1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

SKKN môn sử - Ngô Mai

58 158 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 58
Dung lượng 14,51 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Điều tra, khảo sát: Sau khi đi đến quyết định nghiên cứu để tìm hướng đi cho phương án “Hướng đi mới cho việc dạy và học Lịch sử ở bậc Tiểu học”, tôi tiến hành điều tra, khảo sát một số

Trang 1

PHÒNG GIÁO DỤC ĐÀO TẠO HOÀI ĐỨC

TRƯỜNG TIỂU HỌC DI TRẠCH

Tên sáng kiến kinh nghiệm

HƯỚNG ĐI MỚI CHO VIỆC DẠY VÀ HỌC LỊCH SỬ

Ở BẬC TIỂU HỌC

Trang 2

PHÒNG GIÁO DỤC ĐÀO TẠO HOÀI ĐỨC

Đơn vị công tác: Trường Tiểu học Di Trạch

Trình độ chuyên môn: Cao đẳng Sư phạm

Chuyên ngành: Tiểu học

Khen thưởng: LĐTT Huyện

Năm học: 2010 -2011

Trang 3

A PHẦN MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài:

Lớp 4, 5 là các lớp cuối cấp Tiểu học, là các lớp hoàn thành mục tiêu của chương trình Tiểu học Một trong các môn học có tầm quan trọng lớn mà các em cần đạt được đó là môn Lịch sử

Mở đầu bài diễn ca năm 1942, Bác Hồ đã nhắc nhở:

“Dân ta phải biết sử ta Cho tường gốc tích nước nhà Việt Nam”

Lời dạy và tư tưởng của Người giản dị, dễ hiểu nhưng càng nghĩ càng thấm thía và sâu sắc, thực là “Lời nói gói vàng” Điều đó cho đến hiện nay đã mang tính thời sự nóng hổi, bởi qua thực tế giảng dạy trên 20 năm công tác, tôi nhận thấy chất lượng dạy sử và học sử còn rất nhiều điều đáng nói Từ kết quả cười ra nước mắt của các đợt thi Đại học, Cao đẳng, Trung cấp cho đến việc học Lịch sử hàng ngày ở các trường PTTH, THCS, Tiểu học còn nhiều bất cập, chưa thực sự đầu tư cho môn học này Vì vậy, học sinh tiếp thu bài môt cách thụ động, dẫn đến học sinh chán học, không muốn học, ít ghi nhớ được những vấn

đề có liên quan đến lịch sử mà đăc biệt là lịch sử nước nhà

Trước yêu cầu và thực tế đó, vấn đề cấp thiết là tìm ra một hướng đi đúng

là một điều được nhiều người quan tâm Do đó, tôi mạnh dạn đầu tư suy nghĩ, tìm tòi nghiên cứu và quyết định chọn cách giải quyết mới đối với việc dạy Lịch

sử lớp 4, 5 nói riêng, đó là:

“Hướng đi mới cho việc dạy và học Lịch sử ở bậc Tiểu học”

2 Mục đích của SKKN:

“Hướng đi mới cho việc dạy và học Lịch sử ở bậc Tiểu học” nhằm giúp cho

việc giảng dạy của GV và học tập của học sinh trở nên lý thú, gắn bó với thực tiễn, phát huy tính tích cực chủ động, sáng tạo, thay đổi thói quen dạy và học thụ động, ghi nhớ máy móc góp phần tạo ta những con người mới xứng là những

Trang 4

công dân của Việt Nam ta như niềm mong mỏi của vị cha già kính yêu của dân tộc.

3 Nhiệm vụ và phương pháp nghiên cứu:

* Nhiệm vụ:

- Nghiên cứu nội dung, chương trình dạy lịch sử lớp 4, 5

- Nắm vững phương pháp dạy phân môn lịch sử 4, 5

- Nghiên cứu tâm lý HS Tiểu học

- Tìm ra các biện pháp giúp HS thích học và học tốt môn lịch sử

* Các phương pháp:

- Phương pháp nghiên cứu lý luận và thực tiễn

- Phương pháp quan sát

- Phương pháp điều tra

- Phương pháp tổng kết kinh nghiệm

4 Giới hạn nghiên cứu:

Lớp 4B – 5A Trường Tiểu học Di Trạch năm học 2009 – 2010 và 2010-2011

5 Điểm mới trong kết quả nghiên cứu:

Sử dụng công nghệ thông tin, trò chơi, thảo luận nhóm, dạy HS học hiểu

và nhớ lâu theo kiểu sơ đồ (sử dụng đa dạng các phương pháp) nên HS tiếp thu bài rất nhẹ nhàng, hứng thú mà lại đạt hiệu quả cao)

Trang 5

B NỘI DUNG

CHƯƠNG I:

Nghiên cứu thực trạng

và đề xuất biện pháp thực hiện

I Điều tra, khảo sát:

Sau khi đi đến quyết định nghiên cứu để tìm hướng đi cho phương án

“Hướng đi mới cho việc dạy và học Lịch sử ở bậc Tiểu học”, tôi tiến hành điều

tra, khảo sát một số giáo viên và học sinh như sau:

- Về phía giáo viên: Khi được hỏi về dạy môn lịch sử cũng như phương

pháp dạy học môn lịch sử, đa số giáo viên trả lời là: Chủ yếu nêu câu hỏi vấn

đáp để học sinh tìm hiểu và rút ra được nội dung bài học Còn về kiến thức lịch

sử thì họ thực sự chưa quan tâm đào tạo sâu nghiên cứu, chưa tìm được hướng đi triệt để, hiệu quả

- Về phía học sinh: Hầu hết các em khi được hỏi đều trả lời là: Không

thích học lịch sử Với lý do: Khô khan, dài dòng, khó nhớ hết được các mốc thời

gian, địa điểm diễn ra các sự kiện lịch sử, GV giảng dạy còn chưa nhiệt tình,

chưa có sức thuyết phục cao, chưa kích thích HS thích học lịch sử, các em chưa

thấy được tầm quan trọng của việc học lịch sử đối với bản thân… Trường hợp

khi cô giáo hỏi thì tìm ở trong SGK để trả lời, về đến nhà không ôn lại, nếu học

Trang 6

H/S lớp 5A Giỏi Khá Trung bình Yếu

30 em 1 3,3 % 9 30 % 16 53,4 % 4 13,3 %

II Đề xuất biện pháp thực hiện:

Để HS thích học và học tốt môn lịch sử ở Trường Tiểu học thì người giáo viên luôn giữ vai trò quan trọng, đó là phải có kiến thức vững chắc về lịch sử, phải nắm chắc nội dung và phương pháp tổ chức quá trình dạy học khoa học môn lịch sử mà mình phụ trách Đây là một hoạt động nhận thức khoa học, nếu giải quyết được vấn đề này sẽ có tác dụng không nhỏ vào việc nâng cao chất lượng dạy học cho môn lịch sử nói chung và môn lịch sử lớp 4, 5 ở trường Tiểu học nói riêng

A GIÁO VIÊN CẦN CHÚ Ý THỰC HIỆN MỘT SỐ BIỆN PHÁP SAU:

Biện pháp 1: Yêu thích môn dạy học lịch sử

Biện pháp 2: Nắm vững mục tiêu, nội dung và phương pháp dạy lịch sử.

Biện pháp 3: Đổi mới phương pháp và tổ chức hình thức dạy học đa dạng,

phong phú

Biện pháp 4: Soạn bài khoa học, dễ hiểu, dễ dạy, dễ học.

Biện pháp 5: Ghi bảng cô đọng, xúc tích, dễ nhớ.

Biện pháp 6: Khuyến khích dạy CNTT

Biện pháp 7: Hình thức kiểm tra sáng tạo, nhẹ nhàng.

Biện pháp 8: Hướng dẫn HS cách học hiểu và nhớ lâu theo kiểu vẽ sơ đồ

Học sinh luôn là đối tượng đồng hành, không thể thiếu trong công tác dạy

và học Nếu chỉ yêu cầu đối với GV mà quên mất HS thì thật là phiến diện, không công bằng Vậy đối với HS cần phải làm gì?

B HỌC SINH CẦN LƯU Ý:

Việc thứ 1: Hiểu được tầm quan trọng của việc học lịch sử

yêu thích môn học lịch sử.

Việc thứ 2: Nắm được nội dung và phương pháp học lịch sử.

Việc thứ 3: Chuẩn bị bài chu đáo trước khi đến lớp

Việc thứ 4: Có ý thức lắng nghe và hứng thú học môn học Lịch sử.

Trang 7

Việc thứ 5: Có kế hoạch ôn tập lại các kiến thức đã được học theo hướng dẫn

của GV.

Trang 8

CHƯƠNG II:

I Các biện pháp cụ thể:

* Biện pháp 1: Yêu thích môn dạy học Lịch sử

Để trở thành một GV dạy giỏi môn Lịch sử, điều trước tiên, tối thiểu là

GV đó phải hiểu được tầm quan trọng của việc học Sử, hiểu Sử, nhớ Sử, và rút

ra được bài học Lịch sử, biết liên hệ thực tế để có cái nhìn đúng đắn về các mối liên hệ xã hội, thời cuộc sau này Đặc biệt là cần có lòng say mê công việc (với

ý thức tự nguyện, tự giác) mà cụ thể ở đây là từ tình yêu lịch sử nước nhà, từ đó

đi sâu tìm hiểu, ghi nhớ có tính hệ thống, luôn trau rồi vốn hiểu biết ở mọi nơi, mọi lúc, mọi chỗ… Để truyền thụ được những điều mà mình học được, nắm được cho HS của mình, góp phần tạo ra những con người hiểu dân tộc, lao động

và học tập đúng với phong cách dân tộc mình như câu thơ:

“Chẳng thơm cũng thể hoa nhài Dẫu không thanh lịch cũng người Tràng An”

* Biện pháp 2: Nắm vững mục tiêu, nội dung, phương pháp dạy lịch sử.

Đây là một vấn đề then chốt, bởi nếu không nắm được mục tiêu, nội dung, phương pháp dạy lịch sử thì không thể dạy được lịch sử, không thể truyền thụ kiến thức lịch sử cho HS của mình

A MỤC TIÊU CỦA VIỆC DẠY LỊCH SỬ LỚP 4, 5:

Cung cấp cho HS một số kiến thức cơ bản, thiết thực như :

+ Lớp 4:

- Các sự kiện, hiện tượng, nhân vật lịch sử tiêu biểu tương đối có hệ thống theo dòng thời gian của lịch sử Việt Nam từ buổi đầu dựng nước tới nửa đầu thế kỷ XIX

+ Lớp 5:

Trang 9

- Các sự kiện, hiện tượng, nhân vật lịch sử tiêu biểu tương đối có hệ thống theo dòng thời gian của lịch sử Việt Nam từ giữa thế kỷ XIX tới nay.

Bước đầu hình thành và rèn luyện cho HS các kỹ năng:

- Quan sát sự vật hiện tượng, thu thập, tìm kiếm tư liệu lịch sử từ các nguồn thông tin khác nhau

- Nêu thắc mắc, đặt câu hỏi trong quá trình học tập và chọn thông tin để giải đáp

- Nhận biết đúng các sự vật, hiện tượng lịch sử

- Trình bày kết quả nhận thức của mình bằng lời nói, bài viết, hình vẽ, sơ đồ…

- Vận dụng các kiến thức đã học vào thực tiễn cuộc sống

Góp phần bồi dưỡng và phát triển ở HS những thái độ và thói quen:

- Ham học hỏi, tìm hiểu để biết về lịch sử dân tộc

- Yêu thiên nhiên, con người, quê hương, đất nước

- Tôn trọng, bảo vệ cảnh quan thiên nhiên và các di tích lịch sử văn hoá

3 Buổi đầu độc lập (từ năm 938 đến 1009)

- Ổn định đất nước, chống ngoại xâm (Đinh Bộ Lĩnh dẹp loạn 12 sứ quân thống nhất đất nước, Lê Hoàn lên ngôi Vua lãnh đạo nhân dân ta tiến hành cuộc KC chống quân Tống lần thứ nhất)

4 Nước Đại Việt thời Lý: (1009 – 1226)

Trang 10

- Tên nước, kinh đô, vua Lý Thái Tổ

- Cuộc KC chống quân Tống lần thứ hai; phòng tuyến sông Như Nguyệt

- Đời sống nhân dân: giáo dục, tôn giáo

5 Nước Đại Việt thời Trần (1226 – 1400)

- Tên nước, kinh đô, vua Lý Thái Tổ

- Ba lần chiến thắng quân Nguyên – Mông xâm lược

- Công cuộc xây dựng đất nước ở thời Trần: việc đắp đê

6 Nước Đại Việt buổi đầu thời hậu Lê (thế kỷ XV)

- Chiến thắng Chi Lăng

- Lê Lợi, Nguyễn Trãi, Lê Thánh Tông

- Công cuộc xây dựng đất nước: Bộ luật Hồng Đức, nông nghiệp phát triển, các công trình sử học, văn học, giáo dục, thi cử (bia tiến sỹ)…

7 Nước Đại Việt thế lỷ XVI – XVII:

- Thời Trịnh - Nguyễn phân tranh (thế kỷ XVI – XVII)

+ Chiến tranh Trịnh Nguyễn

+ Tình hình Đàng Ngoài: Thăng Long, Phố Hiến

+ Tình hình Đàng Trong: Hội An, công cuộc khẩn hoang

- Thời Tây Sơn:

+ Chống giặc ngoại xâm: Trận Đống Đa

+ Xây dựng đất nước: dùng chữ Nôm, chiếu Khuyến nông

+ Nguyễn Huệ: anh hùng dân tộc

8 Buổi đầu thời Nguyễn (1802 – 1858)

- Cuộc KC chống thực dân Pháp xâm lược: Trương Định

- Đề nghị canh tân đất nước: Nguyễn Trường Tộ

Trang 11

- Cuộc phản công ở kinh thành Huế.

- Phong trào Cần Vương: Phan Đình Phùng, Nguyễn Thiện Thuật…

- Sự chuyển biến trong kinh tế - xã hội Việt Nam và cuộc đấu tranh chống thực dân Pháp vào đầu thế kỷ XX

- Nguyễn Ái Quốc

- Thành lập Đảng Cộng Sản Việt Nam

- Phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc từ 1930 – 1945:

( Xô Viết - Nghệ Tĩnh, Cách mạng tháng 8 năm 1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc tuyên ngôn độc lập ngày 2/9/1945.)

2 Bảo vệ chính quyền non trẻ, trường kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp (1945 – 1954) gồm 7 bài:

- Việt Nam những năm sau Cách mạng tháng Tám

- Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến

- Những ngày đầu toàn quốc kháng chiến

- Chiến thắng Việt Bắc thu – đông năm 1947

- Chiến thắng Biên giới thu – đông năm 1950

- Chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ

3 Xây dựng CNXH ở miền Bắc và đấu tranh thống nhất đất nước (1954 – 1975) gồm 8 bài.

- Sự chia cắt đất nước

- Bến Tre đồng khởi

- Miền Bắc xây dựng nhà máy cơ khí Hà Nội

- Hậu phương và tiền tuyến: đường Trường Sơn

- Cuộc tổng tấn công và nổi dậy của quân và dân Miền Nam Tết Mậu Thân 1968

Trang 12

C PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC MÔN LỊCH SỬ LỚP 4, 5

Lịch sử lớp 4, 5 có 2 dạng bài:

+Loại bài cung cấp kiến thức mới

+Loại bài ôn tập tổng kết

Nhưng mỗi dạng bài cần có cách dạy đặc trưng riêng mới có kết quả cao Khi dạy Lịch sử ở Tiểu học GV phải ghi nhớ các dạng bài và cách dạy các dạng bài đó

* Phương pháp dạy học lịch sử các dạng bài theo hướng tích cực

a Bài học có nội dung về tình hình kinh tế - chính trị, văn hoá – xã hội…

(Trong chương trình lớp 5 là các bài: bài 4; bài 12; bài 13; bài 16; bài 19; bài 21; bài 27; bài 28)

Dạng bài này có nhiều ở phần lịch sử lớp 5, nhằm cung cấp cho HS những

hiểu biết về tình hình kinh tế, chính trị, xã hội ở nước ta cho sau mỗi thời kỳ

(giai đoạn nhất định)

⇒Để dạy tốt dạng bài này GV cần:

- Phải mô tả được: Tình hình nước ta (cuối thời kỳ hay sau thời kỳ nào đó)

như thế nào? (tình cảnh đất nước, chính quyền, cuộc sống của nhân dân như thế

nào?)

- Trong tình cảnh đó chính quyền (hay nhân dân, nhân vật lịch sử) đã làm

gì, làm như thế nào?

- Kết quả của việc làm đó.

Vì vậy, GV triệt để sử dụng phương tiện trực quan: Tranh ảnh, kênh hình kết

hợp với mô tả sinh động nhằm tái tạo hình ảnh sinh động về sự kiện, hiện tượng,

rèn luyện kỹ năng mô tả, nhận xét, đánh giá, so sánh, cảm nhận và liên hệ để HS

thấy rõ giá trị văn hoá, nghệ thuật trong đời sống tinh thần.

Ví dụ: Khi dạy bài “Vượt qua tình thế hiểm nghèo” GV phải giúp HS nắm

được:

- Tình hình nước ta sau Cách mạng Tháng Tám như thế nào?

(Khó khăn chồng chất: Các đế quốc, các thế lực phản động chống phá cách mạng, lũ lụt, hạn hán, nông nghiệp đình đốn dẫn đến nạn đói, nạn dốt…)

Trang 13

- Chủ tịch Hồ Chí Minh đã làm gì để giải quyết nạn đói, nạn dốt và giặc ngoại

xâm? (Lập “Hũ gạo cứu đói”, tổ chức “Ngày đồng tâm”, kêu gọi tăng gia sản

xuất với khẩu hiệu: “Không một tấc đất bỏ hoang!”, “Tấc đất tấc vàng”, phát động “Tuần lễ vàng”, phát động phong trào xoá nạn mù chữ; ngoại giao mềm dẻo, khôn khéo… )

- Kết quả của những biện pháp đó là gì?

(Từng bước đẩy lùi giặc đói, giặc dốt và giặc ngoại xâm

* Với chương trình lớp 4, khi dạy dạng bài này GV cần lưu ý một số điểm sau:

- Phải cho HS biết được hoàn cảnh ra đời, địa phận, thời gian ra đời và tồn tại của Nhà nước, tên vua, nơi kinh đô đóng, tên nước…

- Hướng dẫn HS vẽ được sơ đồ tổ chức bộ máy Nhà nước một cách đơn giản

(Đứng đầu nhà nước là ai? Gồm những tầng lớp nào? Bên dưới chính quyền trung ương là những đơn vị hành chính nào? Gồm mấy cấp, đứng đầu mỗi cấp là tầng lớp nào?)

- Mô tả được những nét chính về đời sống kinh tế, vật chất và tinh thần của con người trong xã hội; cách tổ chức quân đội, luật pháp.

Với dạng này GV cần sắp xếp kiến thức thành từng ý, gợi mở vấn đề rồi tổ

chức dẫn dắt cho HS thông qua đàm thoại Trong đó, việc miêu tả, giải thích,

phân tích của GV là đặc biệt quan trọng vì nó liên quan đến nhiều thuật ngữ, khái niệm khó đối với HS

Để dạy tốt dạng bài này GV cần thực hiện trình tự bài giảng theo các ý cơ bản sau:

+ Phải mô tả được tình hình nước ta cuối thời kỳ nào đó như thế nào: Tình hình

đất nước? Quan lại, chính quyền? Cuộc sống nhân dân?

+ Trong tình cảm đó, chính quyền 9hay nhân dân hoặc nhân vật lịch sử) đã làm gì? Làm ntn?

+ Kết quả của những việc làm đó là gì?

⇒Giảng dạy những bài này, GV nên khai thác triệt để tranh ảnh trong SGK cũng như các tư liệu tham khảo để làm bài giảng thêm phong phú, sinh động

Trang 14

b Dạng bài có nội dung về nhân vật lịch sử:

Ở dạng bài này, trong chương trình Tiểu học lớp 4 và 5 không giới thiệu Tiểu sử của các nhân vật, mà thông qua những sự kiện cơ bản trong sự nghiệp của các nhân vật, mà thông qua những sự kiện cơ bản trong sự nghiệp của các nhân vật để làm sáng tỏ lịch sử dân tộc Như vật, nhân vật lịch sử bao giờ cũng gắn liền với sự kiện lịch sử Giáo viên phải biết khai thác tốt các sự kiện để làm nổi bật những hoạt động và công lao to lớn của nhân vật

Khi dạy những bài này giáo viên cần lưu ý một số điểm cơ bản sau:

- Mỗi một bài đều có hình ảnh (Tranh vẽ hoặc chân dung) nhân vật lịch sử để giúp HS biết những diện mạo cũng như hình thức bên ngoài của nhân vật Giáo viên cần sử dụng và khai thác tốt những bức ảnh này để phục vụ nội dung bài học

- Khi trình bày về nhân vật, phải cho HS biết nhân vật lịch sử đó là người như thế nào? (sinh ra khi nào? Ở đâu? Làm gì? Có đặc điểm, tính cách gì nổi bật… )

- Phải mô tả và tường thuật (hay kể lại) những hoạt động của họ để làm cơ sở cho viêc đánh giá khách quan, công lao của các nhân vật đó đối với lịch sử

- Trên cơ sở khai thác những nội dung đó, GV tiến hành giáo dục tư tưởng, tình cảm, thái độ cho học sinh về lòng biết ơn, sự khâm phục, kính trọng đối với nhân vật lịch sử

Thông thường đối với dạng bài này giáo viên nên sử dụng các phương pháp như kể chuyện, sắm vai miêu tả, tường thuật kết hợp với đàm thoại để khắc sâu hình ảnh nhân vật trong tâm trí của HS…

GV có thể vừa là người dẫn chuyện, trực tiếp kể chuyện có thể là người dẫn dắt, gợi ý giúp HS nắm vững cốt truyện Ngoài ra có thể cho học sinh sắm vai

Ví dụ: Khi dạy bài “Quyết chí ra đi tìm đường cứu nước” ở lớp 5 GV có

thể dùng nhiều phương pháp như:

- Phương pháp kể chuyện: Tìm hiểu về quê hương và thời niên thiếu của

Nguyễn Tất Thành: “Nguyễn Tất Thành sinh ngày 19/5/1890 tại xã Kim Liên,

huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An Bố tên là Nguyễn Sinh Sắc, mẹ là Hoàng Thị

Trang 15

Loan Thửa nhỏ Nguyễn Tất Thành còn có tên gọi là Nguyễn Sinh Cung Lớn lên trong bối cảnh mất nước, phải sống trong cảnh tủi nhục Nguyễn Tất Thành sớm thấu hiểu tình cảm đất nước và nỗi thống khổ của nhân dân…”

- Phương pháp sắm vai: Ở cuộc gặp gỡ giữa Nguyễn Tất Thành và anh Lê: Anh Lê: - (Ngạc nhiên) Tất nhiên là có chứ.

Anh Thành: - Anh có thể giữ bí mật được không?

Anh Lê: - Có!

Anh Thành: - Tôi muốn ra nước ngoài xem nước Pháp và các nước khác Sau

khi xem xét họ làm thế nào, tôi sẽ trở về giúp đồng bào chúng ta Nhưng nều đi một mình, thật ra cũng có điều mạo hiểm, nhất là những lúc ốm đau Anh muốn

đi với tôi không?

Anh Lê: - Nhưng bạn ơi, chúng ta lấy đâu ra tiền mà đi?

Anh Thành: - Đây, tiền đây – Anh Thành vừa giơ hai bàn tay ra vừa nói –

Chúng ta sẽ làm việc Chúng ta sẽ làm bất cứ những việc gì để sống và để đi Thế thì anh cùng đi với tôi chứ? …”

c Dạy học các bài có nội dung đề cập tới các cuộc khởi nghĩa, kháng chiến, chiến thắng, chiến dịch, phản công, tiến công…

Loại bài này chiếm tỷ lệ khá nhiều trong chương trình lịch sử 4, 5 Đây là

loại bài có nội dung hấp dẫn, lôi cuốn sự chú ý của HS Do đó GV phải tái hiện

sự kiện sinh động cụ thể Với dạng bài này GV cần chú ý những vấn đề cơ bản sau:

+ Nguyên nhân (hoặc hoàn cảnh) dẫn đến cuộc khởi nghĩa/ cuộc kháng chiến/ chiến dịch.

+ Diễn biến cuộc khởi nghĩa/cuộc kháng chiến/chiến dịch.

+ Kết quả sự kiện đó và rút ra ý nghĩa lịch sử, bài học kinh nghiệm.

Với dạng bài này thì miêu tả, tường thuật kết hợp với trực quan là những

phương pháp chủ đạo GV có thể tổ chức cho HS tự tìm hiểu về tư liệu lịch sử

rồi mô tả, tường thuật lại diễn biến của sự kiện, GV có vai trò hỗ trợ, bổ sung giúp HS tái hiện lại lịch sử, xây dựng lại biểu tượng lịch sử một các hoàn chỉnh hơn

Trang 16

Ví dụ: Khi dạy bài “Chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ” GV cần kết

hợp trực quan với tường thuật để tái hiện 3 đợt tấn công của quân ta vào Điện Biên Phủ (sử dụng lược đồ chiến dịch Điện Biên Phủ - GV vừa tường thuật, vừa chỉ trên lược đồ) chẳng hạn:

“Ngày 13/3/1954, quân ta nổ súng mở màn chiến dịch Điện Biên Phủ Trong suốt 56 ngày đêm chiến đấu dũng cảm, quân ta lần lượt tiêu diệt các vị trí phòng ngự quan trọng của địch ở phía Bắc như: Đồi Him Lam, Đồi Độc Lập, Bản Kéo Trong đợt tấn công này xuất hiện nhiều tấm gương anh dũng, trong

đó hình ảnh anh Phan Đình Giót ở trận đánh đồi Him Lam đã lấy thân mình lấp

lỗ châu mai cho đồng đội xông lên tiêu diệt địch là một dáng đứng rất Việt Nam …”

d Dạy các bài có nội dung về thành tựu văn hoá, khoa học kỹ thuật.

Loại bài này có ở chương trình lớp 4 là bài: 10,18,19,28

Khi dạy các bài này GV cần lưu ý mấy điểm sau:

+ Phải mô tả được những đặc điểm nổi bật của công trình kiến trúc: quá trình xây dựng, quy mô, kiến trúc, kiểu dáng, nét điêu khắc, chạm trổ.

+ Hoặc mô tả cách tổ chức giáo dục – thi cử/ nội dung giáo dục của một thời kỳ…

+ Nêu được các thành tựu cơ bản về văn học, khoa học trong thời kỳ nào.

Như vậy phương pháp trực quan đặc biệt có ý nghĩa đối với loại bài học này.

đ Dạng bài ôn tập, tổng kết

Đây là loại bài học nhằm hệ thống hoá và củng cố lại những kiến thức đã học cho học sinh sau mỗi một thời kỳ (giai đoạn lịch sử), giúp các em nắm vững kiến thức cơ bản, nhận thức lịch sử một cách sâu sắc, toàn diện hơn

Đối với loại bài này GV cần chuẩn bị chu đáo cho HS, lựa chọn phương pháp phù hợp để mang lại hiệu quả tiết dạy cao Đặc biệt GV dựa vào câu hỏi SGK, thiết kế hệ thống câu hỏi cho HS chuẩn bị trước Trong tiến trình dạy học,

GV phải thu hút HS vào công việc, phát huy cao nhất tính tích cực của HS trong việc trao đổi những câu hỏi mà GV đặt ra, thực hiện các công việc như vẽ sơ đồ,

Trang 17

lập bảng niên biểu, thống kê, tìm các dẫn chứng… Đây là yêu cầu quan trọng để phát triển tư duy, rèn luyện kỹ năng rèn luyện bộ môn.

Thông thường đối với dạng bài ôn tập, tổng kết, GV vận dụng tổng hợp nhiều phương pháp (phân tích, tổng hợp, khái quát hoá) kết hợp với vấn đáp - tìm tòi, tổ chức làm viêc theo nhóm Tuỳ từng phần nội dung cụ thể mà GV lựa chọn phương pháp cho phù hợp Trong đó, hoạt động nhóm, báo cáo kết quả là những phương pháp chiếm nhiều thời gian nhất, ngoài ra có thể sử dụng trò chơi lịch sử

Ví dụ: Khi dạy bài “Ôn tập: Chín năm kháng chiến, bảo vệ độc lập dân

tộc” (1945 – 1954) Sau khi vào bài GV có thể nêu hệ thống câu hỏi (dựa vào

SGK) để HS suy nghĩ và tập trung giải quyết các vấn đề:

- Tình hình đất nước sau Cách mạng tháng Tám thành công

- Chín năm kháng chiến chống Pháp bắt đầu năm nào? Kết thúc năm nào?

- Lời kêu gọi toàn dân kháng chiến của Hồ Chủ Tịch thể hiện điều gì?

- Hệ thống một số sự kiện tiêu biểu nhất trong chín năm chống thực dân Pháp xâm lược

3 Lịch sử đã đi qua nhưng không hoàn toàn biến mất mà còn để lại dấu vết

của nó qua văn học dân gian, phong tục tập quán, lễ hội, những thành tựu văn hoá vật chất (thành quách, nhà cửa, lâu đài ) qua ghi chép của người xưa, tên đất, tên làng, tranh ảnh, báo chí

Vì vậy cần thường xuyên gắn nội dung dạy học lịch sử với tên đường phố, tên quê hương, tên trường, tên Liên đội thiếu niên tiền phong, tên các danh nhân

lịch sử Ngày nay, ngoài hình thức dạy học truyền thống, người ta hết sức quan tâm đến các hình thức tổ chức dạy học tại thực địa, bảo tàng, khu di tích, hoặc nếu điều kiện cho phép có thể mời các nhân vật lịch sử, các nhân chứng

lịch sử đến gặp gỡ nói chuyện, đối thoại với HS.

+ Trong chương trình Lịch sử ở Tiểu học có nội dung giành cho giáo dục

địa phương Điều này có ý nghĩa rất quan trọng đối với việc học tập của HS, nó

góp phần bồi dưỡng tình yêu quê hương, lòng tự hào về quê hương cho HS ngay

Trang 18

từ lứa tuổi Tiểu học Thông thường có thể giới thiệu nội dung lịch sử địa

phương lồng ghép với nội dung bài học.

Chẳng hạn, khi dạy bài “Nước Văn Lang” với đối tượng HS Phú Thọ,

bài “Kinh thành Huế” với HS Thừa Thiên Huế… GV có thể yêu cầu HS sưu tầm

tư liệu ở địa phương có liên quan tới nội dung bài học Nếu điều kiện cho phép, nhà trường có thể tổ chức giờ học ngay tại trường, bảo tàng hay di tích lịch sử ở địa phương Hoặc GV có thể soạn một nội dung nhất định về lịch sử ở địa phương với dung lượng phù hợp để giới thiệu trong giờ học lịch sử

Tóm lại: Trong dạy học lịch sử, HS chỉ học tập có kết quả cao khi

chính các em tiếp cận với các nguồn sử liệu và tự rút ra bài học dưới sự tổ chức,

Dạy học theo quan niệm truyền thống

Tri thức => GV => HS(Chủ yếu là SGK)(GV là người truyền thụ kiến thức, HS tiếp thu kiến thức)

Trang 19

Dạy học theo quan niệm hiện đại

* GV

Tri thức HS

Nhiều nguồn khác nhau

* Bạn

* Môi trường học tập

(đặc biệt chú ý công nghệ thông tin)

1 Cũng như các môn học khác, phương pháp dạy học lịch sử cũng đổi mới theo

định hướng đó.Tuy vậy, cần xem xét những yếu tố đặc trưng của bộ môn Mà đặc trưng nổi bật của nhận thức lịch sử là con người không thể tri giác trực tiếp những gì thuộc về quá khứ, là tồn tại khách quan không thể phán đoán, suy

luận… để biết lịch sử Vì vậy, nhiệm vụ đầu tiên, tất yếu của việc dạy lịch sử

là tái tạo lịch sử, tức là cho học sinh tiếp nhận những thông tin từ sử liệu, tiếp

xúc với những chứng cứ vật chất, những dấu vết của quá khứ, tạo ra ở học sinh những hình ảnh cụ thể, sinh động, chính xác về các sự kiện, hiện tượng lịch sử Những biểu tượng về con người và hành động của họ trong bối cảnh thời gian, không gian xác định, trong những điều kiện lịch sử cụ thể

+ Vậy tái tạo lịch sử bằng những phương thức nào?

Trước hết phải kể đến lời nói sinh động, giàu hình ảnh của giáo viên Đó là

tường thuật, miêu tả, kể chuyện, nêu đặc điểm của nhân vật lịch sử…

Chẳng hạn phương pháp miêu tả thường được sử dụng khi dạy các bài có nội dung về địa danh lịch sử (Bài thành Cổ Loa, Ải Chi Lăng, Kinh thành Huế…)

Ví dụ: Khi dạy bài: “ Chiến thắng Chi Lăng” lược đồ cho chúng ta thấy: Ải

Chi Lăng là vùng núi đá hiểm trở nhất trên đường từ Pha Luỹ sang Đông Quan, cách Pha Luỹ khoảng 60km, các Đông Quan trên 100km Ải Chi Lăng ngày nay

Trang 20

thuộc xã Chi Lăng (huyện Chi Lăng - Tỉnh Lạng Sơn) Ải Chi Lăng là một thung lũng nhỏ, hình bầu dục, hai đầu Nam Bắc thu hẹp, gần như khép kín Chiều dài ải Chi Lăng khoảng 4km, chỗ rộng nhất hơn 1km Phía Tây là dãy núi

đã lởm chởm, vách núi dựng đúng Phía Đông là núi đá Quỷ Môn Quan, núi đá Phượng Hoàng liền với dãy núi đất huộc hệ núi Chi Lăng Dãy núi Chi Lăng dốc đứng và dãy núi đất trùng điệp là những bức thành cao chắn 2 ngả Đông Tây cùng với các ngọn núi đã bên trong khiến cho ải thêm hiểm trở

+ GV phải sử dụng tư liệu kết hợp với đồ dùng trực quan (tranh ảnh, bản đồ) để miêu tả, tường thuật, kể chuyện Các phương tiện trực quan sẽ tạo ra các

hình ảnh lịch sử cụ thể, sinh động, chính xác hơn, giúp HS thuận lợi hơn trong việc tạo biểu tượng lịch sử

+ Một vấn đề quan trọng trong việc sử dụng đồ dùng trực quan trong dạy

học lịch sử là khai thác hệ thống kênh hình trong SGK GV phải hiểu nội dung

kênh hình, nắm chắc mục tiêu và nội dung bài học, từ đó GV có thể hướng dẫn

HS khai thác kênh hình theo các bước:

- Giới thiệu nội dung kênh hình (tranh ảnh, bản đồ, lược đồ…)

- Giải thích các ký hiệu, quy ước (đối với bản đồ, lược đồ) hoặc giới thiệu nhân vật, sự kiện, hiện tượng trong tranh ảnh

- GV tổ chức cho HS khai thác kênh hình bằng việc yêu cầu HS quan sát kênh hình theo hệ thống câu hỏi gời ý

- GV yêu cầu HS phát biểu nhận xét của mình, tiếp đó, mời các HS khác nhận xét, bổ sung

- GV phân tích nội dung kênh hình

2 Học tập lịch sử không chỉ để hình dung được hình ảnh của quá khứ mà điều

cốt yếu là phải hiểu lịch sử, tức là nắm được bản chất của sự kiện, hiện tượng

lịch sử Trên cơ sở đó hính thành khái niệm, phát hiện mối quan hệ, rút ra các bài học lịch sử

+ Bởi vậy GV cần tổ chức các hoạt động học tập, tạo điều kiện cho HS độc lập

suy nghĩ, tìm tòi, phát hiện kiến thức chứ không nên áp đặt những kết luận có

sẵn Phương pháp tìm tòi – vấn đáp giúp HS có thể lĩnh hội kiến thức một cách

Trang 21

chắc chắn Vì vậy, GV cần đầu tư xây dựng các câu hỏi ngắn gọn, dễ hiểu,

tượng minh, tránh những câu hỏi rườm rà, không có tác dụng phát triển tư duy Trong một bải học hoặc một phần không nên đặt quá nhiều câu hỏi.

+ Ngoài ra GV có thể sử dụng phương pháp thảo luận nhóm, trò chơi đóng vai.

Khi thảo luận nhóm, GV cần chú ý đến thời gian tiết học, không gian lớp

học và số lượng HS để tổ chức thảo luận nhóm một cách hợp lý Không nên lạm dụng phương pháp này trong suốt tiết học, cũng như tránh tính hình thức

trong thảo luận nhóm Thảo luận nhóm thường tổ chức trong lớp học, song cũng

có thể diễn ra ngoài phạm vi lớp học (thực hiện ít hơn và chủ yếu đối với HS

lớp lớn) Tuy nhiên làm thế nào để tổ chức nhóm khoa học và đánh giá việc học nhóm một cách công bằng đến từng HS quả là một vấn đề

Ngay từ khâu tổ chức nhóm (chia nhóm), GV có thể áp dụng cách chia sao

cho phù hợp:

+ Cách chia nhóm đơn giản nhất là căn cứ vào danh sách lớp học, GV chia

nhóm từ trên đầu danh sách xuống dưới theo số lượng HS mỗi nhóm đã ấn định Tồn tại của cách chia này: 2 số nhóm sẽ gặp khó khăn trong việc hoàn thành đúng hạn những yêu cầu của GV và việc đánh giá cho điểm sẽ không công bằng

+ Cách chia nhóm thứ hai là cho HS bốc thăm một cách ngẫu nhiên.

Cách chia này có tính khoa học hơn, công bằng hơn cách chia thứ nhất, song mất nhiều công sức của GV và học sinh hơn

+ Cách chia nhóm thứ 3: Chia theo lực học, khả năng tư duy, tính suy nghĩ độc

lập Mỗi loại có các câu hỏi tuỳ theo sức của mình, từ đó sẽ có kết quả phù hợp nhất Tuy nhiên cách này mất rất nhiều thời gian và công sức của cả GV và HS

Trò chơi đóng vai có ý nghĩa quan trọng trong việc khắc hoạ kiến thức một

cách nhẹ nhàng, tự nhiên, phát huy tính chủ động, tích cực của HS, đồng thời tạo ra một giớ học hấp dẫn, sinh động Tuy nhiên không phải bài nào, nội dung nào cũng tổ chức trò chơi đóng vai.

Ví dụ: TIỂU PHẨM: MỘT BUỔI CHẦU ĐÁNG NHỚ

Trang 22

(Các nhân vật: Vua Quang Trung, đô đốc Lộc, đô đốc Tuyết, đô đốc Bảo,

đô đốc Long)

Các đô đốc đang bàn tán thì vua Quang Trung bước vào.

Các đô đốc: Hoàng thượng vạn tuế! Vạn vạn tuế!

Vua Quang Trung: Các khanh hãy bình thân! Các khanh có biết, hôm nay ta

triệu các khanh đến đây có việc gì không?

Đô đốc Lộc: Muôn tâu bệ hạ! Chúng thần trộm nghĩ, bệ hạ mở triều sớm thế

này là để cùng nhau ôn lại trận ta đánh bại quân Thanh và ban hành các chính sách mới để muôn dân được hưởng cuộc sống thái bình, thịnh vượng ạ

Vua Quang Trung (cười): Ta khá khen cho khanh rất hiểu ý ta! thế các khanh

có biết tại sao ta lại kéo quân ra bắc đánh quân Thanh vào đúng dịp Tết không?

Đô đốc Tuyết: (trả lời)

Vua Quang Trung: (vuốt râu, nhận xét câu trả lời của đô đốc Tuyết và kể lại

chi tiết đặc sắc nhất trong trận Ngọc Hồi).

Ta muốn nghe đô đốc Long thuật lại chiến thắng trận Đống Đa

Đô đốc Long: ( thuật lại trận Đống Đa)

Vua Quang Trung: Giỏi! Giỏi lắm! Thế các khanh có biết tại sao quân ta lại

chiến thắng ròn rã như vậy không?

Đô đốc Lộc: (trả lời)

Đô đốc Bảo: (nói về việc nhân dân tưởng nhớ ngày nhà vua đại thắng quân

Thanh)

Vua Quang Trung: Ta rất cảm ơn muôn dân đã dành cho ta những tình cảm tốt

đẹp Từ xưa đến nay dân ta vẫn luôn có truyền thống “Uống nước nhớ nguồn”,

“Ăn quả nhớ người trồng cây”

Các khanh hãy nghe ta truyền chỉ:

Ngày nay đất nước Thái Bình Muôn nhà no ấm, dân tình yên vui Các khanh cũng chớ vội cười

Mà quên nhiệm vụ của người làm quan.

Vì dân, vì nước chớ tham

Trang 23

Chỉ làm điều tốt, tiếng thơm ngàn đời.

Các đô đốc: Chúng thần tuân chỉ!

Vua Quang Trung: Bãi triều!

B Ở cấp Tiểu học, do đặc điểm tâm sinh ý của các em nên việc học tập thường

được gắn với vui chơi “học mà chơi” tức là nên tổ chức nhiều hình thức dạy học

để tránh tình trạng ức chế, học kém hiệu quả, nhằm gây cảm giác dễ chiụ với

HS Ngoài những hình thức cơ bản trong dạy học như: hỏi - đáp, kể chuyện, phân tích giảng giải, đồ dùng trực quan,….thì trò chơi là một trong những hình thức mà đa số HS ưa chuộng, trò chơi có nhiều hình thức:

+ Trò chơi ô chữ

+ Trò chơi đóng vai

+Trò chơi điền chữ còn thiếu vào chỗ trống.

+Trò chơi làm hướng dẫn viên du lịch.

+Buộc dây cho bóng

+Nối nhanh tay

+Ai nhanh ai đúng

+Đố vui

+Đoán tên nhân vật

+Thử tài đoán nhanh…

Mỗi trò chơi có cái hay, cái hấp dẫn riêng, nhưng mỗi trò chơi GV cần giúp cho HS thấy được tác dụng của nó, và tuỳ từng bài mà GV có định hướng phù hợp, song tránh tính thức, không nên rườm rà hoặc quá sơ sài gây kết quả ngược lại với mong muốn

+Với bài “ Quang Trung đại phá quân Thanh” cuối bài GVcó thể cho HS

đóng tiểu phẩm: “ Một buổi chầu đáng nhớ” như đã nêu ở trên.

+ Hay có thể tổ chức cho HS chơi trò “Đố vui” để củng cố kiến thức đã học về các địa danh, nhân vật lịch sử,…

1 Vua nào xuống chiếu dời đô

Về Thăng long vững cơ đồ nước Nam?

Trang 24

(Lý Thái Tổ)

2 Sông nào sóng nổi bạc đầu

Ba phen cọc gỗ đâm tàu giặc tan?

(Sông Bạch Đằng)

3 Ải nào núi đá giăng giăng Năm xưa tướng giặc Liễu Thăng rụng đầu?

(Ải Chi Lăng)

4 Gò nào thây chất đầy cao Quang Trung thừa thắng tiến vào Thăng Long?

(Gò Đống Đa)

5 Vua nào từ thuở ấu thơ

Cờ lau tập trận dựng cờ khởi binh?

1 Để đẩy lùi giặc đói Bác Hồ tổ chức ngày… ?

2 Để đẩy lùi giặc dốt Bác Hồ tổ chức lớp học …… ?

3 Nhân dân Phú Thọ đã làm gì để chống quân Pháp nhảy dù?

4 Thu - Đông 1947, Việc bắc trở thành: “ Giặc Pháp”?

5 Ngày 16/09/1950,quân ta nổ súng tấn công cứ điểm này?

6 Tên người anh hùng “ Chặt cánh tay phá đồn dịch”?

7 Ngày 01/05/1954, ta mở tấn công lần thứ 3 đánh chiếm các cứ điểm còn lại trong chiến dịch Điện Biên Phủ?

Trang 25

8 Tên người anh hùng lấy thân mình lấp lỗ châu mai là?

Ngày 16/9/1950 Quân ta tấn công cụm cứ điểm Đông Khê

Tháng 02/1951 Đại hội đại biểu toàn Quốc của Đảng lần thứ II

Ngày 01/5/1952 Đại hội chiến sĩ thi đua

Ngày 07/5/1954 Chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ

=> Như vậy:

.+ Điều cốt lõi của đổi mới phương pháp dạy học lịch sử là cần tổ chức để HS làm việc với các nguồn sử liệu (với nhiều phương thức và mức độ khác nhau) một cách hứng thú, tích cực, chủ động.

+ Cần kết hợp một cách nhuần nhuyễn các phương pháp và hình thức tổ chức dạy học Kết hợp như thế nào và mức độ ra sao thì phải căn cứ vào mục tiêu, nội dung học bài, điều kiện cụ thể của nhà trường,đối với GV và HS.

+ Cần quan tâm và tổ chức khai thác tốt nguồn thông tin từ hệ thống kênh hình

- đây là điều còn nhiều hạn chế trong dạy học Lịch sử ở Tiểu học hiện nay.

Trang 26

+ Và đặc biệt cần quan tâm phát huy vốn hiểu biết của HS, rèn luyện kỹ năng phát hiện, suư tầm tư liệu của các em, đồng thời chú trong liên hệ nội dung bài học với địa phương, với môi trường sống xung quanh em.

* Biện pháp 4: Soạn bài khoa học dễ hiểu, dễ dạy, dễ học.

Một trong các công cụ dạy học môn lịch sử cũng không khác các môn học

khác là Giáo án, nó là chìa khoá, là cái cốt lõi để tạo nên một diện mạo của tiết

dạy Nếu như người GV không quan tâm đến việc tạo ra một bài soạn có chất lượng dễ hiểu, dễ dạy, dễ nhớ thì việc truyền thụ kiến thức quả là điều khó khăn cho bất kỳ một tiết dạy nào, nhất là các kiến thức lịch sử thì không thể tự nghĩ ra (bịa ra), có sự liên quan một cách lô gích với nhiều mối liên hệ theo các phần của bài học Vậy chúng ta cần chú ý gì khi thiết kế một bài soạn lịch sử, sau đây tôi xin đưa ra một số ý kiến nhỏ để các đồng chí tham khảo và cho ý kiến:

Mô hình bài học theo quan điểm đổi mới phương pháp dạy học:

a Định hướng mục tiêu, xác định nhiệm vụ học tập:

Muốn định hướng mục tiêu, xác định nhiệm vụ học tập được tốt phần nêu vấn đề của giáo viên phải đạt được các yêu cầu sau:

+ Nắm vững mảng kiến thức cần dạy, những vấn đề liên quan

+ Nội dung cần đạt của từng bài là gì? (phải đề cập tới cốt lõi của bài học)+ Lời hướng dẫn phải xúc tích, giàu tính khái quát và giàu hình ảnh

+ Tạo ấn tượng, gợi trí tò mò của HS

b Tổ chức cho HS tiếp cận các nguồn

Việc tổ chức học sinh tiếp cận các nguồn sử liệu (Kênh chữ, kênh hình) trong SGK, giúp các em có những hình ảnh cụ thể về sự kiện, hiện tượng lịch

sử Đây là khâu cực kỳ quan trọng của quá trình nhận thức lịch sử Bởi nếu không dựa trên các hình ảnh của sự kiện thì học sinh không thể nhận thức được

tư duy Ở bước này có thể thực hiện bằng các biện pháp sau:

+ GV trình bày các sự kiện, sự việc, hiện tượng bằng phương pháp tường thuật, miêu tả, kể chuyện kết hợp với phương pháp trực quan để học sinh thấy rõ được hình ảnh quá khứ

+ Học sinh làm việc với các sự kiện được trình bày trong SGK

Trang 27

c Tổ chức cho HS làm việc, tự giải quyết các nhiệm vụ học tập:

Giáo viên tổ chức cho HS làm việc, tự giải quyết các nhiệm vụ học tập mà bản thân đã nêu ở đầu giờ học hoặc đầu mỗi phần bài học

Ở bước này, học sinh có thể trình bày ý kiến cá nhân (Viết hoặc nói) Cũng có thể trao đổi, thảo luận trong nhóm để rút ra nhứng ý kiến chung

d Kết luận vấn đề:

Giáo viên cho học sinh nhận xét đánh giá những ý kiến cá nhân hoặc nhóm xem các bạn nói đúng hay sai, cần bổ sung thêm những gì không? Sau đó

GV kết luận:

+ Khẳng định những kết quả học tập của những học sinh

+ Chốt lại những vấn đề cần nắm chắc của bài học

Dựa vào mô hình bài học và nội dung bài học giáo viên sẽ đưa ra được các hình thức dạy học phù hợp, linh hoạt Nội dung cụ thể trong SGK lịch sử lớp

4, 5 chủ yếu đưa ra hai loại cơ bản như đã nêu ở trên, đó là:

+ Loại bài cung cấp kiên thức mới

+ Loại bài ôn tập tổng kết

Riêng loại bài cung cấp kiên thức mới đề cấp tới các nội dung:

+ Tình hình kinh tế - chính trị, văn hoá – xã hội…

+ Hoạt động của một số nhân vật lịch sử…

+ Các cuộc khởi nghĩa, kháng chiến, chiến thắng, chiến dịch, tiến công… Dưới đây là một số bài soạn theo hướng lịch sử hoá hoạt động của HS, lấy HS làm trung tâm để các đồng chí tham khảo:

BÀI SOẠN LỊCH SỬ LỚP 4

BÀI 25: QUANG TRUNG ĐẠI PHÁ QUÂN THANH

I MỤC TIÊU:

Học xong bài này, HS cần biết:

- Thuật lại diễn biến trận Quang Trung đại phá quân Thanh theo lược đồ

- Quân Quang Trung rất quyết tâm và tài trí trong việc đánh bại quân xâm lược nhà Thanh

Trang 28

- Cảm phục tinh thần quyết chiến quyết thắng quân xâm lược của nghĩa quân Tây Sơn.

II ĐỒ DÙNG DẠY HỌC

- Phóng to lược đồ trận Quang Trung đại phá quân Thanh (năm 1789)

- Phóng to ảnh chụp gò Đống Đa và tượng Quang Trung - Nguyễn Huệ

- Môt số hình ảnh lễ hội ở gò Đống Đa

- Phiếu học tập của học sinh

- Một số trang phục (mũ, áo choàng) phục vụ chò trơi đóng vai

CÁC HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC CHỦ YẾU

Kiểm tra bài cũ - Giới thiệu bài mới:

* Trình bày kết quả của việc nghĩa quân

Tây Sơn tiến ra Thăng Long

* GV giới thiệu bài: Sau khi Nguyễn Huệ làm chủ được Thăng Long, lật

đổ họ Trịnh, mở đầu việc thống nhất lại đất nước sau hơn 20 năm bị chia cắt, với ý chí quyết tâm cao độ và tài trí tuyệt đỉnh, Nguyễn Huệ đã tiếp tục lập lên những chiến công lừng lẫy Chiến công ấy có liên quan gì đến di tích lịch sử gò Đống Đa? Cô và các em sẽ cùng nhau tìm hiểu bài “Quang Trung đại phá quân Thanh”

- GV viết tên đầu bài

- GV nêu các nội dung chính

- 1; 2 HS đọc tên bài

Hoạt động 1 (Làm việc cả lớp): Tìm hiểu hoàn cảnh lịch sử

- Vì sao quân Thanh sang xâm lược nước

ta?

- 1HS đọc đoạn đầu

- Mượn cớ giúp nhà Lê

Trang 29

*GV gi.thiệu thêm về Vương triều Mãn

- Lên ngôi hoàng đế…

- Đất nước đang lâm nguy cần có người đứng đầu lãnh đạo

* GV chốt ý chính: Trước cảnh đất nước lâm nguy, Nguyễn Huệ lên ngôi

hoàng đế là vô cùng cần thiết Điều đó khẳng định nước ta là một nước độc lập

có Hoàng đế đứng đầu sẵn sàng và cương quyết lãnh đạo nhân dân diệt trừ quân xâm lược, bảo vệ đất nước.Ngay sau khi lên ngôi hoàng đế lấy hiệu là Quang Trung lập tức tiến quân ra Bắc đánh quân Thanh Trận đánh ấy diễn ra như thế nào chúng ta cùng nhau chuyển sang hoạt động 2.

Hoạt động 2: Tìm hiểu diễn biến trận Quang Trung đại phá quân Thanh Bước 1: Làm việc cả lớp

- Vua Quang Trung tiến đến Tam Điệp

vào thời gian nào?

- Vì sao Quang Trung tiến quân ra Bắc

vào dịp Tết?

- Tại Tam Điệp vua Quang Trung đã

làm gì?

- Theo em việc làm đó có tác dụng gì?

- Chủ tướng nhà Thanh là Tôn Sĩ Nghị

biết được tin đó đã tỏ thái độ như thế

nào?

- Nghĩa quân Tây Sơn tiến quân từ

Nam ra Bắc đúng vào dịp Tết thể hiện

điều gì?

- 1HS đọc đoạn tiếp đến toàn thắng

- ngày 20 tháng chạp năm Mậu Thân (01/1789)

- Quân giặc vui Tết sẽ chểnh mảng việc phòng ngự và chiến đấu

- Cho quân lính ăn Tết trước rồi chia thành 5 đạo quân tiến về Thăng Long

- Lòng quân thêm hứng khởi, quyết tâm đánh giặc

- Nêu đường tiến của 5 đạo quân

- Tỏ ý khinh thường

- Ý chí quyết râm đánh giặc

* GV chốt ý: Được sự động viên, khuyến khích kịp thời của nhà vua, quân sũ ai

nấy đều thể hiện rõ quyết tâm đánh giặc đến cùng, cả 5 đạo quân hùng dũng tiến về hướng Thăng Long Trận đánh mở màn và các trận đánh tiếp theo có tên gọi là gì, diễn ra ở đâu, kết quả thế nà? Chúng ta tiếp tục tìm hiểu bài.

* Bước 2: Làm việc theo nhóm (nhóm 4)

- GV giao nhiệm vụ

Ngày đăng: 18/10/2014, 13:00

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w