Cùng với sự phát triển mạnh mẽ của các ngành kỹ thuật, công nghệ thông tin đã tiến lên hàng đầu cùng một loạt các cải tiến, hoàn thiện các sản phẩm đã có, bổ sung các sản phẩm mới đáp ứng nhu cầu của xã hội.Trong thời đại bùng nổ của công nghệ thông tin hiện nay, mạng máy tính đóng vai trò ngày càng quan trọng hơn trong hoạt động của các doanh nghiệp, tổ chức cũng như các cơ quan nhà nước. Thậm chí ở một số đơn vị, chẳng hạn như các công ty hàng không hoặc các ngân hàng lớn, mạng máy tính có thể ví như hệ thần kinh điều khiển hoạt động của toàn doanh nghiệp. Sự ngừng hoạt động của mạng máy tính trong những cơ quan này có thể làm tê liệt các hoạt động chính của đơn vị, và thiệt hại khó có thể lường trước được.Chúng ta đều biết các máy chủ là trái tim của của mạng máy tính, nếu máy chủ mạng hỏng, hoạt động của hệ thống sẽ bị ngưng trệ. Điều đáng tiếc là dù các hãng sản xuất đã cố gắng làm mọi cách để nâng cao chất lượng của thiết bị, nhưng những hỏng hóc đối với các thiết bị mạng nói chung và các máy chủ nói riêng là điều không thể tránh khỏi. Do vậy, vấn đề đặt ra là cần có một giải pháp để đảm bảo cho hệ thống vẫn hoạt động tốt ngay cả khi có sự cố xảy ra đối với máy chủ mạng, và công nghệ clustering là câu trả lời cho vấn đề này. Bài báo này giới thiệu nguyên lý và phân tích một số giải pháp clustering đang được áp dụng cho các hệ thống mạng máy tính lớn giúp hiểu rõ hơn về công nghệ tưởng như đơn giản nhưng thực tế khá phức tạp này.
Trang 1LỜI MỞ ĐẦU
Cùng với sự phát triển mạnh mẽ của các ngành kỹ thuật, công nghệ thông tin đãtiến lên hàng đầu cùng một loạt các cải tiến, hoàn thiện các sản phẩm đã có, bổ sung cácsản phẩm mới đáp ứng nhu cầu của xã hội
Trong thời đại bùng nổ của công nghệ thông tin hiện nay, mạng máy tính đóng vaitrò ngày càng quan trọng hơn trong hoạt động của các doanh nghiệp, tổ chức cũng nhưcác cơ quan nhà nước Thậm chí ở một số đơn vị, chẳng hạn như các công ty hàng khônghoặc các ngân hàng lớn, mạng máy tính có thể ví như hệ thần kinh điều khiển hoạt độngcủa toàn doanh nghiệp Sự ngừng hoạt động của mạng máy tính trong những cơ quan này
có thể làm tê liệt các hoạt động chính của đơn vị, và thiệt hại khó có thể lường trướcđược
Chúng ta đều biết các máy chủ là trái tim của của mạng máy tính, nếu máy chủmạng hỏng, hoạt động của hệ thống sẽ bị ngưng trệ Điều đáng tiếc là dù các hãng sảnxuất đã cố gắng làm mọi cách để nâng cao chất lượng của thiết bị, nhưng những hỏng hócđối với các thiết bị mạng nói chung và các máy chủ nói riêng là điều không thể tránhkhỏi Do vậy, vấn đề đặt ra là cần có một giải pháp để đảm bảo cho hệ thống vẫn hoạtđộng tốt ngay cả khi có sự cố xảy ra đối với máy chủ mạng, và công nghệ clustering làcâu trả lời cho vấn đề này Bài báo này giới thiệu nguyên lý và phân tích một số giải phápclustering đang được áp dụng cho các hệ thống mạng máy tính lớn giúp hiểu rõ hơn vềcông nghệ tưởng như đơn giản nhưng thực tế khá phức tạp này
Chúng em xin chân thành cảm ơn !
Trang 2MỤC LỤC
PHẦN 1 TỔNG QUANG VỀ CÔNG NGHỆ CLUSTER 1
1.1 Giới thiệu về CLUSTER 1
1.2 Clustering là gì 2
1.3 Cấu trúc của CLUSTER 3
1.4 Cluster nhiều địa điểm phân tán 5
1.5 Tối ưu hóa các thiết bị lưi trữ trên CLUSTER 6
1.6 Nguyên lý hoạt động CLUSTER 7
1.7 Tính mở của CLUSTER 9
PHẦN 2 TẦM QUAN TRỌNG CỦA CÔNG NGHỆ CLUSTER 11
2.1 Giới thiệu tầm quan trọng của CLUSTER 11
2.2 Tầm quan trọng của CLUSTER 11
PHẦN 3 TRIỂN KHAI SQL 2005 TRÊN WINDOWN SERVER 2008 12
3.1 Giới thiệu 12
3.2 Triển khai 12
3.2.1 Mô hình 12
3.2.2 Chuẩn bị 13
3.2.3 Thực hiện 13
Trang 3DANH MỤC HÌNH ẢNH
PHẦN 1 TỔNG QUANG VỀ CÔNG NGHỆ CLUSTER 1
1.1 Giới thiệu về CLUSTER 1
1.2 Clustering là gì 2
1.3 Cấu trúc của CLUSTER 3
1.4 Cluster nhiều địa điểm phân tán 5
1.5 Tối ưu hóa các thiết bị lưi trữ trên CLUSTER 6
1.6 Nguyên lý hoạt động CLUSTER 7
1.7 Tính mở của CLUSTER 9
PHẦN 2 TẦM QUAN TRỌNG CỦA CÔNG NGHỆ CLUSTER 11
2.1 Giới thiệu tầm quan trọng của CLUSTER 11
2.2 Tầm quan trọng của CLUSTER 11
PHẦN 3 TRIỂN KHAI SQL 2005 TRÊN WINDOWN SERVER 2008 12
3.1 Giới thiệu 12
3.2 Triển khai 12
3.2.1 Mô hình 12
3.2.2 Chuẩn bị 13
3.2.3 Thực hiện 13
Trang 4PHẦN 1 TỔNG QUANG VỀ CÔNG NGHỆ CLUSTER
1.1. Giới thiệu về CLUSTER
Chúng ta đều biết các máy chủ là trái tim của của mạng máy tính, nếu máy chủ mạnghỏng, hoạt động của hệ thống sẽ bị ngưng trệ Điều đáng tiếc là dù các hãng sản xuất đã
cố gắng làm mọi cách để nâng cao chất lượng của thiết bị, nhưng những hỏng hóc đối vớicác thiết bị mạng nói chung và các máy chủ nói riêng là điều không thể tránh khỏi Dovậy, vấn đề đặt ra là cần có một giải pháp để đảm bảo cho hệ thống vẫn hoạt động tốtngay cả khi có sự cố xảy ra đối với máy chủ mạng, và công nghệ clustering là câu trả lờicho vấn đề này Đề tài này giới thiệu nguyên lý, phân tích và triển khai một số giải phápclustering đang được áp dụng cho các hệ thống mạng máy tính với hi vọng có thể giúpchúng ta hiểu rõ hơn về công nghệ tưởng như đơn giản nhưng thực tế khá phức tạp này
Hình 1.1: Tổng quang về CLUSTER
Trang 51.2. Clustering là gì
Clustering là một kiến trúc nhằm đảm bảo nâng cao khả năng sẵn sàng cho các hệ thốngmạng máy tính Clustering cho phép sử dụng nhiều máy chủ kết hợp với nhau tạo thành
một cụm có khả năng chịu đựng hay chấp nhận sai sót (fault-tolerant) nhằm nâng cao độ
sẵn sàng của hệ thống mạng Cluster là một hệ thống bao gồm nhiều máy chủ được kếtnối với nhau theo dạng song song hay phân tán và được sử dụng như một tài nguyênthống nhất Nếu một máy chủ ngừng hoạt động do bị sự cố hoặc để nâng cấp, bảo trì, thìtoàn bộ công việc mà máy chủ này đảm nhận sẽ được tự động chuyển sang cho một máychủ khác (trong cùng một cluster) mà không làm cho hoạt động của hệ thống bị ngắt hay
gián đoạn Quá trình này gọi là “fail-over”; và việc phục hồi tài nguyên của một máy chủ trong hệ thống (cluster) được gọi là “fail-back”.
Việc thiết kế và lắp đặt các cluster cần thoả mãn các yêu cầu sau:
Yêu cầu về tính sẵn sàng cao (High availability) Các tài nguyên mạng phải luôn
sẵn sàng trong khả năng cao nhất để cung cấp và phục vụ các người dùng cuối và giảmthiểu sự ngưng hoạt động hệ thống ngoài ý muốn
Yêu cầu về độ tin cậy cao (reliability) Độ tin cậy cao của cluster được hiểu là
khả năng giảm thiểu tần số xảy ra các sự cố, và nâng cao khả năng chịu đựng sai sót của
hệ thống
Yêu cầu về khả năng mở rộng được (scalability) Hệ thống phải có khả năng dễ
dàng cho việc nâng cấp, mở rộng trong tương lai Việc nâng cấp mở rộng bao hàm cả việcthêm các thiết bị, máy tính vào hệ thống để nâng cao chất lượng dịch vụ, cũng như việcthêm số lượng người dùng, thêm ứng dụng, dịch vụ và thêm các tài nguyên mạng khác
Ba yêu cầu trên được gọi tắt là RAS (Reliability-Availability-Scalability), những hệ thốngđáp ứng được ba yêu cầu trên được gọi là hệ thống RAS (cần phân biệt với RemoteAccess Service là dịch vụ truy cập từ xa)
Kỹ thuật Clustering được chia làm 2 loại gồm Cluster và Network Load Balancing (NLB)
Cluster : được dùng cho các ứng dụng Stateful applications (các ứng dụng hoạt
động thường xuyên trong thời gian dài) bao gồm các database server như là Microsoft
Trang 6MySQL Server, Microsoft Exchange Server, File and Print Server… Tất cả các nodetrong Cluster dùng chung 1 nơi lưu trữ dữ liệu có thể dùng công nghệ SCSI hoặc StorageArea Network (SAN) Windows Sever 2003 Enterprise và Datacenter hỗ trợ cluster lênđến 8 node trong khi đó Windows 2000 Advance Server hỗ trợ 2 node còn Windows 2000Datacenter Server được 4 node.
NLB (Cân bằng tải mạng): Là một loại khác của kỹ thuật Clustering có khả năng chiatải và nâng cao khả năng chịu lỗi của hệ thống được tốt hơn Được dùng cho các ứng
dụng Stateless applications (các ứng dụng hoạt động mang tính nhất thời) như Web, File
Tranfer Protocol (FTP), Virtual Private Network (VPN), DHCP…Mỗi node phải dùngriêng một nơi lưu trữ cục bộ (Local Storage) cho nên cần phải có quá trình đồng bộ hóa(replication) dữ liệu ở mỗi nơi lưu trữ, số lượng node càng nhiều thì thời gian cho việc
replication càng lâu chính vì điều này nên ta không nên triển khai các ứng dụng Stateful
trên kỹ thuật NLB này nhằm đảm bảo tính chính xác của dữ liệu
1.3. Cấu trúc của CLUSTER
Cluster được tổ chức thành các nhóm gọi là các farm hay pack Trong hầu hết cáctrường hợp, các dịch vụ ở tầng trước và giữa (front-end and middle-tiers services) được tổchức thành các farm sử dụng các clone, trong khi đó các dịch vụ tầng sau (back-endservices) được tổ chức thành các pack Các khái niệm farm, pack và clone trong hệ thốngcluster sẽ được làm rõ ngay dưới đây
Cluster Farm là một nhóm các máy chủ chạy các dịch vụ giống nhau, nhưng không
dùng chung cơ sở dữ liệu Được gọi là farm (trang trại) bởi vì chúng xử lý bất cứ yêu cầunào gửi đến cho chúng bằng các bản sao cơ sở dữ liệu (tài nguyên) giống hệt nhau đượclưu giữ cục bộ, chứ không dùng chung một bản cơ sở dữ liệu Cũng bởi tính chất này nêncác máy chủ thành viên của farm làm việc độc lập và chúng được gọi là clone (clone làmáy tính được thiết kế để mô phỏng chức năng của máy tính khác)
Trong Cluster tùy theo nhu cầu mà chúng ta có thể triển khai nhiều ứng dụng trêncùng 1 cluster hay cài đặt trên mỗi node 1 ứng dụng, nói chung cấu trúc của 1 clusterkhông cố định nhưng chủ yếu chúng ta thấy hữu ích nhất là các loại cấu trúc sau:
Trang 7Thứ 1: Nếu ta triển khai 2 ứng dụng stateful trên hệ thống cluster thì có 1 phương
pháp đơn giản là cài đặt cả 2 ứng dụng ấy vào mỗi node của cluster (hình 1.2) Ở cấu trúcnày thì 2 ứng dụng trên cùng 1 server do đó nếu ứng này bị lỗi thì sẽ ảnh hưởng đến ứngdụng kia, hiệu quả của hệ thống cluster thấp
Hình 1.2: Hệ thống cluster có 2 ứng dụng hoạt động song song trên mỗi node
Thứ 2 : Tạo 2 hệ thống cluster riêng lẻ, trong mỗi cluster cài đặt duy nhất 1 ứng
dụng (Hình 1.3) Ở cấu trúc này thì hệ thống sẽ hiệu quả hơn nếu có ứng dụng nào đó
bị lỗi thì cũng không ảnh hưởng đến các ứng dụng khác Nhưng chi phí đầu tư chokiểu này rất cao bởi vì số lượng các node cho mỗi ứng dụng nhiều hơn loại 1
Hình 1.3 – Hai hệ thống cluster độc lập chứa 2 ứng dụng khác nhau
Thứ 3 : Triển khai cả 2 ứng dụng trên cùng 1 cluster, mỗi node cài 1 ứng dụng nhưng
khác với loại 1 là sẽ có 1 cluster làm nhiệm vụ backup Cụ thể như hình 3 cho ta thấy hệthống này có 1 node passive dùng làm backup và cài cả 2 ứng dụng của node 1 và node 2(2 node Active) Nếu 1 trong 2 node này bị lỗi thì node passive sẽ thay thế chức năng củanode bị lỗi Hệ thống này có hiệu quả cao hơn 2 loại trước
Trang 8Hình 1.4: Hai node Active được dự phòng bởi node Passive
1.4. Cluster nhiều địa điểm phân tán
Với các hệ thống mạng lớn có các người dùng phân bố rải rác, hiệu quả của việcphòng chống sự cố và nâng cao tính sẵn sàng của mạng sẽ được cải thiện hơn nhiều nếuxây dựng hệ thống cluster bố trí tại nhiều địa điểm Kiến trúc nhiều địa điểm có thể đượcthiết kế theo rất nhiều cách khác nhau, trong đó phổ biến nhất là có một điểm gốc và một
bộ và được cập nhật sao lặp ở chế độ thời gian thực
Với kiểu thiết kế thực hiện từng phần thì chỉ có các thành phần cơ bản là được cài đặt
ở các điểm ở xa nhằm: Xử lý các khối lượng công việc quá tải trong các giờ cao điểm;Duy trì hoạt động ở mức cơ bản trong trường hợp điểm gốc site bị sự cố; Cung cấp một sốdịch vụ hạn chế nếu cần
Cả kiểu thiết kế đầy đủ hay từng phần đều dùng phương cách phân tán các máy chủ rảirác về mặt địa lý Cluster phân tán về địa lý sử dụng mạng LAN ảo (Virtual LAN) để kếtnối các mạng khu vực lưu trữ SAN (storage area network) qua những khoảng cách lớn
Để có thể duy trì hoạt động cluster một cách hiệu quả, yêu cầu đối với kết nối trong mạngLAN ảo phải có độ trễ khoảng dưới 500 ms
Trang 91.5. Tối ưu hóa các thiết bị lưi trữ trên CLUSTER
Các thiết bị lưu trữ trên cluster cần được tối ưu hoá trên cơ sở những nhu cầu về hiệunăng và mức độ sẵn sàng Trong bảng 1 dưới đây cung cấp một cách khái quát những cấuhình hệ thống đĩa dự phòng RAID phổ biến có thể lựa chọn cho Cluster Các đầu mụctrong bảng được sắp xếp từ mức RAID cao nhất đến thấp nhất
Bảng 1 Các cấu trúc RAID cho Cluster
Có mức chịu đựng lỗirất cao nhưng cũng dưthừa nhiều Hiệu suất
Có khả năng chịu đựnglỗi nhưng ít dư thừahơn so với kiểu saogương Hiệu suất đọccao hơn so với kiểu saogương
1 Phản chiếu
Hai volume trên hai ổ đĩa cócấu hình giống hệt nhau Dữliệu được ghi vào cả hai ổ đĩa
Nếu một ổ bị lỗi, dữ liệu không
bị mất vì ổ đĩa kia cũng lưu dữliệu
Có dự phòng nóng.Hiệu suất ghi tốt hơn
so với đĩa phân “vành”
có chẵn lẻ
Trang 100+1 Phân “vành” + phản
chiếu
Hai volume trở lên, mỗi volumetrên một ổ đĩa riêng, được phânthành vành đai và được phnchiõu Dữ liệu được ghi tuần tựlên các ổ đĩa có cấu hình giốnghệt nhau
Có dự phòng nóng vớihiệu suất đọc/ghi tốt
0 Phân “vành”
Hai hay nhiều volume trên từng
ổ đĩa riêng được cấu hình thànhmột “vành” (stripe set) Dữ liệuđược chia thành các khối đượcghi tuần tự lên tất cả các ổ đĩatrong stripe set
Tốc độ và hiệu năngnhững không có bảo vệ
dữ liệu
1.6. Nguyên lý hoạt động CLUSTER
Mỗi máy chủ trong cluster được gọi là một nút (cluster node), và có thể được thiết lập
ở chế độ chủ động (active) hay thụ động (passive) Khi một nút ở chế dộ chủ động, nó sẽchủ động xử lý các yêu cầu Khi một nút là thụ động, nó sẽ nằm ở chế độ dự phòng nóng(stanby) chờ để sẵn sàng thay thế cho một nút khác nếu bị hỏng Nguyên lý hoạt động củaCluster có thể biểu diễn như trong hình
Hình 1.5 Nguyên lý hoạt động của một Cluster
Trang 11Trong một cluster có nhiều nút có thể kết hợp cả nút chủ động và nút thụ động Trongnhững mô hình loại này việc quyết định một nút được cấu hình là chủ động hay thụ độngrất quan trọng Để hiểu lý do tại sao, hãy xem xét các tình huống sau:
- Nếu một nút chủ động bị sự cố và có một nút thụ động đang sẵn sàng, các ứng dụng
và dịch vụ đang chạy trên nút hỏng có thể lập tức được chuyển sang nút thụ động Vì máychủ đóng vai trò nút thụ động hiện tại chưa chạy ứng dụng hay dịch vụ gì cả nên nó có thểgánh toàn bộ công việc của máy chủ hỏng mà không ảnh hưởng gì đến các ứng dụng vàdịch vụ cung cấp cho người dùng cuối (Ngầm định rằng các các máy chủ trong cluster cócấu trúc phần cứng giống nhau)
- Nếu tất cả các máy chủ trong cluster là chủ động và có một nút bị sự cố, các ứng
dụng và dịch vụ đang chạy trên máy chủ hỏng sẽ phải chuyển sang một máy chủ kháccũng đóng vai trò nút chủ động Vì là nút chủ động nên bình thường máy chủ này cũngphải đảm nhận một số ứng dụng hay dịch vụ gì đó, khi có sự cố xảy ra thì nó sẽ phải gánhthêm công việc của máy chủ hỏng Do vậy để đảm bảo hệ thống hoạt động bình thường
kể cả khi có sự cố thì máy chủ trong cluster cần phải có cấu hình dư ra đủ để có thể gánhthêm khối lượng công việc của máy chủ khác khi cần
Trong cấu trúc cluster mà mỗi nút chủ động được dự phòng bởi một nút thụ động, cácmáy chủ cần có cấu hình sao cho với khối lượng công việc trung bình chúng sử dụng hếtkhoảng 50% CPU và dung lượng bộ nhớ
Trong cấu trúc cluster mà số nút chủ động nhiều hơn số nút bị động, các máy chủ cần
có cấu hình tài nguyên CPU và bộ nhớ mạnh hơn nữa để có thể xử lý được khối lượngcông việc cần thiết khi một nút nào đó bị hỏng
Các nút trong một cluster thường là một bộ phận của cùng một vùng (domain) và cóthể được cấu hình là máy điều khiển vùng (domain controllers) hay máy chủ thành viên
Lý tưởng nhất là mỗi cluster nhiều nút có ít nhất hai nút làm máy điều khiển vùng và đảmnhiệm việc failover đối với những dịch vụ vùng thiết yếu Nếu không như vậy thì khảnăng sẵn sàng của các tài nguyên trên cluster sẽ bị phụ thuộc vào khả năng sẵn sàng củacác máy điều khiển trong domain
Trang 121.7. Tính mở của CLUSTER
Một vấn đề mà các nhà đầu tư xây dựng hệ thống cần quan tâm là khả năng mở rộngcủa hệ thống Clustering Tuỳ theo yêu cầu cụ thể các cluster có thể cần phải thêm cácmáy chủ vào Cluster, hoặc thêm CPU và RAM cho các máy chủ để tăng khả năng đảmnhận công việc cho các máy chủ đã có
Muốn mở rộng Cluster bằng cách thêm các server, thì cả hai yếu tố là Kỹ thuật
clustering lẫn Hệ điều hành mà server sử dụng đều quan trọng Ví dụ như trình bày trongbảng 2 sau đây, sự khác nhau cơ bản về khả năng mở rộng của Advanced Server vàDatacenter Server là số nút có thể dùng với Cluster Với Windows 2000, số nút máy chủcủa Cluster tối đa là 4, trong khi đó với Windows NET, số nút máy chủ của Cluster tối đa
là 8
Bảng 2 Số nút tối đa tương ứng với các hệ điều hành và kỹ thuật Clustering
Hệ điều hành Kỹ thuật Clustering
Tên gọi Phiên bản Cân bằng tải
mạng
Cân bằng tải thànhphần
Muốn mở rộng Cluster bằng cách thêm vào các CPUs và RAM thì việc đang dùng
hệ điều hành nào là vấn đề rất quan trọng Ví dụ như Hệ điều hành Window 2000Advanced Server hỗ trợ tối đa 8 bộ vi xử lý và 8 GB RAM, trong khi đó Window 2000Datacenter Server hỗ trợ tối đa 32 bộ vi xử lý và 64 GB RAM Như vậy, có thể phải nâng
Trang 13cấp hệ điều hành từ Advanced Server lên Datacenter Server nếu yêu cầu thêm CPU vàRAM vượt quá khả năng của hệ điều hành đang dùng.
Trang 14PHẦN 2 TẦM QUAN TRỌNG CỦA CÔNG NGHỆ CLUSTER
2.1. Giới thiệu tầm quan trọng của CLUSTER
Nếu như bạn là một system admin thì bạn luôn phải quan tâm đến tính phát triển của
hệ thống Lấy một ví dụ cụ thể Công ty bạn có một webserver và mọi người truy cập vàowebsite đó để lấy thông tin về khách hàng Vậy ta đặt ra một trường hợp nếu một ngàynào đó server bị lỗi thì không có nhân viên nào sử dụng được vậy công việc sẽ bị giánđoạn Vậy chúng ta có giải pháp tạo ra 2 máy chủ webserver cùng chức năng nếu mộtmáy chủ nào đó chẳng may bị hỏng hóc tự động máy chủ còn lại sẽ đóng vai trò thay thế
Và công nghệ Clustering (bó) là câu trả lời cho vấn đề này Cluster được dùng để đảmbảo tính sẵn sàng cho các dịch vụ và ứng dụng hệ thống khi bị tấn công, xử lý các lỗiphần cứng và rủi ro do môi trường
2.2. Tầm quan trọng của CLUSTER
Clustering là một kiến trúc nhằm đảm bảo nâng cao khả năng sẵn sàng cho các hệthống mạng máy tính Clustering cho phép sử dụng nhiều máy chủ kết hợp với nhau tạothành một cụm (cluster) có khả năng chịu đựng hay chấp nhận sai sót (fault-tolerant)nhằm nâng cao độ sẵn sàng của hệ thống mạng Cluster là một hệ thống bao gồm nhiềumáy chủ được kết nối với nhau theo dạng song song hay phân tán và được sử dụng nhưmột tài nguyên thống nhất Nếu một máy chủ ngừng h oạt động do bị sự cố hoặc để nângcấp, bảo trì, thì toàn bộ công việc mà máy chủ này đảm nhận sẽ được tự động chuyểnsang cho một máy chủ khác (trong cùng một cluster) mà không làm cho hoạt động của hệthống bị ngắt hay gián đoạn Quá trình này gọi là “fail-over”; và việc phục hồi tài nguyêncủa một máy chủ trong hệ thống (cluster) được gọi là “fail-back”
Trang 15PHẦN 3 TRIỂN KHAI SQL 2005 TRÊN WINDOWN SERVER 2008
3.1. Giới thiệu
Cơ sở dữ liệu – CSDL là một thành phần không thể thiếu trong một mạng doanhnghiệp Ví dụ: CSDL được áp dụng trong bệnh viện để quản lý bệnh nhân, giường bệnh.Trong kinh doanh để quản lý hàng hóa, quản lý thư viện, nhân sự việc đảm bào tính sẵndùng dữ liệu là một trong những ưu tiên hàng đầu
Các phần mền quản trị CSDL hàng đầu như Oracle, DB2, SQL server đề hỗ trợ cơ chếserver clustering để các doanh nghiệp có thể triển khai Trong đề tài này chúng em sẽtrình bày việc triển khai SQL server 2005 trên môi trưởng clustering
Trang 163.2.2 Chuẩn bị
Bạn có thể triển kai bài Lab trên Vmware
- Cài đặt máy DC
- Join 2 máy node1, node2 vào domain 2 máy này sẽ làm cluster
- Các ổ đĩa dùng chung Q,R được tạo ra trước đó
3.2.3 Thực hiện
Hình 3.2: Cài đặt phần mềm StarWind trên máy DC để tạo ổ đĩa dùng chung Quorum, Data
Trang 17Hình 3.3: Khởi động StarWind
Hình 3.4: Tạo host mới
Hình 3.5: Nhập địa chỉ IP cho host (ở đây là máy Node1)
Trang 18Hình 3.6: Tạo thành công host
Hình 3.7: Đăng nhập để sử dụng StarWind
Trang 19Hình 3.8: Kết nối thành công
Hình 3.9: Bắt đầu tạo ổ đĩa dùng chung
Trang 20Hình 3.10: Tạo ổ đĩa Data
Hình 3.11: Tạo ảo đĩa thành công
Trang 21Hình 3.12: Tạo ổ đĩa Quorum
Hình 3.13: Node1 sử dụng iSCSI Initiator để kết nối vào ổ đĩa dùng chung