết quả nghiên cứu trong suốt quá trình thực hiện luận văn

Tôi xin bày tỏ lời cảm ơn chân thành tới gia đình, bạn bè, đồng nghiệp -

những người đã luôn động viên, sát cánh bên tôi, giúp đỡ tôi trong suốt thời gian

Trang 5

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN i

LỜI CẢM ƠN ii

MỤC LỤC iii

DANH MỤC BẢNG BIỂU vi

MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Lịch sử vấn đề nghiên cứu 2

3 Mục đích nghiên cứu 8

4 Nhiệm vụ nghiên cứu 9

5 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 9

5.1 Đối tượng nghiên cứu 9

5.2 Phạm vi nghiên cứu 9

6 Phương pháp nghiên cứu 10

6.1 Phương pháp nghiên cứu tài liệu thực chứng 10

6.2 Phương pháp khảo sát, thống kê 10

6.3 Phương pháp so sánh, phân tích, tổng hợp 10

6.4 Phương pháp nghiên cứu liên ngành 11

7 Đóng góp mới của đề tài 11

8 Bố cục của đề tài 11

CHƯƠNG 1: SỰ RA ĐỜI VÀ VAI TRÒ CỦA TẠP CHÍ TAO ĐÀN (1939) 13

1.1 Giới thuyết một vài khái niệm liên quan 13

1.1.1 Khái niệm “Tạp chí” 13

1.1.2 Khái niệm “Văn hóa” 15

1.1.3 Khái niệm “Bản sắc văn hóa dân tộc” 21

Trang 6

1.2 Bối cảnh lịch sử - xã hội, văn hóa thời kỳ 1930 – 1945 24

1.3 Báo chí văn hóa - văn nghệ 1930 -1945 và sự ra đời của tạp chí Tao Đàn 26 1.4 Bộ biên tập tạp chí Tao Đàn 31

* Tiểu kết 33

CHƯƠNG 2: TINH THẦN DÂN TỘC VÀ TÍNH NHÂN VĂN CỦA NỀN VĂN HÓA VIỆT NAM TRÊN TẠP CHÍ TAO ĐÀN (1939) 34

2.1 Tuyên ngôn tạp chí Tao Đàn 34

2.2 Nghị luận và Khảo cứu 36

2.3 Cuộc tranh luận “Nghệ thuật vị nghệ thuật hay Nghệ thuật vị nhân sinh?” trong giai đoạn cuối trên Tao Đàn 41

2.4 Sáng tác 54

2.4.1 Thơ hiện đại 54

2.4.2 Văn xuôi hiện đại 59

2.4.3 Kịch nói 63

* Tiểu kết 65

CHƯƠNG 3: TẠP CHÍ TAO ĐÀN (1939) PHÁT HUY TRUYỀN THỐNG VĂN HỌC DÂN TỘC VÀ ĐẨY MẠNH GIAO LƯU TRONG XÂY DỰNG VÀ PHÁT TRIỂN VĂN HÓA VIỆT NAM 66

3.1 Phát huy truyền thống văn học dân tộc 66

3.1.1 Văn học dân gian 66

3.1.2 Văn học cổ điển và cổ sử 67

3.1.3 Văn học hiện đại 69

3.1.4 Thống nhất ngôn ngữ tiếng Việt và cải cách chữ quốc ngữ 70

3.2 Đẩy mạnh giao lưu trong xây dựng và phát triển văn hóa Việt Nam 74

3.2.1 Nghiên cứu và tiếp thu tư tưởng triết học Đông Tây 74

3.2.2 Giới thiệu văn học nước ngoài 77

3.3 Xây dựng đội ngũ văn nghệ các thế hệ 81

Trang 7

3.3.1 Nâng đỡ các cây bút trẻ 81 3.3.2 Khẳng định các cây bút có đóng góp qua loại bài chân dung văn nghệ sĩ 82 3.4 Liên hệ: Nhận xét về việc sử dụng báo chí vào công cuộc xây dựng nền văn hóa mới ở Việt Nam hiện nay 85

* Tiểu kết 90

KẾT LUẬN 92 DANH MỤC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC CỦA TÁC GIẢ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN VĂN 94 TÀI LIỆU THAM KHẢO 95 PHỤ LỤC 104

Trang 8

DANH MỤC BẢNG BIỂU

Bảng 2.1 Kết quả khảo sát về nội dung Nghị luận – Khảo cứu 37

Bảng 2.2 Kết quả khảo sát về Cuộc tranh luận “Nghệ thuật vị nghệ thuật hay Nghệ thuật vị nhân sinh?” 48

Bảng 2.3 Kết quả khảo sát về Thơ hiện đại 55

Bảng 2.4 Kết quả khảo sát về Văn xuôi hiện đại 59

Bảng 2.5 Kết quả khảo sát về Kịch nói 63

Bảng 2.6 Kết quả khảo sát về Ngôn ngữ tiếng Việt 70

Bảng 2.7 Kết quả khảo sát về Triết học 75

Bảng 2.8 Kết quả khảo sát về Văn học nước ngoài 78

Trang 9

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Tao Đàn là một trong những tạp chí chuyên về văn hóa - văn học nghệ

thuật đầu tiên trong làng báo nước ta trước Cách mạng tháng Tám năm 1945 Năm 1998, trọn bộ tạp chí này được PGS.TS - Nhà báo Nguyễn Ngọc Thiện và tác giả Lữ Huy Nguyên sưu tầm biên soạn từ phục nguyên bản gốc Tuy nhiên, đây không phải là một tạp chí dễ dàng tiếp cận và chiếm lĩnh Trên thực tế, rất ít nhà nghiên cứu dành tâm sức nghiên cứu tạp chí này ở nhiều góc độ khác nhau

Vì vậy, đến nay vẫn còn nhiều khoảng trống cần được bổ khuyết Do vậy, việc

nghiên cứu Tao Đàn dù ở khía cạnh nào cũng là việc làm cần thiết và có ý nghĩa, nhằm khám phá đầy đủ hơn giá trị nhiều mặt của tạp chí

Xây dựng nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, phát triển và tôn vinh những giá trị văn hóa dân tộc và hình ảnh Việt Nam trước bạn bè năm châu

là trách nhiệm của tất cả các cấp, các ngành, của mọi người, trên các lĩnh vực của đời sống Bởi đó vừa là mục tiêu, vừa là động lực phát triển kinh tế xã hội Ở đây, không thể phủ nhận vai trò của văn học nghệ thuật rất quan trọng Bởi dường như mọi tác phẩm nghệ thuật giá trị sáng tạo ra có ý nghĩa văn hóa sâu đậm Vấn đề

đặt ra là: Tạp chí Tao Đàn có mối liên hệ gì với văn hóa dân tộc? Phải chăng Tao Đàn cũng có những đóng góp tích cực trong việc xây dựng và phát huy nền văn

hóa dân tộc Việt? Đó là những đóng góp gì và những đóng góp ấy có giá trị như thế nào đối với việc xây dựng nền văn hóa đậm đà bản sắc dân tộc Việt Nam nói chung?

Ngoài ra, hiện nay một số các báo và tạp chí chú trọng phát huy truyền

thống bản sắc đậm đà văn hóa dân tộc như: Tạp chí Văn hiến; Tạp chí Nhà văn và Tác phẩm; Tạp chí Nghiên cứu văn học; Tạp chí Diễn đàn Văn nghệ Việt Nam,

Tạp chí Văn hóa – Nghệ thuật, Nghiên cứu đề tài này một mặt cho phép ta nhận

thức lại lịch sử, mặt khác soi chiếu vào hiện tại để thấy được con đường vận động,

Trang 10

phát triển của văn hóa và báo chí Nhận diện lại vai trò của tạp chí Tao Đàn là việc

làm hữu ích, cung cấp cơ sở dữ liệu cho các cơ quan quản lý báo chí hiểu sâu về vai trò, vị trí, thực trạng hoạt động của loại tạp chí này trong hiện tại Từ đó có

cách lãnh đạo, quản lý phù hợp và hiệu quả hơn Đề tài cũng sẽ là tài liệu tham

khảo hữu ích cho các giảng viên, sinh viên khi học tập, nghiên cứu và bạn đọc quan tâm tới lịch sử báo chí, văn chương, văn hóa nước ta trước Cách mạng

Từ những lí do trên, chúng tôi chọn nghiên cứu đề tài “Vấn đề văn hóa

dân tộc Việt Nam trên tạp chí Tao Đàn (1939)”

2 Lịch sử vấn đề nghiên cứu

Nắm được lịch sử vấn đề nghiên cứu để tìm ra lối đi riêng là một việc làm quan trọng không thể thiếu khi thực hiện đề tài “Vấn đề văn hóa dân tộc

Việt Nam trên tạp chí Tao Đàn (1939)”

Tao Đàn ra đời năm 1939 Do tình hình xã hội thời gian này phức tạp nên việc lưu giữ các sản phẩm báo chí ít được coi trọng Sau khi Tao Đàn

xuất bản, lưu hành hiện diện trong nước nhưng hiếm người có được trọn bộ

tạp chí trong tay Ngoại trừ những ai có điều kiện sở hữu Tao Đàn, còn lại ít

người được đọc Năm 1998, công trình sưu tập trọn bộ tạp chí này ra đời do hai nhà nghiên cứu Nguyễn Ngọc Thiện và Lữ Huy Nguyên dày công sưu

tầm, biên soạn Từ đó, Tao Đàn mới có dịp tái xuất hiện đến với công chúng

hôm nay

Tao Đàn từ khi ra đời được xem là nơi “tập trung tất cả mọi sự gắng

công để đi tới sự hợp nhất và tiến hóa của văn chương Việt Nam” [60, tr 17] Tạp chí đã thu hút sự quan tâm của bạn đọc và các học giả nổi tiếng Chúng tôi xin điểm qua một số bài viết, tài liệu ghi chép, công trình nghiên cứu về tạp chí này ở Việt Nam như sau:

Năm 1973, Thanh Lãng trong cuốn Phê bình văn học thế hệ 1932 có

thể được coi là một trong những nhà nghiên cứu đầu tiên bàn luận về nội dung của

Trang 11

Tao Đàn [49, tr 150 - 200] Thông qua các bài nghiên cứu, bàn luận văn học của các giả có bài đăng trên Tao Đàn, Thanh Lãng muốn nhấn mạnh tới quan

điểm của các phái “nghệ thuật vị nghệ thuật” hay “nghệ thuật vị nhân sinh” tranh luận qua một chặng đường lịch sử

Tương đối thống nhất với quan điểm đánh giá của Thanh Lãng là quan

điểm của Huỳnh Văn Tòng Với công trình Báo chí Việt Nam từ khởi thủy

đến 1945, Huỳnh Văn Tòng là một trong những tác giả đầu tiên nghiên cứu

một cách bài bản và hệ thống về lịch sử báo chí Việt Nam Tác giả phân chia báo chí Việt Nam từ khởi thủy đến năm 1945 thành bốn thời kỳ: 1865 - 1907,

1907 - 1918, 1918 - 1930, 1930 - 1945 Năm 1973, Huỳnh Văn Tòng công bố đầu tiên ở Sài Gòn cuốn sách dựa vào luận án Tiến sĩ Báo chí học, bảo vệ

năm 1971, tại Pháp Công trình này, năm 1973 có tên là Lịch sử báo chí Việt Nam nhưng năm 2016, khi tái bản chỉnh sửa bổ sung, đã đổi tên thành Báo chí Việt Nam từ khởi thủy đến 1945 Đặc biệt là khi nói đến việc phân kỳ báo chí theo thứ tự, ông có đề cập 8 dòng về Tao Đàn: “Nhà xuất bản Tân dân còn cho ra thêm tờ Tao Đàn ra hai lần mỗi tháng Số đầu tiên ra ngày 1-3-1939

gồm nhiều cây bút nổi tiếng: Nguyễn Triệu Luật, Nguyễn Trọng Thuật, Phan Khôi, Hoài Thanh, Trương Tửu, Lan Khai, Lưu Trọng Lư, Nguyễn Tuân Hai

số đặc biệt viết về nhà thơ Tản Đà và nhà văn Vũ Trọng Phụng nhân ngày qua đời của hai cây bút nổi danh Bắc Hà là tài liệu quý giá cho những ai muốn

nghiên cứu về cuộc đời và sự nghiệp của hai nhân vật này.” [55, tr 279]

Cũng trong năm 1973, Vũ Hân trong cuốn Văn học Việt Nam thế kỷ

XIX, tiền bán thế kỷ XX (1800 – 1945) có dành hơn một trang nói về Tao Đàn:

“Tạp chí Tao Đàn là tạp chí bán nguyệt san xuất bản vào ngày mùng 1 và 16

mỗi tháng Số đầu ra mắt vào trung tuần tháng 2 năm 1939, nhân dịp Tết

Tao Đàn đã có công trong sứ mạng làm phát huy nảy nở tinh thần Việt Nam trong những công trình sáng tạo mãnh liệt và rõ ràng.” [33, tr 144-145]

Trang 12

Trong trang giới thiệu này, Vũ Hân đã có một vài đánh giá sơ lược về sự sáng

lập, mục đích, ban biên tập, thành tích nội dung và hình thức của tạp chí Tao Đàn Tuy nhiên, quan điểm Vũ Hân trong công trình này vẫn mang tính chất tìm hiểu sơ lược về Tao Đàn – tạp chí cùng thời với nhóm Tự lực văn đoàn Song, Vũ Hân có sự nhầm lẫn về ngày ra tạp chí Số đầu tiên Tao Đàn ra mắt ngày 01/3/1939 chứ không phải vào trung tuần tháng 2 năm 1939

Năm 1984, Nguyễn Thành đã để lại nhiều dấu ấn trong công trình Báo

chí Cách mạng Việt Nam 1925 -1945 cả về phương diện tư liệu và phương pháp nghiên cứu Ông đã đề cập đến tạp chí Tao Đàn qua việc liệt kê “những

tờ báo trung gian thường tỏ thiện cảm với mặt trận dân chủ, có thể kể: Đàn

bà, Con ong, Tiểu thuyết thứ năm, Tiểu thuyết thứ bảy, Tao Đàn, Ngày nay,

Việt báo, Ích hữu, Tiếng dân,…” [57, tr 142] Nói chung, những phát hiện của Nguyễn Thành về Tao Đàn đã đóng góp thêm tiếng nói trong lịch sử

nghiên cứu vấn đề này Qua công trình, nhà nghiên cứu đã khẳng định vị trí

đặc biệt của Tao Đàn trong tiến trình lịch sử báo chí Tuy nhiên, những nhận xét của Nguyễn Thành còn khá sơ lược khi nói về Tao Đàn

Đỗ Quang Hƣng cũng là một trong những nhà nghiên cứu quan tâm đến

Tạp chí Tao Đàn Trong công trình nghiên cứu Lịch sử báo chí Việt Nam 1865 – 1945, tác giả đã có những tìm tòi, nghiên cứu công phu về lịch sử báo chí

Việt Nam trong thời kỳ này Có thể nói do phạm vi nghiên cứu rất rộng nên tác giả đánh giá một cách tổng quan nhất cho từng giai đoạn và chọn một số

tờ báo tiêu biểu để bình luận Tác giả cũng đề cập đến Tao Đàn: “Tờ Tao Đàn

hai tháng 1 kỳ, ngày số đầu 1-7-1939 đã có tới 134 trang, dành riêng nói về

nhà thơ, nhà báo nổi tiếng Tản Đà Báo này xuất hiện ở Hà Nội” [40, tr 183]

Tuy nhiên, tác giả viết chưa chính xác về ngày ra số báo đầu tiên (phải là

ngày 1-3-1939) và kỳ ra báo (phải là 2 lần/1 tháng) của tạp chí Tao Đàn Phải

Trang 13

chăng, Đỗ Quang Hưng có đề cập đến tạp chí này nhưng qua những tài liệu gián tiếp nên dẫn tới tình hình trên

Tiếp tục tìm hiểu một số tác giả khác, chúng tôi nhận thấy Nguyễn

Ngọc Thiện cũng là một người dành nhiều tâm huyết với tạp chí Tao Đàn

Năm 1996, lần đầu tiên, Nguyễn Ngọc Thiện đã đề cập đến tạp chí Tao Đàn

trong bài khảo luận “Nhìn lại cuộc tranh luận nghệ thuật 1935 – 1939” in ở

đầu cuốn Nhìn lại cuộc tranh luận nghệ thuật 1935-1939 [62, tr 23 - 105] (Về cuộc tranh luận nghệ thuật nói trên trong tạp chí Tao Đàn, chúng tôi sẽ

trình bày cụ thể trong một phần ở chương 2)

Tiếp đó, năm 1998, Nguyễn Ngọc Thiện lại viết trong lời giới thiệu

tạp chí Tao Đàn in trong Sưu tập trọn bộ Tạp chí Tao Đàn 1939 tập I [60, tr

7 - 14]

Tới năm 1999, khi sưu tầm và cho xuất bản cuốn Văn chương và hành động, Nguyễn Ngọc Thiện cũng nhắc đến Tao Đàn trong lời bạt ở cuối sách: “Hành trình đến với bạn đọc của Văn chương và Hành động”

[56, tr 101 -115]

Và năm 2006, tại Hội thảo khoa học “Lan Khai với văn học Việt Nam hiện đại”, do Hội Nhà văn Việt Nam tổ chức, Nguyễn Ngọc Thiện có bài tham luận “Lan Khai và tạp chí Tao Đàn 1939” Bài tham luận này đã được đăng trong cuốn Lý luận, phê bình và đời sống văn chương của ông [65, tr

137 - 145] Nội dung bài tham luận nhấn mạnh đến đặc sắc của tạp chí này về

phương diện tư tưởng cũng như về phương diện nghệ thuật, là Tao Đàn đặc

biệt chú trọng vào những công trình sáng tác, vì chỉ ở đó mới phát huy được một cách mạnh mẽ tinh thần dân tộc Việt Nam Đồng thời cũng đề cập đến vai trò của Lan Khai trong việc biên soạn nội dung bài vở tạp chí

Trang 14

Nhìn chung, ở những công trình nói trên, các tác giả cũng chưa đặt ra

vấn đề nghiên cứu hệ thống tạp chí Tao Đàn từ góc độ văn hóa dân tộc một

cách có chủ định

Từ sau năm 1998, khi tạp chí Tao Đàn được sưu tập, tái bản trọn bộ, đã

có một loạt bài viết về tạp chí này Đó là: “Tao Đàn 1939, một bộ sưu tập

quý” của Vũ Phương đăng trên Nhân Dân (cuối tuần) [Số 43/1998, tr 10]

Bài viết này đã giúp người đọc có cái nhìn đầy đủ hơn về đóng góp của Tao Đàn: “So với các tờ báo ít nhiều chuyên tâm đến văn học nghệ thuật có “tuổi đời” lớn hơn hồi trước 1945 như Đông Dương tạp chí (1913 – 1917), Nam Phong tạp chí (1917 - 1934), An Nam tạp chí (1926 - 1927, 1930 - 1933), thì quả thật, sự hiện diện của Tao Đàn về mặt thời gian quả là ngắn Nhưng chính Tao Đàn lại là tờ tạp chí văn học không những có vị trí đặc biệt mà còn có

những đóng góp to lớn, quan trọng về tư tưởng, lẫn học thuật.” [65, tr 524] Nhận định nói trên dù chưa dựa trên những thao tác phân tích văn bản cụ thể, nhưng chúng là những gợi dẫn quan trọng giúp chúng tôi tìm hiểu phong cách

cũng như mục đích của tạp chí Tao Đàn

Các tác giả khác cũng bày tỏ quan điểm của mình về trọn bộ sưu tập tạp

chí Tao Đàn 1939 Đó là Ngân Xuyên, Nguyễn Đăng Điệp và Đồng Thị

Mừng “Về lại Tao Đàn” của Ngân Xuyên đăng trên Quê hương [Số 10/1998,

tr 27] đã có đoạn ghi nhận: “Sự cảm kích và yên tâm tin tưởng khi cầm bộ sách Tao Đàn 1939 – Sưu tập trọn bộ 2 tập.” [65, tr 529]

Nguyễn Đăng Điệp với bài viết “Nhặt vàng từ thời gian” đăng trên Tác

phẩm mới [Số 10/1998, tr 81 – 83] cho thấy sự nể trọng công sức và tâm

huyết của hai soạn giả Nguyễn Ngọc Thiện (Chủ biên) và Lữ Huy Nguyên

trong quá trình phục hiện trọn bộ Tao Đàn như nó đã từng hiện diện cách đây

gần 60 năm Nguyễn Đăng Điệp cũng thể hiện sự trân quý bộ sưu tập tạp chí,

Trang 15

như gặp được người bạn cũ, từ số chữ của mỗi trang tạp chí đến hình thức trình bày

Bài “Đọc sưu tập trọn bộ tạp chí Tao Đàn 1939 – đôi điều cảm nhận”

của Đồng Thị Mừng viết năm 1999 Bài viết này khẳng định những đóng góp

có ý nghĩa mở đường của Tao Đàn: “Tao Đàn đã đánh dấu một thời kỳ phát triển sôi động của báo chí Việt Nam, góp phần xây dựng và giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc, chống lại âm mưu “xâm lăng văn hóa” của thực dân Pháp.”

[65, tr 537] Tuy nhiên, những kiến văn về văn hóa, lịch sử báo chí ở Việt Nam thời kỳ 1930 - 1939 cũng chưa được Đồng Thị Mừng lưu ý vận dụng để

lý giải

Trước đó, năm 2001, Đồng Thị Mừng cũng sớm chú ý đến công lao của

Tao Đàn trên lĩnh vực văn hóa qua luận văn tốt nghiệp đại học: “Vai trò của

tạp chí Tao Đàn trên phương diện văn hóa” tại Khoa Báo chí - Phân viện Báo

chí và Tuyên truyền Điểm hấp dẫn nhất của công trình này là tác giả đã tiếp

cận, xem xét Tao Đàn trong lịch sử báo chí Việt Nam và cho thấy giá trị cơ

bản của tạp chí vào công cuộc canh tân nền văn hóa dân tộc

Năm 2010, những bài viết này được tác giả Nguyễn Ngọc Thiện tập

hợp và đăng vào cuốn Lý luận phê bình và đời sống văn chương trong Phần Phụ lục “Lời bạn tri âm”

Như vậy, đã có một số công trình, bài viết về tạp chí Tao Đàn ở nhiều góc độ khác nhau Các nhà nghiên cứu đi trước đã quan tâm, nghiên cứu Tao Đàn trên một vài phương diện Tuy nhiên, hầu hết những công trình nghiên cứu nêu trên tuy đã góp phần phác họa về tạp chí Tao Đàn, nhưng mới chỉ là

những đánh giá thiên về đóng góp chung, khái quát, mà chưa đi sâu minh chứng về các mặt cụ thể, cũng như chưa lý giải các vấn đề trên cơ sở những

đối chiếu, so sánh Chẳng hạn như: Tao Đàn có đóng góp như thế nào với

Trang 16

việc xây dựng nền văn xuôi quốc ngữ? Vì sao Tao Đàn chỉ tồn tại trong một

năm nhưng đóng góp rất sáng giá cho nền văn hóa dân tộc Việt Nam? Văn

hóa dân tộc trên Tao Đàn có gì giống và khác các tạp chí trước và sau nó?

Điều đáng nói, đại đa số các công trình nghiên cứu đã có về tạp chí Tao Đàn chưa đặt vấn đề nghiên cứu tập trung, hệ thống tạp chí này từ góc nhìn

văn hóa dân tộc Trường quan sát của những nhà nghiên cứu này không hoặc

ít bao hàm vấn đề văn hóa trên báo chí Điều này khiến cho tạp chí Tao Đàn

đôi khi bị nhìn nhận thiên lệch về tạp chí văn học hiện diện trong quá khứ

Vấn đề văn hóa dân tộc Việt Nam trên Tao Đàn chưa được coi là một đối

tượng nghiên độc lập, chưa được thể hiện thành một công trình hoàn chỉnh để

xem xét

Chính vì thế, luận văn hy vọng xới lên hướng nghiên cứu về văn hóa

dân tộc trên tạp chí Tao Đàn Đây sẽ là một vấn đề mới mẻ, góp phần cung

cấp thêm một góc nhìn để hiểu sâu hơn về giá trị nội dung tư tưởng, học thuật

của Tao Đàn - một “vườn ươm hạt giống anh tài chủng tộc” như lời nói đầu

về lịch sử báo chí văn học ở nước ta giai đoạn trước Cách mạng tháng Tám

Luận văn tập trung vào những loại bài vở trên tạp chí Tao Đàn về văn hóa –

văn học nghệ thuật, trên cơ sở đó đánh giá thực trạng hoạt động và đóng góp

của Tao Đàn về vấn đề văn hóa dân tộc Việt Nam

Trang 17

4 Nhiệm vụ nghiên cứu

Luận văn nghiên cứu những vấn đề lí luận cụ thể như:

- Sự ra đời, vai trò và ý nghĩa xã hội của Tao Đàn 1939, những đặc

điểm của báo chí văn học nghệ thuật 1930 - 1945 và sự xuất hiện của tạp chí

Tao Đàn

- Chứng minh những đóng góp của tạp chí Tao Đàn về vấn đề văn hóa

dân tộc Việt Nam trên các phương diện: tinh thần dân tộc, tính nhân văn: (Tuyên ngôn tạp chí, những tranh luận, giao lưu văn hóa văn nghệ và loạt bài viết thể hiện tính nhân văn của nền văn hóa

- Những đặc điểm thể hiện tính truyền thống và hiện đại của Tao Đàn (giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt, cải cách chữ Quốc ngữ, đổi mới chữ viết, tiếp thu tư tưởng phương Tây, )

5 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu

5.1 Đối tượng nghiên cứu

Tạp chí Tao Đàn chỉ tồn tại trong vòng một năm nhưng đã đề cập đến

nhiều mặt trong đời sống văn hóa, văn nghệ – xã hội và ở các mặt đều có những thành công Do yêu cầu, mục đích và khuôn khổ một luận văn Thạc sĩ, chúng tôi

xem xét Tao Đàn như một công trình có ý nghĩa và đóng góp về văn hóa trên

góc độ một tờ tạp chí Do đó, đối tượng nghiên cứu chính của đề tài là: Vấn đề

văn hóa dân tộc Việt Nam trên tạp chí Tao Đàn 1939

Tuy nhiên để những luận điểm rút ra có thêm cơ sở khoa học, chúng tôi cũng có đối chiếu, so sánh với một số tờ báo, tạp chí cùng thời

5.2 Phạm vi nghiên cứu

Phạm vi nội dung: Cuối thế kỷ XX, tạp chí Tao Đàn được sưu tập trọn

bộ, tái bản phục vụ cho công tác nghiên cứu Khi thực hiện đề tài này, chúng

tôi dùng bản: Tao Đàn 1939 Sưu tập trọn bộ, tập I, II do Nguyễn Ngọc Thiện

Trang 18

– Lữ Huy Nguyên sưu tập và phục nguyên từ bản gốc, nhà xuất bản Văn học

ấn hành tại Hà Nội năm 1998

Để có cái nhìn đầy đủ, khách quan hơn, chúng tôi chọn nghiên cứu thêm một số công trình nghiên cứu, tác phẩm báo chí, văn học và tư liệu lịch

sử, tư liệu văn hoá có liên quan

6 Phương pháp nghiên cứu

Để thực hiện đề tài này, chúng tôi sử dụng một số phương pháp nghiên cứu chính là: Phương pháp nghiên cứu tài liệu thực chứng; phương pháp khảo sát, thống kê; phương pháp so sánh, phân tích nội dung và phương pháp

nghiên cứu liên ngành

6.1 Phương pháp nghiên cứu tài liệu thực chứng

Dùng để xem xét phân tích thực chứng các loại bài viết đã hiện diện

trên Tao Đàn, trên cơ sở đó kế thừa những giá trị vốn có, sau đó rút ra những

dữ liệu để so sánh, đối chiếu, nhận định

6.2 Phương pháp khảo sát, thống kê

Chúng tôi sử dụng phương pháp khảo sát thống kê để khảo sát số lượng

bài báo từng loại đã đăng trên Tao Đàn Đồng thời, phương pháp thống kê

giúp chúng tôi xử lý thông tin từ các tư liệu lịch sử báo chí để chứng minh các luận điểm đã nêu ra

6.3 Phương pháp so sánh, phân tích nội dung

Phương pháp phân tích giúp chúng tôi tìm hiểu, khám phá những đóng

góp cụ thể của Tao Đàn về nhiều phương diện; để phân tích các văn bản, tác

phẩm báo chí đã đăng trên tạp chí này Đây là một phương pháp không thể thiếu để có thể hoàn thành nhiệm vụ nghiên cứu đã đặt ra Bên cạnh đó, phương pháp tổng hợp, so sánh sẽ tạo điều kiện thuận lợi để chúng tôi có một cái nhìn khái quát, sâu sắc về các khía cạnh thuộc vấn đề nghiên cứu chủ yếu

Trang 19

6.4 Phương pháp nghiên cứu liên ngành

Nghiên cứu một tờ báo, tạp chí không thể tách rời nó khỏi môi trường

báo chí Tao Đàn là tạp chí ra đời ở nước ta trước Cách mạng tháng Tám năm

1945 Do đó, cần phải xem xét nó trong lịch sử báo chí Chúng tôi sử dụng phương pháp nghiên cứu liên ngành Báo chí - Văn hóa – Văn học để kiến giải hiểu sâu hơn về toàn cảnh báo chí văn nghệ giai đoạn 1930 – 1945, để giải mã quan niệm lịch sử về văn hóa, về tiếng Việt trong thời điểm nước ta nước

Cách mạng tháng Tám Tao Đàn sẽ được đặt trong sự so sánh, đối chiếu với

dòng chảy báo chí thời kỳ đó

7 Đóng góp mới của đề tài

Tái hiện đầy đủ và trọn vẹn hoạt động biên tập, xuất bản, quảng bá tạp

chí Tao Đàn trong suốt năm 1939, từ số đầu tiên đến số cuối cùng (gồm 13 số

ra hàng tháng và hai số đặc biệt về Tản Đà và Vũ Trọng Phụng)

Khẳng định những đóng góp đặc sắc, có ý nghĩa của Tao Đàn trong

việc đăng tải các loại bài viết về văn học, văn nghệ, văn hóa góp phần đáng

kể vào việc xây dựng và phát huy nền văn hóa dân tộc Việt Nam trong giai đoạn trước Cách mạng tháng Tám năm 1945

Ghi nhận hai mô hình tạp chí về văn hóa – văn nghệ mà Tao Đàn thực hiện như một sáng kiến: Tạp chí ra hàng tháng với các chuyên mục ổn định tổng hợp về sáng tác và nghiên cứu, phê bình, dịch thuật và Tạp chí đặc biệt

chuyên đề kịp thời cập nhật về một tác giả ngay sau khi tác giả đó vừa qua đời trong năm

8 Bố cục của đề tài

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Phụ lục và Tài liệu tham khảo, Nội dung

của luận văn được triển khai trong ba chương:

Chương 1: Sự ra đời và vai trò của tạp chí Tao Đàn (1939)

Trang 20

Chương 2: Tinh thần dân tộc và tính nhân văn của nền văn hóa Việt Nam trên tạp chí Tao Đàn (1939)

Chương 3: Tạp chí Tao Đàn (1939) phát huy truyền thống văn học dân tộc và đẩy mạnh giao lưu trong xây dựng và phát triển văn hóa Việt Nam

Trang 21

Chương 1

SỰ RA ĐỜI VÀ VAI TRÒ CỦA TẠP CHÍ TAO ĐÀN (1939)

Để nghiên cứu tạp chí Tao Đàn trong bối cảnh văn hoá, lịch sử trước

Cách mạng tháng Tám, luận văn triển khai một số vấn đề lý luận về tạp chí, văn hóa, tính lịch sử của những quan điểm văn hóa dân tộc trong xã hội Việt Nam, đồng thời phác thảo diện mạo báo chí văn hóa, văn nghệ giai đoạn 1930-1945 Đây chính là cơ sở lý luận và thực tiễn giúp chúng tôi có nền tảng

cơ bản để nghiên cứu đề tài

1.1 Giới thuyết một vài khái niệm liên quan

1.1.1 Khái niệm “Tạp chí”

“Tạp chí” là một thuật ngữ khoa học được sử dụng trong nhiều lĩnh vực hoạt động báo chí Những hướng tiếp cận không giống nhau với vấn đề chuyên môn, chuyên ngành khác biệt đã cho ra đời số lượng định nghĩa khá phong phú về thuật ngữ này Tuy nhiên, chúng tôi không đi sâu phân tích từng định nghĩa mà chỉ hướng tới một quan niệm đáng tin cậy nhằm làm chỗ dựa trong tiến trình nghiên cứu

Phạm Thành Hưng định nghĩa “Tạp chí” trong sự so sánh với báo như sau: “Tạp chí (magazine) là loại ấn phẩm khổ nhỏ hơn báo, đóng thành

tập, có bìa, chuyển tải các loại thông tin có tính tổng hợp, chuyên sâu, xuất bản định kỳ ở một địa điểm nhất định” [39, tr 20]

Nếu như định nghĩa của Phạm Thành Hưng nhấn mạnh “Tạp chí” như một cách hiểu thông thường, thì định nghĩa sau đây lại chú ý đến sự chuyên biệt của

tạp chí Trong cuốn Các loại hình báo chí truyền thông của tác giả Dương

Xuân Sơn năm 2014, định nghĩa: “Tạp chí là diễn đàn lý luận, khoa học,

nghiệp vụ chuyên biệt Trên thế giới và ở Việt Nam, tạp chí thường được

phân loại thành hai nhóm là “Nhóm tạp chí thông tin lý luận khoa học chuyên

Trang 22

ngành” và “Nhóm tạp chí thông tin giải trí và chỉ dẫn” [73, tr 116 - 119] Các tạp chí loại thông tin lý luận khoa học chuyên ngành thường do các cơ

quan, đơn vị, tổ chức chính trị - xã hội và các ngành khoa học tổ chức xuất bản Các tạp chí loại này chủ yếu đi sâu vào bàn bạc, trao đổi, phổ biến các kiến thức lý luận và thực tiễn mang tính chất chuyên ngành Độc giả của các loại tạp chí này chủ yếu là những nhà hoạt động chính trị, nhà khoa học có kiến thức chuyên môn, am hiểu các chuyên ngành, các lĩnh vực đặc thù Đội ngũ sáng tạo tác phẩm của các loại tạp chí này cũng rất đa dạng Họ là những chính trị gia, nhà chuyên môn, nhà khoa học có kiến thức lý luận và thực tiễn

Do vậy, bài viết của họ thường có chiều sâu, đúng thuật ngữ, lý giải được các vấn đề xã hội đang đặt ra Các tác phẩm của họ thường được đánh giá ở góc

độ là sản phẩm khoa học Các công trình khoa học khi được công bố trên các tạp chí lý luận khoa học chuyên ngành đều có giá trị làm căn cứ để đánh giá thành tích hoạt động khoa học của các nhà khoa học, chuyên môn

Về nhóm Tạp chí thông tin giải trí và chỉ dẫn, chức năng chính của

nhóm tạp chí này là bàn luận, phổ biến kiến thức về các vấn đề giải trí và thông tin tiêu dùng Loại tạp chí này thường có nhiều độc giả Các loại tạp chí thuộc nhóm này thường được sử dụng nhiều hình ảnh để minh họa và thường được đầu tư in ấn đẹp

Từ thế kỷ XVII đã xuất hiện các tạp chí chuyên ngành với sự phát triển của công nghệ ấn loát, thế kỷ XVIII tạp chí đã có minh họa Sang thế kỷ XIX,

đã bắt đầu xuất hiện các tạp chí có tính đảng phái chính trị Sự phát triển của công nghệ mỗi thời đại đã đem lại những đặc trưng mới cho tạp chí, mở rộng nội hàm khái niệm tạp chí: tạp chí in; tạp chí ảnh; tạp chí truyền thanh; tạp chí truyền hình, nghe nhìn;

Thông tin của tạp chí là thông tin có tính khái quát Tạp chí còn khác nhật báo ở hình thức trình bày và kỹ thuật đồ họa Có thể phân loại tạp chí

Trang 23

theo độ tuổi độc giả (thiếu nhi, thanh niên, người cao tuổi, ), theo sở thích (ô

tô, mô tô, bóng đá, âm nhạc, ), theo giới tính (phụ nữ, đàn ông), theo chuyên ngành khoa học cơ bản và kỹ thuật, công nghệ (toán học, hóa học, triết học,

cơ khí, thủy văn, ) Ngoài tạp chí in giấy, còn có tạp chí phát thanh – truyền hình Các tạp chí nghe, nhìn này thường thiết lập thông tin giao tiếp với một

số đại diện công chúng bằng điện thoại trực tiếp tới phòng quay, hoặc nhận qua điện thoại các câu hỏi trực tiếp từ tất cả những ai đang theo dõi

Luận văn của chúng tôi đề cập tới một loại tạp chí in ra đời ở Việt Nam trước Cách mạng tháng Tám năm 1945 Theo chúng tôi, loại tạp chí in

là một trong những ấn phẩm của báo chí in, có dung lượng từ vài chục trang trở lên, định kỳ thường dài hơn báo, thông tin đa dạng trên nhiều chuyên mục

khác nhau Có thể chia “tạp chí” làm 3 nhóm: Nhóm Tạp chí Chính trị xã hội (Tạp chí Cộng sản, Tạp chí Tuyên giáo, ); Nhóm học thuật chuyên môn nghiệp vụ (thường đi sâu vào chuyên ngành sử học, văn học, toán học, vật lý, triết học, người làm báo ); Nhóm giải trí, thông tin, chỉ dẫn (làm đẹp, ô tô, sức khỏe) Và Tao Đàn là tạp chí in thuộc nhóm Tạp chí học thuật chuyên môn nghiệp vụ, chuyên về văn hóa, văn học – nghệ thuật trước Cách mạng

tháng Tám năm 1945

1.1.2 Khái niệm “Văn hóa”

Văn hóa là một lĩnh vực liên quan đến mọi mặt của đời sống xã hội, con người Đến nay, có hơn 500 định nghĩa khác nhau về văn hóa, điều này cho thấy văn hóa là một phạm trù rộng lớn, trừu tượng và không dễ nắm bắt Tuy nhiên, mỗi trường phái nghiên cứu, mỗi nhà nghiên cứu đều có quan điểm khác nhau Về cơ bản có hai loại chính: định nghĩa miêu tả, liệt kê và định nghĩa nêu đặc trưng

Định nghĩa miêu tả liệt kê các thành tố của văn hóa Người đầu tiên

nêu định nghĩa thuộc loại này là Edward Burnett Tylor– nhà dân tộc học,

Trang 24

nhân chủng học người Anh Năm 1871, trong tác phẩm Primitive Culture (Văn hóa nguyên thủy), ông đã đưa ra định nghĩa : “văn hóa là phức thể bao gồm tri thức, tín ngưỡng, nghệ thuật, đạo đức, luật pháp, tập quán, cùng mọi khả năng và thói quen khác mà con người như một thành viên của xã hội đạt được” [6, tr 13] Định nghĩa của nhà nhân học văn hóa người Anh này là

định nghĩa khoa học về văn hóa ra đời sớm nhất ở Châu Âu Với định nghĩa đưa ra, E.B.Tylor đã xác định khá đúng đắn về bản chất, đặc trưng và nguồn gốc của văn hóa Tuy nhiên, ông mới giới hạn văn hóa ở lĩnh vực tinh thần hay là văn hoá phi vật thể

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã xác định văn hóa là một mặt căn bản của xã

hội Người chỉ rõ, công cuộc kiến thiết nhà nước có bốn vấn đề phải chú ý đến và phải coi trọng ngang nhau: chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội Văn hóa

là một trong những mục tiêu, nhiệm vụ xây dựng con người mới, xã hội mới Khái niệm về văn hóa của Hồ Chí Minh viết năm 1943 trong phần cuối của

cuốn Nhật ký trong tù cũng thuộc dạng miêu tả liệt kê Điểm khác là ở đây,

Hồ Chí Minh nói rõ hơn mục đích của sáng tạo văn hóa: “Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích của cuộc sống, loài người mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoạt hàng ngày về ăn, mặc và các phương thức sử dụng Toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó tức là văn hóa Văn hóa là sự tổng hợp của mọi phương thức sinh hoạt cùng với biểu hiện của nó mà loài người đã sản sinh ra nhằm thích ứng với nhu cầu đời sống và đòi hỏi của sự sinh tồn.” [47, tr 431]

Loại định nghĩa nêu đặc trưng coi văn hóa là những kết quả đạt được

gồm những giá trị, những truyền thống, nếp sống, chuẩn mực, tư tưởng, thiết chế xã hội, biểu tượng, kí hiệu, thông tin mà cộng đồng người kế thừa, sáng

tạo và tích lũy được Trong dịp phát động Thập kỷ bảo tồn và phát triển văn

Trang 25

hóa, Federico Mayor (cựu Tổng Giám đốc UNESCO giai đoạn từ 1987 đến

1999) đã đưa ra định nghĩa: “Văn hóa là tổng thể sống động các hoạt động sáng tạo trong quá khứ và trong hiện tại Qua các thế kỷ, hoạt động sáng tạo

ấy đã hình thành nên một hệ thống các giá trị, các truyền thống, và các thị hiếu – những yếu tố xác định đặc tính riêng của mỗi dân tộc.” [30, tr 178]

Xuất phát từ vai trò lãnh đạo của một tổ chức lớn nhất toàn cầu liên quan đến các vấn đề văn hóa, Mayor đã khái quát bản chất của văn hóa, khi mà văn hóa cấu thành nên một hệ thống các giá trị mà dựa trên đó từng dân tộc đã tự khẳng định bản sắc riêng của mình Văn hóa là thuộc tính bản chất của con người (xã hội) Định nghĩa về văn hóa của UNESCO trở thành cơ sở lý luận rất quan trọng để chúng ta xác định vai trò quan trọng của văn hóa trong phát triển nói chung

Ở góc độ khác, tác giả Join đưa ra khái niệm về văn hóa từ quan điểm

nhà xã hội học Văn hóa có thể định nghĩa là “niềm tin, giá trị, hành vi và đối tượng vật chất được một dân tộc cụ thể chia sẻ.” [27, tr 81]

Nói đến văn hóa là hàm chỉ toàn bộ nền văn hóa của một xã hội, bao gồm một hệ thống các phong tục, tập quán, nghi lễ, tập tục, truyền thống, đã được tạo dựng trong quá khứ và đang được bảo lưu truyền tải từ thế hệ này đến thế hệ khác cho đến tận hôm nay

Trần Ngọc Thêm trong cuốn Cơ sở văn hóa Việt Nam cho rằng “Văn hóa là một hệ thống hữu cơ các giá trị vật chất và tinh thần do con người

sáng tạo và tích lũy qua quá trình hoạt động thực tiễn, trong sự tương tác giữa con người với môi trường tự nhiên và xã hội” [59, tr 10] Nhà nghiên

cứu văn hóa Trần Ngọc Thêm nêu hai giá trị của văn hóa vật thể và phi vật thể được hình thành và phát triển thông qua mối quan hệ nhân sinh quan, thế giới quan của con người trong quá trình phát triển nhân loại Văn hóa là hệ thống hữu cơ các giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo và tích

Trang 26

lũy qua quá trình lịch sử dài lâu, nên tương đối ổn định, gắn bó với đời sống tinh thần của cộng đồng Có gốc rễ sâu xa trong lịch sử cho nên văn hóa mang tính dân tộc và có bản sắc của một cộng đồng nhất định Nhận thức điều đó để chúng ta vững tin và tự hào về dân tộc, cố gắng giữ gìn, phát huy toàn bộ di sản văn hóa ấy

Văn hóa có nhiều chức năng, trong đó có ba chức năng chính: nhận thức, giáo dục, thẩm mỹ nhằm xây dựng xã hội văn hóa, con người văn hóa Ngoài ba chức năng cơ bản trên, văn hóa còn có nhiều chức năng khác như: Chức năng dự báo, chức năng giao tiếp, chức năng giải trí cho xã hội và con người [30, tr 181] Đặc biệt, văn hóa hình thành, vận động và phát triển theo quy luật kế thừa Văn hóa có mối quan hệ với kinh tế, chính trị, xã hội, chịu

sự tác động và chi phối của kinh tế, chính trị, xã hội

Văn hóa vốn gắn liền với toàn bộ cuộc sống và với sự phát triển của xã hội Xác định đúng đắn vai trò quan trọng của văn hóa, từ khi ra đời đến nay, Đảng đã lãnh đạo nhân dân ta đấu tranh giải phóng dân tộc, bảo vệ Tổ quốc, xây dựng và phát triển nền văn hóa, hướng văn hóa phục vụ một cách có hiệu quả vào sự nghiệp cách mạng Đường lối văn hóa của Đảng ta bao gồm toàn

bộ những quan điểm có tính chiến lược để chỉ đạo lĩnh vực văn hóa, hoạt động văn hóa Những quan điểm quan trọng về văn hóa của Đảng lần đầu

tiên thể hiện trong Đề cương về văn hóa Việt Nam (năm 1943) đã được phát

triển, hoàn thiện theo yêu cầu của mỗi giai đoạn phát triển của cách mạng

Trong giai đoạn 1930 - 1945 (giai đoạn lịch sử mở đầu với sự kiện Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời 3-2-1930), Đảng Cộng sản Việt Nam đảm đương vai trò lãnh đạo phong trào giải phóng dân tộc chống lại sự xâm lược

và thống trị của thực dân Pháp, qua ba cao trào cách mạng lớn: 1930 – 1931,

1936 – 1939 và kết thúc bằng thắng lợi vĩ đại của Cách mạng tháng Tám năm

1945 Ngay từ khi ra đời, trong các văn kiện công bố vào dịp thành lập Đảng:

Trang 27

Chính cương vắn tắt, Sách lược vắn tắt, Chương trình tóm tắt, Luận cương Chính trị (công bố tháng 10 - 1930), (sau này được tập hợp trong tập đầu tiên của Văn kiện Đảng với tiêu đề Các cương lĩnh cách mạng đầu tiên) đã

xác định mục tiêu làm cách mạng, lật đổ sự thống trị của thực dân Pháp, đem lại ruộng đất cho dân cày, quyền lợi cơ bản cho giai cấp công nhân, nông

dân, trí thức, đưa nước ta lên chủ nghĩa xã hội “Dù chưa trực tiếp đề cập quan điểm của Đảng đối với lĩnh vực văn hóa, nhưng ngay từ những văn kiện đầu tiên này, để phục vụ cho nhiệm vụ tuyên truyền đường lối, vận động quần

chúng nhân dân tham gia cuộc cách mạng dưới sự lãnh đạo của Đảng, Đảng

ta đã rất chú trọng tới vai trò của văn hóa, trước hết là vai trò của bộ phận báo chí và tuyên truyền.” [30, tr 10] Có thể sẽ phải bổ sung thêm một vài

nhận định trong trích dẫn trên, song cách nhìn của Đảng thời kỳ đó gắn hoạt động văn hóa với báo chí, tuyên truyền là hoàn toàn trùng hợp với thực tế lịch sử

Đường lối văn hóa của Đảng Cộng sản Việt Nam giai đoạn 1930 –

1945 được thể hiện tập trung nhất qua tài liệu Đề cương về văn hóa Việt Nam

- văn kiện đầu tiên do đồng chí Trường Chinh soạn thảo và được Hội nghị Thường vụ Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương thông qua tháng 3 năm

1943 Đề cương về văn hóa Việt Nam trực tiếp nêu một số quan điểm, tư

tưởng chỉ đạo cơ bản của Đảng đối với lĩnh vực văn hóa, văn nghệ “Trước năm 1943, ở Việt Nam, vấn đề văn hóa, khái niệm văn hóa được nói đến rất

ít, hoặc có nói đến thì ý kiến vẫn còn nhiều khác nhau Trong Đề cương văn

hóa, Đảng ta đề cập vấn đề văn hóa ở phạm vi rộng, chỉ lĩnh vực văn hóa tinh thần, bao gồm cả tư tưởng, học thuật, nghệ thuật.” [29, tr 11]

Gần đây nhất, PGS TS Đặng Thị Thu Hương - Trưởng Khoa Báo

chí - Truyền thông, Trường Đại học Khoa học Xã hội & Nhân văn, Đại học

Quốc gia Hà Nội trong cuốn chuyên khảo Văn hóa truyền thông đại chúng ở

Trang 28

Việt Nam trong điều kiện kinh tế thị trường và toàn cầu hóa cũng đã đưa ra

nhận định về văn hóa: “Văn hóa là toàn bộ giá trị vật chất và tinh thần do

con người sáng tạo và tích lũy lại trong quá trình học tập, lao động và đấu tranh Tất cả những hiểu biết này chỉ trở thành văn hóa khi nó là nền tảng cho hành vi ứng xử của con người trong các quan hệ với con người Văn hóa là trình độ phát triển các quan hệ nhân tính của một xã hội, của mỗi con người,

nó được cộng đồng khẳng định thành một hệ thống giá trị mà chuẩn mực cơ bản là chân, thiện, mỹ.” [41, tr 65]

Nhìn chung, một số định nghĩa trên đây về văn hóa cho phép ta hình dung cách tiếp cận ít nhiều khác nhau về thuật ngữ này Tuy nhiên, các định nghĩa đều thống nhất văn hóa có các đặc điểm sau:

Thứ nhất, văn hóa là sáng tạo của con người, thuộc về con người,

những gì không do con người làm nên không thuộc về khái niệm văn hóa Từ

đó, văn hóa là đặc trưng và tiêu chí căn bản phân biệt sản phẩm nhân tạo với sản phẩm tự nhiên Văn hóa xuất hiện do sự thích nghi một cách chủ động và

có ý thức của con người với tự nhiên, nên văn hóa cũng là kết quả của sự thích nghi ấy

Thứ hai, sự thích nghi con người với tự nhiên là sự thích nghi có ý

thức và chủ động, có sáng tạo, phù hợp với giá trị Chân - Thiện - Mỹ, không phải là sự thích nghi máy móc

Thứ ba, văn hóa bao gồm cả những sản phẩm vật chất và tinh thần, chứ

không chỉ riêng tinh thần

Để tiến hành nghiên cứu đề tài đặt ra, chúng tôi đã lựa chọn cho mình một khái niệm nhất định về “văn hóa” làm cơ sở khoa học Ở đây, chúng tôi

nhất trí với quan điểm của nhà nghiên cứu Trần Ngọc Thêm cho rằng văn hóa

là một hệ thống hữu cơ các giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo

Trang 29

và tích lũy qua quá trình hoạt động thực tiễn, trong sự tương tác giữa con người với môi trường tự nhiên và xã hội

1.1.3 Khái niệm “Bản sắc văn hóa dân tộc”

Văn hóa chỉ tồn tại và phát triển được khi con người không ngừng nỗ

lực gây dựng và giữ gìn nó GS Hà Minh Đức đã khẳng định: “Mỗi dân tộc

đều có một nền văn hóa có bản sắc riêng Không phụ thuộc hẳn vào dân số

và diện tích, giá trị văn hóa được hình thành và phát triển với nhiều nhân tố, lịch sử nguồn cội dân tộc, dân trí, ngôn ngữ, ý thức thẩm mỹ Dấu ấn của dân tộc in đậm nét trong bản sắc văn hóa và chính những giá trị văn hóa đã góp phần trực tiếp làm nên sự bền vững của dân tộc” [23, tr 11] Văn hóa bao

gồm cả tư tưởng, văn học, nghệ thuật, ngôn ngữ,

Bản sắc dân tộc là các giá trị gốc, căn bản, cốt lõi, những giá trị hạt

nhân của dân tộc Những giá trị hạt nhân đó không phải tự nhiên mà có mà được tạo thành dần dần và được khẳng định trong quá trình xây dựng

Tác giả Đỗ Đình Hãng cũng khẳng định, bản sắc văn hóa của một dân

tộc thực chất là thể hiện sức sống của dân tộc đó Bản sắc văn hóa là những

giá trị văn hóa, yếu tố văn hóa, phương thức văn hóa gắn liền với một tộc người hoặc một quốc gia dân tộc Bản sắc văn hóa là một thực thể tinh thần,

là cốt cách của một nền văn hóa, là cái hồn của nền văn hóa “ [30, tr 185]

Bản sắc văn hóa dân tộc liên quan đến nhiều vấn đề nhưng nó thể hiện rõ nhất ý thức dân tộc, sự tự khẳng định lòng tự hào, tự cường, tự tôn dân tộc

Bản sắc văn hóa là hệ thống những đặc tính bên trong, những sắc thái riêng có tính nguồn gốc, gắn với những đặc tính của chủ thể, trở thành nguồn

cội, nền tảng, bản thể của một nền văn hóa Bản sắc văn hóa dân tộc là sự

tổng hòa các khuynh hướng cơ bản trong sáng tạo văn hóa của một dân tộc Tiếp cận với một nền văn hóa, cái người ta sẽ nhận thấy là nền văn hóa ấy khác với nền văn hóa khác Cái khác ấy do bản sắc văn hóa tạo nên Bản sắc

Trang 30

văn hóa dân tộc không phải là thuộc tính trừu tượng, chung chung mà là một phẩm chất cụ thể, hình thành và tồn tại trong quá trình phát triển, mang đặc trưng riêng của một dân tộc

Nghị quyết Trung ương 5, Khóa VIII năm 1998 của Đảng lại khẳng

định vai trò của văn học nghệ thuật với xây dựng văn hóa và con người:

“Bản sắc văn hóa dân tộc bao gồm những giá trị bền vững, những tinh hoa

của cộng đồng các dân tộc Việt Nam được vun đắp nên qua lịch sử hàng ngàn năm đấu tranh dựng nước và giữ nước Đó là lòng yêu nước nồng nàn,

ý chí tự cường dân tộc, tinh thần đoàn kết, ý thức cộng đồng gắn kết cá nhân

- gia đình - làng xã - Tổ quốc; lòng nhân ái, khoan dung, trọng nghĩa tình, đạo lý, đức tính cần cù, sáng tạo trong lao động; sự tinh tế trong ứng xử, tính giản dị trong lối sống… Bản sắc văn hoá dân tộc còn đậm nét cả trong các hình thức biểu hiện mang tính dân tộc độc đáo.” [1]

Bản sắc văn hóa dân tộc của văn hóa Việt Nam bao gồm những giá trị

bền vững, những tinh hoa được vun đắp nên qua lịch sử Tác giả Dương Phú

Hiệp năm 2012 cho rằng “Bản sắc văn hóa dân tộc đó là một sự tổng hợp,

kết hợp những phẩm chất, những giá trị văn hóa nội sinh và ngoại sinh tạo thành linh hồn, sức sống bền vững của dân tộc, có những nét ưu trội hơn một

số dân tộc khác, mang tính ổn định trong quá trình lịch sử đấu tranh và xây dựng của dân tộc đó.” [34, tr 261]

Bản sắc văn hóa hình thành cùng với quá trình hình thành dân tộc, nó gắn liền với hoàn cảnh không gian địa lý, phương thức sản xuất, tâm lý cộng đồng… Quá trình hình thành bản sắc văn hóa dân tộc là quá trình lâu dài Những năm đầu thế kỷ XX là thời kỳ văn hóa Việt Nam có nhiều biến động Trong hoàn cảnh ấy, báo chí giữ một vai trò rất lớn trong việc giữ gìn bản sắc

văn hóa dân tộc Tao Đàn là một trong những điển hình về vấn đề này Dựa vào khái niệm văn hóa và bản sắc văn hóa, có thể thấy, giữa Tao Đàn và văn

Trang 31

hóa dân tộc có mối liên hệ chặt chẽ Tao Đàn góp phần nâng cao và “hướng

dẫn” trình độ văn hóa của độc giả, góp phần điều tiết và định hướng về mặt tư tưởng và tinh thần cho hoạt động của xã hội thời đó

Bản sắc văn hóa dân tộc là hạt nhân của tinh thần sáng tạo của dân

tộc Bảo vệ bản sắc dân tộc phải gắn kết với mở rộng giao lưu quốc tế, tiếp thụ có chọn lọc những cái hay, cái tiến bộ trong văn hoá các dân tộc khác Giữ gìn bản sắc dân tộc phải đi liền với chống lạc hậu, lỗi thời trong phong tục, tập quán, lề thói cũ

Báo chí là một trong những thành tố và bộ lọc quan trọng nhất của văn hóa dân tộc Báo chí Việt Nam là một thành tố của nền văn hóa Việt Nam Không thể có hoạt động báo chí tách rời văn hóa hay không để ý đến văn hóa Đây cũng chính là một trong những công cụ hiệu quả nhất giúp văn hóa thực hiện được chức năng của mình Môi trường văn hóa của dân tộc sẽ tạo

điều kiện cho Tao Đàn phát triển mạnh mẽ trong chiều rộng, chiều sâu và có

sự giao lưu, hội nhập với nước ngoài Khi phát triển từ gốc rễ văn hóa dân

tộc, Tao Đàn góp phần tích cực vào việc tạo ra diện mạo riêng cho văn hóa

Như vậy, có thể thấy bản sắc văn hóa là sắc thái thể hiện bản chất độc đáo của một nền văn hóa Đó là những giá trị đặc sắc được sàng lọc, bảo lưu, lắng đọng, tích tụ thành truyền thống – cái đã giúp cho một cộng đồng luôn giữ được mình trong những thử thách khắc nghiệt của lịch sử để tồn tại và phát triển cho tới ngày nay

Một dân tộc có bản sắc riêng của mình, phù hợp với những điều kiện

tự nhiên, kinh tế, xã hội của dân tộc đó Khẳng định bản sắc độc đáo của dân tộc để làm phong phú sự đa dạng của nền văn hóa nhân loại Đó cũng là cơ

sở nền tảng vững chắc để làm giàu vốn văn hóa dân tộc, để giao lưu, hội nhập với thế giới

Trang 32

1.2 Bối cảnh lịch sử - xã hội, văn hóa thời kỳ 1930 – 1945

Thời kỳ 1930 – 1945 là thời kỳ đấu tranh dân tộc và đấu tranh giai cấp gay gắt, các đảng phái chính trị đua nhau nở rộ Báo chí Việt Nam vì thế cũng mang một sắc thái mới Sự phát triển của phong trào cách mạng thế giới thời kỳ này cũng có ảnh hưởng tích cực đến cách mạng Việt Nam Đây là nguyên nhân quan trọng thúc đẩy phong trào đấu tranh cách mạng ở Việt Nam Mâu thuẫn giữa dân tộc Việt Nam với thực dân Pháp và sai phát triển gay gắt

Tân Việt Cách mạng đảng được thành lập từ năm 1925 Đến ngày 2-1930, những nhà lãnh đạo của Đảng này mở một cuộc tấn công vào quân đội thực dân, trong khi chưa tổ chức chu đáo Ngày 17-6-2930, tại Yên Bái, hầu hết những nhà lãnh đạo của Đảng này đều bị bắt và bị xử tử Tháng 3 -

10-1933, Việt Nam quốc dân Đảng gần như ngưng hoạt động tại Việt Nam Một

số Đảng viên còn sót lại tiếp tục hoạt động ở miền biên giới Vân Nam nhờ sự giúp đỡ của Quốc dân Đảng Trung Quốc Sau đó, lợi dụng lúc Pháp đang gặp khó khăn ở châu Âu, một số đảng viên của tổ chức này về nước tiếp tục hoạt động, nhất là trên lĩnh vực báo chí

Trong khi đó, mùa xuân năm 1930, Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời – một chính đảng lớn nhất, hoạt động tích cực và được quần chúng ủng hộ Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời với tổ chức chặt chẽ và cương lĩnh chính trị đúng đắn, nắm quyền lãnh đạo duy nhất đối với cách mạng Việt Nam, quy

tụ lực lượng và sức mạnh toàn dân tộc Việt Nam, kịp thời lãnh đạo nhân dân bước vào một thời kì đấu tranh mới Đảng đã yêu cầu Pháp phải thừa nhận những quyền tự do dân chủ và ban hành một bộ luật lao động cho những công nhân Việt Nam Sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam có ý nghĩa quyết định đối với lịch sử dân tộc cũng như sự chỉ đạo đối với nền báo chí cách mạng Từ đây báo chí của Đảng đã phát triển phong phú, cả về tên báo,

Trang 33

do Trung ương và các cấp ủy Đảng, các chi bộ Đảng tổ chức ra; phục vụ cho nhiều đối tượng cần tuyên truyền, cổ động và tổ chức Ngày 2-9-1945, Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời Báo chí Việt Nam từ đó được

tự do nói đến vấn đề chính trị và tự do đến với quần chúng và tạo nên một bước ngoặt mới cho xã hội Việt Nam

Trong bối cảnh chung của thế giới và trong nước, báo chí thời kỳ này được hình thành và phát triển với những đặc thù riêng Nói cách khác, chính tình hình chính trị sôi động trong thời gian này khiến cho làng báo Việt Nam dấn thân vào sự nghiệp giải phóng đất nước, quan trọng nhất là báo chí cách mạng

Sự phát triển của báo chí trong thời kỳ này đã gặt hái được những kết quả đáng trân trọng Với sự phát triển của ngôn ngữ và tư tưởng, văn phong

của báo chí ngày càng hoàn chỉnh “Trong thời kỳ này, báo chí miền Bắc phát triển mạnh mẽ, rất phong phú và đa dạng, lấn át cả báo chí hai miền

Trung và Nam” [55, tr 260] Bắc kỳ lúc này gồm: báo trào phúng (tờ tuần báo Cười, tạp chí Loa (1932), tờ Vịt đực (1938), tờ Con ong (1939)); báo phụ nữ (tờ Phụ Nữ Thời đàm (1930), tờ Đàn bà (1939), tạp chí Phụ nữ (1938), tạp chí Bạn gái (1941))…; báo thiếu nhi (tờ Cậu ấm (1935), tờ Học sinh (1939), tạp chí Thanh Nghị Trẻ em (1941)), báo văn học (Tân Thanh

tạp chí (1931), Văn học Tạp chí (1932), Tân Thiếu niên (1934), Hà Nội báo

(1936))… Bên cạnh đó, thời kỳ này ở Bắc kỳ có những tờ báo chuyên biệt về Phật giáo; Thiên Chúa giáo; Lĩnh vực thuần túy khoa học; Lĩnh vực nông nghiệp, thể thao, pháp lý Đặc biệt, nét đặc thù của báo chí Bắc kỳ trong giai đoạn 1930 – 1945 đó là các nhóm báo chí Nhóm Tự lực Văn Đoàn với hai tờ

Phong hóa, Ngày nay; Nhóm Tân Dân; Nhóm Thanh Nghị; Nhóm Hàn

Thuyên; Nhóm báo chí Cách mạng và nhóm báo Pháp ngữ

Trang 34

Thời kỳ 1930 - 1936, “báo chí cách mạng đặc biệt phong phú cả về tên báo, do Trung ương và các cấp ủy Đảng, các chi bộ Đảng tổ chức đề ra,

về phục vụ cho nhiều đối tượng cần tuyên truyền, cổ động và tổ chức; lần đầu tiên trong lịch sử báo chí, xuất hiện báo chí trong tù nhằm đấu tranh lý luận

và chính trị với chủ nghĩa quốc gia tư sản Việt Nam quốc dân Đảng với các

khuynh hướng cải lương.” [57, tr 88]

Đặc điểm lớn của báo chí trong những năm vận động dân chủ là báo chí cách mạng chiếm lĩnh trận địa công khai Các báo chí cách mạng trong thời gian này đã đóng góp rất tích cực vào việc khôi phục và phát triển Đảng, các đoàn thể quần chúng, gắn chặt nhiệm vụ xây dựng về tổ chức với đấu tranh chính trị và lý luận Sự ra đời và phát triển của báo chí cách mạng đã tác động và làm cho giới báo chí có chuyển biến về khuynh hướng và thái độ chính trị “Những tờ báo trung gian thường tỏ thiện cảm với Mặt trận Dân

chủ, có thể kể: Đàn bà, Con ong, Tiểu thuyết thứ năm, Tập mới, Tiểu thuyết

thứ bảy, Thời vụ, Tân Việt Nam, Tao Đàn, Trung Bắc tân văn, Ngày nay, Ích

hữu, Tiếng dân ” [57, tr 142]

Ngoài báo chí xuất bản công khai, hợp pháp, còn có báo chí bí mật, bất

hợp pháp Năm 1935, cả nước về báo “có 92 tờ, trong đó có 48 tờ báo tiếng Việt và 44 tờ báo tiếng Pháp” [15, tr 61] Trong năm 1936, nước Việt Nam

“có 277 tờ báo, tạp chí, tập san các loại.” [57, tr 141]

1.3 Báo chí văn hóa - văn nghệ 1930 -1945 và sự ra đời của tạp chí Tao Đàn

Ở Việt Nam, vào nửa đầu thế kỷ XX, báo chí là diễn đàn cập nhật, cho phép mở ra các cuộc tranh luận, bút chiến bàn về thời cuộc hoặc những vấn

đề văn học nghệ thuật Báo chí là mảnh đất để ươm mầm, phát triển những cây bút về văn học nghệ thuật Trước Cách mạng tháng Tám năm 1945, nhìn lại tạp chí chuyên về văn chương, nghệ thuật, chúng ta thấy những đóng góp

của các tạp chí: Đông Dương tạp chí (1913 - 1917), Nam Phong tạp chí

Trang 35

(1917 - 1934), An Nam tạp chí (1926 - 1927, 1930 - 1933), Tân Thanh tạp chí (1931), Văn học Tạp chí (1932), Tân Thiếu niên (1934), Hà Nội báo (1936), Tao Đàn (1939), Tri Tân (1941 – 1945), Thanh Nghị (1941 - 1945)

Các tạp chí trước năm 1945 có thể kể: Đông Dương tạp chí (1913 -

1917), ra đời ngày 15 - 5 - 1913 tại Hà Nội Chủ bút là Nguyễn Văn Vĩnh

Tạp chí ra hàng tuần với các mục Sư phạm học khoa, Công văn tập, Quan báo trích lục, Tiểu thuyết Đại pháp diễn nôm, Bộ quốc sử, Tân học văn tập, Văn chương, nhằm mục đích “đem các thuật hay, nghề mới Thái Tây, mà dạy phổ thông cho người An Nam” [14, tr 59] Đông Dương tạp chí là công

cụ của Pháp, phản ánh quan điểm của thực dân Pháp và bọn tay sai của chúng

Nam Phong tạp chí (1917 - 1934), ra đời ngày 7 - 1917 tại Hà Nội

Chủ bút của tờ báo là Phạm Quỳnh Tạp chí ra hàng tháng, gồm có các mục

Luận thuyết; Văn học; Triết học; Khoa học; Văn tuyển; Thời đàm;… Nam Phong tạp chí tuy theo đuổi mục đích phản động - phục vụ đắc lực cho âm

mưu chính trị phản động của Pháp, nhưng một phần bài vở của tạp chí, về khách quan, đã giúp người đọc Việt Nam tìm hiểu học thuật, văn học, văn hóa nước ngoài và ở nước ta

An Nam tạp chí (1926 - 1927, 1930 - 1933) - tờ báo chuyên về văn

học, khơi dậy tinh thần yêu nước của đồng bào, ra được 22 số trong 5 năm

nhưng đứt đoạn, thất thường, không đều kỳ, không liên tục “Tháng 3 - 1927, báo chỉ ra được 10 số (lẽ ra phải 18 số) Do khó khăn về tài chính, báo phải tạm đình bản một thời gian Tháng 7 - 1930, nó xuất bản lại sau khi Tản Đà trở về Hà Nội Báo ra thêm được 3 số rồi lại ngừng Tháng 4 - 1931, An Nam tạp chí được tái bản và in thêm được 9 số Báo đình bản vĩnh viễn ngày 1-3- 1933” [14, tr 119]

Trang 36

Tân Thanh tạp chí ra ngày 12 - 2 - 1931 phát hành vào thứ Năm mỗi

tuần Mục tiêu của tờ báo nhằm cải tổ lại nền văn học nước nhà, truyền bá những tư tưởng mới của phương Tây, phát triển khoa học thực nghiệm, nghiên cứu nền văn học cổ điển nhằm cứu vãn đất nước, nâng cao tinh thần của người dân Việt Nam

Tiếp đến là Văn học Tạp chí của Dương Tụ Quán và Dương Bá Trạc

Đây là tờ nguyệt san, lần đầu tiên ra mắt độc giả vào tháng 5 - 1932, gồm những bài viết đề cập đến vấn đề văn học

Năm 1934, một tờ báo khác chuyên viết về văn học là tờ Tân Thiếu niên của Lê Tràng Kiều – một nhà báo chuyên nghiệp với sự hợp tác của một

số bạn thân của ông như Vũ Trọng Phụng, Nguyễn Nhược Pháp, Huy Thông

Hà Nội báo ra ngày 1-1-1936 của Lê Cường (chủ bút: Lê Tràng Kiều)

Hà Nội báo đăng tiểu thuyết Giông tố của Vũ Trọng Phụng cũng gây tiếng vang rất lớn trong nước thời ấy

Tinh Hoa của Đoàn Phú Tứ và Vũ Đình Liên ra ngày 13-3-1937 Báo

ra được 13 số, và gây được tiếng vang trong giới văn học đương thời

Tạp chí Tri Tân (1941 – 1945) số đầu tiên ra ngày 3-6-1941 Tri Tân

có khuynh hướng phục cổ “lần giở từng trang lịch sử bằng con mắt nhận chân

và lạc quan Tri Tân ngó rộng chân trời tri thức và đứng vào hàng ngũ công

binh xây dựng lâu đài văn hóa Việt Nam.” [55, tr 282]

Tạp chí Thanh Nghị (1941 - 1945), đại diện tiêu biểu cho khuynh

hướng tân học của lớp thanh niên tri thức mới Tạp chí này có tính chất bách khoa, khảo cứu nhiều lĩnh vực của đời sống xã hội như chính trị, hiến pháp, kinh tế, giáo dục, lịch sử, văn hóa

Trong số những tạp chí kể trên, Tao Đàn có một vị trí mở đầu đặc biệt

Theo PGS.TS - Nhà báo Nguyễn Ngọc Thiện thì đầu thế kỷ XX, chỉ có hai

tạp chí chuyên chú về văn học là An Nam tạp chí (chỉ có thơ văn) và Tao Đàn

Trang 37

(văn hóa - văn học nghệ thuật) Trước Tao Đàn, có An Nam tạp chí – tạp chí chuyên về văn học “Ra số đầu tiên ngày 1- 7 - 1926 tại Hà Nội Chủ nhiệm kiêm chủ bút là nhà thơ Tản Đà Nguyễn Khắc Hiếu Đây là tờ báo chuyên về văn học.” [15, tr 119]

Trong giai đoạn 1930 – 1945, nét đặc thù của báo chí Bắc kỳ là sự xuất

hiện của các nhóm báo chí: Nhóm Tự lực văn đoàn với hai tờ Phong hóa và

Ngày nay; Nhóm Tân Dân với Tiểu thuyết Thứ bảy (2-6-1934); tờ báo Ích

hữu (25-2-1936), tờ báo Phổ Thông bán nguyệt san phát hành đầu tiên ngày 1-12-1936, tờ tạp chí Tao Đàn ra hai kỳ mỗi tháng (1-3-1939); Nhóm Thanh Nghị với Tạp chí Thanh Nghị (tháng 6-1941); Nhóm Hàn Thuyên với Tạp chí Văn mới (1941)

Đặc biệt, với nhóm Tân Dân do Vũ Đình Long đứng đầu Ông từng

viết những vở kịch Quốc ngữ đầu tiên như: Chén thuốc độc, Tòa án lương tâm,

Năm 1932, Vũ Đình Long mở hiệu sách và nhà xuất bản Tân Dân,

chuyên in sách giáo khoa, nhất là kiếm hiệp, bi tình, chủ yếu dịch từ truyện

Tàu Tạp chí Tao Đàn ra đời rất phù hợp, làm cho nước ta trong giai đoạn đó

có một cơ quan về văn hóa, không thiên về đảng phái nào, chỉ một mục đích

là gây dựng lấy một nền văn hóa đặc biệt cho nước Việt

Trên con đường phát triển của báo chí, thành tố văn hóa, văn chương ngày càng được mở rộng, gia tăng Trong bước đầu hình thành nền văn hóa Việt Nam hiện đại, cũng như hiện nay, báo chí có quan hệ khăng khít, máu thịt với văn hóa, văn chương theo hai chiều tương hỗ Báo chí nhờ sức mạnh của văn chương mà lôi cuốn người đọc và ngược lại, văn hóa, văn chương nhờ báo chí mà đến được người đọc một cách phổ biến, rộng rãi

Rõ ràng, sự hiện diện của Tao Đàn, về mặt thời gian là ngắn hơn so với các tạp chí cùng thời Nhưng Tao Đàn lại là tờ tạp chí văn hóa – văn học

Trang 38

nghệ thuật không những có vị trí đặc biệt mà còn có những đóng góp mở đầu

to lớn, quan trọng về tư tưởng lẫn học thuật

Tao Đàn ra đều kỳ được 13 số (từ tháng 3 đến tháng 7 - 2 kỳ/1 tháng;

từ tháng 8 đến tháng 10 – 1 tháng/1 kỳ) và 2 số đặc biệt (về Tản Đà - tháng 7 – 134 trang; về Vũ Trọng Phụng - tháng 12/1939 - 88 trang), với tổng cộng

1.374 trang in Cụ thể, ngày ra số Tao Đàn như sau:

Mục đích của Tao Đàn là tiếp tục công việc của các báo và tạp chí ra

đời và hoạt động trước nó, nhằm góp phần vào sự hoàn thành công cuộc kiến thiết nền văn hóa dân tộc Tạp chí chủ trương tránh biệt phái nhân danh cơ quan riêng của một văn phái, mà cố gắng trở thành một diễn đàn mở rộng, có

Trang 39

khả năng tập hợp và hội tụ các lực lượng tuy chính kiến có thể khác nhau, nhưng có chung một lập trường giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc, không để rơi vào tình trạng mất gốc, tầm gửi vào các nền văn hóa ngoại lai

Tạp chí Tao Đàn ra đời trong thời gian gọn một năm ấy “được xem là

thời điểm bản lề của đời sống chính trị, văn hóa của mỗi quốc gia trên toàn cầu, được đánh dấu bằng sự bùng nổ của cuộc chiến tranh thế giới lần thứ hai, tháng 9/1939” (Nguyễn Ngọc Thiện)

1.4 Bộ biên tập tạp chí Tao Đàn

Bộ biên tập tạp chí Tao Đàn là những người chủ nhiệm và quản lý tạp

chí Bao gồm:

Thứ nhất, nhà văn, nhà báo Vũ Đình Long – Chủ nhiệm tạp chí Ông

đảm bảo tư cách pháp nhân của ấn phẩm

Thứ hai, nhà văn, nhà báo Lan Khai – Tổng thư ký quản lý tạp chí từ

số 1 đến số 10 Ông vừa là người định hướng tổ chức bài vở của tạp chí trong mười số đầu, vừa là nhà sáng tác văn xuôi, một cây bút viết tùy bút, tiểu luận – phê bình Ông bỏ nhiều công sức vun đắp xây dựng tạp chí đi đúng theo lộ trình và mục đích đã xác định

Thứ ba, nhà văn, nhà báo Nguyễn Triệu Luật – Quản lý tạp chí từ số 11 đến

số 13

Thứ tư, nhà văn, nhà báo Lưu Trọng Lư – đảm nhiệm hai số đặc biệt

về Tản Đà và Vũ Trọng Phụng

Trang 40

Hình 1: Hình ảnh chân dung những người chủ nhiệm và quản lý

tạp chí Tao Đàn

Vũ Đình Long – chủ nhà xuất bản Tân Dân làm chủ nhiệm tạp chí Tao Đàn (đảm bảo tư cách pháp nhân của ấn phẩm) Lan Khai đặc trách nội dung

Ngày đăng: 23/01/2019, 15:47

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w