Phật Ấn xem qua bài thơ xưng tán cảnh giới giải thoát của Bậc Giác ngộ thấy chữ nghĩa và ý tứ rất hay nhưng biết quá rõ là bạn mình nhờ văn hay chữ tốt, dùng tâm thức bén nhạy để làm t
Trang 4“Bát phong xuy bất động” (tám gió thổi không động) là một giai thoại vui thâm thúy và tràn đầy thiền vị về mối thâm giao giữa thi hào Tô Đông Pha (1037-1101) và Thiền sư Phật Ấn (1032-1098).
Chuyện kể rằng một hôm Tô Đông Pha sáng tác được một bài thơ và ông rất hài lòng bèn cho người đem tặng Thiền sư Phật
Ấn lúc bấy giờ đang ở chùa Kim Sơn
Nguyên văn bài thơ của Tô Đông Pha như sau:
Khể thủ thiên trung thiên Hào quang chiếu đại thiên Bát phong xuy bất động Đoan tọa tử kim liên.
Tạm dịch là :
Đảnh lễ Bậc Giác ngộ Hào quang chiếu vũ trụ Tám gió thổi chẳng động Ngồi vững tòa sen vàng.
(thiên trung thiên tức là Phật: Bậc Giác ngộ)
Trang 5Phật Ấn xem qua bài thơ xưng tán cảnh giới giải thoát của Bậc Giác ngộ thấy chữ nghĩa và ý tứ rất hay nhưng biết quá
rõ là bạn mình nhờ văn hay chữ tốt, dùng tâm thức bén nhạy
để làm thơ chứ không phải là bậc thượng sĩ thâm nhập nghĩa lý sâu xa của Phật pháp, đạt đến Thượng thừa “Tám gió thổi không động”, nên thay vì khen ngợi ngài liền cầm bút phê vào hai chữ “phóng thí” (đánh rắm- hạ phong) và bảo gia nhân đem về trình lại cho Đông Pha Quả như điều
mà Phật Ấn đã dự đoán Đông Pha sau khi xem lời nhận xét của Phật Ấn xong liền đùng đùng nổi giận, lập lức bươn bả vượt sông sang chùa Kim Sơn để bắt tội Phật Ấn.
Gặp nhau ở bến sông, Đông Pha liền lớn tiếng trách: Bài thơ của tôi sai sót ở chỗ nào mà ngài lại phê vào hai chữ “đánh rắm” kia Thiền sư Phật Ấn liền cười xuề: Ông nói “Tám gió thổi không động” mà chỉ một cái “đánh rắm” thôi đã bay sang sông rồi.
Đến đây Đông Pha mới chợt hiểu ra mình chưa bất động.
Trang 6Bát phong hay bát thế phong nghĩa là tám ngọn gió đời, tám pháp ở thế gian hay làm loạn động mê hoặc lòng người.
Theo Từ điển Phật học Huệ Quang tập I tr.414 tám ngọn gió ấy gồm:
1- Lợi (lợi lộc)
2- Suy (hao tổn)
3- Hủy (chê bai chỉ trích)
4- Dự (gián tiếp khen ngợi người)
5- Xưng (trực tiếp ca tụng người)
6- Cơ (dựng sự việc giả để nói xấu người)
7- Khổ (gặp chướng duyên nghịch cảnh thân tâm bị bức bách khổ não) 8- Lạc (gặp được duyên tốt thuận cảnh thân tâm vui vẻ hân hoan)
Trang 81-Tu sao tâm bất động Khi cảnh trần đổi thay Không vui mừng hưởng lợi
Giữa cõi trần bi-ai!
Trang 92-Khi mất mát chua cay Không sầu đời đau khổ! Việc bất lợi đời này Tâm an nhiên tự tại.
Trang 103-Người khen nên xem lại
Có thật sự chân tình? Đừng vội mừng tự đại Phải khiêm nhượng tự tin.
Trang 114-Kẻ chê bai chỉ trích Như gió thoảng ngoài tai Không ghi tâm buồn giận Chẳng hờn trách chi ai!
Trang 125-Khi hơn người tự tại Không tự đại khoe khoang Giữ tâm hồn thư thái Luật vô-ngã nhớ hoài.
Trang 136-Khi thua người - an phận Không buồn giận chán chường.
Nghiệp chướng bao lận-đận! Chấp nhận luật vô-thường.
Trang 147-Khi thành công mãn nguyện Không tự cao xem thường.
Luôn giữ tâm từ ái
Được mọi người mến thương.
Trang 158-Khi thất bại đắng cay Không sầu đời đau khổ Phải cố gắng hăng say Không buồn lòng nản chí!
Trang 16
Sống an nhiên tự tại
Tâm bất động Như-Lai
Phải tu tập nhiều kiếp
Thoát biển khổ trần ai!
Minh Lương Trương Minh Sung
Cali. ngày 24 / 07 / 2011
Trang 17
1-Tu sao tâm bất động
Khi cảnh trần đổi thay.
Không vui mừng hưởng lợi
Giữa cõi trần bi-ai!
2-Khi mất mát chua cay
Không sầu đời đau khổ!
Việc bất lợi đời này
Tâm an nhiên tự tại.
3-Người khen nên xem lại
Có thật sự chân tình?
Đừng vội mừng tự đại
Phải khiêm nhượng tự tin.
4-Kẻ chê bai chỉ trích Như gió thoảng ngoài tai.
Không ghi tâm buồn giận Chẳng hờn trách chi ai!
5-Khi hơn người tự tại Không tự đại khoe khoang.
Giữ tâm hồn thư thái Luật vô-ngã nhớ hoài.
6-Khi thua người - an phận Không buồn giận chán chường.
Nghiệp chướng bao lận-đận!
Chấp nhận luật vô-thường.
7-Khi thành công mãn nguyện Không tự cao xem thường Luôn giữ tâm từ ái Được mọi người mến thương.
8-Khi thất bại đắng cay Không sầu đời đau khổ Phải cố gắng hăng say Không buồn lòng nản chí!
Sống an nhiên tự tại Tâm bất động Như-Lai Phải tu tập nhiều kiếp Thoát biển khổ trần ai!