1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

GT Chan nuoi da dieu va chim

232 472 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 232
Dung lượng 3,18 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

101 Ng y nay, người ta đã ấp trứng nhân tạo hầu hết các loại trứng gia cầm v chim nuôi khác như đ điểu, chim cút Riêng chim bồ câu, do đặc điểm của lo i: quá trình đẻ trứng, ấp v nuôi c

Trang 1

Bộ giáo dục và đào tạo

Trường đại học nông nghiệp hà nội

Trang 2

MỤC LỤC LỜI NÓI ĐẦU 1

BÀI MỞ ĐẦU 2

1.1 ĐỐI TƯỢNG V MỤC Đ CH CỦA MÔN HỌC 2

1.1.1 Đối tượng của môn học 2

1.1.2 Mục đích của môn học 2

1.2.Tình hình chăn nuôi nói chung, chăn nuôi đ điểu, bồ câu v chim cút trên thế giới v ở Việt Nam 2

1.2.1.Tình hình sản xuất v tiêu thụ thịt trên thế giới 2

Thịt v sản phẩm thịt l nguồn cung cấp quan trọng nhất về đạm, vitamin, khoáng chất cho con người Chất dinh dưỡng từ động vật có chất lượng cao hơn, dễ hấp thu hơn l từ rau quả Trong khi mức tiêu thụ thịt bình quân đầu người ở các nước công nghiệp rất cao thì tại nhiều nước đang phát triển, bình quân đạt dưới 10 kg, gây nên hi ện tượng thiếu v suy dinh d ưỡng Ước tính, có hơn 2 tỷ người trên thế giới, chủ yếu ở các nước chậm phát triển v nghèo bị thiếu vitamin v khoáng ch ất, đặc biệt l vitamin A, iodine, sắt v kẽm, do họ không được tiếp cận với các loại thực phẩm gi u dinh dưỡng như thịt, cá, trái cây v rau quả .2

Một số khu vực khác còn có thêm th ịt lạc đ , bò tây tạng, ngựa, đ điểu, bồ câu, chim cút ngo i ra còn thịt cá sấu, rắn, thằn lằn .2

Bảng 1 Tiêu thụ thịt bình quân (kg/ người) trên thế giới trong một số năm gần đây 2

1.2.3.Tình hình chăn nuôi đà điểu (ostrich) trên thế giới 4

Nguồn: FAO, 2007 5

1.2.4 Tình hình chăn nuôi đ điểu ở nước ta 7

1.2.5.Tình hình chăn nuôi bồ câu 7

1.2.6 Tình hình chăn nuôi chim cút 8

Phần thứ nhất 11

KIẾN THỨC CƠ SỞ 11

Chương 1 11

Nguån gèc, §ÆC §IÓM GI¶I PHÉU SINH LÝ cỦA CHIM 11

1.1 NGUỒN GỐC Đ ĐIỂU, BỒ C U V CHIM C T 11

1.1.1 Nguồn gốc của đ điểu 11

Bộ - Chim chạy (Ratitae) 12

Phân bộ - Đà điểu 2 ngón Châu Phi (Struthioniformes) 12

Phân bộ - Đà điểu 3 ngón Nam Mỹ (Rheiformes) 12

Phân bộ - Đà điểu 3 ngón Châu Úc (Casuariformes) 13

Phân bộ - Aepyornithiformes - tuyệt chủng 13

Phân bộ - Dinornithiformes - tuyệt chủng 13

Phân bộ - Aeterygiformes 13

Phân bộ - Tinamiformes 13

1.1.2 Nguồn gốc bồ câu 16

1.1.3 Nguồn gốc của chim cút 17

Phân loại khoa học 17

Trang 3

1.2 ĐẶC ĐIỂM GIẢI PHẤU, SINH LÝ CỦA Đ ĐIỂU V CHIM 18

1.2.1 Da và sản phẩm của da 18

1.2.2 Hệ tuần ho n v máu 24

1.2.3 Hệ xương – cơ 27

1.2.4 Hệ thần kinh v tập tính 30

1.2.5 Hệ Hô hấp 31

1.2.6 Hệ tiêu hoá 33

1.2.7 Hệ bài tiết 45

1.2.8 Hệ nội tiết 46

1.2.9 Hệ sinh dục 49

Chương 2 66

Dinh dƯỠNG CỦA CHIM 66

2.1 NHU CẦU CÁC CHẤT DINH DƯỠNG 66

2.1.1 Nhu cầu năng lượng 66

- Nhu cầu năng lượng cho sản xuất bao gồm nhu cầu cho tăng trọng và cho sản xuất trứng 67

2.1.2 Nhu cầu protein 70

2.1.3 Nhu cầu axit amin 71

- Hàm lượng protein thô trong khẩu phần 72

2.1.4 Nhu cầu vitamin 73

- Nhóm vitamin tan trong dầu mỡ gồm các vitamin A, D, E, K 73

- Nhóm vitamin tan trong nước: Vitamin nhóm B (B1, B2, B12 ), C, axit pantotenic 73

a Vitamin A v D 73

- Vitamin A 73

VitaminA có rất nhiều chức năng quan trong đối với cơ thể chim Nó có tác dụng đối với thị giác, sự phát triển của niêm mạc v da, tăng cường tổng hợp immunoglobin v kích thích tổng hợp kháng thể, tăng khả năng chống chịu stress gây ra bởi nhiệt độ quá cao hay quá thấp Khi thiếu vitamin A, niêm mạc v da dễ bị tổn thương, khả năng tổng hợp kháng thể giảm thấp nên đã l m cho sức chống bệnh của cơ thể bị suy giảm 73

β-caroten đối với cơ thể gia cầm còn nhiều chức năng riêng, ngo i vai trò l tiền vitamin A, nó còn có chức năng chống ung thư v bệnh đường hô hấp Kết hợp cùng với vitamin A sẽ l m vết thương l nh nhanh hơn Hơn nữa, β-caroten có tác dụng chống oxy hóa mạnh, có thể kết hợp với vitamin E, C v selen để phòng chống lão hóa 73

Bổ sung vitamin A sẽ l m tăng khả năng sinh trưởng ở chim con v tăng tỷ lệ đẻ trứng của chim sinh sản Đặc biệt vitamin A có ảnh hưởng rất lớn đến sự phát triển của phôi chim Khi thiếu vitamin A, phôi sẽ ngừng phát triển, tỷ lệ phôi chết tăng cao Nếu trong khẩu phần thiếu vitamin A, lại thiếu cả các vitamin nhóm B m thừa protein thì thận sẽ sưng to, sung huyết v đọng nhiều muối urat m u ng Chim con nở ra mắt nhắm nghiền hoặc mở rất khó khăn; đôi khi mắt nhắm chặt hoặc có nhiều dử mắt, da chân khô ráp 73

Vitamin A cần thiết cho chim ở mọi lứa tuổi v trạng thái sinh lý Chim non có nhu cầu cao nhất, sau đó l gia cầm sinh trưởng v sinh sản Nếu tăng lượng vitamin A trong khẩu phần, sẽ l m tăng h m lượng vitamin A trong trứng 73

Trang 4

Khi thiếu vitamin D ảnh hưởng đến quá trình hấp thu Ca, P l m quá trình khoáng hóa cốt hóa kém Chim non bị còi xương, chim trưởng th nh bị mềm xương, xốp xương, loãng xương, chim đẻ trứng sẽ đẻ trứng mỏng vỏ, tăng tỷ lệ dập vỡ, thậm chí trứng không có vỏ 73 Vitamin D rất cần thiết cho sự phát triển của phôi chim Trong trứng, vitamin D tập trung chủ yếu trong lòng đỏ Khi thiếu vitamin D sẽ ảnh hưởng đến tỷ lệ ấp nở trước khi ảnh hưởng đến tỷ lệ đẻ trứng của đ n chim sinh sản Thiếu vitamin D sẽ l m cho tỷ lệ chết phôi tăng cao v o nửa sau của quá trình ấp, đặc biệt l những ng y ấp cuối cùng Các phôi chết trong khoảng 10-14 ng y ấp thấy mình sưng mọng, dưới da có nhiều chất lỏng, đôi khi da bị sung huyết Cần lưu ý nếu trong khẩu phần thừa vitamin D cũng sẽ l m giảm tỷ lệ ấp nở của trứng chim Nếu trong khẩu phần ăn của đ n chim sinh sản có nhiều

Mn sẽ giảm nhu cầu vitamin D 74

b Vitamin nhóm B v vitamin C 74

- Biotin 74 Biotin có trong th nh phần coenzym cho các phản ứng chuyển CO2 từ chất n y đến chất khác trong chuyển hoá carbohydrat, lipit v protein Khi thiếu biotin, chim con bị phù

v bị perosis Đối với chim sinh sản, mặc dù khi thiếu biotin tỷ lệ đẻ không bị giảm, nhưng

sẽ giảm chất lượng trứng v tỷ lệ ấp nở giảm rõ rệt Khi thiếu quá nhiều biotin trong thức

ăn của đ n chim sinh sản thì tỷ lệ chết phôi sẽ tăng vọt v o ng y ấp thứ ba Nếu thiếu ít hơn, phôi sẽ chết v o giữa hay cuối của quá trình ấp Biểu hiện đặc trưng nhất khi thiếu biotin l các phôi chết bị bệnh micromelia kèm theo hiện tượng “mỏ vẹt” 74

Để cung cấp biotin, có thể sử dụng biotin tổng hợp hoặc sử dụng những loại thức ăn

gi u biotin như bột cỏ, tấm gạo, nấm men, khô dầu hướng dương v khô dầu bông 74

- Choline 74

Cholin có tác dụng ngăn ngừa hội chứng gan nhiễm mỡ, tham gia v o sự truyền xung động thần kinh (th nh phần của acetylcholine) Khi thiếu choline, chim thường bị hội chứng gan nhiễm mỡ, giảm sinh trưởng Để cung cấp choline, có thể sử dụng cholin chloride hay các loại thức ăn gi u choline như cám gạo, mầm lúa mì, nấm men, khô cải dầu, bột cá 74

Folacin (axit folic) 74

Axit folic l th nh phần của coenzym tetrahydrofolic axit trong trao đổi protein Thiếu axit folic trong khẩu phần thường xuất hiện triệu chứng thiếu máu ở chim non, chim con chậm lớn, mất mầu lông Đủ axit folic sẽ đảm bảo cho phôi phát triển tốt, tỷ lệ ấp nở cao, chim con sẽ khoẻ mạnh, sức đề kháng tốt v tăng trọng nhanh Nếu thiếu axit folic trong thức ăn của chim sinh sản thì tỷ lệ chết phôi sẽ tăng cao v o những ng y ấp cuối cùng, thậm chí cả sau khi nở ra Khi thiếu quá trầm trọng sẽ gây ra tình trạng phôi còi, chân v

mỏ bị dị hình Một số phôi chết có xương ch y bị cong, đầu dẹt, mắt nhỏ v thường có một túi trong suốt ở trên thuỷ tinh thể Xương h m dưới kém phát triển hoặc không có

ho n to n Cổ phôi d i hơn bình thường v bị vặn xoắn Một số trường hợp phù thũng

to n thân Bụng phôi phình to do các cơ quan nội tạng phát triển không bình thường 74

Có thể cung cấp axit folic từ folacin tổng hợp, nấm men, mầm lúa mì, khô đỗ tương, khô dầu bông, khô dầu lanh 74

Niacin (Axit Nicotic, Nicotin -amide) 74

Trang 5

Niacine có trong th nh phần của coenzym NAD v NADP trong chuyển hoá carbohydrat, lipit v protein Khi thiếu niacine trong khẩu phần sẽ l m bộ lông của chim xơ xác, cơ thể dễ bị phù nề Nguồn cung cấp niacine: niacin tổng hợp, cám gạo, nấm men, hải sản, gan động vật 74

- Axit pantothenic (vitamin B 3 ) 74 Vitamin B3 có trong th nh phần của Acetyl-coenzym A cần cho sự chuyển hoá carbohydrat, lipit v protein Thiếu vitamin B3 sẽ l m giảm sinh trưởng, rụng lông, viêm ruột, phù nề v chết phôi Có thể cung cấp vitamin B3 bằng calcium pantothenate, tấm gạo, nấm men, bột cỏ 74

- Riboflavin (vitamin B 2 ) 75

Riboflavin có trong thành phần coenzym FMN và FAD trong chuyển hoá năng lượng

Thiếu vitamin B 2 sẽ làm gia cầm giảm sinh trưởng, bị bệnh “ngón chân khoèo” Giảm khả năng đẻ trứng và tỷ lệ ấp nở của trứng Vitamin B2 rất cần thiết cho sự phát triển bình thường

của phôi chim và đảm bảo cho chim non sinh trưởng tốt Khi thiếu vitamin B 2 phôi ngừng lớn,

tỷ lệ phôi chết tăng lên ở giữa và cuối quá trình ấp Nếu thiếu quá trầm trọng, phôi có thể chết ngay ở những ngày đầu của quá trình ấp Các phôi chết từ 9 –14 ngày ấp thường thấy hiện tượng micromelia hay còn gọi là bệnh chân ngắn kỳ hình (chân ngắn, ngón chân cong, lông kim và phôi còi) Đôi khi bệnh micromelia còn gây ra các dị hình ở hộp sọ 75

Có thể bổ sung bằng riboflavin tổng hợp hay các loại thức ăn giàu vitamin B2 như nấm men, sữa thanh (whey), sữa khử bơ, gan, cỏ xanh 75

- Thiamin (vitamin B 1 ) 75 Vitamin B1 có trong th nh phần của coenzym cho quá trình chuyển hoá carbohydrat

Tham gia v o hoạt động của chức năng thần kinh ngoại biên, duy trì tính ham ăn Thiếu vitamin B1 sẽ l m giảm sự ham ăn, giảm tốc độ sinh trưởng, rối loạn tim mạch, chim con

bị viêm thần kinh đa phát, chim mái giảm sản lượng trứng v tỷ lệ nở Khi thiếu vitamin B1 trong thức ăn của chim bố mẹ sẽ l m tăng tỷ lệ chết phôi v o cuối thời kỳ ấp Các phôi chết thường bị xuất huyết, bụng sưng v giãn cơ bụng Đặc trưng nhất l hiện tượng viêm dây thần kinh ở chim con mới nở Chim con đi ngật ngưỡng, loạng choạng v kèm theo triệu chứng thần kinh 75

Có thể sử dụng thiamin hydrochloride, thiamin mononitrat hoặc cung cấp những thức

ăn gi u vitamin B1 như cám gạo, nấm men, khô dầu bông 75

- Vitamin B 6 (pyridoxine, pyridoxal, pyridoxamine 75

Vitamin B6 có trong thành phần của coenzym pyridoxal phosphate cho sự chuyển hoá protein Khi thiếu trong khẩu phần chim con chậm sinh trưởng, lông phát triển kém Chim mái bị giảm sức đẻ trứng và tỷ lệ nở của trứng Những sản phẩm giàu vitamin B6 như bột thịt, bột cá, phụ phẩm lúa mì, cỏ xanh 75

- Vitamin B 12 (cobalamin) 75

Vitamin B12 l th nh phần của coenzym cobamide trong sự hình th nh máu đỏ v

duy trì sự phát triền bình thường của mô thần kinh Thiếu vitamin B12 trong khẩu phần sẽ

l m chim giảm sinh trưởng, giảm sức đề kháng Tuy không ảnh hưởng lớn đến tỷ lệ đẻ nhưng ảnh hưởng đáng kể đến tỷ lệ ấp nở Khi thiếu vitamin B12, phôi chết sẽ tăng lên nhiều nhất từ 16 -18 ng y ấp Dấu hiệu đặc trưng nhất l cơ chân bị teo đi; xuất huyết

to n thân nên cơ thể có m u đỏ, các khớp có m u sẫm Đôi khi còn thấy xuất huyết ở

m ng niệu v túi lòng đỏ 75

Trang 6

Nếu trong thức ăn có đủ vitamin B2 thì nhu cầu về vitamin B12 sẽ giảm Nếu chim sinh sản được nuôi trên lớp độn chuồng d y không thay đổi v lớp độn chuồng được chăm sóc tốt thì sẽ không bị thiếu vitamin B12 75

Có thể bổ sung vitamin B12 tổng hợp, hoặc cung cấp từ các loại thức ăn gi u vitamin

B12 như các loại thức ăn gi u protein nguồn gốc động vật, sản phẩm lên men 75

- Vitamin C (axit ascorbic) 75

Vitamin C tham gia quá trình hình thành collagen, chuyển hoá tyrosine và tryptophan, chuyển hoá mỡ và kiểm soát cholesterol, hấp thu và vận chuyển sắt, tăng sức bền thành mạch Vitamin C còn có vai trò của một chất chống oxy hoá, chống bệnh hoại huyết: sưng và chảy máu chân răng, yếu xương Có thể cung cấp vitamin C tổng hợp hay các sản phẩm giàu vitamin C như chanh, bã chanh, cỏ xanh Vtamin C rất dễ bị phá huỷ khi dự trữ và chế biến.76 2.1.5 Nhu cầu các chất khoáng 76 Các chất khoáng giữ một vai trò quan trọng trong cơ thể chim Nó có mặt trong mọi cơ quan v tổ chức của cơ thể v tham gia nhiều chức năng quan trọng như chức năng tạo hình, tham gia các phản ứng sinh hoá học (trong th nh phần nhóm ghép của nhiều enzym, trực tiếp tham gia xúc tác các phản ứng sinh hoá học), ổn định protein ở trạng thái keo trong tế b o mô Các chất khoáng còn hoạt động như một chất kích thích hay ức chế các hoạt động sinh lý của cơ thể Tham gia hình th nh các muối, hệ thống đệm v duy trì áp suất thẩm thấu của dịch tế b o v của máu Các chất khoáng được chia l m hai nhóm chính : 77

- Khoáng vi lượng: được tính bằng mg/kg hay ppm (part per million = phần triệu) 77

a Canxi v Photspho (Ca v P) 77

Ngo i nhiệm vụ chính tham gia cấu trúc bộ xương, Ca v P còn tham gia hình th nh

vỏ trứng, có mặt trong huyết thanh P còn có trong th nh phần các nucleoproteit v nucleotit Nếu trong khẩu phần ăn thiếu canxi v photspho sẽ l m chim con còi cọc, chim trưởng th nh bị bệnh về xương, chim mái đẻ trứng mỏng vỏ hay ho n to n không có vỏ Tuy nhiên nhu cầu canxi v photspho tuỳ thuộc v o mỗi loại chim khác nhau, hướng sản xuất, lứa tuổi v sức sản xuất Nếu thừa canxi v photspho thì chúng bị thải ra ngo i, do

đó thường l m hoại tử, thoái hoá thận, thậm chí còn l m chim chết Nếu thừa P sẽ dẫn đến thiếu Ca, đây l một điểm đáng lưu ý khi bổ sung Ca v P trong khẩu phần ăn cho chim 77 Trong giai đoạn hậu bị, nhu cầu Ca v P như đối với chim sinh trưởng bình thường Giai đoạn tiền đẻ trứng có thể cho ăn thức ăn có nhu cầu canxi như giai đoạn hậu bị hoặc tăng lên từ từ Khi chim đẻ từ 5 – 10% mới được bổ xung thêm canxi v phospho cho gia cầm đẻ trứng 77

Tỷ lệ Ca:P thích hợp trong khẩu phần l 2:1 Khi khẩu phần thiếu Ca v P cần phải

bổ sung bằng nguồn thức ăn gi u Ca v P Khẩu phần của chim thường thiếu Ca Thức ăn thực vật nghèo Ca v P hơn thức ăn động vật Trong thức ăn thực vật P phần lớn ở dưới dạng axit phytic (1/2 số lượng P tổng số) rất khó lợi dụng Chim không có phytase, cho nên không lợi dụng được axit phytic Vì thế với những khẩu phần của chim, chủ yếu l thức

ăn thực vật thì phải bổ sung thêm P nguồn gốc động vật hay khoáng vật như mono canxi phosphat (15,9% Ca v 24,6% P), dicanxi phosphat (23,35% Ca, 18,21% P), bột xương (24%

Ca, 12% P v 0,64% Mg) Nguồn cung cấp Ca như bột vỏ sò, hến, mai mực (30-35% Ca);

Trang 7

CaCO3 (38% Ca); bột đá vôi (32% Ca) Nhu cầu của chim sinh sản trong giai đoạn 0 – 20 tuần tuổi từ 1,0 – 1,1% Ca; 0,45% P dễ tiêu; trong giai đoạn đẻ trứng từ 2,5 – 4,0% Ca;

0,45% P dễ tiêu 77

b Natri, kali v clo (Na, K, Cl) 77

Na+, K+ v Cl- l chất điện giải, khi cơ thể mất nước (do mất máu, ỉa chảy, nôn )

sẽ mất chất điện giải, cân bằng áp suất thẩm thấu giữa trong v ngo i tế b o bị rối loạn, con vật có thể chết Cl- cần thiết cho việc hình th nh HCl trong dạ d y, có tác dụng hoạt hoá pepsinogen th nh pepsin để tiêu hoá protein Na+ v K+ cũng l th nh phần trong hệ đệm của cơ thể, giúp giữ cân bằng axit-bazơ dịch cơ thể 77

2.1.6 Nhu cầu về nước uống 78

2.2 SỬ DỤNG THỨC ĂN 79

2.2.1 Đặc điểm một số loại thức ăn 79

a Nhóm thức ăn cung cấp năng lượng 79

- Khô dầu 80

- Bột thịt xương gia cầm 81

Bột thịt xương gia cầm là sản phẩm được chế biến từ phế phụ phẩm sạch của gia cầm giết mổ, như xương, nội tạng và có thể toàn bộ thân thịt gia cầm đã vặt lông Trong bột gia cầm có 58% protein thô, 11% lipit, 18% khoáng, độ ẩm tối đa 10% Bột thịt xương gia cầm có màu vàng đến nâu vừa, có mùi gia cầm đặc trưng 81

2.2.2 Qui định sử dụng nguyên liệu thức ăn 81

2.3 CÁC LOẠI THỨC ĂN HỖN HỢP 81

2.3.1 Thức ăn hỗn hợp hoàn chỉnh và đậm đặc 81

2.3.2 Thức ăn bổ sung 81

2.4 HIỆU QUẢ SỬ DỤNG THỨC ĂN (FCR) 83

2.4.1 Khái niệm về hiệu quả sử dụng thức ăn 83

2.4.2 Một số yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng thức ăn 83

Chương 3 85

Søc s¶n xuÊt cña chim 85

3.1 SỨC SẢN XUẤT TRỨNG 85

3.1.1 Cấu tạo trứng chim 85

Nguồn: J O Horbanczuk, 2002 85

3.1.2 Th nh phần hoá học của trứng 87

Bão hòa 88

Axit myristic 88

Không bão hòa đơn tính 88

Axit palmitoleic 88

Không bão hòa đa tính 88

Axit linolic 88

3.1.3 Những chỉ tiêu đánh giá chất lượng trứng 89

Khi chọn trứng chim, trước hết, cần loại bỏ những trứng có hình dạng không bình thường hay còn gọi là trứng dị hình như: quá to (có nhiều hơn 1 lòng đỏ), quá nhỏ (trứng giả, không có lòng đỏ), trứng vỏ mềm, trứng ở trong trứng, trứng dị dạng (quá dài, quá tròn, thắt eo v.v ) 89

Loài 91

Trang 8

3.1.4 Sức đẻ trứng của chim 92

3.2 SỨC SINH SẢN 95

3.2.1 Tỷ lệ thụ tinh 95

3.2.2 Tỷ lệ nở 96

3.2.3 Tỷ lệ nuôi sống 97

Nguồn: gilliers và Van schlkuyk, 1994 97

3.3 SỨC SẢN XUẤT THỊT 97

3.3.1 Những chỉ tiêu đánh giá sức sản xuất thịt 97

b Tiêu tốn và chi phí thức ăn cho 1 kg tăng khối lượng 98

j Tỷ lệ thịt đùi 99

3.3.2 Những yếu tố ảnh hưởng đến sức sản xuất thịt 99

PHẦN THỨ HAI 101

KỸ THUẬT ẤP TRỨNG V NUÔI CHIM 101

Chương IV 101

ẤP TRỨNG NH N TẠO 101

4.1 KH I NIỆM CHUNG VỀ ẤP TRỨNG NH N TẠO 101

4.1.1 Lịch sử phát triển của ấp nhân tạo 101

Chăn nuôi gia cầm v chim thời hiện đại nếu như chỉ dựa v o ấp tự nhiên thì không thể đáp ứng được số lượng con giống cần thiết Vì vậy con người đã nghiên cứu, thử nghiệm tạo ra môi trường tương tự như của chim khi ấp để thay thế chúng, l m nở ra từ trứng những cá thể mới m không cần sự tham gia của chim bố mẹ 101

4.1.2 Định nghĩa về ấp nhân tạo 101

4.1.3 Mục đích của ấp nhân tạo 101

Ng y nay, người ta đã ấp trứng nhân tạo hầu hết các loại trứng gia cầm v chim nuôi khác như đ điểu, chim cút Riêng chim bồ câu, do đặc điểm của lo i: quá trình đẻ trứng, ấp v nuôi con rất đặc biệt, gắn liền với sự phát triển v hoạt động của tuyến diều của chim bố mẹ, mớm sữa cho con sau khi nở nên bắt buộc phải để cho chim bố mẹ ấp trứng tự nhiên Trong chương n y, chúng tôi trình b y chủ yếu l kỹ thuật ấp trứng chim cút v đ điểu 101

4.2 THU NHẶT, CHỌN V BẢO QUẢN TRỨNG ẤP 101

4.2.1 Thu nhặt trứng v bảo quản tạm thời 101

4.2.2 Chuyển trứng tới trạm ấp 102

4.2.3 Nhận trứng v xông sát trùng 102

Nhận trứng 102

Xông sát trùng trứng 102

4.2.4 Chọn trứng ấp 102

Các chỉ tiêu bên ngo i 102

Chất lượng bên trong 103

4.2.5 Bảo quản trứng trước khi ấp 103

4.3 ẤP V VẬN CHUYỂN CHIM NON 103

4.3.1 Đưa trứng v o máy ấp 103

Chuẩn bị máy ấp 103

Chuẩn bị trứng ấp 103

Trang 9

4.3.2 Chuyển trứng từ máy ấp sang máy nở 103

a Chuẩn bị máy nở 103

Soi loại trứng hỏng v chuyển trứng ấp sang khay nở 103

4.3.3 Lấy chim con ra khỏi máy nở 104

Lấy chim ra khỏi máy 104

4.3.4 Tiêm chủng v bảo quản chim con mới nở 104

4.3.5 Vận chuyển chim con 104

Những yêu cầu tối thiểu của xe chở chim con 104

4.4 KIỂM TRA SỰ PH T TRIỂN CỦA PHÔI TRONG QU TRÌNH ẤP 105

4.4.1 Kiểm tra khi chim nở v đánh giá chất lượng chim nở 105

4.4.2 Kiểm tra độ giảm khối lượng của trứng trong quá trình ấp 105

4.4.3 Theo dõi độ d i của quá trình ấp 105

4.5 ẤP TRỨNG CHIM C T 105

4.6 ẤP TRỨNG Đ ĐIỂU 106

4.6.1 Thu nhặt v chọn trứng ấp 106

4.6.2 Vận chuyển v bảo quản trứng ấp 106

4.6.3 Bảo quản trứng trước khi đưa v o máy ấp 107

Chỉ tiêu 107

Chỉ tiêu 108

4.6.4 Nhiệt độ ấp trứng 108

Chỉ tiêu 109

4.6.5 Ẩm độ tương đối 109

Chỉ tiêu 110

Loài 110

Chỉ tiêu 111

4.6.6 Đảo trứng 111

Chỉ tiêu 111

4.6.7 Quá trình phát triển phôi 113

4.6.8 Giúp nở 114

Năm 114

4.6.9 Phân tích sinh học về quá trình ấp nở 114

4.6.10 Chế độ ấp trứng đ điểu v chim cút 115

4.6.11.Một số kết quả nghiên cứu về ấp trứng đ điểu ở Việt Nam (*) 116

Chương V 118

CHUỒNG TRẠI,THIẾT BỊ VÀ DỤNG CỤ CHĂN NUÔI CHIM 118

5.1 CÁC PHƯƠNG THỨC CHĂN NUÔI CHIM 118

5.1.1 Phương thức nuôi công nghiệp (thâm canh) 118

5.1.2 Nuôi bán công nghiệp (bán thâm canh) 118

5.1.3 Nuôi quảng canh 118

5.2 NGUYÊN TẮC CƠ BẢN ĐỐI VỚI CHUỒNG TRẠI CHĂN NUÔI CHIM 118

5.2.1 Yêu cầu chung 118

5.2.2 Tiểu khí hậu chuồng nuôi 118

5.3 YÊU CẦU KỸ THUẬT ĐỐI VỚI CHUỒNG NUÔI CHIM 119

5.3.1 Hướng chuồng 119

Trang 10

5.3.2 Kích thước chuồng nuôi chim 119

5.3.3 Những cấu kiện của chuồng nuôi 119

5.3.4 Khoảng cách giữa các chuồng nuôi 120

5.3.5 Một số công trình phụ quan trọng 120

5.4 THIẾT BỊ VÀ DỤNG CỤ CHĂN NUÔI CHIM 120

5.4.1 Hệ thống điện nước 120

5.4.2 Hệ thống thông khí và làm mát 121

5.4.3 Thiết bị sưởi 121

5.4.4 Hệ thống rèm che 121

5.4.5 Hệ thống lồng, quây, ổ đẻ 121

5.4.6 Hệ thống vệ sinh thú y 121

5.5 CƠ KHÍ HOÁ VÀ TỰ ĐỘNG HOÁ CHUỒNG TRẠI CHĂN NUÔI CHIM 122

5.5.1 Hệ thống cung cấp thức ăn 122

5.5.2 Hệ thống cung cấp nước uống 122

5.6 SÁT TRÙNG CHUỒNG TRẠI, THIẾT BỊ VÀ DỤNG CỤ CHĂN NUÔI 123

5.6.1 Qui trình vệ sinh tiêu độc chuồng nuôi 123

5.6.2 Vệ sinh tiêu độc trang thiết bị chăn nuôi 124

Chương VI 125

KỸ THUẬT NUÔI Đ ĐIỂU 125

6.1 HỆ THỐNG CHĂN NUÔI Đ ĐIỂU 125

6.1.1 Hệ thống trang trại chăn thả 125

6.1.2 Hệ thống trang trại bán công nghiệp 125

6.1.3 Hệ thống trang trại chăn nuôi công nghiệp 125

6.2 CHUỒNG TRẠI Đ ĐIỂU 125

6.2.1 Thiết kế chuồng trại v sân chơi cho đ điểu 125

Nguồn: Micheal Y Hastings, 1995 126

Nguồn: Micheal Y Hastings, 1995 126

6.2.3 H ng r o 127

6.2.4 Đệm lót chuồng 130

6.2.5 Đường chạy 130

6.3 C C GIỐNG Đ ĐIỂU NUÔI Ở VIỆT NAM 131

6.3.1 Đ điểu Zimbabwe 131

6.3.2 Đ điểu c 131

6.3.3 Đ điểu nh - Struthio c domesticus ( đ điểu thương mại) 132

6.4.THỨC ĂN CHO Đ ĐIỂU 132

6.4.1.Nhu cầu dinh dưỡng chung cho các loại đ điểu 132

Tuổi (tháng) 133

Chim non 133

Chim dò 133

Chim sinh sản 133

0-1 133

1-2 133

2-5 133

6-11 133

Trang 11

11-14 133

Sau SS 133

Trong SS 133

Protein thô 133

(Tối thiểu %) 133

Xơ thô 133

(Tối thiểu %) 133

MJ ME/kg 133

Cỏ khô 133

Lysine 133

(Tối thiểu %) 133

Methionine 133

(Tối thiểu %) 133

Methionine/cystine 133

(Tối thiểu %) 133

Threonine 133

(Tối thiểu %) 133

Tryptophan 133

(Tối thiểu %) 133

Isoleucine 133

(Tối thiểu %) 133

Arginine 133

(Tối thiểu %) 133

Bột cỏ linh lăng 133

Tháng tuổi 134

Nguồn: M.M Shanawany, 1999 135

6.4.2 Nhu cầu dinh dưỡng cho đ điểu dò 136

Bảng 6.16 Nhu cầu dinh dưỡng cho đ điểu dò 136

6.4.3.Nhu cầu cho đ điểu sinh sản trong mùa sinh sản 136

6.4.4.Nhu cầu về vitamin v khoáng 138

Để lớn lên v phát triển đầy đủ, đ điểu non phải nhận đủ lượng các vitamin v khoáng chất 138

Con non cũng có thể ăn được vỏ trứng nghiền hoặc bột đá có kích thước bằng hạt gạo v nên để ở nơi chúng dễ tiếp cận Ở một số trang trại châu Âu, vỏ trứng được cho con non ăn h ng ng y, bắt đầu từ ng y thứ 4 - 5 (3 - 5g/con) Đ điểu có thể được cho ăn đá hoặc sỏi nhỏ sau 3 tuần tuổi 138

Trong nuôi dưỡng đ điểu non, lượng thức ăn tiêu thụ cần phải được kiểm soát để đảm bảo năng suất cũng như kinh tế, l m cho chúng có sức khỏe tốt hơn v tỷ lệ chết thấp hơn 138

Nguồn: J O Horbanczuk, 2002 138

6.4.5.Thức ăn bổ sung 139

Khi đ điểu 30 - 40 ng y tuổi, có thể cho ăn probiotic (chẳng hạn lactiform, aviguard) để đảm bảo quá trình phát triển phù hợp của các chủng vi khuẩn Bifido-bacterium hoặc L acidophilus) trong đường tiêu hóa 139

Trang 12

Bên cạnh thức ăn viên, con non trong 7 - 10 ng y đầu tiên nên được cho ăn trứng g luộc (1 quả cho 7 - 8 con), c rốt nghiền v 3 - 4 lần/ng y một ít bắp cải, rau diếp, cỏ linh lăng hoặc cỏ ba lá thái nhỏ Từ 3 tuần tuổi, con non đã có thể ăn hỗn hợp yến mạch vụn,

cỏ linh lăng thái v thức ăn cho con non theo tỷ lệ 1: 1: 1 Trước khi cho ăn, tất cả các

th nh phần phải được trộn đều 139

6.4.6 Thức ăn xanh v xơ thô 139

Nguồn: M.M Shanawany, 1999 139

6.4.7 Nước uống 139

6.5 NUÔI C C LOẠI Đ ĐIỂU 139

6.5.1.Nuôi đ điểu con 139

Màu sắc 141

Số lần ăn TB/phút 141

Xanh lá cây 141

Trắng 141

1,5 141

Đỏ, xanh, đen, vàng 141

< 0,5 141

6.5.2 Nuôi đ điểu dò ( từ 3 tháng - 1 năm tuổi) 143

6.5.3 Nuôi dưỡng đ điểu sinh sản trong mùa sinh sản 144

Số lượng trứng/mái/mùa 145

Ngày 146

Khối lượng trứng (g) 147

Đường kính lớn (D- mm) 147

Đường kính nhỏ (d- mm) 147

Chỉ số hình dạng 147

Chu vi qua đỉnh (mm) 147

Chu vi bao quanh (mm) 147

Thể tích trứng (ml) 147

Lòng trắng (g) 147

Lòng đỏ (g) 147

Vỏ (g) 147

6.5.4 Nuôi dưỡng đ n sinh sản trong khoảng thời gian nghỉ đẻ (sau mùa sinh sản) 148

6.5.5 Nuôi dưỡng đ điểu cho thịt 148

Thành phần 150

Nguồn: Micheal Y Hastings, 1995 151

Tên thương hiệu 152

Cơ 152

Loại cơ 153

Cơ 153

Trung bình 153

Thịt gà 153

Loại thịt 153

So sánh thịt đ điểu với thịt bò v thịt của vật nuôi khác 154

Trang 13

Nguồn: J O Horbanczuk, 2002 156

Nguồn: Micheal Y Hastings, 1995 156

Nguồn: Micheal Y Hastings, 1995 156

6.6.MỘT SỐ SẢN PHẨM KH C CỦA Đ ĐIỂU 158

6.6.1 Da 158

6.6.2 Lông đ điểu 158

6.6.3 Một số sản phẩm phụ khác của đ điểu 159

Thịt 159

Nguồn: M.M Shanawany, 1999 159

6.7 HIỆU QUẢ KINH TẾ CHĂN NUÔI ĐÀ ĐIỂU 160

Nuôi đà điểu mang lại lợi nhuận lớn, sau đây là một ví dụ về hạch toán kinh tế từ một trang trại nhỏ ở Canada sau 4 năm nuôi đà điểu với số lượng ban đầu là 10 đà điểu sinh sản (M.M Shanawany, 1999) 160

6.8 MỘT SỐ KẾT QUẢ CHĂN NUÔI Đ ĐIỂU TẠI VIỆT NAM 161

6.8.1 Dinh dưỡng cho đ điểu 161

6.8.2 Năng suất chăn nuôi 162

6.8.3 Tiêu tốn và chi phí thức ăn 162

6.8.4 Đánh giá chất lượng thịt 163

Bảng 6.46 Kết quả mổ khảo sát đ điểu 12 tháng tuổi (công thức lai ZimxBlue) 163

TT 163

Chỉ tiêu 163

ĐVT 163

Trống (n=3) 163

X ± mx 163

Mái (n=3) 163

X ± mx 163

T.B 163

X ± mx 163

6.8.5 Tiêu tốn thức ăn 164

6.8.6 Hiệu quả kinh tế chăn nuôi đ điểu 166

6.9 MỘT SỐ BỆNH THƯỜNG GẶP KHI NUÔI Đ ĐIỂU 166

6.9.1.Các bệnh do virut 166

6.9.2 Các bệnh do vi khuẩn 166

6.9.3 Các bệnh do nấm 167

6.9.4 Các bệnh ký sinh trùng 167

6.9.5.Các bệnh khác 167

Chương VII 169

KỸ THUẬT NUÔI CHIM BỒ C U 169

7.1 C C PHƯƠNG THỨC CHĂN NUÔI CHIM BỒ C U 169

7.1.1 Phương thức chăn nuôi quảng canh, tận dụng 169

7.1.2 Phương thức chăn nuôi công nghiệp 169

7.2 CHUỒNG NUÔI VÀ THIẾT BỊ NUÔI CHIM 169

Trang 14

7.2.1.Chuồng nuôi cá thể dùng nuôi các cặp chim sinh sản từ 6 tháng tuổi trở đi Mỗi cặp

chim sinh sản cần 1 ô chuồng riêng, kích thước của 1 ô chuồng (căn hộ chim): cao x sâu x rộng =

40cm x 60 cm x 50 cm 169

7.2.2.Chuồng nuôi quần thể dùng để nuôi chim hậu bị sinh sản từ 2 – 6 tháng tuổi 170

7.2.3 Các kiểu chuồng chim 170

7.2.4 Thiết bị nuôi chim 174

7.3.1 Bồ câu nội (bồ câu ta) 175

7.3.3 Bồ câu Pháp 176

7.3.4 Bồ câu lai 177

7.4 NHU CẦU DINH DƯỠNG CỦA CHIM BỒ C U 178

7.4.1 Nhu cầu về protein 178

7.4.2 Nhu cầu về năng lượng 178

7.4.3 Nhu cầu vitamin v khoáng 179

7.4.4 Nhu cầu về nước uống 180

7.4.5 Thức ăn cho chim bồ câu 180

7.5 NUÔI C C LOẠI CHIM BỒ C U 183

7.5.1 Nuôi chim sinh sản 183

Bảng 7.11 Tỷ lệ các phần của trứng chim dòng Titan 184

(n = 30) 184

Bảng 7.12 Một số tập tính sinh sản của chim bồ câu 185

Bảng 7.13 Một số chỉ tiêu sinh sản của ba dòng chim bồ câu Pháp 185

(n = 30 đôi) 185

7.5.2 Vỗ béo chim bồ câu con (sản xuất chim bồ câu 6 tuần tuổi) 188

Bảng 7.19 Năng suất thịt của chim bồ câu Pháp lúc 28 ng y tuổi 189

Bảng 7.20 Th nh phần hoá học của thịt chim bồ câu Pháp lúc 28 ng y tuổi 190

Ghi chú: (*) Kết quả của phòng phân tích TĂ&DDGS-Viện Chăn nuôi) 190

7.6 PHÒNG TRỪ DỊCH BỆNH CHO CHIM BỒ C U 191

7.6.1 Vệ sinh phòng bệnh 191

7.6.2 Tiêm phòng, dùng kháng sinh v điều trị kịp thời 191

Chương VIII 192

KỸ THUẬT NUÔI CHIM C T 192

8.1 PHƯƠNG THỨC NUÔI CHIM C T 192

8.2 CHUỒNG TRẠI CHĂN NUÔI CHIM CÚT 192

Ngoài các quy định chung đã nói đến trong chương V, khi nuôi chim cút, cần chú ý một số vấn đề sau: 192

8.2.1 Tiểu khí hậu chuồng nuôi 192

8.3 MỘT SỐ THIẾT BỊ 193

8.3.1 Thiết bị sưởi 193

8.3.2 Hệ thống rèm che 193

8.3.3 Hệ thống lồng 193

8.3.4 Máng ăn, máng uống 195

8.4 C C GIỐNG CHIM C T 196

8.4.1 Chim cút Nhật Bản 196

Trang 15

8.4.2 Chim cút Mỹ 198

8.4.3 Chọn giống chim cút 198

8.5 NHU CẦU VỀ C C CHẤT DINH DƯỠNG CỦA CHIM C T 199

8.6 KỸ THUẬT NUÔI CÁC LOẠI CHIM CÚT 202

8.6.1 Nuôi chim cút sinh sản mái 202

8.6.2 Nuôi dưỡng chăm sóc chim trống giống 210

8.6.3 Kỹ thuật nuôi chim đẻ trứng thương phẩm 211

8.6.4 Kỹ thuật chăn nuôi chim thịt 211

8.7 KẾT QUẢ CHĂN NUÔI CHIM C T TRONG NÔNG HỘ 213

Các tác giả Bùi Hữu Đo n, Nguyễn Quang Hiệu đã tiến h nh nuôi nhằm đánh giá năng suất v hiệu quả kinh tế khi nuôi chim cút trong nông hộ ở Từ Sơn, Bắc Ninh với quy mô 3000 chim cút đẻ v 5000 chim cút thịt thương phẩm, kết quả cho thấy: 213

8.7.1 Trên đ n chim sinh sản 214

a Ngoại hình chim cút Nhật Bản tương đối đồng nhất Khi mới nở chim trống v mái giống nhau; sau 3 tuần tuổi, ở vùng diều v trước ngực con trống có lông m u nâu đỏ; lúc trưởng th nh (trên 6 tuần tuổi) có bầu tinh tròn, đường kính khoảng 1 cm, cạnh lỗ huyệt, m u đỏ, chứa đầy tinh dịch; chim thường hay gáy Cút mái không có vùng lông như trên, to n thân đồng nhất 214

8.7.2 Trên đ n cút thịt 214

c Nuôi 5000 con thương phẩm thịt, sau 5 tuần thu lãi l 2 174 000 đ, bình quân lãi 1.864.000 đ/tháng/hộ 214

8.8 PHÒNG BỆNH CHO CHIM C T 214

8.8.1 Bệnh newcastle, còn gọi l bệnh dịch tả chim, đây l bệnh nguy giểm số một của những trại nuôi g , chim (vì chim cút rất mẫn cảm với bệnh n y, chỉ sau g m thôi), bệnh do virus gây ra nên phải phòng bằng cách nhỏ vacxin lasota v o lúc chim được 1 v 3 tuần tuổi, sau đó, cứ 3-5 tháng sau phải tiêm phòng nhắc lại vacxin newcastle hệ I cho chim 214

8.8.2 Ngộ độc thức ăn 214

8.8.3 Suy dinh dưỡng 215

8.8.4 Sưng mắt 215

8.8.5 Bệnh bại liệt của chim mái đẻ 215

8.8.6 Hội chứng chim chết thình lình (Sudden death syndrome SDS) 215

15 Jaroslaw Olav Horbanczuk, 2002 Ostrich Warsawa 217

18 T Yamane a ; K Ono a ; T Tanaka a.Protein requirement of laying Japanese quail 217

Trang 16

LỜI NÓI ĐẦU

Trong những năm gần đây, bên cạnh việc tăng nhanh sản lượng, chất lượng các sản phẩm chăn nuôi gia súc gia cầm truyền thống như trâu bò, lợn, gà, ngành chăn nuôi nước ta

đã hòa nhập với sự phát triển của nền chăn nuôi trên thế giới, bổ sung thêm nhiều đối tượng chăn nuôi mới như đà điểu, bồ câu và chim cút , làm phong phú thêm các sản phẩm chăn nuôi, đáp ứng nhu cầu đa dạng của thị trường

Để góp phần vào sự đổi mới và phát triển mạnh mẽ của nghành, cung cấp tài liệu học tập cho sinh viên, tài liệu tham khảo cho các học viên, cán bộ nghiên cứu, những độc giả

quan tâm đến lĩnh vực này, chúng tôi biên soạn giáo trình Chăn nuôi đà điểu và chim, nhằm

cung cấp những kiến thức cơ bản về chăn nuôi đà điểu, bồ câu và chim cút - những đối tượng rất mới, có tốc độ phát triển nhanh và giàu tiềm năng, nhiều triển vọng trong ngành chăn nuôi nước ta

Để sử dụng giáo trình có hiệu quả, khi học môn học này các học viên cần tham khảo thêm tài liệu các môn cơ sở như sinh lý, sinh hoá, dinh dưỡng, thức ăn, giống vật nuôi để hiểu kỹ và ứng dụng tốt các kiến thức trình bày trong tài liệu

Trong quá trình biên soạn giáo trình, bên cạnh việc tham khảo các tài liệu quý trong

và ngoài nước, chúng tôi còn mạnh dạn đưa vào nhiều kết quả nghiên cứu chuyên ngành của nhiều tác giả cũng như những tiến bộ mới trong sản xuất

Khi sử dụng giáo trình, sinh viên cần liên hệ với các bài giảng của giáo viên, với tình hình thực tiễn trong sản xuất, tham khảo thêm tài liệu chuyên môn để hiểu các nội dung được trình bày một cách có hệ thống

Nhân dịp hoàn thành cuốn giáo trình này, chúng tôi xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ

và những ý kiến đóng góp hết sức quý báu của nhiều thế hệ các thầy giáo, cô giáo khoa Chăn nuôi và Nuôi trồng Thuỷ sản, khoa Thú y, các cán bộ nghiên cứu của Viện Chăn nuôi Quốc gia, các bạn đồng nghiệp; lãnh đạo, cán bộ kỹ thuật các trang trại chăn nuôi; các thế hệ sinh viên và học viên cao học mà chúng tôi đã có cơ hội được giảng dạy

Hiện nay, các đối tượng chăn nuôi được đề cập đến trong giáo trình đang được coi là mới, những tài liệu được công bố có liên quan còn rất hạn chế vì vậy, trong phạm vi có thể, chúng tôi đã cố gắng cung cấp được nhiều nhất những thông tin về các con vật mới mẻ này Chúng tôi cũng hiểu rằng, mặc dù đã rất nỗ lực, nhưng do thời gian eo hẹp và đặc biệt, những hiểu biết của mình về đà điểu, bồ câu và chim cút còn rất hạn chế, chắc chắn tài liệu

sẽ có nhiều thiếu sót

Mong bạn đọc đóng góp ý kiến để giáo trình này được hoàn thiện hơn trong những lần xuất bản sau

Tác giả

Trang 17

BÀI MỞ ĐẦU 1.1 ĐỐI TƯỢNG VÀ MỤC ĐÍCH CỦA MÔN HỌC

1.1.1 Đối tượng của môn học

Lớp chim với hơn 9600 loài, chia thành 3 nhóm chính :

- Nhóm chim bay

- Nhóm chim bơi

- Nhóm chim chạy

Trong giáo trình chăn nuôi gia cầm, chúng tôi đã đề cập đến chăn nuôi gà - một loài

chim bay và thủy cầm - một số loài chim bơi Trong giáo trình này, chúng tôi tiếp tục đề cập đến một loài chim chạy là đà điểu và hai loài chim bay nữa: bồ câu, chim cút, đó là một nhóm

động vật thuộc lớp chim, đã được con người thuần hoá từ tổ tiên hoang dại thông qua quá trình thích nghi lâu dài

1.1.2 Mục đích của môn học

Giúp học viên nắm được nguồn gốc tiến hoá và sự hình thành các loài đà điểu, bồ câu và chim cút, đặc điểm giải phẫu, sinh lý, nhu cầu dinh dưỡng, sức sản xuất, kỹ thuật ấp trứng, nuôi dưỡng chăm sóc, quản lý các loại đà điểu, bồ câu, chim cút… ứng dụng vào thực tiễn chăn nuôi ở nước ta để cho năng suất cao, chất lượng sản phẩm tốt

1.2.Tình hình chăn nuôi nói chung, chăn nuôi đà điểu, bồ câu và chim cút trên thế giới

1.2.1.Tình hình sản xuất và tiêu thụ thịt trên thế giới

Thịt và sản phẩm thịt là nguồn cung cấp quan trọng nhất về đạm, vitamin, khoáng chất… cho con người Chất dinh dưỡng từ động vật có chất lượng cao hơn, dễ hấp thu hơn là

từ rau quả Trong khi mức tiêu thụ thịt bình quân đầu người ở các nước công nghiệp rất cao thì tại nhiều nước đang phát triển, bình quân đạt dưới 10 kg, gây nên hiện tượng thiếu và suy dinh dưỡng Ước tính, có hơn 2 tỷ người trên thế giới, chủ yếu ở các nước chậm phát triển và nghèo bị thiếu vitamin và khoáng chất, đặc biệt là vitamin A, iodine, sắt và kẽm, do họ không được tiếp cận với các loại thực phẩm giàu dinh dưỡng như thịt, cá, trái cây và rau quả

Tại một số nước, tình hình tiêu thụ như sau: (mức hiện nay/40 năm trước): Mỹ 124/89; EU: 89/56; TQ: 54/4; Nhật 42/8; Brazin 79/28 kg

Sản lượng sữa toàn cầu năm 2002 là 580 triệu tấn, dự kiến đến năm 2050 là 1043 triệu tấn

Để đủ chất dinh dưỡng, mỗi người cần được ăn trung bình 20 g đạm động vật/ngày hoặc 7,3 kg / năm, tương đương với 33 kg thịt nạc, hoặc 45 kg cá, hoặc 60 kg trứng, hay 230

kg sữa Thịt được cung cấp chủ yếu từ chăn nuôi các động vật nông nghiệp: bò, lợn, gia cầm; một ít trâu, dê và cừu Trong đó, thịt lợn là phổ biến nhất, chiếm trên 36%, tiếp theo là gia cầm 33% và thịt bò 24%

Một số khu vực khác còn có thêm thịt lạc đà, bò tây tạng, ngựa, đà điểu, bồ câu, chim cút… ngoài ra còn thịt cá sấu, rắn, thằn lằn…

Bảng 1 Tiêu thụ thịt bình quân (kg/ người) trên thế giới trong một số năm gần đây

Trang 18

Chỉ tiêu 2006 2007 2008 so với 2007 Tăng 2008

Nguồn:FAO World Food Outlook, 2008

1.2.3 Tình hình sản xuất và tiêu thụ thịt và trứng của Việt Nam

Bảng 2 Số lượng gia súc gia cầm của nước ta trong một số năm gần đây

2010 đạt: 36 kg thịt xẻ, 82 quả trứng, 4,3 kg sữa; đến năm 2015 đạt: 46 kg thịt xẻ, 116 quả trứng, 7,5 kg sữa và đến năm 2020 đạt trên 56 kg thịt xẻ, trên 140 quả trứng và trên 10 kg sữa

Tỷ trọng thịt được giết mổ, chế biến công nghiệp so với tổng sản lượng thịt đến năm 2010 đạt khoảng 15%; đến năm 2015 đạt 25% và đến năm 2020 đạt trên 40%

Đến năm 2020, tổng đàn lợn tăng bình quân 2,0% năm, đạt khoảng 35 triệu con, trong đó đàn lợn ngoại nuôi trang trại, công nghiệp 37% Tổng đàn gà tăng bình quân trên 5% năm, đạt khoảng trên 300 triệu con, trong đó đàn gà nuôi công nghiệp chiếm khoảng 33% Đàn thủy cầm giảm dần còn khoảng 52-55 triệu con; đàn thủy cầm nuôi công nghiệp trong tổng đàn tăng dần, bình quân 8% năm Đàn bò sữa: tăng bình quân trên 11% năm, đạt khoảng 500 ngàn con, trong đó 100% số lượng bò sữa được nuôi thâm canh và bán thâm canh Đàn bò thịt: tăng bình quân 4,8% năm, đạt khoảng 12,5 triệu con, trong đó bò lai đạt trên 50% Đàn trâu: ổn định với số lượng khoảng 2,9 triệu con, nuôi tập trung chủ yếu ở các tỉnh miền núi phía Bắc, Bắc Trung Bộ và Tây Nguyên Đàn dê cừu: tăng bình quân 7% năm, đạt khoảng 3,9 triệu con

Trang 19

1.2.3.Tình hình chăn nuôi đà điểu (ostrich) trên thế giới

Theo ước tính, số lượng đà điểu sinh sản trên toàn thế giới vào khoảng gần 4 triệu con, trong đó 1/3 tập trung ở châu Phi Trên 90% đà điểu ở châu Phi được nuôi trong các trang trại hoặc các vườn thú, số còn lại sống trong tự nhiên Mỗi năm, thị trường thế giới cần 10 triệu con đà điểu để lấy thịt Giá 1 quả trứng giống vào khoảng 350 USD, đà điểu con khoảng 1000 USD, đà điểu một năm tuổi là 5000 USD Nghề chăn nuôi đà điểu đang phát triển mạnh ở khắp các châu lục

Châu Phi

Cộng hòa Nam Phi (RSA) là nước dẫn đầu trên thế giới về chăn nuôi đà điểu Nơi đây

có lịch sử thuần hóa đà điểu từ lâu đời, phát triển mạnh nhất là vùng Little Karoo, trong khi ngành này được bắt đầu tại vùng Đông Cape ( gần mũi Hảo vọng)

Các trang trại thương phẩm hàng năm giết mổ từ 3,0 – 3,5 triệu con Để cân đối cung cầu cũng như giữ giá xuất khẩu, tại Nam Phi người ta đã áp đặt lệnh hạn chế chăn nuôi Một trong những trại đà điểu nổi tiếng nhất đó là Trại thực nghiệm ở Oudtshoorn, nơi bán đàn giống có chất lượng cao vào bậc nhất thế giới Do có truyền thống chăn nuôi đà điểu lâu đời

và khí hậu phù hợp, RSA vẫn sẽ là nước đứng đầu thế giới về chăn nuôi đà điểu trong thời gian tới

Các nước châu Phi láng giềng như Namibia, Botswana và Zimbabwe cũng bắt đầu quan tâm đến việc thành lập các công ty đà điểu Trong 3 năm qua, doanh số xuất khẩu thịt và

da đà điểu của những nước này sang châu Âu (chủ yếu là Đức) đã tăng gấp đôi Gần đây, người ta lại chứng kiến sự phát triển mạnh mẽ của ngành chăn nuôi đà điểu tại Bắc Phi: Ai Cập, Morocco và Tunisia

Bắc Mỹ

Vào cuối thế kỷ XX, hàng nghàn người Mỹ đã nuôi đà điểu và Emu (đà điểu sa mạc trong đó có một số nuôi làm cảnh) Các trang trại lớn nuôi tới hàng trăm con Đà điểu được nuôi chủ yếu ở Texas, Oklahoma, Arkansas và Kansas Trong những năm gần đây, đang có

-xu hướng tập trung hóa sản -xuất nhằm giảm chi phí sản -xuất, số trang trại giảm đi nhưng quy

mô chăn nuôi đà điểu lại tăng lên

Tại Canada, đà điểu được chăn nuôi cả ở vùng lạnh nhất của đất nước - Winnipeg - nơi mà nhiệt độ xuống dưới - 400C trong mùa đông

Australia

Có khoảng vài trăm trang trại đà điểu tại Australia Hầu hết trong số đó tại bang Victoria Đà điểu cũng được nuôi tại New South Wales, Đông và Nam Australia Số lượng các trang trại này đã giảm xuống trong những năm gần đây Cũng giống như ở Bắc Mỹ, ở châu Úc cũng đang có quá trình thay đổi cơ cấu ngành chăn nuôi đà điểu theo hướng tăng quy

mô và hiện đại hóa

Châu Á

Ở châu Á, các nước và khu vực có nền chăn nuôi đà điểu phát triển mạnh mẽ nhất phải

kể đến Israel, Trung Quốc, Đài Loan… Đà điểu được nuôi ở Israel vào những năm 1970, khi dân tị nạn chính trị từ Nam Phi đã mang theo một số trứng chất lượng cao vào Israel Người Israel đặt tên cho chúng là Black African, một cái tên phổ biến đến ngày nay ở khắp nơi ngoài Nam Phi Chăn nuôi đà điểu công nghiệp tại nước này chính thức bắt đầu vào đầu năm 1980 Hiện tại có khoảng 50 trang trại đà điểu, trong đó có một số trang trại thương mại rất lớn như Công ty Zemach Ostrich, sản xuất một số lượng rất lớn thịt đà điểu hàng năm Sau Nam Phi, Israel là nước dẫn đầu về đà điểu giết mổ trên thế giới Ở Israel, thịt đà điểu được cho là không phải ăn kiêng và chủ yếu được bán vào thị trường châu Âu

Đất nước có nền chăn nuôi đà điểu phát triển nhanh chóng cả về số lượng đầu con

Trang 20

thế giới này, ngành chăn nuôi đà điểu được quan tâm từ những năm đầu thập niên 90 của thế

kỷ XX Trong gần 2 thập niên qua, tốc độ phát triển đà điểu tăng rất mạnh Năm 2000 Trung Quốc mới chỉ có khoảng 60.000 con, nhưng đến năm 2007 Trung Quốc đã có 270.000 con giống, nuôi trong hơn 580 trang trại

Các nước châu Á khác như Nhật Bản cũng có khoảng 60 trang trại đà điểu Vì đất đai rất đắt nên không có khả năng xây dựng những trang trại rộng lớn Nhật Bản là 1 trong những nước nhập khẩu thịt và đặc biệt là da đà điểu quan trọng

Gần đây, các trang trại đà điểu cũng được xây dựng tại ấn Độ, Hàn Quốc, các nước Đông nam Á, Syria, tiểu vương quốc Arập thống nhất, Iran và Iraq

Châu Âu

Ở châu Âu, số lượng các trang trại cũng như số lượng đàn vẫn đang gia tăng Số lượng đàn sinh sản đã vượt quá 50.000 con và số lượng trang trại cũng trên 6.500 Đà điểu được nuôi ở hầu hết các nước châu Âu, trong đó nhiều nhất là Italy, đặc biệt là trong 3 năm qua Trong năm 2000, có 150.000 con được nuôi dưỡng trong 1.400 trang trại Quy mô các trang trại này khác nhau, lớn nhất là 3.000 con

Ở Tây Ban Nha, có khoảng 700 trang trại Gần đây, một số trang trại cũng được xây dựng ở Thổ Nhĩ Kỳ, Hy Lạp và thậm chí cả ở Bungary

Tại Nga cũng có những trang trại đà điểu, trong đó lớn nhất là LEMEK với trên 200 con, gần Matxcơva, nơi thịt đà điểu được phục vụ trong những nhà hàng sang trọng

Năm 1993, chăn nuôi đà điểu được bắt đầu ở CH Séc và hiện nay, ở đây có khoảng

250 trang trại Tại Ba Lan, trang trại đà điểu đầu tiên cũng được thành lập vào năm 1993 ở phía bắc, đến năm 2001, đã có 500 trang trại được thành lập với 16.000 - 18.000 con, bao gồm cả 3.500 con sinh sản Đa số là những trang trại nhỏ, với 3 - 8 con trưởng thành, những trang trại lớn đều là do các công ty liên doanh xây dựng

Chăn nuôi emu và rhea

Trang trại Emu thương mại đầu tiên được thành lập ở Australia vào đầu những năm 70 của thế kỷ XX tại Kalanme Năm 1991, có 21 trang trại emu với khoảng vài trăm con Hiện nay, Emu cũng được nuôi ở Hoa Kỳ, Canada và châu Âu để lấy thịt, da và mỡ

Ngoài Nam Mỹ ra, không có nơi nào chăn nuôi rhea thuần Ở Hoa Kỳ cũng có một số những trang trại nhỏ Rhea cũng được đưa vào mục đích du lịch nông nghiệp cùng với Emu

Số lượng trang trại

Đầu con giống

Số lượng trang trại

Đầu con giống

Trang 21

Trong vài năm qua, chăn nuôi đà điểu phát triển mạnh mẽ trên thế giới Một trong những thay đổi cơ bản xảy ra trong thời kỳ này chính là sự bão hòa của thị trường nội địa tại nhiều nước về con giống Hiện tượng này đã làm giảm mạnh lợi nhuận của người chăn nuôi

mà trước đây họ gần như độc quyền sản xuất Kết quả thị trường bão hòa là giá cả đà điểu giống trên thế giới giảm mạnh Ví dụ, trong thời gian 5 năm, giá 1 quả trứng ấp tại Mỹ giảm

từ 200 xuống còn 20 - 25 USD Xu hướng tương tự cũng đang xảy ra ở châu Âu, cho dù giá con giống ở đây vẫn cao hơn lục địa châu Mỹ

Giá đà điểu giảm có những lý do kinh tế, bởi vì người chăn nuôi muốn giảm chi phí sản xuất thì giá con giống cũng phải giảm xuống Có thể, giá đà điểu giảm là một quá trình

mà giá trị của sản phẩm đang trở về với giá trị thật của nó, giá trước đây là quá cao, nhiều khi

là giá trị ảo, đây cũng là cơ hội để các chủ trang trại và các nước đang phát triển tiếp cận được với ngành chăn nuôi mới một cách dễ dàng hơn

Giá trị thịt và các sản phẩm chăn nuôi đà điểu

Hiện nay, giá thịt đà điểu đang được thả nổi trên thị trường thế giới, trong khi chờ đợi

có một cơ cấu giá cả hợp lý Giá cả này sẽ thay đổi tuỳ theo từng khu vực trên thế giới và theo từng loại thịt Phần lớn thịt được bán dưới dạng thịt nạc ướp lạnh và đóng gói chân không

Giá thịt đà điểu nạc cũng thay đổi tuỳ theo giá FOB (free on board - giao hàng lên tàu, giá

hàng hóa chưa bao gồm cước phí vận chuyển và phí bảo hiểm); hay CIF (cost, insurance and freight = FOB + phí bảo hiểm + cước vận tải)

Năm 1997, giá thịt đà điểu đóng gói chân không giao FOB trung bình trên thế giới là

15 USD/kg Mức giá này chủ yếu áp dụng ở thị trường Viễn Đông Ở thị trường châu Âu, giá

cả cao hơn một chút (17 USD/kg)

Nhưng mức giá trên là trung bình trên thị trường Một số mức giá được đặt ra thấp hơn mức giá trung bình này nhưng mức giá của thịt giao FOB đôi khi lại tăng cao hơn: 23 USD/kg Những mức giá được đặt ra này đều dựa trên bối cảnh rất thiếu sản phẩm đáp ứng nhu cầu của thị trường Ví dụ năm 1997, giá bán lẻ thịt đà điểu nạc trung bình là khoảng 36 USD/kg, trong khi giá thịt tại các cơ sở cung ứng thực phẩm còn cao hơn nhiều

Năm 1997, giá bán buôn trung bình là khoảng 24 USD/kg Mục tiêu của những người bán lẻ là tăng giá ít nhất 150 % so với bán buôn, do đó mức bán lẻ trung bình sẽ là khoảng 36 USD/kg

Khác với sản phẩm thịt, da đà điểu có một cơ cấu xác định giá cụ thể và dễ dàng hơn Năm 1997, giá da thô (FOB) trên thị trường quốc tế tăng từ 16 USD lên 27,5 USD/f2

(0,09m2) Một bộ da trung bình 14 f2 được bán với giá 385 USD và những bộ da đà điểu đã thuộc có chất lượng tốt được bán với giá khoảng 45 USD/f2

Mặt khác, nhu cầu về da đà điểu cao hơn trong thời gian tới, cơ cấu định giá ở trên cần được duy trì ổn định

Trang 22

Tên nước Mái sinh sản (con) Đà điểu thịt (con)

Đà điểu thương phẩm/mái/năm (con)

1.2.4 Tình hình chăn nuôi đà điểu ở nước ta

Ở Việt Nam, ngành chăn nuôi đà điểu hình thành muộn Năm 1995, Trung tâm NCGC Thụy Phương - Viện Chăn nuôi ấp 2 quả trứng được nhập về từ Úc và nở ra 2 con, nuôi phát triển bình thường Năm 1996, ấp tiếp 100 quả trứng nhập từ Zimbabwe, ấp nở được 38 con, nuôi cho kết quả tốt Từ những khảo nghiệm trên, đến năm 1998, Bộ Nông nghiệp & PTNT chính thức phê duyệt dự án xây dựng cơ sở nghiên cứu, phát triển chăn nuôi đà điểu tại Ba Vì- Hà Nội, nhập từ Úc 150 đà điểu 3 - 4 tháng tuổi, với giá gần 7,5 triệu đồng/con, gồm các nhóm giống Blue, Black, Aust để làm nguyên liệu ban đầu, phục vụ công tác nghiên cứu và phát triển đà điểu tại Việt nam

Trong 13 năm qua, Trung tâm Nghiên cứu Gia cầm Thụy Phương- Viện Chăn nuôi đã

cử cán bộ đi tham quan và học tập tại nước ngoài, đồng thời phối hợp với các đơn vị, các nhà khoa học trong và ngoài Viện triển khai nghiên cứu, nhằm hoàn thiện các quy trình công nghệ chăn nuôi đà điểu và tích cực chuyển giao kết quả nghiên cứu mới vào sản xuất

Tính đến năm 2007, Trung tâm đã chuyển giao được trên 12.000 con đà điểu giống, trong đó có 3.950 con đang sinh sản, 8.082 con hậu bị vào sản xuất, nuôi tại 56 trang trại ở trên 40 tỉnh thành, thuộc các vùng sinh thái khác nhau trong cả nước Các trang trại nuôi sinh sản đã bước đầu chủ động được con giống Nhiều trang trại nuôi thương phẩm đã có sản phẩm thịt

Dự kiến đến năm 2010, cả nước có 15.000 – 17.000 đà điểu giống sinh sản, sản xuất được 10.000 – 13.500 tấn thịt và 280.000 – 330.000 bộ da/năm Sản phẩm thịt đà điểu có thể xuất khẩu được 5.000 – 7.000 tấn

1.2.5.Tình hình chăn nuôi bồ câu

Chim bồ câu có đến trên 300 loài, phân bố rộng rãi trên thế giới cũng như ở Việt Nam Cũng là một loại gia cầm nhưng chim bồ câu khác gà, vịt ở chỗ chim bồ câu đã trở thành một số biểu tượng của gia đình hạnh phúc, của hòa bình Tại các thành phố lớn trên thế giới, cùng với chim sẻ, chim bồ câu được coi là "dân cư" chính thức của thành phố Người ta

đã nuôi chim bồ câu với nhiều mục đích khác nhau: nuôi chim bồ câu làm cảnh; đưa thư, hoạt động thể thao (thi bay) và nhiều nhất là nuôi chim câu lấy thịt

Chim được ăn thịt phổ biến nhất là khi chúng ra ràng (tên tiếng Anh là squab) Trong thuật ngữ ẩm thực, chim ra ràng là thịt bồ câu khoảng một tháng tuổi; nó đã đạt tới kích cỡ gần trưởng thành nhưng chưa đầy đặn Trong quá khứ, chim ra ràng hoặc chim bồ câu các loại nói chung đã được tiêu thụ tại nhiều quốc gia văn minh cổ đại, bao gồm Ai Cập, Ý và Mediver… Thời đó, người ta đã săn bắn chim bồ câu làm thức ăn cung cấp protein có giá rẻ Thịt chim câu

Trang 23

già hoang dã thì rất dai, do đó phải hầm thật lâu mới ăn được Chim ra ràng rất dễ bắt để làm thịt khi chúng còn non, chưa đủ lông để bay khỏi tổ, cũng vào thời gian đó đã có một số nông dân nuôi chim sinh sản để sản xuất ra chim non ăn thịt

Gần đây, chim ra ràng được sản xuất hoàn toàn từ các trang trại rất lớn ở nhiều quốc gia thuộc khu vực Bắc Phi, Trung đông, một số nước châu Âu, nhiều nước Bắc Mỹ… trong đó, người

ta chăn nuôi các giống chim thịt Ở Hoa Kỳ, có trại nuôi đến 35 000 đôi chim Bồ câu đua và làm cảnh ít, chủ yếu được dùng để ăn thịt

Chim ra ràng thường được xem là món ăn tao nhã, thịt chúng rất mềm, hương vị thơm ngon hơn các giống gia cầm thông thường Ngày nay, chim ra ràng là món ăn quen thuộc ở nhiều quốc gia: Pháp, Mỹ, Ý và một số nước châu Á Món ăn tiêu biểu bao gồm: thịt ngực rán (ở Pháp),

ở Ai Cập, người ta hầm với gạo và thảo mộc, ở Ma Rốc phổ biến là chim bồ câu chiên Người Trung Quốc hầm thuốc bắc, rán, nấu miến và nấu cháo…

Trong một số nước phát triển, thịt chim câu được xem như món ăn lạ, không được ưa thích vì chúng gắn liền với hình ảnh của chim câu hoang dã trong thành phố Tuy vậy, chim ra ràng từ các trang trại chăn nuôi lớn vẫn là một phần quan trọng trong các thực đơn ở nhiều nhà hàng như Le Cirque, French Laundry Do đó, chúng thường được bán với giá cao hơn nhiều so với những gia cầm khác, đôi khi đến 17 USD/kg Trong ẩm thực của người Trung Quốc, chim ra ràng là một phần không thể thiếu của các bữa tiệc sang trọng, trong các dịp lễ, tết Hiện nay, phần lớn chim ra ràng nuôi ở Mỹ được bán tại các phố của người Hoa (Chinatowns)

Nguồn: American Giant Runt (http://www Reference.com)

Ở nước ta, chim bồ câu thường được nuôi từ vài cặp tới vài trăm con, kết hợp vừa giải trí, vừa có chim bồ câu ra ràng ăn thịt Bất cứ nơi nào, từ thành thị tới thôn quê, đâu đâu ta cũng thấy những cánh chim bồ câu bay lượn Gần đây, đã xuất hiện và phát triển hình thức chăn nuôi tập trung từ vài trăm tới cả ngàn con, mang lại lợi nhuận lớn Các giống chim bồ câu nhập nội (bồ câu Pháp) cùng những tiến bộ mới trong dinh dưỡng, phòng dịch và quy trình kỹ thuật chăm sóc nuôi dưỡng đang mang lại phong trào chăn nuôi bồ câu phát triển mạnh mẽ ở khắp các vùng miền trong cả nước

1.2.6 Tình hình chăn nuôi chim cút

Trên thế giới, sản lượng thịt chim cút rất khiêm tốn so với thịt gà, nuôi chim cút lấy trứng phổ biến rộng rãi hơn chim cút thịt Theo T.S Lin Qilu, trường Đại học Nông nghiệp Nam Kinh, Trung Quốc là nước chăn nuôi chim cút lớn nhất trên thế giới Chim cút thịt được nuôi 4 tuần rồi giết mổ, khi khối lượng đạt khoảng 200g Mỗi năm, Trung Quốc thịt khoảng 1.040 -1.360 triệu con (13-17 lứa/ năm/ trang trại) Trung bình, tỷ lệ thân thịt là 70% thì mỗi năm Trung Quốc sản xuất 146.000 - 190.000 tấn, chiếm gần 85% sản lượng chim cút toàn thế giới Nếu kể cả chim cút "thanh lý" sau 10 tháng đẻ, vào khoảng 315-350 triệu con thì sản lượng thịt chim cút của Trung Quốc còn lớn hơn nữa

Tây Ban Nha là nước xuất khẩu chim cút tương đối lớn, năm 2004 sản xuất 9.300 tấn, đến năm 2007 đã sản xuất 9.300 tấn, trong đó 75% dành cho xuất khẩu, đối thủ chính của họ là Pháp và Trung Quốc Nước Pháp năm 2005 sản xuất 8.938 tấn, năm 2006 là 8.197 tấn và năm 2007 là 8.200 tấn, xuất khẩu khoảng 2.000 tấn mỗi năm, riêng năm 2007 đã xuất khẩu tới 3.782 tấn Các nước thuộc

EU như Bỉ và Đức là những nhà nhập khẩu chủ yếu của Pháp và Tây Ban Nha

Nước Ý, trong 6 năm qua mỗi năm giết thịt 20 - 24 triệu con (3.300 - 3.600 tấn thân thịt chim cút), xuất khẩu được khoảng 600-650 tấn / năm

Tại Mỹ, năm 2002 có 1.907 trang trại nuôi chim cút, với trên 19 triệu con Nếu khối lượng xuất chuồng trung bình là 200-300g/con với sản lượng 2.674 - 4.011 tấn Bang Georgia sản xuất nhiều nhất, tiếp theo là Bắc Carolina, Texas và Alabama Ngoài ra, Mỹ cũng nhập chim cút thịt, chủ yếu là từ là Canada

Trang 24

Bồ Đào Nha cũng chăn nuôi chim cút với số lượng khiêm tốn Trong 7 năm qua, đã giết thịt 8-13 triệu con, sản lượng 960 - 1.600 tấn Nước Úc trong giai đoạn 2001-2002 đã thịt 6,5 triệu con (trên 17 triệu chim đẻ) Trong năm 2007, Canada xuất khẩu 628 tấn thịt chim cút vào Hoa Kỳ Brazin luôn là một đối thủ cạnh tranh mạnh trong lĩnh vực gia cầm, trong đó có chim cút Trong năm 2007, sản xuất 1.200 tấn chim cút, tốc độ phát triển 10%/năm Phần lớn sản phẩm dùng trong nước và xuất khẩu tới Trung Đông

Biểu đồ 1 Sản lượng thịt chim cút của một số nước trên thế giới

Bảng 5 Sản lượng thịt chim cút năm 2007 tại một số nước đứng đầu thế giới

www //: Quail meat - an undiscovered alternative, 01 tháng 2 năm 2009

Thịt chim cút gần giống thịt gà nhưng tốt hơn, có hàm lượng protein cao nhưng chất béo thấp (khi bỏ da, chất béo giảm khoảng 60 - 80% so với gà) Trong thành phần lipit có nhiều mỡ không no, axit béo chưa bào hòa, giàu khoáng chất, nhất là phospho, sắt, đồng, kẽm

và selen Thịt chim cút giàu vitamin niacin (vitamin B3) và pyridoxine (vitamin B6) hơn một cách đáng kể so với thịt gà

Ở nước ta, nghề nuôi chim cút được nhập vào và phát triển mạnh ở miền Nam trong những năm 1971-1972, phong trào nuôi chim cút nở rộ vào những năm 1985-1990, chủ yếu nuôi chim cút Pharaoh, nặng khoảng 180-200 g Vào khoảng năm 1980 nhập thêm giống cút Pháp, to hơn cút Pharaoh, con trưởng thành nặng tới 250 – 300 g, có màu lông trắng hơn cút Pharaoh Ngoài ra, trên thị trường còn một số chim cút Anh, khối lượng trung gian giữa cút

Trang 25

Pharaoh và cút Pháp, trung bình nặng 220-250 g, có lông màu nâu sẫm, rất khó phân biệt trống mái, chỉ phân biệt được khi đã trưởng thành

Năm 1971, miền Bắc nước ta cũng nhập trứng cút từ Pháp được nuôi tại Viện Chăn nuôi để nhân giống, đàn giống nuôi ở nước ta hiện nay đều có nguồn gốc từ đàn cút này

Có thể dựa vào màu sắc vỏ trứng mà phân biệt được giống chim cút bố mẹ: trứng cút Pharaoh

có nền vỏ trắng và các đốm đen to Trứng cút Pháp có nền vỏ trắng nhưng các đốm đen chỉ nhỏ như đầu đinh ghim Trứng cút Anh lại có nền vỏ nâu nhạt, các đốm đen to

Đã từ lâu, người ta không nhập giống chim mới và các giống chim cút thuần kể trên còn lại rất hiếm Hiện nay, trên thị trường hầu hết là chim lai tạp nên chất lượng con giống không cao, thể hiện rõ trên vỏ trứng, thường có màu lẫn lộn, chứng tỏ các giống cút đã pha tạp ở nhiều mức độ khác nhau

Để đáp ứng nhu cầu chăn nuôi chim cút, tháng 4/1997, Viện Chăn nuôi tiếp tục nhập chim cút Nhật bản và chim cút Mỹ

Hiện nay, thịt và trứng chim cút đã trở thành các thực phẩm quen thuộc trên thị trường và chăn nuôi chim cút đã trở thành một nghề phổ biến của nhiều hộ nông dân với các quy mô khác nhau: từ vài trăm con tới hàng chục ngàn con Tổng đàn chim cút trong cả nước

đã lên đến hàng chục triệu con, tốc độ phát triển không ngừng tăng cao do kỹ thuật chăn nuôi đơn giản và ít rủi ro hơn so với chăn nuôi các đối tượng gia cầm khác

Trang 26

Phần thứ nhất KIẾN THỨC CƠ SỞ

Chương 1

Nguån gèc, §ÆC §IÓM GI¶I PHÉU SINH LÝ cỦA CHIM

1.1 NGUỒN GỐC ĐÀ ĐIỂU, BỒ CÂU VÀ CHIM CÚT

Đà điểu, bồ câu và chim cút đều thuộc lớp chim, trong hệ thống phân loại động vật, chúng được phân loại như sau:

1.1.1 Nguồn gốc của đà điểu

Các nước khác nhau gọi là đà điểu bằng những tên khác nhau, tiếng A rập gọi là na ama, Pháp – autruche, Đức – staub, Ý: struzzo, Na Uy: struts, Tây Ban Nha: avestruz, tiếng

Anh: ostrich Trong tiếng Việt, đà điểu là tên có gốc Hán Việt: điểu là chim, đà là lạc đà (một

loài động vật thường sống ở vùng sa mạc khô cằn, đi lại rất giỏi trên cát ), vì vậy, có thể

hiểu đà điểu là chim lạc đà

a Vị trí đà điểu trong hệ phân loại động vật

Giống đà điểu (Struthio) hiện đang tồn tại thuộc họ Struthionidae, là loài chim còn sống lớn nhất trên trái đất Giống như hầu hết các loài chim chạy khác, nó được tiến hoá để thích nghi với cuộc sống chạy trên mặt đất: cẳng chân rất dài và khoẻ, kèm theo cái cổ vươn cao, khiến cho chiều cao của con chim tăng lên rất nhiều để quan sát từ xa Lông ở trên mình con đực có màu đen, lông cánh và lông đuôi thì có màu trắng Những con cái nói chung nhỏ hơn, có bộ lông màu nâu xám Cả con đực và con cái đều có đầu nhỏ hơn nhiều so với các bộ phận khác trên cơ thể chúng Đà điểu có đôi mắt nằm ẩn sâu trong hốc mắt (đường kính mắt đến 50mm, thuộc loại lớn nhất trong số các loài động vật có xương sống trên cạn), lông mi mắt đen và dài Cổ hầu như không có lông, chỉ được phủ lưa thưa một ít lông cứng Phần lớn cẳng chân trơ trụi không lông, da ở cổ và cẳng chân thì có màu xám hoặc màu đỏ

Hình 1.1 Đà điểu trống với chếc cổ trần

Trang 27

Các loài chim chạy có cùng tổ tiên với các loài chim bay Tuy nhiên, chân đà điểu chỉ còn hai ngón, các ngón khác đã thoái hoá Loài chim bay có 4 ngón chân để thích nghi với việc bay lượn và đậu trên cành cây Ở đà điểu, việc tiêu biến dần đi 2 ngón chân vì loài chim này không còn bay và đậu trên cây nữa, bàn chân của chúng cần khoẻ và chắc hơn (ví dụ, ở chân ngựa, các ngón cũng thoái hoá đi, chỉ còn một ngón) để thích nghi với khả năng đi trên mặt đất và chạy nhanh Ngón chân bên trong của chúng to và ngón bên ngoài thì nhỏ hơn, có móng rất khoẻ Ngoài tác dụng để di chuyển, cẳng chân chúng còn được dùng để đá kẻ thù và các loài thú ăn thịt nhỏ, dùng để bới đất và gãi đầu Đôi chân khoẻ còn làm cho chúng có thể chạy được với tốc độ 70 km/h (mỗi bước sải dài tới 8m), vì thế chúng có thể đuổi kịp hầu hết những con vật mà chúng săn đuổi Đà điểu có cái cổ dài và đôi mắt rất tinh nên chúng có thể nhìn được ở khoảng cách rất xa (12 – 14 km)

Hình 1.2 Chân đà điểu với 2 ngón

Theo hệ thống phân loại động vật, đà điểu thuộc:

Lớp - Chim (Aves)

Bộ - Chim chạy (Ratitae)

Phân bộ - Đà điểu 2 ngón Châu Phi (Struthioniformes)

Họ – Struthionidae (ostriches) Chủng (giống)- Struthio Loài - Struthio camelus

Trong loài Struthio camelus, có 5 loài phụ mà 4 trong số đó vẫn còn cho đến

ngày nay

Loài phụ - Ostrich Syrian (Struthio camelus syriacus) - tuyệt chủng

Loài phụ - Bắc Phi (Struthio camelus camelus) Loài phụ - Massai (Struthio camelus massaicus) Loài phụ - Somali (Struthio camelus molybdphanes) Loài phụ - Nam Phi (Struthio camelus australis)

Phân bộ - Đà điểu 3 ngón Nam Mỹ (Rheiformes)

Họ - Nandu (Rheidae) Loài - Grey nandu (Rhea americana)

Trang 28

Phân bộ - Đà điểu 3 ngón Châu Úc (Casuariformes)

Họ - Emu (Dromaidae) Loài - Emu (Dromaius novaehollandiae)

Họ - cassowary (Casuaridae) Loài - Casuarius casuarius Loài - Casuarius unappendiculatus Loài - Casuarius bennetii

Phân bộ - Aepyornithiformes - tuyệt chủng

Phân bộ - Dinornithiformes - tuyệt chủng

Phân bộ - Aeterygiformes

Họ - Kiwi (Apterygidae) Loài - Apteryx australis Loài - Apteryx oweni Loài - Apteryx haastii

Phân bộ - Tinamiformes

Họ - Tinamidae

TheoMicheal Y Hastings , đà điểu thuộc nhóm chim chạy, trong đó được biết nhiều nhất có:

Đà điểu Phi (Struthio camelus), tiêu biểu: đà điểu (ostrich)

Đà điểu Úc (Dromiceus novae-hollandiae), tiêu biểu: Emu

Đà điểu Mỹ (Rhea american), tiêu biểu: Rhea

Đà điểu Niu Zi lân (Apteryx australialis), tiêu biểu: Kiwi

Riêng Kiwi là loài chim không cánh, không có đầy đủ những đặc điểm của

Struthioniformes khác

Riêng từ "camelus" (lạc đà) có nguồn gốc dựa trên sự giống nhau của đà điểu và lạc đà: cẳng chân khoẻ và dài, cổ dài, mắt to và lông mi dài, tầm vóc lớn và có khả năng chịu đựng tốt trong môi trường sống hoang dã

b Sự phân bố địa lý của các loài chim chạy

Có thể đà điểu và các loài chim lớn không biết bay khác đã biến mất trên phần lớn khu vực chúng từng sống cách đây 1 triệu năm Nguyên nhân có thể là do đà điểu đã được dùng làm nguồn thực phẩm cho loài người và cuối cùng đã bị tiêu diệt hết do khai thác quá mức Tuy nhiên, trên thực tế, có những vùng vẫn còn sót lại một số ít: ở miền Nam châu Âu, Ấn

Độ, Trung Quốc (những nơi đã tìm thấy các dấu tích hoá thạch của chúng) Hiện nay, số lượng đà điểu hoang dã còn rất ít ở các vùng khô cằn của châu Phi: từ miền Nam sa mạc Sahara tới vùng mũi Hảo vọng, kéo dài tới miền Nam Ma Rốc, miền nam Su Đăng và miền nnam Ai Cập Sự phân bố tự nhiên của chúng giảm hẳn ở Trung Phi – trên dải Brachystegia Woodland, miền nam Tanzania, Zambia và Mozambic

c Phân loại đà điểu

Có sáu giống đà điểu Struthio camelus phân bố theo các vùng địa lý, chúng khác nhau một chút về kích thước, màu da ở những vùng không có lông như đùi, đầu, cổ và kích thước cũng như cấu tạo trứng của chúng (xem bảng 1.1)

* Đà điểu Bắc Phi – Struthio c.camelus

Trước đây đã thấy có ở khắp Bắc Phi, nhưng hiện nay các vùng chúng sống đã bị thu hẹp, chỉ còn ở một dải ngang qua lục địa châu Phi, từ phía nam Ma Rốc và Moritania (Tây) tới Awash Valley ở vùng đông bắc Ethiopia và sông Omo ở vùng Tây Nam Ethiopia; từ phía Nam Su Đăng và phía Bắc Uganda tới phía Nam Ai Cập và dọc theo Hồng Hải Đây là giống

đà điểu cao nhất Đặc điểm phân biệt là trên đỉnh đầu không có lông (hói), xung quanh chỗ hói có lông cứng, ngắn, màu nâu, mọc xuống đến tận phía sau cổ Chúng có một vòng lông cổ màu trắng ở giữa khoảng hai phần ba cổ từ trên xuống Phần cổ và đùi không có lông thì có

Trang 29

màu hồng tươi Lông cánh và lông đuôi của con đực có màu trắng tinh Phần mỏ dưới màu đỏ, mắt màu nâu và cẳng chân màu hung đỏ với các vảy mắt cá chân màu đỏ tươi Lông cánh và lông đuôi của con đực có màu trắng Lông trên thân con cái màu nâu sẫm với lông cánh và lông đuôi màu nhạt hơn Trong mùa sinh sản, cổ và mỏ của con đực chuyển thành màu đỏ tươi, vảy mắt cá chân cũng đỏ hơn

* Đà điểu Somali- Struthio c.molybdophanes

Khu vực phân bố tự nhiên của chúng gần trùng lặp với đà điểu Bắc Phi Khu vực này kéo dài từ Đông Bắc Ethiopia qua Somali xuống tới Đông Bắc Kenya Đỉnh đầu của chúng cũng không có lông giống như giống Struthio c.camelus nhưng nó có vòng cổ màu trắng rất rộng Da ở những chỗ không có lông trên cổ và đùi có màu xanh xám Lông đuôi màu trắng Lông trên thân con đực có màu đen rất đẹp và con cái có màu xanh nhạt hơn Con cái của giống này to hơn con đực

* Đà điểu Đông Phi (hay đà điểu Masai) – Struthio c.massaicus

Được tìm thấy ở miền Đông Kenya, từ phía Nam Tsavo tới phía Nam vùng Samburu

và tới các vùng thảo nguyên Katavi của Tanzania Đỉnh đầu của chúng có vùng không có lông hoặc mọc lông kín Da ở những chỗ không có lông trên cổ và đùi có màu xám hơi hồng, trong mùa sinh sản, chúng chuyển thành màu đỏ tươi Chúng có vòng cổ màu trắng hẹp Lông cánh

và lông đuôi màu trắng

*Đà điểu Nam Phi, Struthio c.australis

Khu vực phân bố ban đầu của chúng kéo dài từ Zimbabwe – Botswana, Namibia tới khu vực mũi Hảo vọng ở Nam Phi Đỉnh đầu của chúng có lông Cổ màu xám, chuyển thành màu đỏ trong mùa sinh sản, các vảy mắt cá chân cũng vậy Lông đuôi không trắng mà màu sắc thay đổi,

từ màu nâu xỉn tới màu nâu vàng sáng Không có vòng cổ màu trắng Những con đực trưởng thành nặng tới 150 kg, giống đà điểu này có thể là giống nặng nhất (xem bảng 1.2)

Bảng 1.1 Đặc điểm phân biệt của các giống đà điểu

Đà điểu

(Ostrich)

Nam mỹ (Commun rhea)

Đarwin (Emu) Úc Đông bắc Úc (Cassowary) Kiwi

Kích thước cơ thể

Màu lông

Brazil, Bolivia, Achentina

Peru, Bolivia, Chilê, Patagonia

Oxtrâylia (trừ miền đông)

Đông Bắc Oxtrâylia, Niu Ghinê

Niu Zilân

Nguồn: M.M Shanawany, 1999

Trang 30

Bảng 1.2: Tóm tắt về những điểm khác biệt chủ yếu giữa các giống

đà điểu châu phi trưởng thành

Đỏ nhạt

Đỏ nhạt Trắng tinh Nâu Nâu sẫm 2,5-3,0 90-130 Nhỏ hơn

Không có lông Rộng Xanh xám Xanh xám Trắng Xám Xám nhạt 2,0-2,5 80-120

To hơn

Có vùng không

có lông Hẹp Xám hồng Xám hồng Trắng Nâu Nâu xám 2,0-2,5 90-130 Nhỏ hơn

Có lông Không có Xám Hơi hồng Nâu nhạt Nâu hơi xám Nâu xám 2,0-2,5 100-150 Nhỏ hơn

Nguồn: M.M Shanawany, 1999

* Đà điểu Ả rập, Struthio c Syriocus, hiện nay gần như đã tuyệt chủng

Chúng nhỏ hơn giống đà điểu châu Phi, có lông chất lượng tốt hơn nên bị săn bắn không thương tiếc, thậm chí chúng con bị con người dùng ôtô để săn đuổi và bán để giải trí

Vì thị trường của loài đà điểu này luôn nằm sẵn trong sự nghèo túng của người dân bản địa nên đà điểu A rập đã bị tiêu diệt vô cùng nhanh chóng Vào sau những năm 1940, rất ít khi nhìn thấy chúng ở bất kỳ khu vực phân bố nào trước đây Con đà điểu cuối cùng được xác nhận đã bị bắn ở Bahrain, khoảng năm 1956

* Đà điểu Rio de Oro hoặc Dwarf, Struthio c spatzi

Phân bố giới hạn trong vùng Rio de Oro ở Tây Bắc châu Phi Trứng có những lỗ khí

có hình giống như “một dấu phẩy thẳng, ngắn” Kích thước cơ thể hơi nhỏ hơn các loài khác Hiện nay chúng được sáp nhập với đà điểu Bắc Phi và không được công nhận là một giống riêng

Đôi khi đà điểu được chia thành hai hoặc thậm chí thành 4 giống dựa trên các đặc điểm như đỉnh đầu không có lông hoặc có lông, màu của cổ (bảng 1.3) và đặc điểm của các lỗ thông khí (bảng 1.4)

Bảng 1.3 Phân loại các giống đà điểu trong thương mại

Cổ đỏ

Cổ xanh

Struthio c.cameluss Struthio c.massaicus Struthio c molybdophanes Struthio c.australis

Nguồn: M.M Shanawany, 1999.

Rất khó nhận ra những điểm khác nhau giữa các giống đà điểu khi chúng dưới 2 năm tuổi Hơn nữa, các giống khác nhau sẽ có thể lai giống thành công và sinh ra những con lai tốt

* Đà điểu nhà, Struthio c domesticus

Đây là một nhóm đà điểu không thuộc một giống nào cả, chúng có nhiều tên: “đen châu Phi” hoặc “đà điểu cổ đen” đã được những người nuôi đà điểu ở Mỹ đặt ra để gọi như những tên thương mại, tuy chúng chưa được công nhận một cách chính thức Những cái tên cũ như “đà điểu Cape” hoặc “chim lấy lông Cape” (mô tả giống đà điểu được nuôi ở vùng Cape thuộc Nam Phi để lấy lông) vẫn được dùng cho tới ngày nay Giống đà điểu nhà là con lai từ các giống hoang dã (với giống chính là đà điểu Nam Phi được thuần chủng – Struthio c australis)

Trong thời gian từ cuối thế kỷ XIX đến đầu thế kỷ XX, một số giống đà điểu Bắc Phi (Struthio c Camelus) và đà điểu A rập (Struthio c Syriacus) đã được đưa sang Nam Phi và

Trang 31

cho phối giống, sinh sản có chọn lọc với Struthio c australis để cải thiện chất lượng lông Sự chọn lọc giống tập trung nhất vào chất lượng cho lông đã đặt ra sau khi công việc kinh doanh lông bị suy sụp vào năm 1941 Chỉ có những giống đà điểu có lông tốt nhất mới được giữ lại

để làm giống, cho ra giống đà điểu nhà ngày nay

Bảng 1.4 Những đặc điểm về trứng của các giống đà điểu

Nguồn: M.M Shanawany, 1999

Trứng đà điểu nhà có hình dáng bên ngoài giống với đà điểu Struthio c australis cổ xưa thuở ban đầu Tuy nhiên, so với các giống hoang dã thì chúng nhỏ hơn, cẳng chân và cổ ngắn hơn một cách tương xứng và phần mỏ dưới luôn ngắn hơn Đặc điểm khác biệt là chất lượng lông Các ngạnh lông của chúng rộng hơn trên một con so với ngạnh của giống hoang

dã và đầu ngạnh tù chứ không nhọn Mặt khác, con cái trưởng thành của giống đà điểu nhà có phần lông trắng nhiều hơn

1.1.2 Nguồn gốc bồ câu

Bồ câu thuộc nhóm chim bay (Carinatae), gồm 25 bộ, trong đó có Bộ bồ câu (Columbiformes) gồm những loài chim đi chậm nhưng bay rất khoẻ như bồ câu, cu gáy Gốc

mỏ mềm, chúng ăn quả và hạt là chính Đặc điểm nổi bật của bồ câu là chim non nở ra chưa

có lông, chưa mở mắt và rất yếu

Darwin chứng minh rằng tất cả các giống bồ câu nhà hiện này đều có nguồn gốc từ bồ câu rừng Columbia livia, hiện nay còn thấy ở vùng Địa Trung Hải, châu Á, châu Phi

Bồ câu sống thành từng cặp, con cái đẻ 2 trứng, thời gian ấp nở từ 17-21 ngày

Bồ câu là tên gọi chung của một gia đình chim, có nhiều giống có kích thước lớn, nhỏ khác nhau Trong đời sống hoang dã, chúng lai tạp lẫn nhau, sống đông đúc ở những vùng ấm áp Một loài được biết nhiều nhất sống hoang dã hay còn gọi là chim bồ câu sống lang thang, tổ tiên của nó sống ở châu Âu và châu Á, được gọi là “chim bồ câu đá”, dài khoảng 33

cm, phía trên mình màu xanh xám, với những chấm đen ở cánh và phía đuôi (phao câu) màu hơi trắng; phía dưới là màu hơi đỏ tía ở phần ngực và xanh phớt ở bụng Xung quanh cổ, đặc biệt là ở con đực, óng ánh nhiều màu sắc

Hơn 200 giống chim bồ câu nhà (cũng như chim câu rừng) bắt nguồn từ “chim bồ câu

đá” (pigeon des roches), còn có tên gọi khác là chim bồ câu bipel (Columbus livia)

Sau đây là một vài giống chính:

Chim bồ câu Mondain: khối lượng chim trống 800gam, chim mái 750gam, chim bồ câu

con “ra ràng” 1 tháng tuổi nặng 500 gam; là giống đẻ sai, cho từ 8 tới 10 cặp chim bồ câu con trong một năm

Chim bồ câu Carneau: có màu lông đỏ, nhẹ cân hơn loài trên nhưng đẻ nhiều hơn Từ các

đặc điểm riêng biệt này nên người chăn nuôi đã cho lai giống này với giống chim bồ câu Mondain

Chim bồ câu La-mã: là giống nặng cân nhất trong các loại chim bồ câu Con trống trưởng

thành nặng tới 1300 gam; đẻ ít; một cặp bố mẹ cho khoảng 6 cặp chim con / năm

Trang 32

1.1.3 Nguồn gốc của chim cút

Chim cun cút, gọi tắt là chim cút, có nguồn gốc ở châu Á, chúng sống thích hợp ở những vùng khí hậu ấm áp và hơi nóng Lần đầu tiên giống này được thuần hoá ở Nhật Bản từ thế kỷ thứ XI (Coturnix Coturnix Japonica) Lúc đầu người ta thuần hoá chúng để nuôi như một loài chim cảnh và chim hót, mãi đến năm 1900, cút Nhật bản mới được nuôi để lấy thịt và trứng ăn, sau đó nhanh chóng lan sang nhiều nước trên thế giới Chim cút có nhiều giống khác nhau, chuyên thịt hoặc chuyên trứng, có giống chuyên nuôi để phục vụ săn bắn, như giống cút Bốp – oai (Bobwhile), có giống nuôi để làm cảnh, nghe hót như giống cút Xinh –ging (Singing quail) Ở châu Mỹ cũng có nhiều giống, nhưng nuôi để lấy thịt và trứng thì chủ yếu vẫn là chim cút Nhật Bản

Chim cút thuộc nhóm chim bay (Carinatae), gồm 25 bộ, trong đó có bộ gà

(Galliformes) gồm những loài chim như gà, gà lôi, công, trĩ, chim cút chúng có cánh ngắn,

tròn nên bay kém, chân to, khoẻ, móng cùn Mỏ ngắn, thích nghi với bới đất tìm thức ăn Con trống sặc sỡ, nhất là vào mùa sinh sản Chim non nở ra có lông che phủ và khoẻ

Một số loài chim cút được nuôi với số lượng lớn trong các trang trại Chúng bao gồm chim cút Nhật Bản, cũng được biết đến như là chim cút coturnix, được nuôi giữ chủ yếu để sản xuất trứng và được bán rộng khắp thế giới

Phân loại khoa học

Giới (regnum): Động vật - Animalia

Ngành (phylum): Có xương sống -Chordata

Lớp (class): Chim- Aves

Bộ (ordo): Gà Galliformes

Họ (familia): Trĩ - Phasianidae, gồm các chi:

Chi Coturnix (đồng nghĩa: Excalfactoria), gồm các loài:

Coturnix adansonii, chim cút lam châu Phi

Coturnix chinensis, chim cút ngực lam, quế hoa tước, chim cút Trung Quốc Coturnix coromandelica, chim cút Ấn Độ

Coturnix coturnix, chim cút thông thường

Coturnix delegorguei, chim cút Harlequin

Coturnix japonica, chim cút Nhật Bản hay chim đỗ quyên

Coturnix novaezelandiae, chim cút Niu Zi Lân (tuyệt chủng)

Coturnix pectoralis, chim cút Ostraylia

Coturnix ypsilophora, chim cút Brown

Coturnix gomerae, chim cút Canary - chim tiền sử

Chi Anurophasis

Anurophasis monorthonyx, chim cút núi tuyết

Chi Perdicula

Perdicula argoondah, chim cút rừng núi đá

Perdicula asiatica, chim cút rừng Nam Á

Perdicula erythrorhyncha, chim cút rừng Ấn Độ

Perdicula manipurensis, chim cút rừng Manipur

Chi Ophrysia

Ophrysia superciliosa, chim cút Himalaya, cực kỳ nguy cấp/tuyệt chủng

Sự thuần hóa chim cút của con người là một điều kỳ diệu, chứng minh cho khả năng sáng tạo không giới hạn của con người: từ loài chim nhút nhát, sống chui lủi, cực kỳ hoang dã phải mất trên 6 tháng mới thành thục sinh dục và chỉ đẻ vài chục trứng/năm, con người

đã thuần hóa, chọn lọc và tạo ra các giống chim cút hiện đại, chỉ 5-6 tuần tuổi đã bắt đầu đẻ

Trang 33

trứng và có thể đẻ đến trên 400 trứng/năm Vì những ưu điểm đó, chim cút được chăn nuôi phổ biến ở mọi vùng miền trên thế giới

1.2 ĐẶC ĐIỂM GIẢI PHẤU, SINH LÝ CỦA ĐÀ ĐIỂU VÀ CHIM

Đặc điểm quan trọng nhất của lớp chim là hai chi trước đã biến thành cánh, thân có lông

vũ che phủ, phổi có mang ống khí và hệ thống túi khí, hô hấp kép; tim 4 ngăn, hàm có vỏ bọc sừng, thân nhiệt cao và ổn định, đẻ trứng to, có vỏ đá vôi, trứng được nở nhờ quá trình ấp của

vì vậy khi nuôi chim non, việc giữ nhiệt độ thích hợp là quan trọng nhất

Trong những tuần tuổi đầu tiên đã xảy ra việc thay lông tơ bằng lông non đồng thời với việc phát triển các nang lông và tạo nên các nếp nhăn của da Trong thời kỳ tiếp theo, lớp lông non được thay bằng lông trưởng thành có khả năng cách nhiệt rất tốt Nhiệt độ bên trong cơ thể trong thời kỳ này là 40,6 - 41,0oC Trong giai đoạn này, những biến đổi nhiệt ở môi trường bên ngoài ít ảnh hưởng hơn đến cơ thể chim (A G Xviridjuc)

Cần lưu ý là thân nhiệt của chim rất cao so với động vật có vú (40 - 41oC), toàn thân (trừ

mỏ và chân) của chim được che phủ bởi một lớp lông vũ dày Tuyến mồ hôi (một tuyến có vai trò to lớn trong việc thải nhiệt của cơ thể khi quá nóng) lại không có ở chim, do đó, việc thải nhiệt của cơ thể trong điều kiện thời tiết nóng là cực kỳ khó khăn Trong chăn nuôi cần hết sức chú ý đến đặc điểm này để thiết kế chuồng trại, tạo tiểu khí hậu chuồng nuôi thích hợp, có

độ thông thoáng cao, mát mẻ và thông khí tốt

Tuyến phao câu (tuyến sáp) là tuyến duy nhất có ở biểu mô của chim, nằm ở vùng đốt sống đuôi, tuyến này có 2 thuỳ hình ô van, chất tiết của chúng là chất nhờn, thành phần gồm nước, protein, lipit, axit nucleic, lexitin Khi mới tiết ra, chất tiết ở dạng dầu nhờn, đặc quánh, sau một thời gian ngắn, chúng biến thành dạng sáp, có tác dụng làm cho bộ lông nhờn, sáng bóng và mềm mại, không thấm nước, nhất là ở thuỷ cầm

Sản phẩm của da

Trang 34

a Bộ lông

Lông phân bố không đều trên bề mặt cơ thể chim non cũng như trưởng thành, chiếm tỷ

lệ 4-9 % khối lượng cơ thể và chứa 82% protein

Những chim non vừa nở được phủ lông tơ, gốc của lông tơ gắn vào thân của lớp lông đầu tiên, phía ngoài xoà ra, phủ đều trên bề mặt của da Sau 2-3 tuần tuổi, thân lông đầu tiên mọc

từ túi lông, thay thế lông tơ Việc hình thành bộ lông đầu tiên của chim non ở các loài và giống khác nhau thì khác nhau và được hoàn thiện ở những tuần tuổi khác nhau

Người ta phân biệt các loại lông theo cấu trúc và chức năng của chúng: lông ống, lông nệm (lông bông), lông chỉ, lông chổi và lông tơ

Hình 1.3 Cấu tạo hình thể chim (theo Craig Robson, 2005)

Trang 35

Lông ống có số lượng nhiều nhất, đó là lông cánh, lông đuôi và lông bao phủ trên thân, chúng nằm xếp lớp lên nhau và tạo thành bộ lông bên ngoài Về cấu tạo, loại lông này chỉ có

1 trục, 2 phiến lông đối xứng hai bên và có nhiều móc lông để móc vào nhau tạo thành phiến Cùng với lông nệm nằm dưới, nó tạo lớp lông cách nhiệt, bao phủ hầu như toàn thân Tuỳ thuộc vào nơi mọc mà người ta gọi tên của chúng: lông cổ, gáy, lưng, vai, diều, ngực, bụng, cánh

Ở cánh có 3 loại lông ống: lớn, trung bình và nhỏ Lông cánh dài và chắc, làm thành quạt lông chắn gió, lông vũ hàng thứ nhất ở vùng ngón thứ 2 và thứ 3; chim có 10 - 12 chiếc Lông vũ hàng thứ hai (11 – 12 chiếc) dính tới mặt ngoài của xương cánh tay và có hình quạt đều rộng, 3 - 4 lông dính tới ngón thứ nhất của cánh tạo nên lông cánh nhỏ, có ý nghĩa rất quan trọng khi bay lên

và hạ cánh, chống lại sự tạo thành dốc thẳng của các dòng không khí phía trước

Lông đuôi (10 - 12) nằm theo hàng ngang, mọc tới 4 - 6 đốt sống đuôi cuối cùng Lông đuôi có thân lông cứng và phiến lông thẳng

Lông bông có trục ngắn, phiến lông trên đầu trục là một búi mềm không định hướng Người ta phân biệt lông bông phủ toàn thân ở chim non và trưởng thành Số lượng lông bông không giống nhau ở các loài và giống chim Lông bông phát triển mạnh ở vùng bụng của chim Tất cả lông bao và lông tơ tạo thành bộ lông nhỏ của chim, lông cánh và lông đuôi tạo nên bộ lông lớn

Lông chỉ hay là lông hình sợi rất giống như lông mao của gia súc nhưng rất mảnh Những lông này mọc thành từng nhóm nhỏ (từ 2 - 10 chiếc) xung quanh lông vũ Có thể quan sát loại lông này rất rõ sau khi chim đã được vặt lông rồi cho tiếp xúc với nền nhà trong vòng 3-5 phút, khi đó, chúng sẽ mọc rất nhanh và nhiều Chức năng của lông này hiện chưa được giải thích rõ

Lông chổi (giống hình chổi quét sơn) mọc xung quanh lỗ thoát chất tiết của tuyến phao câu (tuyến sáp), có thân tương đối dài và mỏng, ở đầu có một chùm tơ

Lông tơ chỉ có một thân mỏng, không có phiến lông, mọc chủ yếu ở gốc mỏ, thỉnh thoảng ở ngón chân, trên mắt (lông mi)

Lông bao của các loài và giống chim khác nhau thì khác nhau, chúng tạo nên đặc trưng

về hình dạng bên ngoài của chim Lông chim thực hiện những chức năng khác nhau: bảo vệ

cơ thể khỏi những ảnh hưởng xấu của môi trường (lạnh, ẩm ), điều hoà nhiệt và xúc giác Một số lông chuyên dùng để bay, một số khác là dấu hiệu sinh dục thứ cấp của chim

Màu sắc lông chim gắn chặt với sự có mặt của những sắc tố melanin và lipocrom Ở trong lông, sắc tố có hình hạt hay hình gậy Melanin được tạo nên trong ty lạp thể của tế bào sinh trưởng biểu mô melaniphor Tiền sắc tố melanin là melanogen Sự oxy hoá melanogen ở các mức độ khác nhau sẽ cho ra các màu của lông khác nhau: vàng đất, vàng gỉ sắt, hung gỉ sắt, nâu hung, nâu, đen

Màu lông rực rỡ của một số giống chim được tạo bởi sắc tố khác - lipocrom Nó thuộc nhóm sắc tố carotenoit Lipocrom hoà tan trong mỡ và có nguồn gốc ngoại sinh Chúng làm cho lông có màu vàng, đỏ, xanh da trời hoặc xanh lá cây Mỗi cá thể có thể có một màu hoặc nhiều màu Nếu không có sắc tố thì lông màu trắng, đó là chim bạch tạng, thường thấy ở chim bồ câu trắng

Màu sắc của lông có vai trò rất lớn trong chăn nuôi Đó là các tính trạng bên ngoài rất quan trọng, được sử dụng trong công tác chọn giống Màu sắc, độ bóng mượt của lông liên

Trang 36

quan chặt chẽ với tình trạng dinh dưỡng, sức khoẻ, sức sản xuất của chim, khi khoẻ mạnh, khẩu phần cân đối thì bộ lông đẹp; ngược lại, dinh dưỡng kém, ốm yếu thì bộ lông xơ xác,

dễ gãy, dễ rụng

Hình 1.4 Một số lông chim bồ câu

Ta có thể dễ dàng xác định giới tính của đà điểu trưởng thành qua đặc điểm màu lông Tính biệt (cái, đực) khác nhau thì bộ lông hoàn toàn khác nhau Con trống hầu hết có màu lông đen nhưng lông cánh và lông đuôi thì trắng tuyền Sự phân màu rõ tới mức có thể phân biệt chúng từ xa Con mái thì ngược với con đực, toàn thân một màu xám, làm cho chúng ít lộ liễu (khó thấy) trong suốt thời kì sinh sản, nhất là khi ấp trứng trên sa mạc Trong điều kiện khí hậu châu Phi, lông là lớp bảo vệ hữu hiệu chống lại cái nóng của ban ngày còn trong vùng bán sa mạc thì chống lại sự thoát nhiệt vào ban đêm

Hình 1.5 Đà điểu trống (màu đen) và mái (màu xám)

Trang 37

Trong mùa sinh sản, con đực bộc lộ một phần lông màu rực rỡ, thường có màu đỏ sẫm hoặc xanh sẫm tùy thuộc vào từng phân loài, rất rõ ở phần trước đùi và phần trên cổ

Hình 1.6 Lông đà điểu

Lông đà điểu không có các tơ lông gắn chặt những sợi lông nhỏ vào cuống lông ở giữa nên chúng giống như tóc hơn là lông Chúng mọc trên khắp bề mặt da nhưng có vùng lại mọc ít lông, riêng ở phần đùi to thì không có lông Cũng như các loài chim khác, đà điểu không có tuyến mồ hôi

Con đà điểu đực có bộ lông màu đen và trắng khi trưởng thành Những con cái và con non thì có bộ lông màu nâu xám, màu xỉn hơn nhiều Những con nhỡ thì có bộ lông xù lên, ở đầu nhọn của lông có màu đen cho tới khi chúng được khoảng 4 tháng tuổi

Trong suốt mùa sinh sản, bộ lông của con đực có màu sáng hơn Da thường chuyển từ màu xanh nhạt thành màu đỏ tươi ở mỏ, trán và xanh quanh mắt Lớp vảy ở cẳng chân và ngón chân trở thành màu hồng

Khi còn non, các con đực và cái rất giống nhau, chỉ có thể phân biệt bằng cách xem cơ quan sinh dục của chúng Việc này rất khó vì dương vật của con đực vẫn còn rất nhỏ và rất dễ nhầm với âm vật của con cái Khoảng từ 7 – 8 tháng tuổi, có thể xác định được giới tính của chúng khi chúng đái hoặc ỉa, khi đó dương vật của con đà điểu đực thò ra

Không giống hầu hết các loài chim, đà điểu đực có một dương vật và lỗ đái, ỉa riêng (mặc dù việc đái, ỉa gần như là đồng thời) Khi được khoảng 2 năm tuổi thì con đực và con cái khác nhau hoàn toàn như đã mô tả ở trên

Cần biết rằng, màu đỏ da cam ở đỉnh đầu và da của con đực phụ thuộc vào sự có mặt của tinh hoàn trưởng thành, còn bộ lông màu đen của nó lại do sự không tồn tại của buồng trứng (đặc biệt là hooc mon oestrogen) quyết định Con đực đã thiến thì không bao giờ có màu đỏ cam, nhưng bộ lông của chúng thì thường vẫn có màu đen đặc trưng cho con đực

Trang 38

Nếu bị thiến mất tinh hoàn sau khi đã trưởng thành về sinh dục thì cũng sẽ gây ảnh hưởng tới bản năng sinh dục của đà điểu mặc dù nó sẽ vẫn tiếp tục đạp mái

Hocmon tuyến giáp trạng tham gia điều khiển quá trình mọc lông bình thường ở chim Sau khi cắt bỏ tuyến này thì sự khác biệt về màu sắc lông giảm đi hoặc mất hoàn toàn

b Sinh lý thay lông

Thay lông là sự thay đổi thường kỳ của lông và thành phần cấu trúc biểu bì của da Đối với chim hoang dã, sự thay lông có tính mùa vụ, thường là bắt đầu vào mùa thu, khi di chuyển chỗ ở hoặc lúc bắt đầu mùa đông giá lạnh Vì vậy thay lông là sự thích nghi sinh học của chim với việc thay đổi điều kiện sống

Người ta phân biệt thay lông của chim non (thay lông non) và thay lông thường kỳ (hàng năm) của chim trưởng thành, trùng với mùa nhất định Khi thay lông, trong cơ thể chim xảy ra những thay đổi về hoạt động của hệ thần kinh về cơ quan nội tiết, đồng thời diễn ra quá trình tăng cường trao đổi chất, chủ yếu là trao đổi protein và muối khoáng, cơ thể rất mất cân bằng, giảm sức đề kháng với bệnh tật, dễ ốm, chim trưởng thành giảm nhanh hoặc ngừng đẻ trứng Những thay đổi mạnh của thức ăn và điều kiện nuôi dưỡng, các tác nhân strees (nhiệt độ,

độ ẩm cao, thấp; bệnh tật ) đều có thể gây nên hiện tượng thay lông trước thời hạn

Ở chim non, cơ thể thay lớp lông đầu tiên bằng lớp lông cơ bản (lớp thứ hai), quá trình này kết thúc khi khối lượng cơ thể đã cơ bản hoàn thành và bắt đầu thành thục sinh dục Thời điểm bắt đầu và số ngày thay lông non của chim ở các dòng, giống khác nhau thì khác nhau, bắt đầu từ 1,5 tháng tuổi và kết thúc hoàn toàn lúc bắt đầu đẻ trứng Việc thay lông ở chim trống xảy

ra mạnh mẽ hơn ở chim mái Thay lông cánh xảy ra cùng lúc với việc thay các lông khác Thay lông cánh ở chim bắt đầu theo hướng từ trong ra ngoài Lông cánh của chim con có 7 lông ống hàng thứ nhất và 8 lông hàng thứ hai Tiếp theo mọc 3 lông hàng thứ nhất còn lại, trong khi đó thay lông hàng thứ nhất bắt đầu từ những lông cuối (8 - 10) chưa mọc hết Trong thời gian này xuất hiện những lông vũ chưa đủ dài của hàng thứ hai Việc thay chúng xảy ra theo hướng ngược lại - từ ngoài vào giữa cánh

Thay lông của chim trưởng thành được nhắc lại mỗi năm một lần trong đời và thường diễn ra vào một mùa cố định trong năm, khi thời gian chiếu sáng thay đổi: từ ngày dài chuyển sang ngày ngắn, thường gặp vào cuối mùa hè và mùa thu, thỉnh thoảng vào mùa đông

Vào giai đoạn thay lông của chim, khi mà việc thay lông diễn ra mạnh nhất, hoạt tính chức năng của tuyến giáp trạng và tuyến cận giáp tăng lên thì khối lượng của chim cũng tăng lên một ít (A K Đanhilova,1986) Quá trình mọc và hình thành lông ở chim liên quan chặt chẽ với việc tăng cường độ trao đổi chất và năng lượng trong cơ thể, tăng tính hấp thu và tiêu hoá thức ăn

Ở da đà điểu có một số chai sần Những miếng chai này là phần da dày lên tại những chỗ dễ bị cọ xát hoặc chịu lực Đà điểu thường nằm bẹp hoặc nằm nghỉ trên mu bàn chân Khi nằm miếng đệm dày khoảng 1cm và có kích thước 5 x 12 cm Những miếng đệm chai dày nằm ở phần xương ức dưới bụng có kích thước 1 x 8 x 11 cm, phần da chai bảo vệ phần xương nhô ra từ phía bụng của xương mu có kích thước 1 x 4 x 9 cm Những phần da chai này phải chịu sức nặng của cả thân con đà điểu khi chúng nằm

Da phía trước của chân (từ khuỷu chân trở xuống) và phía trên các ngón chân chủ yếu

có cấu tạo vẩy to Những chỗ còn lại trên vùng da này được bao phủ bằng các vẩy nhỏ hơn

Da ở phía trên mặt các ngón chân chuyển thành một loại da khác Da ở những miếng đệm của đà điểu dày và bề mặt da được bao phủ bằng các mấu thịt xếp khít nhau theo chiều dọc từ trên xuống (dài 0,8 cm) Miếng đệm mô này dày 1cm và kích thước trung bình của nó ở ngón chân giữa là 6 x 18 cm, còn ở ngón chân nhỏ cuối cùng là 5 x 11 cm Tại khớp nối giữa xương chân và

Trang 39

xương ngón chân cũng có một miếng đệm Các miếng đệm được tăng cường độ êm bằng một lớp

mỡ lót phía trên với kích thước 1,5 x 13 cm Lớp mỡ này được bao phủ bằng một màng xơ Mô này giống như miếng đệm ngón chân ngựa hay đệm ngón chân của dê và cừu

Ngón chân to nhất của đà điểu có một cái móng to, cùn Móng của ngón nhỏ thì bé hơn

1.2.2 Hệ tuần hoàn và máu

a Tuần hoàn

Tim đà điểu và chim có 4 ngăn giống như các động vật có vú khác Do hay phải lấy mẫu máu hoặc tiêm ven cho đà điểu nên các nhân viên y tế phải được trang bị kỹ kiến thức về phần này Tĩnh mạch cổ có một vị trí rất quan trọng Cũng giống như các loài chim khác, tĩnh mạch cổ bên phải của đà điểu to hơn nhiều so với bên trái, kích thước và vị trí của tĩnh mạch

cổ bên trái có thể thay đổi Ở một số con đà điểu, tĩnh mạch cổ bên trái nối với tĩnh mạch cổ bên phải, còn một số con khác thì nó lại nối với tĩnh mạch chủ ở đầu Động mạch cảnh chung của đà điểu xuất phát từ vòm động mạch chủ chạy lên cổ, chạy dọc theo đường mép ở phía bụng của xương sống rồi đi xuống khối cơ ở cổ

Khu vực khác có thể lấy máu là các ven ở cánh Điều nên nhớ là, mặc dù hệ thống tĩnh mạch ở cánh đà điểu chạy song song với động mạch nhưng cả động mạch và tĩnh mạch ở đà điểu đều khác nhiều so với các loài chim khác Ví dụ, ở gà thì động mạch cánh sâu và các động mạch phụ nối với nhau hoặc gần như nối khít nhau ở khuỷu cánh Còn ở đà điểu thì các nhánh của động mạch sâu và động mạch phụ không nối với nhau Nhờ vị trí và kích thước tiện lợi nên các ven chính ở cánh đà điểu rất phù hợp để tiêm hoặc lấy máu, trong khi tất cả các ven khác thì nằm quá sâu hoặc quá nhỏ Chỗ tốt nhất để tiêm ven là tĩnh mạch cánh, động mạch này chạy qua vùng âu cánh trên tại phần giáp với bụng, lấy ven ở vị trí này không gây tác hại tới bộ phận dễ bị tổn thương khác

b Máu

Máu cùng lympho và dịch mô tạo thành môi trường bên trong của cơ thể, có thành phần

và tính chất lý - hoá tương đối ổn định, nhờ đó, các điều kiện cần thiết cho hoạt động sống của

tế bào và mô được đảm bảo

Tỷ trọng của máu chim là 1,050 - 1,060 Tỷ trọng máu có thể tăng lên khi máu bị đặc lại

và giảm đi khi bị thiếu máu

Độ nhớt của máu chim trung bình bằng 5 (4,7 - 5,5), nó phụ thuộc vào số lượng hồng cầu, nồng độ protein và muối Tăng độ nhớt thường gặp khi cơ thể bị mất nước, ví dụ khi bị ỉa chảy hoặc khi tăng số lượng hồng cầu Khi tăng độ nhớt của máu, huyết áp tăng và giảm sự khuếch tán nước từ mao quản ra các mô, áp suất thẩm thấu của máu phụ thuộc vào nồng độ các muối tan trong đó, trước hết là muối natri clorua

Trong máu và dịch mô, áp suất thẩm thấu tạo thành chủ yếu do NaCl, dung dịch 0,9% NaCl, tương ứng với áp suất thẩm thấu máu của động vật có vú được tính là dung dịch sinh

lý Áp suất thẩm thấu của máu chim bằng dung dịch 0,93% NaCl

Trang 40

Độ pH: đối với động vật máu nóng, pH máu thường nằm trong khoảng 7,0 - 7,8; đối với chim là 7,42 - 7,56

Theo mức kiềm dự trữ trong máu có thể đoán được sức đề kháng của cơ thể, cường độ của các quá trình sinh lý Sự dao động lượng kiềm dự trữ trong máu phụ thuộc vào sự thay đổi trạng thái sinh lý của cơ thể Lượng protein trong huyết thanh chim tăng lên theo quá trình sinh trưởng, cao nhất ở thời gian đầu của giai đoạn đẻ trứng

Tỷ số anbumin/globulin (hệ số protein) phụ thuộc vào lứa tuổi và sức sản xuất của chim Ngoài protein ra, trong huyết tương còn có các hợp chất nitơ phi protein; ure, axit uric, amoniac, creatin, creatinin, chúng được gọi chung là nitơ cặn, có nồng độ tương đối lớn trong máu chim (44 mg%) Trong máu chim còn có các chất hữu cơ khác: đường, mỡ và sản phẩm trung gian của quá trình phân giải các chất này

Bột đường gồm glycogen và glucoza Nồng độ glucoza ở chim cao hơn ở động vật có vú tới 1,5 - 2 lần

Hàm lượng glycogen và axit adenozin triphotphoric (ATP) trong máu chim tăng lên theo quá trình phát triển Ở chim một ngày tuổi, nồng độ của ATP là 2,4 - 4,9 mg%, glycogen 24 - 27mg%; ở 150 ngày tuổi tương ứng là 7,8 - 9,4 mg% và 45 - 52 mg%

Các loại lipit trong máu tồn tại dưới dạng mỡ trung tính, axit béo, phophatit, cholesterin và các este của cholesterin Khối lượng mỡ trung tính trong huyết tương chim không quá 0,1 - 0,15% Ở chim đẻ, hàm lượng lipit lớn hơn ở chim chưa đẻ và chim trống, hàm lượng lipit tăng sau khi rụng trứng Các hocmon hướng tuyến sinh dục có tác dụng làm tăng lipit trong máu Lượng canxi trong máu của chim đẻ lớn hơn so với gia súc Phần lớn canxi trong máu nằm ở huyết thanh (10 - 12 mg%), phần nhỏ trong hồng cầu Trong huyết thanh, canxi có 2 dạng: bị khuếch tán (60 - 65%) và không bị khuếch tán (34 - 40%) Sự phân biệt này liên quan đến khả năng của canxi đi qua màng siêu lọc (các màng tế bào)

Phần lớn canxi bị khuếch tán nằm dưới dạng ion (Ca++) và phần nhỏ (15%) liên kết với các bicacbonat, citrat và phosphat

Canxi không bị khuếch tán liên kết với protein huyết thanh - anbumin và globulin Canxi có thể được giải phóng khỏi các liên kết này dưới dạng ion Lượng canxi không bị khuếch tán trong huyết tương có thể thay đổi phụ thuộc vào hàm lượng protein trong đó, chủ yếu là albumin

Hàm lượng ion canxi trong huyết tương và dịch mô tương đối ổn định, phụ thuộc vào lứa tuổi và sức sản xuất của chim, vào lượng canxi trong khẩu phần thức ăn Ở chim chưa đẻ, trong máu có 9 - 12 mg% canxi Trong huyết tương chim đẻ có trung bình 20 - 26 mg% canxi Trong thời gian trứng rụng, khi có tác động của hocmon tuyến yên và buồng trứng, lượng canxi có thể tăng lên tới 35mg% Sau khi đẻ trứng, lượng canxi trong máu giảm xuống 12 - 15mg%

Ở chim non, hàm lượng canxi trong máu thay đổi không lớn Khi trong khẩu phần thức

ăn thiếu canxi, hàm lượng canxi trong máu chim con giảm xuống nhanh

Photpho trong máu chim thường ở dạng các hợp chất hữu cơ và vô cơ Tỷ lệ giữa hai dạng này là 8: 1 - 10: 1

Photpho vô cơ hầu hết nằm trong huyết tương và phần lớn ở dạng ion Hàm lượng phospho vô

cơ trong huyết thanh chim thay đổi tương đối lớn, phụ thuộc vào cường độ trao đổi chất và phospho trong thức ăn Người ta nhận thấy có sự giảm dần nồng độ phospho trước thời kỳ sinh sản Phospho hữu cơ gồm phospho lipit, phospho tan trong axit và phospho nucleotit Ngoài ra, còn có photpho của axit phitin trong hồng cầu có nhân và photpho của ATP

Ngày đăng: 20/10/2014, 01:00

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Nguyễn Duy Điều (2008), Nghiên cứu sức sản xuất, chọn lọc nhân thuần chim bồ câu Pháp… Luận án tiến sĩ nông nghiệp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu sức sản xuất, chọn lọc nhân thuần chim bồ câu Pháp…
Tác giả: Nguyễn Duy Điều
Năm: 2008
3.Võ Thị Ngọc Lan; Trần Thông Thái, 2006. Nuôi cút. NXB Nông nghiệp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nuôi cút
Nhà XB: NXB Nông nghiệp
4. Đào Đức Long, 2002. Sinh học về các giống gia cầm ở Việt Nam. NXB Khoa học và kỹ thuật Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sinh học về các giống gia cầm ở Việt Nam
Nhà XB: NXB Khoa học và kỹ thuật
5. Nguyễn Thị Mai, Bùi Hữu Đoàn, Hoàng Thanh (2009) Chăn nuôi gia cầm. NXB Nông nghiệp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chăn nuôi gia cầm
Nhà XB: NXB Nông nghiệp
6. Melekhin G.P; N.IA. Gridin N. A., 1990. Sinh lý gia cầm. (Lê Hồ ng Mậ n dị ch). NXB Nông nghiệ p Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sinh lý gia cầm
Nhà XB: NXB Nông nghiệp
9. Ngô Ngọc Tư, 2002. Nuôi chim bồ câu. NXB Nông nghiệp TP Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nuôi chim bồ câu
Nhà XB: NXB Nông nghiệp TP Hồ Chí Minh
10. Trung tâm Nghiên cứu gia cầm Thuỵ Phương, Viện Chăn nuôi, 1999. Tuyển tập công trình nghiên cứu KHKT gia cầm…. NXB Nông nghiệp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tuyển tập công trình nghiên cứu KHKT gia cầm…
Nhà XB: NXB Nông nghiệp
11. Trung tâm Nghiên cứu gia cầm Thuỵ Phương, Viện Chăn nuôi, 2007. Tuyển tập công trình nghiên cứu khoa học- công nghệ chăn nuôi gia cầm…. NXB Nông nghiệp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tuyển tập công trình nghiên cứu khoa học- công nghệ chăn nuôi gia cầm…
Nhà XB: NXB Nông nghiệp
12.Trần Công Xuân, Nguyễn Thiện, 1999. Đà điểu - vật nuôi của thế kỷ 21 ở Việt Nam. NXB Nông nghiệp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đà điểu - vật nuôi của thế kỷ 21 ở Việt Nam
Nhà XB: NXB Nông nghiệp

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1.6.  Lông đà điểu - GT Chan nuoi da dieu va chim
Hình 1.6. Lông đà điểu (Trang 37)
Hình 1.10. Sơ đồ bộ máy hô hấp của chim - GT Chan nuoi da dieu va chim
Hình 1.10. Sơ đồ bộ máy hô hấp của chim (Trang 47)
Hình 1.19. Phồng cổ để hăm dọa kẻ thù là một phản xạ tự vệ của đà điểu - GT Chan nuoi da dieu va chim
Hình 1.19. Phồng cổ để hăm dọa kẻ thù là một phản xạ tự vệ của đà điểu (Trang 78)
Hình 1.20. Một đàn đà điểu 1 tuần tuổi đi kiếm ăn cùng mẹ - GT Chan nuoi da dieu va chim
Hình 1.20. Một đàn đà điểu 1 tuần tuổi đi kiếm ăn cùng mẹ (Trang 79)
Hình 3.2. Sơ đồ mặt cắt dọc quả trứng chim - GT Chan nuoi da dieu va chim
Hình 3.2. Sơ đồ mặt cắt dọc quả trứng chim (Trang 102)
Bảng 4.3. Sự giảm khối lượng trứng đà điểu liên quan đến nhiệt độ ấp - GT Chan nuoi da dieu va chim
Bảng 4.3. Sự giảm khối lượng trứng đà điểu liên quan đến nhiệt độ ấp (Trang 124)
Đồ thị 3.1. Sự giảm khối lượng trứng đà điểu khi ấp - GT Chan nuoi da dieu va chim
th ị 3.1. Sự giảm khối lượng trứng đà điểu khi ấp (Trang 130)
Hình 6.1.  Giữa 2 sân chơi của đà điểu nên có hành lang &#34;đệm&#34; để - GT Chan nuoi da dieu va chim
Hình 6.1. Giữa 2 sân chơi của đà điểu nên có hành lang &#34;đệm&#34; để (Trang 142)
Hình 6.4. Hàng rào cho đà điểu  lớn - GT Chan nuoi da dieu va chim
Hình 6.4. Hàng rào cho đà điểu lớn (Trang 144)
Hình 6.6. Sân chơi cho đà điểu hình tròn - GT Chan nuoi da dieu va chim
Hình 6.6. Sân chơi cho đà điểu hình tròn (Trang 145)
Hình 6.7. Nuôi đà điểu con trong cũi úm - GT Chan nuoi da dieu va chim
Hình 6.7. Nuôi đà điểu con trong cũi úm (Trang 156)
Hình 6.13.  Một trường đua đà điểu để giải trí - GT Chan nuoi da dieu va chim
Hình 6.13. Một trường đua đà điểu để giải trí (Trang 175)
Bảng 6.42. Chế độ dinh dưỡng áp dụng nuôi đà điểu ở Việt Nam - GT Chan nuoi da dieu va chim
Bảng 6.42. Chế độ dinh dưỡng áp dụng nuôi đà điểu ở Việt Nam (Trang 176)
Hình 7.3. Chuồng chim bồ câu nhiều tầng - GT Chan nuoi da dieu va chim
Hình 7.3. Chuồng chim bồ câu nhiều tầng (Trang 186)
Hình 7.7. Chuồng bồ câu lớn tại Ai Cập, nuôi hàng ngàn đôi chim - GT Chan nuoi da dieu va chim
Hình 7.7. Chuồng bồ câu lớn tại Ai Cập, nuôi hàng ngàn đôi chim (Trang 189)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w