kiến thức cơ bản về cây hoa kiểng và những đặc tính, biện pháp chăm sóc, các loại giống hoa trên thị trường, kỹ thuật trồng, gieo hạt, nhiệt độ ... thời gian thu hoạch, cách thu hoạch các loại hoa thông dụng
Trang 1LỜI NÓI ĐẦU
Là một bộ phận của ngành sản xuất nông nghiệp, nhưng nghề hoa kiểng còn có những nét đặc trưng riêng biệt yêu cầu tính thẩm mỹ và kỹ thuật cao, bởi vì sản phẩm được làm ra là những tác phẩm nghệ thuật sống động Người trồng hoa kiểng cần phải tìm hiểu nhiều yếu tố có thể ảnh hưởng đến sản xuất và tiêu thụ sản phẩm như: các yếu tố môi trường, vốn đầu tư, lao động, tư liệu sản xuất, lưu thông phân phối, vận chuyển, thị trường nội địa và xuất khẩu Ngoài ra, họ cần phải tìm hiểu thẩm mỹ và thị hiếu của người tiêu dùng, thường xuyên tìm tòi để sáng tạo ra những giống cây kiểng mới lạ, ứng dụng công nghệ mới vào sản xuất Có thể nói danh hiệu nghệ nhân dành cho những bậc lão làng trong ngành hoa kiểng là hoàn toàn xứng đáng
Nước ta có các điều kiện khí hậu và thổ nhưỡng đa dạng có thể trồng được nhiều loại hoa từ các loại hoa nhiệt đới ở đồng bằng đến hoa xứ lạnh trên các cao nguyên như Lâm Đồng, Pleiku và vùng núi như Sapa, Hoàng Liên Sơn Ngoài ra, thảm thực vật nhiệt đới của nước ta rất đa dạng và là nguồn gen quý giá cho việc chọn tạo giống mới
Các mặt kinh tế và xã hội của nước ta đang trên đà phát triển, các công trình xây dựng ngày càng nhiều, trình độ dân trí và đời sống tinh thần ngày càng được coi trọng hơn, thu nhập và nhu cầu thẩm mỹ của người dân ngày càng được nâng cao hơn đã tạo nên thị trường tiêu thụ nội địa rộng lớn cho nghề trồng hoa kiểng Đáp ứng nhu cầu thị trường, ngành trồng hoa đã phát triển nhanh chóng và tạo nên các sản phẩm đa dạng có chất lượng cao hơn
Ngành trồng hoa Việt Nam cũng đã được định hướng phát triển để xuất khẩu qua
đó chuyển dịch cơ cấu cây trồng trong nông nghiệp, tạo việc làm thu nhập cao cho nông dân, góp phần vào tăng trưởng xuất khẩu hàng hóa cả nước Sản xuất hoa xuất khẩu có thể cho thu nhập cao hơn gấp trên 10 lần so với trồng lúa và các cây trồng khác
Để tạo nguồn nhân lực cho tương lai phát triển của ngành trồng hoa kiểng, những chương trình đào tạo theo chuyên ngành đã được thực hiện ở nhiều trường đại học Chúng tôi hy vọng tập bài giảng này sẽ cung cấp những tư liệu có ích cho các bạn sinh viên và những người yêu thích trồng hoa thảo
Mặc dù đã rất cố gắng, nhưng do thời gian gấp rút nên chắc chắn sẽ không tránh khỏi những thiếu sót Chúng tôi mong nhận được những ý kiến đóng góp quý báu của các độc giả quan tâm Xin chân thành cảm ơn
Trang 2
CHƯƠNG 1
MỞ ĐẦU 1.1 KHÁI NIỆM VÀ PHÂN LOẠI HOA, CÂY CẢNH
Ngành trồng hoa có các bộ phận cấu thành như sau:
- Trồng hoa cắt cành (cut flower)
- Trồng hoa trong chậu (pot flower)
- Trồng cây xanh trang trí và cây che phủ đất (foliage and bedding plants)
Có hai phương pháp trồng hoa chính là theo phương pháp truyền thống-cây hoa thảo được trồng chủ yếu ở ngoài đồng hay trong chậu và trồng hoa theo công nghệ hiện đại-cây hoa thảo được trồng trong nhà kính nhà lưới
Số lượng giống hoa và cây kiểng được trồng thương mại hiện nay có thể lên đến vài ngàn, tuy nhiên việc nghiên cứu lai tạo và phát triển giống mới vẫn luôn rất quan trọng với ngành trồng hoa
Ngành trồng hoa kiểng cần có sự liên kết với các ngành nghề khác (công nghệ, thương mại, tiếp thị, giao thông vận tải,v.v…) để phát triển Ví dụ, theo thống kê ở châu
Âu những người có liên quan đến nghề trồng hoa là:
- Thầu xây dựng, các công viên giải trí, du lịch…
- Dịch vụ trang trí hoa, thợ kết hoa,
- Cửa hàng mua bán, dịch vụ nghề vườn (garden centres)
- Những người bán lẻ (ven đường, trong tiệm,…)
Ngành hoa cây kiểng là một bộ phận của sản xuất nông-lâm-thương nghiệp, việc phát triển hoa kiểng cho phép xóa dần thế độc canh tạo nên sự năng động cho từng địa bàn, từng nông hộ Một số đặc điểm chính của ngành hoa thảo ở nước ta là:
- Sản xuất hoa kiểng yêu cầu kỹ thuật cao và mang tính nghệ thuật Phần lớn các loại hoa kiểng đều cần được chăm sóc đặc biệt vì bộ rễ yếu, thân lá non mềm, nhiều sâu bệnh phá hại làm ảnh hưởng đến năng suất và phẩm chất cây Những đặc tính thẩm mỹ
Trang 3của cây được thể hiện thông qua sự nuôi dưỡng chăm sóc cẩn thận tạo nên một tác phẩm nghệ thuật sống động
- Hoa kiểng rất nhạy cảm với điều kiện ngoại cảnh Các yếu tố môi trường tác động rất rõ rệt đến đời sống của cây, nhất là các giống hoa ngắn ngày, gây ra những thay đổi trong quá trình sinh trưởng và phát triển, làm ảnh hưởng đến năng suất và phẩm chất Cần phải nghiên cứu yêu cầu của từng loại hoa đối với điều kiện bên ngoài để bảo đảm sự phát triển phù hợp nhất
- Chu kỳ sản xuất của hoa kiểng dài ngắn khác nhau đối với từng loại cây nên thích hợp với nhiều đối tượng đầu tư: vốn ít thì đầu tư ngắn hạn; vốn nhiều thì đầu tư dài hạn…hay trồng xen canh trên cùng một diện tích cây kiểng xen với cây ăn trái, cây lâm nghiệp,v.v…
- Sản xuất hoa kiểng là ngành có khả năng tận dụng mọi nguồn lao động, mọi tư liệu sản xuất, kể cả không gian (vườn, ao, sân…) để sản xuất Có thể tận dụng các điều kiện sản xuất để phát triển mà ít làm thay đổi cơ cấu, diện tích sử dụng đất
- Sản xuất hoa kiểng cần có sự lưu thông phân phối kịp thời Việc xuất khẩu cần phải đồng bộ, xử lý vận chuyển cần phải nhanh chóng kịp thời
1.1.2 Giá trị thẩm mỹ tinh thần của ngành hoa, cây cảnh
Hoa là biểu tượng của cái đẹp, hoa có màu sắc hài hòa và hương thơm, hình thái đa dạng hấp dẫn, làm đẹp cảm xúc của con người Hoa là một sản phẩm đặc biệt của cây trồng, nói đến hoa là nói đến vẻ đẹp của thiên nhiên được cây cỏ chắt lọc ban tặng cho con người Hoa trong cuộc sống của con người chiếm một vị trí thẩm mỹ quan trọng, hoa là tượng trưng của cái đẹp, là nguồn cảm giác ngọt ngào của cuộc sống
Hoa không chỉ đem lại cho con người sự thoải mái thư giãn khi thưởng thức vẻ đẹp của chúng mà còn đem lại cho những người sản xuất hoa giá trị kinh tế cao hơn hẳn so với những cây trồng khác Nhiều nước trên thế giới như Hà Lan, Pháp, Bungari… đã có nền sản xuất hoa rất phát triển và là nguồn thu nhập quan trọng của đất nước
1.1.3 Giá trị kinh tế của ngành hoa, cây cảnh
Điều kiện khí hậu và thổ nhưỡng nước ta rất đa dạng có thể trồng được nhiều loại hoa từ các loại hoa nhiệt đới ở đồng bằng đến hoa xứ lạnh trên các cao nguyên như Lâm Đồng, Pleiku và vùng núi như Sapa, Hoàng Liên Sơn Ngoài ra, nước ta có lãnh thổ chạy dài từ Bắc xuống Nam gần 1700 km nằm gọn trong vành đai nhiệt đới bắc bán cầu, trải dài trên 15 vĩ tuyến từ cực Bắc 23o
23’ (Hà Giang) đến cực nam 8o
33’ (Cà Mau) Khí hậu
Việt Nam vừa có tính chất chung của vùng nhiệt đới ẩm, vừa phân thành nhiều tiểu vùng khí hậu khác nhau, vì thế đất nước ta có đủ thảm thực vật của cả 3 miền khí hậu: nhiệt đới, cận nhiệt đới và ôn đới Đây là nguồn gen quý để lai tạo ra những giống mới có giá trị
Vào thời điểm nhu cầu tiêu thụ hoa của thế giới tăng cao trong khoảng từ tháng 12 đến tháng 2 dương lịch, ở các nước châu Âu, Mỹ, Nhật…đang là mùa đông lạnh Trong khi đó ở Việt Nam khí hậu se lạnh nhưng chan hòa ánh nắng và các loài hoa trổ bông hàng loạt Điều đó rất thuận lợi cho ngành trồng hoa Việt Nam phát triển để xuất khẩu
Những năm gần đây, đời sống tinh thần được coi trọng hơn, thu nhập và nhu cầu thẩm mỹ của người dân ngày càng được nâng cao hơn đã tạo nên thị trường tiêu thụ nội
Trang 4địa rộng lớn cho nghề trồng hoa kiểng Đáp ứng nhu cầu thị trường, ngành trồng hoa đã phát triển nhanh chóng và tạo nên các sản phẩm đa dạng có chất lượng cao hơn Phát triển
sản xuất các loại hoa giá trị kinh tế cao thay thế cho những cây trồng hiệu quả kinh tế
thấp, qua đó chuyển dịch cơ cấu trong nông nghiệp, tạo việc làm thu nhập cao cho nông dân, góp phần vào tăng trưởng xuất khẩu hàng hóa của cả nước Đã xuất hiện một số mô hình phát triển sản xuất và xuất khẩu hoa đạt hiệu quả kinh tế cao, giá trị sản xuất trên một
ha là 400 - 500 triệu VND/năm, cũng đã có những doanh nghiệp xuất khẩu được hàng triệu USD/năm Rõ ràng là sản xuất hoa xuất khẩu có thể cho thu nhập cao hơn gấp trên
10 lần so với trồng lúa và các loại cây trồng khác
1.2 Th ực trạng tình hình sản xuất và thị trường tiêu thụ hoa, cây cảnh trên thế giới
1.2.1 Thị trường hoa, cây cảnh thế giới những năm gần đây
Sự phát triển mạnh mẽ của các ngành công nghệ mang tính toàn cầu (thông tin, hàng không, du lịch, thương mại…) đã thúc đẩy ngành sản xuất và kinh doanh hoa kiểng phát triển Theo thống kê của Trung tâm thương mại quốc tế, những năm 1950 kim ngạch mậu dịch hoa kiểng trên thế giới chưa đến 3 tỷ USD Đến năm 1985 đã lên đến 15 tỷ USD, sau đó vào năm 1990 là 30,5 tỷ USD và tiếp tục tăng khoảng 10% mỗi năm
Trước những năm 1990, sản xuất hoa kiểng xuất khẩu chủ yếu tập trung ở Châu
Âu, Mỹ, Nhật Nhưng hiện nay các quốc gia đang phát triển đang phát huy lợi thế về khí
hậu, đất đai, giá lao động thấp để phát triển ngành này một cách mạnh mẽ hơn
Nhìn chung thị trường hoa thế giới ngày càng mở rộng về quy mô, nhưng cục diện
cũng đang biến động Các nước xuất khẩu hoa đang đối mặt với những vấn đề chung là:
- Cung đang tiếp cận với cầu nên giá hoa trên thị trường có xu hướng giảm
- Cạnh tranh ngày càng quyết liệt
sản xuất hiện đại, tạo các giống mới đáp ứng yêu cầu của thị trường thì họ có thể đẩy các
nước phát triển vào tư thế giữ nguyên thị phần hay suy giảm từng bước một
Trong xu thế toàn cầu hóa hiện nay, một số nước phát triển đã bắt đầu hợp tác đầu
tư với các nước đang phát triển để ứng dụng công nghệ cao sản xuất những sản phẩm có giá thành thấp Ví dụ một số công ty từ Hà Lan, Nhật Bản, Mỹ… đã đầu tư sản xuất hoa kiểng tại các nước đang phát triển (Guatemala, Braxin, Ấn Độ, New Zealand, Malaysia, Việt Nam, Trung Đông…) với mục đích xuất khẩu sản phẩm có giá cạnh tranh
1.2.2 Châu Âu
Hà Lan được mệnh danh là nhà kính của Châu Âu vì có những vùng chuyên canh
trồng hoa trong nhà kính xuất khẩu sang các nước trong khu vực này Năm 1991 diện tích trồng hoa của Hà Lan là 33.000ha (trong đó hơn 50% diện tích được trang bị nhà kính) với giá trị hoa xuất khẩu là 4,6 tỷ USD Ngoài ra tại đây còn có nhiều Sàn bán đấu giá (auction) hoa và cây cảnh phân phối đi khắp thế giới Trị giá xuất khẩu hoa của Hà Lan
Trang 5tăng 3% trong quý I/2003 so với cùng kỳ năm trước, đạt 1,3 tỷ Euro Tuy nhiên, tốc độ tăng này thấp hơn nhiều so với tốc độ tăng 11% của quý I/2002, do đồng Euro tăng giá so với nhiều đồng tiền khác và do tình hình kinh tế cũng như chính trị ở nhiều nước bất ổn Xuất khẩu hoa cành của Hà Lan quý I/2003 vẫn ổn định ở 6.875 triệu cành, chủ yếu sang
3 thị trường truyền thống là Đức, Anh và Pháp Nhu cầu đã giảm mạnh ở Mỹ và Nhật Bản Xuất khẩu hoa trong chậu và cây cảnh Hà Lan tăng 10% trong quý I/2003 đạt 397 triệu Euro (tăng 15% so với quý I /2002) nhờ nhu cầu nhập khẩu tăng lên ở Đức
Nước Anh cũng được xem như là nơi sản xuất và nhập khẩu hoa lớn của thế giới
với doanh số mỗi năm 1,2 tỷ USD (1998) Châu Âu là thị trường nhập nhiều hoa nhất, trong đó riêng Đức mỗi năm nhập tới 1,8 tỷ USD (1998) Các nước Italia, Tây Ban Nha, Đan Mạch, Bỉ là những nước trong EU trồng nhiều hoa đứng sau Hà Lan, …
Israel coi hoa cảnh là ngành kinh tế có ưu thế: với diện tích canh tác là 2.800 ha và
tỷ trọng là 8% tổng thu nhập của ngành nông nghiệp Năm 1998, xuất khẩu hoa đạt 40 triệu USD và dự tính sẽ tăng lên 70 triệu USD vào những năm tới
1.2.3 Các nước châu Á:
Hiện nay, Trung Quốc là nước sản xuất và tiêu thụ hoa cành lớn nhất thế giới Diện
tích trồng hoa ở Trung Quốc đã tăng từ 11.000ha (1994) lên 75.000ha (1998) và 122.400
ha (2004) Sản lượng sản xuất 2,7 triệu tấn mỗi năm, năm 2004 đạt trị giá 6,6 tỷ USD (so với năm 1998 chỉ mới đạt 1,27 tỷ USD) hay là 26,5% tiêu thụ hoa toàn cầu (tiêu thụ hoa toàn cầu khoảng 25 tỷ USD mỗi năm); trong đó xuất khẩu đạt 32 triệu USD Nguồn: Tạp chí Ngoại thương (27/1 - 10/02/2004)
Yếu tố chính hỗ trợ cho ngành kinh doanh hoa ở Trung Quốc phát triển nhanh là
do tăng trưởng kinh tế cao, làm tăng nhu cầu tiêu thụ hoa trong nước Trong giai đoạn tái thiết ngành nông nghiệp, chính phủ đã hỗ trợ cho ngành trồng hoa tham gia hợp tác quốc
tế để phát triển và học hỏi công nghệ hiện đại Trong kế hoạch phát triển quốc gia lần thứ
10, lĩnh vực nghiên cứu công nghệ mới được tập trung mạnh cho kinh doanh hoa cành Đây sẽ là cơ hội hấp dẫn cho các nhà đầu tư nước ngoài, vì 70% hạt và củ giống hoa, và 80% máy móc dùng trong kinh doanh hoa cành, được nhập từ nước ngoài
Ngoài ra, chính phủ Trung Quốc cũng khuyến khích sử dụng công nghệ cao trong
sản xuất hoa như trồng trong nhà kính Dự đoán kinh doanh hoa cành ở Trung Quốc sẽ rất khả quan trong 5 năm tới Đây cũng sẽ là thị trường cho hoa nhập khẩu, nhất là từ các nước trong khu vực như Thái Lan Đồng thời, Trung Quốc cũng sẽ trở thành đối thủ cạnh tranh lớn với các nước sản xuất hoa trong khu vực, vì giá sản phẩm của Trung Quốc luôn
rẻ
Bắt đầu hoạt động từ 10/12/2002, Sàn đấu giá hoa tươi quốc tế Côn Minh - tỉnh Vân Nam đã trở thành trung tâm giao dịch lớn với khối lượng giao dịch hàng ngày từ 600.000-800.000 bông Hiện có khoảng 100 doanh nghiệp kinh doanh, 300 người trồng hoa vừa và lớn cung cấp hoa và hơn 70 thương gia mua hoa mỗi ngày
Tỉnh Vân Nam cung cấp hơn 50% tổng sản lượng hoa Trung Quốc Trên 80% sản lượng hoa của tỉnh được bán cho hơn 70 thành phố trên toàn quốc, xuất khẩu 15% ra nước ngoài Vân Nam có 7.864,7 ha đất trồng hoa, cho sản lượng hoa trị giá 0,4 tỷ USD, trong
Trang 6đó xuất khẩu hoa khoảng 18 triệu USD, chủ yếu sang Thái Lan, Singapore, Malaysia, Philipin và Hàn Quốc
Thành phố Chương Châu, tỉnh Phúc Kiến, đã đề ra kế hoạch phát triển ngành trồng hoa từ nay tới năm 2010, theo đó sẽ xuất khẩu khoảng 26,9 triệu USD Hiện Chương Châu trồng 1.400 loại hoa, trong đã cã 800 giống nhập từ nước ngoài Chương Châu là trung tâm sản xuất và xuất khẩu hoa lớn nhất của tỉnh Phúc Kiến, đồng thời cũng là trung tâm thông tin và hợp tác giữa Trung Quốc lục địa và Đài Loan
Ngành trồng hoa của Đài Loan cũng đang tăng trưởng nhanh 15-20%/năm Năm
1998 diện tích trồng hoa là 10.172 ha đạt doanh thu tới 9,3 tỷ Đài tệ
Từ giữa thập niên 1990 ngành công nghiệp trồng hoa Hàn Quốc bắt đầu phát triển mạnh, 10 năm qua Bộ Nông Lâm đã hỗ trợ khoảng 100 triệu USD để dành cho các hoạt động phát triển những loài hoa xuất khẩu, thu thập thông tin quốc tế và phát triển thị
trường mới về hoa Năm 1999 Hàn Quốc đã xuất khẩu hoa trị giá 16 triệu USD
Các nước Đông Nam Á cũng có ngành hoa kiểng phát triển với tốc độ nhanh
- Singapore năm 1991 xuất khẩu 13 triệu USD (chủ yếu là hoa Lan) đến 1998 đã đạt trên 20 triệu USD
- Thái Lan năm 1991 xuất khẩu mặt hàng này đến 200 triệu USD/năm, bảo đảm
tăng trưởng hàng năm là 8% -10%
- Malaysia, chính phủ đã quy hoạch 300 ha ở bang Zohor và giao cho Hiệp hội Hoa Lan tổ chức ở đây thành khu “Trung tâm sản xuất Hoa kiểng xuất khẩu”
Ngành trồng hoa trị giá 140 triệu USD của Ấn Độ đã phát triển từ những năm 1992-2002, song năm 2003 gặp rất nhiều khó khăn do phải cạnh tranh mạnh với các nước châu Phi, đặc biệt là Kênia Ngành trồng hoa Ấn Độ đang tăng trưởng ấn tượng, song mới chỉ chiếm 0,75% thị trường hoa thế giới, kém rất nhiều so với các nước đi trước như Kênia và Israel Hoa hồng là loại hoa xuất khẩu chính của Ấn Độ Năm 2001, xuất khẩu hoa hồng đạt 1.500 tấn Do chủ yếu vận chuyển bằng đường thủy nên xuất khẩu hoa Ấn
Độ khó có thể cạnh tranh trên thị trường thế giới Năm 2003, hoa cành của Ấn Độ được xuất khẩu chủ yếu sang Nhật Bản và Trung Đông Năm 2003, châu Âu chỉ nhập 25% hoa xuất khẩu của Ấn Độ, do sản lượng trong nước của những thị trường nhập khẩu truyền thống đã cao hơn mọi năm Và do nhu cầu hoa cành trên thị trường nội địa tăng mạnh, nhờ đời sống người dân tăng lên và tăng nhu cầu hoa dùng trong tế lễ và thờ cúng
Hoạt động vào đầu năm 2004, Sàn đấu giá hoa Dubai hứa hẹn sẽ góp phần làm giảm mạnh chi phí xuất khẩu của Ấn Độ Trước đó hoa tươi Ấn Độ phải chuyên chở đến các Sàn bán đấu giá ở Amsterdam (Hà Lan) trước khi xuất khẩu đến các quốc gia khác nên phải mất thêm một khoản “chi phí giao dịch” khoảng 30%, làm giảm tính cạnh tranh Với Sàn đấu giá giao dịch trong nước, “chi phí” có thể giảm còn dưới 10%
Nhật Bản là một trong số những quốc gia nhập khẩu nhiều hoa trên thị trường thế giới Trước đây Nhật Bản chỉ nhập khẩu những giống hoa mà trong nước không trồng được, nhưng xu hướng nhập khẩu hoa ngày nay theo thị hiếu người tiêu dùng với giá cạnh tranh hơn Theo dự đoán của Hiệp hội nhập khẩu hoa tươi Nhật Bản những năm tới đây mỗi năm Nhật Bản sẽ phải nhập khẩu trên 1 tỷ USD hoa kiểng Hiện nay thị trường Nhật tiêu thụ trên 70% hoa tươi của New Zealand
Trang 71.2.4 Các quốc gia khác
Ngành kinh doanh hoa châu Phi đang phát triển, góp phần quan trọng vào tăng trưởng kinh tế của khu vực này Cho đến nay, Kênia vẫn là nước xuất khẩu hoa lớn nhất châu Phi, với lượng xuất khẩu nhiều gấp 9 lần Nam Phi, Kênia cã mối quan hệ vững chắc hơn với các kênh bán lẻ của Anh như Tesco và Sainsbury
Ngành hoa Nam Phi dự kiến sẽ tăng trưởng mạnh và đang dần nổi lên thành nước xuất khẩu hoa Bốn yếu tố thuận lợi hỗ trợ ngành hoa Nam Phi phát triển nhanh là: tăng cường vốn đầu tư cho sản xuất, đa dạng hóa sản phẩm, gần với nhiều thị trường tiêu thụ lớn và cơ sở vật chất tốt Hiện Nam Phi mới chỉ chiếm 0,5% tổng xuất khẩu hoa toàn cầu
và đang phải cạnh tranh với nhiều đối thủ mạnh khác như Kênia, Zimbabuê và Zambia trên thị trường châu Âu Nam Phi sản xuất chủ yếu là hoa hồng và một số hoa khác và đang hy vọng sẽ trồng được hoa cúc để xuất khẩu Hiện một nửa sản lượng hoa Nam Phi được tiêu thụ trong nước, nửa còn lại được xuất khẩu
Zimbabuê xuất khẩu tổng cộng 17.000 tấn hoa cành trong năm 2003, giảm so với 23.000 tấn của năm trước do diện tích trồng hoa giảm Giá hoa trên các thị trường xuất khẩu giảm dần cũng tác động xấu tới nghề trồng hoa Zimbabuê Ngoài ra, nguồn cung hoa tăng mạnh trên các thị trường cũng ảnh hưởng đến xu hướng giảm giá Zimbabuê xuất khẩu khoảng 150 loại hoa hồng và nhiều loại hoa khác
Sau hàng chục năm điêu đứng, ngành trồng hoa Uganda đã hồi phục từ năm 2000 với chất lượng được cải thiện rõ rệt Uganda thu nhập 26 triệu USD từ 6.000 tấn hoa năm
2003, tăng 3 triệu USD so với năm trước Nghề trồng hoa hồng đang trở nên ngày càng quan trọng trong nền kinh tế Uganda
Trước đây, Israel là thị trường tiêu thụ hoa lớn nhất của Uganda, song nay Kênia
đã giành được vị trí này Uganda đang hướng vào thị trường Hà Lan với những kế hoạch cạnh tranh mạnh mẽ với Kênia và Zimbabuê Đến cuối năm 2004, Uganđa có thể sẽ vượt Zimbabuê để trở thành nước xuất khẩu lớn thứ 2 sang thị trường Hà Lan
Ở Colombia ngành sản xuất hoa kiểng đã trở thành ngành kinh tế quan trọng đứng hàng thứ tư sau dầu mỏ, than, cà phê…, năm 1996 đã xuất khẩu hoa sang Mỹ đạt trị giá
510 triệu USD
1.3 Thực trạng tình hình sản xuất và thị trường tiêu thụ hoa, cây cảnh ở nước ta
1.3.1 Thành tựu phát triển sản xuất và xuất khẩu
Những năm qua, việc đẩy mạnh sản xuất và xuất khẩu hoa cảnh đã đựợc Đảng và Nhà nước quan tâm tìm nhiều biện pháp để tháo gỡ khó khăn, đầu tư, hỗ trợ tích cực Tháng 9/1999, Chính phủ đã phê duyệt đề án phát triển rau, hoa, quả, cây cảnh thời kỳ
1999 - 2010 của Bộ Nông nghiệp & PTNT làm định hướng chiến lược cho việc phát triển
sản xuất rau, hoa, quả Đồng thời ngày 15/6/2000, Chính phủ có Nghị quyết 09/2000/NQ qui định chính sách chuyển dịch cơ cấu kinh tế và tiêu thụ sản phẩm, hỗ trợ đầu tư, tạo điều kiện cho các hộ nông dân, các chủ trang trại, chủ doanh nghiệp vừa và nhỏ, các hợp tác xã vay vốn phát triển sản xuất và kinh doanh trong điều kiện khó đảm bảo về thế chấp, giao quyền sử dụng đất lâu dài 20-30 năm để nông dân an tâm đầu tư sản xuất, cho ưu đãi
về thuế để khuyến khích việc đầu tư sản xuất ở các vùng miền khó khăn, áp dụng giống cây trồng mới, tiêu thụ sản phẩm cho nông dân.v.v…
Trang 8Về công tác quy hoạch, mặc dù trong quá trình công nghiệp hóa và đô thị hóa phải dành đất xây dựng các khu công nghiệp tập trung nhưng các địa phương (Lâm đồng, Long
An, Tiền Giang, Bắc Giang, Nam Định, Hải Dương ) và một số thành phố lớn đã rất quan tâm đến quy hoạch vùng trồng hoa cây cảnh cho tiêu thụ trong nước và xuất khẩu
Bên cạnh đó, các hoạt động nghiên cứu khoa học và áp dụng tiến bộ khoa học công nghệ trong sản xuất hoa cây cảnh đã được chú ý với các chương trình giống và khuyến nông
Về thị trường nội địa, những năm gần đây tốc độ xây dựng cơ bản tăng mạnh, kéo theo nhu cầu tăng nhanh về số lượng các loại cây kiểng để trang trí công trình Tại TP Hồ Chí Minh trước những năm 1980 chỉ có hơn một chục vựa kiểng, đến nay đã có trên 200 vựa kiểng nằm rải rác khắp các quận huyện Mặt khác, đời sống người dân ngày càng được nâng cao, nhu cầu thưởng thức hoa kiểng ngày càng nâng cao cả về số lượng và chất
lượng Trên thị trường thành phố đã xuất hiện nhiều giống hoa cao cấp như: Lyly, Hồng Môn, Lay ơn giống mới, Đồng tiền giống mới, Thiên điểu, Tulíp, … được trồng tại Việt Nam Đây cũng là điều kiện thuận lợi để đẩy nhanh tốc độ chuyển đổi cơ cấu giống cây
trồng đang đặt ra cấp bách đối với ngành Nông nghiệp của nước ta
Diện tích, sản lượng:
Diện tích trồng hoa kiểng ở nước ta hiện nay (năm 2005) là khoảng 15.000ha, tăng 7% so với năm 2004 Sản xuất hoa đang cho thu nhập cao (bình quân đạt khoảng 70-130 triệu đồng/ha) nên rất nhiều địa phương trong cả nước đang mở rộng diện tích trồng hoa trên những vùng đất có tiềm năng Một số tỉnh duyên hải miền Trung cũng bắt đầu phát triển sản xuất hoa cắt cành theo hướng hàng hóa, chủ yếu phục vụ cho nhu cầu tại chỗ
Các tỉnh phía Nam, điển hình là TP Hồ Chí Minh cùng các tỉnh Đồng bằng sông
Cửu Long (Tiền Giang, Đồng Tháp…) là nguồn cung cấp hoa và cây cảnh đáng kể Tuy nhiên, các địa bàn này chủ yếu chỉ sản xuất một số loại hoa nhiệt đới (cúc móng rồng, cúc vàng, huệ, mai…) còn các loại hoa cắt cành truyền thống (hồng, cúc, cẩm chướng, lay ơn, đồng tiền…) thì còn rất hạn chế và chất lượng chưa thật cao Diện tích trồng hoa cảnh tập trung nhiều ở ngoại thành Tp Hồ Chí Minh khoảng 700ha, tập trung ở các quận huyện như quận 12 (110ha), Thủ Đức (87ha)…và nhiều nhất là Củ Chi (131ha) Số cơ sở trồng
hoa ở Tp Hồ Chí Minh vào khoảng 1400 nông hộ Các giống hoa cao cấp như Lyly, hồng môn, lay ơn giống mới, đồng tiền giống mới, thiên điểu, tulip đang được ưa chuộng
Trong phát triển sản xuất hoa, đã có một số mô hình thí điểm và triển khai sản xuất hoa trong nhà lưới, nhà plastic, nhà kính ở cả 3 miền (trong đó tập trung chủ yếu ở Đà Lạt) cho hiệu quả gấp trên 10 lần so với trồng lúa (bình quân 400 - 500 triệu đồng/ha/năm)
Với điều kiện khí hậu, đất đai thích hợp để phát triển các loại hoa có thu nhập cao nên ngành trồng hoa là ngành kinh tế có tiềm năng rất lớn của Tp Đà Lạt Tỉnh Lâm Đồng được coi là trung tâm sản xuất hoa cắt cành lớn nhất cả nước với khả năng sản xuất hầu nhu quanh năm Diện tích trồng hoa của Lâm Đồng năm 2005 đạt 2.027ha chủ yếu tập trung tại Tp Đà Lạt, các xã Hiệp Thành, Hiệp An… Sản lượng hoa khoảng 640 triệu cành, nghề trồng hoa Đà Lạt đang có xu hướng phát triển mạnh nhờ áp dụng những công nghệ mới
Trang 9Tp Đà Lạt đã lập ra Hiệp hội hoa lan cây cảnh nhưng hầu như vẫn chưa giúp tháo
gỡ được các khó khăn về giống, ngăn chặn dịch bệnh, và vẫn chưa liên kết nhà vườn để xây dựng một thương hiệu tương xứng với tiềm năng Ví dụ, chỉ riêng với cây địa lan, từ 2 năm nay, Đà Lạt đã bị mất hàng ngàn chậu do căn bệnh thối rễ hiện chưa có thuốc trị
Chủng loại hoa hiện được trồng tại Đà Lạt rất phong phú như: Hoa Cúc (Chrysanthemum
sp.) có trên 40 loại, gồm các nhóm: cúc đại đóa màu vàng anh, trắng, tím; các giống hoa
nhỏ và nhóm cúc tía có muỗng; Hoa hồng (Rosa sp): có trên 15 loại có nguồn gốc từ
Italia, Hà Lan…Hoa hồng Đà Lạt to, cánh thẳng, bền, thơm, sinh trưởng và phát triển tốt,
khả năng kháng bệnh từ trung bình đến cao; Cẩm chướng (Dianthus caryophyllus): gồm
14 loại, có nhiều màu
Ngoài ra Đà Lạt còn sản xuất nhiều chủng loại hoa khác như Lay ơn (Gladious communis ), huệ tây (Lilium longiflorum), đồng tiền, ngàn sao, cúc chổi, salem, huệ trắng,,,
Tiềm năng về hoa ở Đà Lạt đang được chú ý phát triển nhưng nhìn chung vẫn mang tính tự phát Việc nhân giống bằng phương pháp nuôi cấy mô tế bào đang trở nên thịnh hành nhưng không ai kiểm soát đánh giá chất lượng nên có thể nhân cả giống đang
có mầm bệnh
Các tỉnh phía Bắc: Hà Nội được đánh giá là vùng hoa tập trung lớn nhất vùng phía
Bắc, ví dụ xã Tây Tựu huyện Từ Liêm có 330ha trồng hoa (chiếm 66% trong tổng số 500ha trồng hoa của huyện) và chiếm 84,6% diện tích đất canh tác toàn xã Các chủng loại hoa chủ yếu là hoa cúc, hoa hồng, đồng tiền, hoa ly, hoa loa kèn… Ngoài ra còn một số vùng trồng hoa tập trung tại các quận huyện khác ngoại thành Hà Nội và các tỉnh lân cận như Vĩnh Phúc, Hưng Yên, Hà Tây, Thái Bình…
Vùng hoa Trung du và Miền núi Bắc Bộ: theo kết quả điều tra năm 2005 diện tích
trồng hoa toàn vùng là 135,7ha, sản lượng đạt 44,08 triệu bông Trong đó Lào Cai là tỉnh
có diện tích lớn nhất 95,7ha, chiếm 70,5% tổng diện tích cả vùng Về mặt chủng loại thì hoa hồng chiếm diện tích lớn nhất 75ha (chiếm 55,27%) với sản lượng là 26,53 triệu bông
1.3.2 Thực trạng phân phối tiêu thụ sản phẩm hoa, cây cảnh
Hiện nay, sản xuất hoa ở nước ta đang được thực hiện ở 2 quy mô chính là:
- Quy mô nhỏ do nông dân sản xuất tự phát theo nhu cầu thị trường nội địa
- Quy mô lớn do các doanh nghiệp tư nhân trong nước, liên doanh với nước ngoài hoặc 100% vốn nước ngoài chủ yếu cho xuất khẩu
Hoa tiêu thụ trong nước có chủng loại đa dạng, cung cấp ra thị trường theo mùa vụ, chất lượng từ thấp đến cao,giá cả vừa phải, hiệu quả kinh tế không cao, sản xuất nhỏ lẻ và thiếu ổn định Các doanh nghiệp sản xuất hoa xuất khẩu mang tính hàng hoá, lượng hoa nhiều hơn, chất lương hoa cao hơn nhờ được sản xuất trong điều kiện kỹ thuật cao, sản phẩm tiêu thụ theo hợp đồng Nhiều doanh nghiệp nước ngoài đã chọn tỉnh Lâm Đồng - vùng đất có tiềm năng lớn nhất về sản xuất hoa của cả nước để đầu tư trồng hoa phục vụ thị trường nội địa và xuất khấu, đó là các công ty Nhật Thái ở Bảo Lộc, Lâm Thăng (Đài Loan) ở Di Linh, Chánh Đài Lâm (Đài Loan) ở Đức Trọng và Hasfarm (Hà Lan) ở thành phố Đà Lạt
Trang 10Công ty TNHH Đà Lạt Hasfarm đang áp dụng công nghệ sản xuất hoa tiên tiến với quy mô diện tích nhà kính 15ha và diện tích nhà thép 2ha có hệ thống tự động điều chỉnh nhiệt độ, ẩm độ, hệ thống tưới nhỏ giọt đồng bộ với bón phân và thuốc bảo vệ thực vật Các chủng loại hoa chính đang được sản xuất tại công ty Đà Lạt Hasfarm là hoa hồng, cúc, cẩm chướng, lyly, đồng tiền và lá trang trí Sản lượng hoa xuất khẩu (Hồng Kông, Nhật Bản, Đài Loan, Singapore…) chiếm 55%, phần còn lại dành cho tiêu thụ nội địa Quy trình sản xuất được thực hiện khép kín từ gieo trồng đến thu hoạch Công nghệ sau thu hoạch (xử lý dung dịch giữ hoa tươi lâu, đóng gói, bảo quản và vận chuyển trong ngày
để chuyển đến nơi tiêu thụ) đều đạt tiêu chuẩn quốc tế
Tóm lại, tình hình xuất khẩu hoa Việt Nam có một số điểm chính như sau:
- Kim ngạch xuất khẩu hoa tươi chính ngạch đã tăng từ 5,3 triệu USD năm 2004 lên gần 10 triệu USD vào năm 2005, trên 14 triệu USD năm 2009
- Về thị trường, ngoài một số tỉnh phía Nam Trung Quốc là thị trường xuất khẩu chủ
yếu (dưới dạng tiểu ngạch qua biên giới phía Bắc), hoa chủ yếu được xuất khẩu sang các
nước châu Á (Đài Loan, Hồng Kông, Singapore, Nhật Bản, ) và bước đầu xuất khẩu được sang các thị trường xa (Australia, Nga, Đức, Pháp, Hoa Kỳ ) nhưng không đáng kể
- Về chủng loại, Việt Nam đã xuất khẩu được các sản phẩm hoa cắt cành như hồng, phong lan, cúc, đồng tiền, cẩm chướng, ly ly, sao tím sang Trung Quốc, Hồng Kông, Đài Loan, Nhật Bản, Singapore, Australia, Ả rập Xêut; vạn niên thanh, mai chiếu thủy, mai
cảnh sang Trung Quốc, Hoa Kỳ, Nhật Bản
- Về phương thức tổ chức kinh doanh xuất khẩu, chủ yếu do các thương lái thu gom ở các địa phương trong cả nước và xuất khẩu tiểu ngạch, theo thời vụ, sang các tỉnh nam Trung Quốc Xuất hiện một số mô hình liên kết chặt chẽ giữa doanh nghiệp với nông dân hoặc Hợp tác xã với nông dân Doanh nghiệp/ HTX là trung tâm tổ chức xuất khẩu Các hộ nông dân là vệ tinh, quan hệ với doanh nghiệp theo nguyên tắc ký hợp đồng để sản
xuất theo quy trình do doanh nghiệp/hợp tác xã quy định Sản phẩm sản xuất ra được doanh nghiệp mua lại theo hợp đồng đã ký và đưa vào phân loại, đóng gói và xuất khẩu
Tuy đã đạt được một số kết quả bước đầu nhưng nhìn chung sản xuất và xuất khẩu hoa của nước ta còn nhiều khó khăn và bất cập về các mặt như áp dụng các biện pháp KHKT còn chậm, việc nghiên cứu thị trường chưa được quan tâm đúng mức Sản xuất và kinh doanh hoa tươi luôn tiềm ẩn các rủi ro cao nên các doanh nghiệp và hộ sản xuất kinh doanh còn chưa yên tâm tập trung đầu tư phát triển
1.4 Mục tiêu và phương hướng phát triển ngành hoa, cây cảnh Việt Nam
Mục tiêu là hướng tới đáp ứng nhu cầu tiêu dùng trong nước và đẩy mạnh xuất khẩu
2010 là 23 - 25%/năm và đạt kim ngạch khoảng 1000 triệu USD vào năm 2015”
Trước mắt tập trung xuất khầu vào các thị trường gần có yêu cầu không cao về tiêu chuẩn chất lượng, mà trọng tâm là các tỉnh nam Trung Quốc, Singapore, Đài Loan, bước
Trang 11tiếp theo là Hàn Quốc, Nhật Bản, sau đó từng bước vươn ra các thị trường xa như Hoa Kỳ, Liên bang Nga, EU Đồng thời, khai thác tốt thị trường nội địa
Phương hướng mở rộng diện tích tại các vùng chuyên canh sản xuất hoa như sau:
- Dự kiến đến năm 2015 diện tích trồng hoa cả nước sẽ là 20.000 ha, trong đó nhiều vùng trồng hoa theo quy trình công nghệ cao (Đà Lạt, TP Hồ Chí Minh, Lào Cai,
Hà Nội )
- Phát triển sản xuất sản phẩm hoa xuất khẩu trên cơ sở phát huy lợi thế so sánh
của mỗi vùng, mỗi địa phương nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh
- Phải luôn luôn gắn bó chặt chẽ giữa sản xuất và xuất khẩu, xuất phát từ nhu cầu thị
trường, lấy thị trường làm căn cứ chủ yếu để xây dựng kế hoạch, qui hoạch sản xuất kinh doanh
- Tạo cơ chế hợp tác giữa các địa phương, các đơn vị sản xuất và kinh doanh, phối hợp hài hòa, linh hoạt giữa tiêu thụ trong nước và xuất khẩu, tạo nguồn cung ứng ổn định, dần từng bước nâng cao năng lực xuất khẩu
Bảng 1.1 Kế hoạch mở rộng diện tích các vùng trồng hoa đến năm 2015 Đơn vị tính: Ha
2 Trung du miền núi Bắc Bộ 137 500 Lào Cai, Hà Giang, Sơn La
1.4.2 Ph ương hướng phát triển ngành hoa, cây cảnh Việt Nam
Nhóm giải pháp cho sản xuất:
- X ây dựng các mô hình các liên kết vệ tinh với vai trò chủ đạo là các doanh nghiệp sản xuất, xuất khẩu Đẩy mạnh sản xuất - tiêu thụ thông qua hợp đồng giữa các
doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế và người sản xuất (hợp tác xã, hộ nông dân, chủ trang trại ), trong đó các doanh nghiệp đóng vai trò chủ đạo ứng dụng các công nghệ tiên tiến, tổ chức sản xuất, thu gom và xuất khẩu theo quy trình công nghệ mới Các điển hình này sẽ được nhân rộng ra các địa phương khác
- Thành l ập các Trung tâm giao dịch rau, hoa, quả tại Lào Cai, Đà Lạt và thành phố Hồ Chí Minh: Đây sẽ là các trung tâm tập kết, bảo quản, giao dịch và ký kết các hợp
đồng xuất khẩu hoa cảnh nhằm giảm thiểu tình trạng hư hỏng sản phẩm hàng hóa và tránh nguy cơ bị ép cấp, ép giá Các trung tâm này sẽ được trang bị hệ thống kho lạnh để bảo
quản hoa, các Kiôt cho khách hàng từ các nơi đến thuê để giao dịch, mua bán; các tiện ích khác như ngân hàng, vận tải, bốc vác, ăn nghỉ
- Khuy ến khích thành lập các tổ chức, công ty sản xuất và kinh doanh vật tư phục
vụ ngành hoa cảnh Khuyến khích và giúp đỡ các công ty có khả năng, có nguyện vọng
đứng ra thành lập các công ty chuyên doanh các loại vật tư phục vụ sản xuất, xuất khẩu
như giống, phân bón, các loại thuốc bảo vệ thực vật, giá thể hoặc chất liệu (như mùn dừa)
để trồng hoa theo phương pháp canh tác mới, máy móc nông cụ, thiết bị (nhà kính, nhà
Trang 12lưới, máy tưới tiêu, lọc nước, ống dẫn nước ) dụng cụ canh tác (xe kéo, máy cắt cỏ, dao,
kéo )
-Quy hoạch lại các cơ sở hạ tầng thương mại Để tăng cường khả năng tiêu thụ,
giảm chi phí trung gian để hạ giá thành, chọn lựa hàng phẩm cấp cao cho xuất khẩu; bên cạnh việc phát triển sản xuất, các cấp, các ngành cần quy hoạch lại cơ sở hạ tầng thương
- Liên doanh v ới doanh nghiệp nước ngoài Để phát triển các loại cây trồng có khả
năng cạnh tranh trong xuất khẩu, có thể sử dụng nguồn vốn đầu tư nước ngoài vào các dự
án phát triển sản xuất theo hướng thâm canh tăng năng suất, chất lượng, hạ giá thành sản
phẩm Các mô hình sản xuất có thể với các hình thức: huy động 100% vốn nước ngoài
hoặc liên doanh giữa doanh nghiệp trong nước và doanh nghiệp nước ngoài, hướng mạnh
vào những khu nông nghiệp công nghệ cao
Nhóm gi ải pháp cho xuất khẩu
- Tổ chức xuất khẩu: Hỗ trợ các công ty TNHH/HTX đàm phán ký kết hợp đồng
ngoại và tổ chức xuất khẩu, thanh toán quốc tế Thiết lập các quan hệ bạn hàng nước ngoài và tổ chức các hoạt động xúc tiến thương mại
- Đẩy mạnh hợp tác quốc tế Cần tăng cường theo hướng:
+ Đàm phán song phương với các nước để ký kết các hiệp định về kiểm dịch động
thực vật, công nhận lẫn nhau về các cơ sở kiểm tra, cấp giấy chứng nhận chất lượng
+ Hợp tác quốc tế trong lĩnh vực chuyển giao khoa học công nghệ, tiếp cận với các loại giống hoa tiên tiến và kỹ thuật hiện đại trên thế giới
+ Hợp tác quốc tế về lĩnh vực vệ sinh an toàn thực phẩm Nắm bắt kịp thời những yêu cầu VSATTP của mỗi nước, giúp các doanh nghiệp hiểu và đáp ứng kịp thời
- Chấn chỉnh hệ thống các trung tâm kiểm tra chất lượng
- H ỗ trợ xây dựng thương hiệu và xúc tiến thương mại Các doanh nghiệp cần phải
quan tâm đầu tư xây dựng và bảo vệ nhãn hiệu hàng hoá cho sản phẩm của mình
- Thành l ập và phát triển các Hiệp hội ngành hàng Theo kinh nghiệm các nước
phát triển, cần thành lập Hiệp hội xuất nhập khẩu hoa Trong tương lai, có thể lập riêng
Hiệp hội cho từng loại hoa hay mặt hàng Tổ chức này là đầu mối giao lưu với các tổ chức
quốc tế
- Thống kê, thông tin thị trường: Tổ chức nghiên cứu thị trường hoa thế giới và khu
vực, các tư liệu cần thiết cho sản xuất và xuất nhập khẩu, những vật tư thiét bị chuyên dùng
Nhóm giải pháp về cơ chế chính sách
Trong giai đọan công nghiệp hóa, hiện đại hóa hiện nay, phát triển xuất khẩu hoa
là một nhu cầu khách quan bởi vì ngành hàng này, nếu được tổ chức tốt, áp dụng các tiến
Trang 13bộ khoa học kỹ thuật, sẽ đem lại hiệu quả kinh tế cao, hơn cả lúa và nhiều loài hoa màu khác
- Chính sách h ỗ trợ sản xuất, bảo quản hoa xuất khẩu Tiếp tục đổi mới chính sách
tài chính, đổi mới cơ chế tín dụng, quy chế và thủ tục cho vay
- Chính sách về chuyển dịch cơ cấu sản xuất, đất đai, khuyến nông
+ Nghiên cứu điều chỉnh các chính sách về đất đai nhằm khuyến khích các tổ chức trong và ngoài nước tăng cường đầu tư vào nông nghiệp Khuyến khích người nông dân tích tụ đất, phát triển một cách ổn định và lâu dài, sản xuất hàng hoá trên quy mô lớn, có chất lượng cao, đáp ứng yêu cầu thị trường
+ Tiếp tục hoàn thiện hệ thống khuyến nông Khuyến khích mọi thành phần kinh tế đầu tư vào ngành giống Đầu tư nâng cấp và hoàn thiện các cơ sở sản xuất giống, ứng dụng công nghệ sinh học trong nghiên cứu hoa cảnh;
- Hỗ trợ phát triển nguồn nhân lực Tổ chức đào tạo ngắn hạn hay dài hạn Áp
dụng các biện pháp khuyến khích và hỗ trợ các hoạt động đào tạo nghề cho các doanh nghiệp sản xuất hoa xuất khấu Khuyến khích nhà đầu tư nước ngoài chuyển giao công nghệ và đào tạo quản lý cho các doanh nghiệp Việt Nam Khuyến khích các hình thức hợp tác đào tạo giữa các doanh nghiệp và các cơ sở đào tạo nghề trong nước và quốc tế
- Chính sách xúc ti ến xuất khẩu Thông qua các cơ quan ngoại giao đại diện ở nước
ngoài quảng bá thương hiệu và giới thiệu tiềm năng ngành sản xuất hoa kiểng của Việt Nam Xây dựng mục tiêu dài hạn nhằm xuất khẩu đến các thị trường Bắc Mỹ và châu Âu
Trang 14
CHƯƠNG 2 MỘT SỐ VẤN ĐỀ ĐẠI CƯƠNG
2.1 Nguồn gốc và phân loại:
2.1.1 Nguồn gốc:
Cũng giống như các loại cây trồng khác, các chủng loại hoa ngắn ngày hiện nay đã trải qua hàng nghìn năm tiến hóa thông qua chọn lọc tự nhiên và chọn lọc nhân tạo Từ các trung tâm khởi nguyên ban đầu, chúng đã biến đổi để thích nghi với điều kiện sinh thái vì được con người đem đi trồng ở nhiều nơi khác nhau Do ảnh hưởng lâu dài của điều kiện khí hậu môi trường thay đổi và các hình thức chọn lọc tự nhiên và chọn lọc nhân tạo đã sản sinh ra nhiều loại hình mới với đặc tính sinh học có nhiều thay đổi Tuy vậy, nhờ cơ chế di truyền nên chúng vẫn giữ nguyên một số đặc tính di truyền căn bản
Nguồn gốc xuất xứ khác nhau của các loại hoa, cây cảnh được phản ánh qua các yêu cầu về điều kiện ngoại cảnh khác nhau Trên cơ sở đó, kỹ thuật trồng trọt cũng lưu ý
để thoả mãn yêu cầu riêng biệt của từng loài cây trồng hay hoa, cây cảnh cụ thể
Nguồn gốc các loài hoa thảo được phân tích dựa trên các học thuyết cơ bản đó là:
- Học thuyết về các trung tâm khởi nguyên các giống cây trồng trên thế giới và qui luật về dãy biến dị tương đồng của nhà khoa học Nga nổi tiếng N I Vavilov
- Học thuyết tiến hóa của nhà tự nhiên học người Anh Đac Uyn (Charles Robert Darwin 1809-1892) Trên cơ sở học thuyết của Đac Uyn các nhà khoa học sau đó đã hình thành nên thuyết tiến hóa tổng hợp rất có ý nghĩa trong công tác lai và chọn tạo giống mới
Các loại hoa cảnh trên thế giới phần lớn có nguồn gốc ở hai vùng sau:
- Vùng cận nhiệt đới và vùng ôn đới ven biển khí hậu tương đối ấm áp với nhiệt độ trong năm chia làm các mùa khác nhau rõ rệt, mùa đông nhiệt độ xuống thấp nhưng không lạnh lắm Đó là các vùng như Mêhicô, Trung cận đông, Trung Quốc và Nhật Bản
- Vùng nhiệt đới có khí hậu ấm áp quanh năm, không có mùa đông rõ rệt, lượng mưa tương đối cao và phân bố không đều trong 1 năm hình thành nên 2 mùa mưa và mùa khô Đó là các vùng như Đông nam Á, vùng nhiệt đới châu Phi và vùng nhiệt đới Nam
Mỹ
Có thể liệt kê một số loài hoa có chung nguồn gốc từ các trung tâm khởi nguyên như:
- Tru ng tâm Mêhicô (Trung Mỹ):
+ Ánh hồng (Pachyptera hymenaea (DC.) A Gentry) họ Đinh (Bignoniaceae) + Cúc chuồn chuồn (Cosmos bipinnatus Cav.), họ Cúc (Asteraceae)
+ Cúc chuồn chuồn hoa vàng (Cosmos sulphureus Cav.), họ Cúc (Asteraceae) + Cúc chùy (Rudbeckia fulgida Ait ), họ Cúc (Asteraceae)
+ Cúc hôi tím (Ageratum houstonianum Mill.), họ Cúc (Asteraceae)
+ Cúc di nha (Zinnia elegans Jacq ), họ Cúc (Asteraceae)
+ Hoa Phlốc (Phlox drummondii Hook f), họ hoa Phlốc (Polemoniaceae)
+ Long thủ (Justicia brandegeana Wass Et Sm), họ Ô rô (Acanthaceae)
Trang 15+ Thược dược (Dahlia pinnata Cav.), họ Cúc (Asteraceae)
- Trung tâm Địa Trung Hải (hay Trung Cận Đông)
+ Anh thảo (Cyclamen persicum) họ Trân châu (Primulaceae)
+ Cẩm chướng nhung (Dianthus barbatus) họ Cẩm chướng (Caryophyllaceae) + Cẩm chướng thơm (Dianthus caryopyllus L.) họ Cẩm chướng (Caryophyllaceae) + Hoa mõm sói (Antirrhinum majus L) họ Mõm sói (Scrophulariaceae)
+ Lay ơn (Gladiolus gandavensis hort.) họ Lay ơn (Iridaceae)
+ Lô hội (Aloe barbadensis Mill.) họ Lô hội (Asphodelaceae)
+ Súng đỏ (Nymphaeae rubra Roxb.ex Salisb) họ Súng (Nymphaeaceae)
- Trung tâm Đông Á (Trung Quốc, Nhật Bản)
+ Bồ công anh Trung quốc (Taraxacum officinale Wigg.) họ Cúc (Asteraceae) + Cẩm chướng tàu (Dianthus chinensis L) họ Cẩm chướng (Caryopyllaceae)
+ Cẩm tú cầu (Hydrangea marcophylla DC.) họ Tú Cầu (Hydrangeaceae)
+ Cúc hoa trắng (Chrysanthemum morifolium Ramat.) họ Cúc (Asteraceae)
+ Cúc tím (Callistephus chinensis L) họ Cúc (Asteraceae)
+ Hoa chông (Barleria cristata L) họ Ô rô (Acanthaceae)
+ Hoa hồng (Rosa chinensis Jacq.) họ Hoa hồng (Rosaceae)
+ Hoa sao (Hoya carnosa R Br.) họ Thiên lý (Asclepiadaceae)
+ Lan thoát bào (Lycoris aurea Herb ) họ Thủy tiên (Amaryllidaceae)
+ Mẫu đơn (Paeonia sulffruticosa Haw.) họ Mao lương (Ranunculaceae)
- Trung tâm vùng nhiệt đới châu Phi
+ Agabăng (Agapanthus umbella L.) họ Hành (Alliaceae)
+ Bướm hồng (Mussaenda erythrophylla Schum & Thonn.) họ Cà phê (Rubiaceae)
+ Dây bông cảnh (Thunbergia battescombei) họ Ô rô (Acanthaceae)
+ Đồng tiền (Gerbera jamesonii Bolus Ex Hook.) họ Cúc (Asteraceae)
+ Huyết hoa (Haemanthus multiflora) họ Thủy tiên (Amaryllidaceae)
+ Mai địa thảo (Impatiens walleriana Hook.) họ Bóng nước (Balsaminaceae) + Thiên điểu (Strelitzia reginae) họ Thiên điểu (Strelitziaceae)
2.1.2 Phân loại:
Do sự khác biệt về ngôn ngữ, thổ ngữ nên tên gọi của các loài hoa có thể khác nhau giữa các quốc gia, các dân tộc và giữa các vùng miền trong một quốc gia, do đó các nhà khoa học luôn dựa trên hệ thống phân loại thực vật bằng tiếng Latin để định danh một loài cụ thể nào đó Thứ tự sắp xếp là phân giới – ngành – lớp - bộ - họ - chi - loài Theo hệ thống này các loài hoa thảo đều thuộc về phân giới thực vật bậc cao, phần đông thuộc
ngành hạt kín hay là ngành Ngọc Lan (Magnoliophyta) Trong ngành này có 2 lớp là lớp hai lá mầm (Dicotyledoneae) và lớp một lá mầm (Monocotyledoneae) với nhiều loại thực
vật hoa thảo
Hệ thống phân loại này cho biết mối quan hệ họ hàng giữa các loài hoa và các loài thực vật khác rất có ý nghĩa đối với các nhà nghiên cứu về thực vật học, di truyền và chọn tạo giống mới Trong các giao dịch buôn bán quốc tế, kiểm dịch thực vật, sưu tập và bảo tồn nguồn gen… cũng định danh loài cụ thể dựa trên hệ thống phân loại này
Trang 16Ngoài ra, người ta còn phân nhóm các loài hoa thảo theo đặc tính cơ quan sinh sản, kiểu hình cây…, ví dụ:
- Căn cứ vào đặc điểm thực vật (thân leo, dạng bụi….)
- Căn cứ vào kỹ thuật trồng trọt
Cách phân loại này phản ánh phần nào đặc điểm riêng biệt của loài hoa thào, người trồng có cơ sở định hướng ban đầu về cách trồng và chăm sóc cho từng loài hoa để đạt được hiệu quả cao (bảng 2.1)
B ảng 2.1 Phân loại hoa thảo theo đặc tính thực vật và kỹ thuật trồng trọt
3 Tán cây dạng bụi Hồng, tú cầu, nguyệt quới, bụp, lài, trang, thơm ổi, cúc,…
4 Cây thủy sinh Sen, súng
5 Thân mộc Ngọc lan, mai, đào, hồng…
6 Thân thảo Cúc, cẩm chướng, Thu hải đường, Vạn thọ, Mào gà, sao nhái,
đồng tiền, thược dược…
7 Che phủ đất Mười giờ, dừa cạn, cỏ lá gừng, cỏ lông heo…
2.2 Môi trường khí quyển và đời sống của cây hoa:
Nhiều yếu tố trong thiên nhiên như nhiệt độ, ẩm độ không khí, ánh sáng, … tác động trực tiếp và có tính quyết định đến đời sống cây trồng nói chung Riêng đối với các loài hoa ngắn ngày, tác động lại càng rõ rệt hơn, vì cây hoa nói chung rất mẫn cảm với môi trường xung quanh Người trồng hoa phải sắp xếp công việc một cách hợp lý nhằm đảm bảo sự phát triển của hoa đạt năng suất cao, chất lượng tốt Trong quá trình trồng trọt
cần phải chú ý đến sự tác động và sự cân đối giữa các yếu tố đó đối với từng giai đoạn phát triển của cây hoa Ở chương này chỉ trình bày một số yếu tố chính như: nhiệt độ, ẩm
độ, ánh sáng
2.2.1 Nh iệt độ
Nhiệt độ không khí tác động mạnh mẽ đến đời sống của thực vật Trong từng giai đọan sinh trưởng và phát triển, cây trồng cần điều kiện ngoại cảnh nhất định, trước hết là nhiệt độ Cho nên tình hình biến thiên của nhiệt độ ảnh hưởng rõ rệt đến sự phát triển của cây trồng trong tất cả các giai đọan cũng như đối với mọi hoạt động sinh lý của cây, quang
hợp, hô hấp, hấp thụ chất dinh dưỡng trong đất Nhiệt độ không khí cao thúc đẩy sự phát triển của cây nhờ tăng cường độ quang hợp Khi hoa mới kết nụ gặp nhiệt độ cao sẽ nở nhanh hơn Nhưng nếu nhiệt độ quá cao so với yêu cầu của cây, lại gặp lúc không khí khô, gió hanh thì sự sinh trưởng và phát triển của cây bị ngưng trệ, hoặc sự sống bị đe dọa,
nhất là vào giai đọan cây sắp ra hoa Nhiệt độ cao kéo dài có thể rút ngắn tuổi thọ của hoa Theo R Bossard, khi nhiệt độ tăng 10oC thì sự chuyển biến trong cây tăng 2,2 lần so với nhiệt độ bình thường Nhưng nếu nhiệt độ tăng lên trên 40-50o
C thì sự sinh trưởng của nhiều loài cây bị ngừng lại Điều kiện nhiệt độ không khí thích hợp hay khí trời ấm áp thì cây sinh trưởng và phát triển được thuận lợi, hoa tốt và nở sớm hơn, hiệu suất cao hơn,
chất lượng tốt hơn Đa số các loài hoa thích hợp với nhiệt độ ôn hòa, mát mẻ 18-25 0 C
Trang 17Trong điều kiện nhiệt độ thấp, hạt giống khó nảy mầm, lâu mọc, cây con chậm lớn,
sự sinh trưởng gần như ngừng lại, cành nhánh phát sinh ít và yếu, hoa nở muộn và không đều Tuy không chết nhưng cây sống cằn cỗi, lá giòn, cành úa vàng, cây thấp, nụ hoa mới nhú bị điếc hoặc khô cháy Nói chung trong điều kiện nhiệt độ thấp, cây khó sinh trưởng
và phát triển Một số biện pháp áp dụng để chống rét như: chọn giống chịu rét, bón phân
tưới nước đầy đủ, xới đất kỹ, che chắn gió, tủ gốc cây bằng rơm rạ, lá khô, hoặc vun
những đống phân nhỏ giữa các hàng cây để phân tiếp tục hoai tỏa nhiệt làm ấm cây trong vài ba tuần (tưới nước những đống phân để thúc đẩy sự lên men)
Tuy vậy, nhiệt độ thấp cũng có thuận lợi như hoa lâu tàn, hoa cắt bảo quản được
lâu hơn, củ hoa cất giữ trong điều kiện nhiệt độ thấp để hãm sự nảy mầm sớm Ban đêm nhiệt độ hạ thấp sẽ hạn chế sự hô hấp nhờ vậy cây sẽ ít bị tiêu hao các chất dự trữ
Nhiệt độ trong đất cũng tác động mạnh đến quá trình sinh trưởng và phát triển của cây Rễ là bộ phận chịu ảnh hưởng trực tiếp của nhiệt độ đất Trong điều kiện nhiệt độ đất cao, bộ rễ cây phát triển mạnh, hạt giống mới gieo nảy mầm nhanh Hạt giống các loài hoa nói chung, chỉ có thể nảy mầm trong phạm vi nhiệt độ đất nhất định Nhiệt độ quá cao
hoặc quá thấp, hạt giống khó mọc hoặc không mọc được
Nhiệt độ đất cũng là một trong những yếu tố tác động mạnh đối với sự xâm nhập
nước vào rễ cây Trong những lúc nhiệt độ đất thấp, khả năng hút nước của cây giảm sút khá nhanh Vấn đề đặt ra cho người trồng hoa là phải tìm mọi biện pháp để nâng cao nhiệt
độ đất Nhiệt độ trong đất được nâng cao chủ yếu bằng năng lượng bức xạ của mặt trời Ngoài ra còn nhờ nhiệt lượng do hoạt động của vi sinh vật chuyển hóa các chất mùn trong đất Do đó, đất nhiều mùn, thoáng, là đất có chế độ nhiệt tốt Vì vậy cần bón nhiều phân hữu cơ, phân chuồng, phân xanh, rác, lá, có tác dụng cải tạo đất hợp lý Đây là những biện pháp có hiệu quả để đảm bảo điều kiện nhiệt tốt cho đất
Tóm lại, nhiệt độ không khí và nhiệt độ đất tác động mạnh đến đời sống của cây Nhiệt độ cao thích hợp thì thuận lợi đối với sự sống của cây hoa, cho hiệu suất cao, chất
lượng tốt, hoa nở sớm hơn, trái lại nếu nhiệt độ quá thấp thì không những cây khó phát triển, hoa nở chậm, hiệu suất và chất lượng kém Hiện nay người trồng hoa đã áp dụng nhiều biện pháp tác động nhiệt độ để thúc đẩy hoa nở sớm hơn hay hãm hoa nở chậm
2.2.2 Độ ẩm không khí và các biện pháp tưới tiêu
Phân tích theo các chỉ tiêu liên quan đến độ ẩm và nhu cầu nước đối với đời sống,
thực vật được chia thành 3 nhóm: thực vật ưa ẩm, thực vật chịu hạn và thực vật trung sinh
Độ ẩm không khí hay hơi nước trong khí quyển là một yếu tố khí tượng quan trọng, không
những ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống của thực vật trong tất cả các giai đọan của nó một cách rõ rệt mà còn kết hợp với nhiều yếu tố môi trường khác như ánh sáng, nhiệt độ… để tác động đến toàn bộ hoạt động sinh lý của cây trồng
Tưới nước cho cây trồng là biện pháp canh tác quan trọng để thõa mãn nhu cầu
nước, cải thiện môi trường sống trong điều kiện khí hậu khô nóng khi độ ẩm không khí
thấp Thực vật cần độ ẩm không khí cao để đáp ứng cho các nhu cầu sinh lý và còn để hạn
chế sự phát tán hơi nước của bộ lá Đối với những loài cây có tán lá lớn, bản lá rộng, diện tích phát tán hơi nước rất lớn thì độ ẩm không khí cao là rất cần thiết Sự phát tán hơi
nước càng ít nếu độ ẩm không khí càng cao và ngược lại Nếu độ ẩm không khí hạ thấp thì
Trang 18cường độ phát tán hơi nước của cây tăng nhiều có khi tăng đến mức làm ảnh hưởng xấu đến hoạt động sinh lý trong cây Một số cây kém chịu đựng đối với hoàn cảnh này có phản ứng rõ rệt, ví dụ: cành lá rũ rượi, toàn bộ cây trồng xơ xác Trong lúc này nếu không tưới
nước và tạo môi trường ẩm ướt thì sẽ có nhiều tác hại cho cây về cả hai mặt năng suất và phẩm chất Tùy theo quy mô sản xuất, biện pháp trồng trọt (trong chậu, trồng đất, nhà
lưới…) và chủng loại cây trồng người trồng hoa có thể áp dụng các phương pháp tưới
nước như: tưới theo băng, tưới theo rãnh, tưới bằng đường ống áp lực, tưới phun mưa hạt
lớn cố định và di động, tưới phun mưa hạt nhỏ và tưới nhỏ giọt
Hàng ngày tiến hành tưới phun 1-3 lần tùy tình hình hanh khô nhiều hay ít, và tuỳ
sự chịu đựng của từng giống cây Cần chú ý chỉ gây ẩm không khí ban ngày, tránh ban đêm, vì độ ẩm không khí sẽ thúc đẩy sự hô hấp của cây mạnh hơn, mà hô hấp mạnh làm cho tiêu hao dự trữ trong cây tăng nhiều Trừ những ngày hè quá nóng thì có thể bơm
nước tưới cây lúc mặt trời sắp lặn
Đối với những cây mới bứng trồng, bộ rễ bị cắt đau, điều kiện hút nước giảm sút nhiều, trong lúc bộ lá vẫn tiếp tục phát tán hơi nước bình thường đến mức độ làm cây hết
nước, khô héo, chết Độ ẩm không khí cao sẽ hạn chế rất hiệu quả sự phát tán hơi nước trong trường hợp đó Trong thực tế sản xuất người ta đã ứng dụng (cắt cành lá, phun mù…) vào các công việc như bứng cây, giâm cành vv…Đối với những cây như phong lan…sống gởi trên các cây khác hoặc trên một vật đỡ khác thì sự đòi hỏi độ ẩm không khí cao lại càng khắt khe hơn, vì đây là nguồn cung cấp nước chính của chúng
Trong điều kiện thiếu nước tưới, nếu độ ẩm không khí cao sẽ là nguồn cung cấp nước cho cây trồng rất tốt, bởi vì lá có thể hút nước từ không khí qua các khí khổng Ngoài những lợi ích như đã nêu trên, độ ẩm không khí cao cũng gây một số tác hại nhất định cho cây trồng nhất là lúc ra hoa kết quả Ví dụ, ẩm độ cao, quả và hạt sẽ chứa nhiều
nước, khó bảo quản, dễ bị nấm phá hại; hay cây chứa nhiều nước khó thu hoạch, dễ bị đổ ngã
Độ ẩm không khí cao có lợi, nhưng độ ẩm không khí thấp cũng cần thiết trong một
số trường hợp, ví dụ lúc hoa nở cần khí trời hanh khô Vì nếu độ ẩm không khí cao, nước
sẽ đọng lại trong tuyến mật làm thối hoa, hoặc gây khó khăn cho thu hoạch hạt giống hoa
Do đó cần nghiên cứu bố trí thời vụ để phù hợp với sự thay đổi của độ ẩm không khí và tránh hoặc hạn chế các tác hại của nó
2.2.3 Ánh sáng
2.2.3.1 Cường độ ánh sáng Trong đời sống thực vật, ánh sáng là nhân tố cơ bản,
chi phối trực tiếp hoặc gián tiếp đến hầu hết các nhân tố khác Cường độ và thành phần của phổ ánh sáng giảm dần từ xích đạo đến các cực, từ mặt nước đến đáy sâu Ánh sáng nhìn thấy trực tiếp tham gia vào quá trình quang hợp, quyết định đến thành phần cấu trúc của hệ sắc tố và sự phân bố của các loài thực vật Phổ hấp thụ ánh sáng của chất diệp lục (chlorophyl) hấp thụ mạnh trong miền xanh (bước sóng khoảng 430nm) và trong miền đỏ (bước sóng khoảng 660nm) Vì ánh sáng màu lục ở giữa miền ánh sáng nhìn thấy (hay ánh sáng khả kiến) không được diệp lục hấp thụ hiệu quả nên hầu hết các tia ánh sáng lục được phản chiếu vào mắt ta và tạo cho cây có đặc trưng màu lục
Trang 19Tiến hóa và thích nghi với điều kiện chiếu sáng khác nhau tạo nên các loài thực vật
có nhu cầu ánh sáng khác nhau đối với đời sống, và được chia thành 3 nhóm chính:
- Nhóm cây ưa sáng (nhiều loại cỏ….) mọc nơi trống trải, có lá dày, màu xanh
nhạt Trên tầng ưa sáng của rừng ẩm nhiệt đới cây còn phân thành 3 đến 5 tầng cây vượt tán với những thân cây cao 40-50m hay hơn nữa
- Nhóm cây chịu bóng tiếp nhận ánh sáng khuyếch tán, thường sống dưới tán cây khác (phong lan, vạn niên thanh…) có lá mỏng, màu xanh đậm
- Nhóm cây trung gian giữa 2 nhóm trên bao gồm những loài cây phát triển được
cả ở nơi nhiều ánh sáng và ở những nơi thiếu ánh sáng tạo nên tấm thảm xanh ở đáy rừng
Ánh sáng nói chung, nhất là ánh sáng do mặt trời cung cấp, là nguồn năng lượng quan trọng đối với đời sống của thực vật Ánh sáng rất cần thiết đối với sự sinh trưởng và phát triển của cây cối Ánh sáng đầy đủ giúp cho cây quang hợp đảm bảo sự tăng trưởng (lớn lên về khối lượng) và tạo nên những bộ phận dự trữ trong cây như rễ, củ, quả
Cường độ ánh sáng và thời gian chiếu sáng tác động mạnh đến sự phát triển, ra hoa
kết quả, và nhu cầu thay đổi tùy loại cây, tuổi cây Đối với những loài cây mẫn cảm với ánh sáng thì cường độ ánh sáng có tác dụng thúc đẩy sự sinh trưởng và phát triển của cây Nhưng trong giai đoạn đầu, lúc cây còn nhỏ, cường độ ánh sáng cũng không đòi hỏi cao
Tuổi cây càng cao, nhu cầu cường độ ánh sáng càng nhiều hơn
Cây con mới nảy mầm, cành mới cắt giâm, cần được che kín, hạn chế ánh nắng trực xạ để rễ non không bị khô nóng Trong thời kỳ này, mầm non sử dụng chất dự trữ trong hạt giống, trong cành giâm, vì vậy trong bóng tối, mầm non mọc nhanh hơn so với ngoài ánh sáng Nhưng khi chất dự trữ trong hạt giống, trong cành giâm đã giảm, mầm non mọc chậm lại (hoặc cố vươn vống một mức độ nào đó rồi cũng khô héo) Sở dĩ như
vậy là vì trong bóng tối cây không quang hợp được Cho nên khi giâm cây cần che mấy ngày đầu Sau đó, tháo mái che dần dần cho cây con làm quen với ánh sáng, cây quang hợp, tự tạo lấy thức ăn Mùa hè, cường độ ánh sáng mạnh hơn so với các mùa khác trong
năm; giữa trưa, cường độ ánh sáng cao hơn so với các giờ khác trong ngày Tuy ánh sáng
rất cần thiết cho sự quang hợp, nhưng nếu cường độ ánh sáng quá mạnh thì sự quang hợp cũng bị giảm sút, nhất là các loại cây ưa bóng râm Đối với những loài cây không chịu được ánh sáng giữa trưa hè, cần phải có biện pháp hạn chế bằng cách che chắn, hoặc trồng xen cây leo cho bóng Tùy theo sức chịu đựng của từng loại cây và tuổi cây người ta sử dụng các loại lưới để che ánh sáng khoảng 30-50%
Nếu nhiệt độ cao, trời nhiều mây, ánh sáng yếu, lúc này cây quang hợp yếu nhưng
hô hấp lại mạnh, nên tiêu hao nhiều chất hữu cơ Trong trường hợp này, cần áp dụng một
số biện pháp để hạn chế tác hại, ví dụ như tưới phun để hạ thấp nhiệt độ không khí vv
2.2.3.2 Hiện tượng quang chu kỳ hay tương quan độ dài ngày đêm
Ngoài phản ứng với cường độ ánh sáng, cây hoa còn phản ứng với thời gian chiếu sáng trong ngày hay tương quan độ dài ngày đêm và được phân thành 3 nhóm là cây ngày
ngắn, cây ngày dài, và cây trung tính
Nhóm cây ngày ng ắn
Những cây ngày ngắn phần lớn là cây miền nhiệt đới, ví dụ hoa huệ, hoa sen, thời gian chiếu sáng hàng ngày chỉ cần từ 10-12h Nếu thời gian chiếu sáng hàng ngày dài trên
Trang 2013h hoa nở chậm, thời gian chiếu sáng dài hơn nữa, hoa sẽ không nở, lá phát triển rậm
rạp Nhưng thời gian chiếu sáng hàng ngày dưới 10h, hoa cũng sẽ chậm nở, thời gian chiếu sáng quá ngắn, hoa không nở được
Đối với những cây hoa ngắn ngày nên trồng ở những khu vực được che bóng mát
từ khoảng 4 giờ chiều cho đến tối Có thể giảm bớt thời gian chiếu sáng, hoặc bằng cách che chắn tạo bóng tối trước khi mặt trời lặn kéo dài đến tối Thông thường, nên che bóng
tối từ 16-17h trước khi mặt trời lặn Trong trường hợp tạo thêm thời gian bóng tối, phải
thực hiện liên tục không ngắt quãng giữa ban ngày và ban đêm vì điều kiện chủ yếu là tổng số thời gian bóng tối liên tục
Nhóm cây ngày dài
Những cây ngày dài phần lớn là cây ở miền ôn đới, ví dụ các giống hoa mùa rét
như: cẩm chướng, mõm sói, chân chim, hướng dương,…
Đối với cây ngày dài, nếu ngày càng dài, cây trổ hoa càng sớm Người ta đã dùng đèn chiếu sáng bổ sung làm cây ngày dài nhanh ra hoa kết quả Có thể chiếu sáng bằng ánh sáng đèn điện trước khi mặt trời mọc, hoặc liền sau khi mặt trời lặn Thông thường, nên bố trí thêm giờ chiếu sáng trước khi mặt trời mọc Vì lúc này, độ ẩm không khí còn cao, tình hình phát tán hơi nước qua lá cây còn yếu, nước do rễ hút lên còn dự trữ trong cây nhiều Nhờ đó, điều kiện quang hợp thuận lợi hơn Bổ sung thêm giờ chiếu sáng trước khi mặt trời mọc còn có lợi là rút ngắn thời gian cây hô hấp, giảm tiêu hao chất dự trữ trong cây Không nên thêm giờ chiếu sáng vào giữa đêm vì điều chủ yếu không phải là tổng số giờ chiếu sáng bị ngắt quãng, mà chính là tổng số giờ chiếu sáng liên tục Điều
cần chú ý là phải làm liên tục suốt thời gian sinh trưởng và phát triển của cây, kết quả mới
rõ ràng Biện pháp tăng thêm giờ chiếu sáng để tăng năng suất cây trồng là một biện pháp
thực tế, thông thường áp dụng cho nhóm cây dài ngày
Rút ngắn thời gian chiếu sáng xuống dưới 13h/ngày đối với cây ngày dài thì hoa sẽ
nở chậm hoặc không nở, lá phát triển rậm rạp Vì vậy, đối với cây hoa ngày dài, cần nhiều ánh sáng, phải chọn nơi không cớm bóng để trồng, đảm bảo đủ ánh sáng liên tục từ 6 giờ sáng đến18 giờ chiều
Nhóm cây trung tính
Đối với nhóm cây trung tính như tú cầu, trà, đỗ quyên thì thời gian chiếu sáng hàng ngày ít ảnh hưởng Cây có thể trổ hoa trong bất kỳ thời gian chiếu sáng nào, nhưng phải đảm bảo tối thiểu từ 8-10h/ngày Nếu đem trồng ở nơi dãi nắng suốt ngày thì hiện tượng
phản ứng đầu tiên của chúng là lá bị nổ cháy, tiếp theo là cây cằn cỗi và có thể khô héo
dần rồi chết Do đó, nên chọn những khu vực cớm bóng để trồng những cây hoa nhóm trung tính
Tóm lại, ánh sáng là một nhân tố quyết định đời sống của thực vật Tác động của
cường độ ánh sáng và thời gian chiếu sáng thay đổi tùy loại cây, tuổi cây Người trồng hoa
cần phải nghiên cứu nắm vững những kiến thức đó để có biện pháp canh tác sử dụng ánh sáng một cách có lợi nhất
2.2.4 Sự phân hóa mầm hoa:
2.2.4.1 Các pha phát triển của thực vật có hoa:
Trang 21Sự phát triển của cá thể thưc vật diễn ra theo chu kỳ được chia thành các giai đoạn hay các pha phát triển chủ yếu dựa theo các dấu hiệu hình thái Theo Chailakhyan chu trình phát triển của thực vật có hoa gồm các giai đoạn như sau:
- Giai đoạn phôi thai: thời kỳ bắt đầu từ tế bào trứng đã thụ tinh đến thời điểm hạt bắt đầu nảy mầm
- Giai đoạn non trẻ: bắt đầu từ khi hạt nảy mầm đến lúc xuất hiện khả năng tạo các
cơ quan sinh sản
- Trưởng thành: từ khi xuất hiện cơ quan sinh sản đến khi thụ tinh, xuất hiện phôi
- Sinh sản: từ khi thụ tinh đến khi hình thành hạt
- Già: từ lúc hình thành quả, hạt đến chết
Theo học thuyết này thì sự phân hóa mầm hoa nằm là sự chuyển tiếp từ giai đoạn 2 (non trẻ) sang giai đoạn 3 (trưởng thành) Hay còn gọi là sự chuyển đoạn từ sinh trưởng dinh dưỡng sang phát triển sinh sản
2.2.4.1 Các kiểu phát triển của thực vật có hoa:
Dựa theo sự phát triển cá thể, có thể phân thực vật có hoa thành ba nhóm như sau:
- Thực vật một năm: Thực vật một năm trải qua chu trình phát triển từ hạt đến hạt
ít hơn một năm Tại miền nhiệt đới với khí hậu ấm áp quanh năm, do vậy hạt và chồi có thể nảy mầm liên tục quanh năm Tác nhân hạn chế sự nảy mầm nảy lộc là nước (mưa hoặc là hoạt động tưới của con người)
- Thực vật hai năm (nhị niên): Chu trình phát triển trong vòng hai năm
- Thưc vật lâu năm (đa niên): thực vật nhóm này có thể phân thành 2 nhóm nhỏ:
+ Thực vật đa niên sinh sản một lần
+ Thực vật đa niên sinh sản nhiều lần: Đặc trưng của nhóm này là các cơ quan sinh dưỡng tiếp tục sinh trưởng cả trong thời gian đang ra hoa cũng như khi cành đã mang quả Nhóm thực vật này bao gồm các dạng sống khác nhau: thân thảo, dây leo, cây bụi nhỏ, cây bụi, cây gỗ Nhiều loài hoa thuộc nhóm này như hoa hồng, hoa lài, hoa mai, trúc đào, trường sinh, tigôn,…vv
2.2.4.3 Các tác nhân bên trong ảnh hưởng đến sự phân hóa mầm hoa:
- Tuổi cây: Theo học thuyết các pha phát triển của thực vật có hoa của Chailakhyan trong giai đoạn trưởng thành trên cây sẽ xuất hiện các cơ quan sinh sản Đến
độ tuổi xác định (trên thực vật thân thảo có thể xác định bằng chỉ tiêu số lá trên cây) tại đỉnh sinh trưởng của thân, mầm lá chuyển hóa thành mầm hoa và gặp điều kiện thuận lợi cây ra hoa, kết quả
- Tương quan dinh dưỡng: Theo các kết quả nghiên cứu của Klebs (1905), khi hàm lượng các hợp chất hydrat carbon trong cây cao hơn các hợp chất nitơ, nghĩa là tỷ lệ C/N lớn thì cây chuyển từ trạng thái sinh trưởng sinh dưỡng sang trạng thái phát triển sinh sản Nhưng không chỉ có tương quan mà các giá trị tuyệt đối của C và của N là quan trọng Ví
dụ thiếu nitơ sẽ ngăn cản ra hoa ở cây cà chua.(Heller R., 1995) Nhưng ngược lại nếu bón
dư thừa đạm (N) sẽ làm chậm ra hoa Các tác nhân có lợi cho sự tích luỹ đường (hydrat carbon) hoà tan kích thích cây ra hoa, ngược lại các tác nhân bất lợi sẽ làm chậm sự ra hoa Theo Chailakhyan (1964) nguyên tắc của Klebs chỉ đúng với thực vật ngày dài
Trang 22- Tương quan hormon: các loài thực vật tự điều khiển sự ra hoa theo tuổi cây Trong chu trình phát triển đến độ tuổi xác định (tuỳ thuộc vào yếu tố di truyền của loài hay giống cây) sẽ xuất hiện tương quan hormon, hình thành gradient của trạng thái trưởng thành trong mô phân sinh đỉnh, kiểm tra sự phân hoá của tế bào theo hướng tạo mầm hoa thay vào sự hình thành mầm lá như trong thời kỳ pha sinh dưỡng Trạng thái trưởng thành phụ thuộc vào tương quan các chất, trong đó có tương quan các hormon nội sinh trong cây
- Hormon ra hoa (florigen) trên cơ sở kết quả các nghiên cứu tách chiết hormon ra hoa trên thưc vật ngày dài Trong điều kiện ngày ngắn, nếu được phun gebberelin chúng
sẽ ra hoa Theo Chailachyan điều đó chứng tỏ sự tồn tại của hormon ra hoa là florigen – một hệ hormon hai thành phần bao gồm gibberelin và một chất chưa tách chiết được là antezin
Để chứng minh cho học thuyết của mình Chailachyan đã làm nhiều thử nghiệm, ví
dụ thí nghiệm đặt 1 lá trong ngày ngắn (che tối), phần cây còn lại đặt trong ngày dài Kết quả cây ra hoa ở những vị trí khác Lá nhận cảm ứng, chồi là nơi phản ứng ra hoa, điều đó khẳng định có sự vận chuyển kích thích từ lá đến chồi Kích thích có bản chất Hormon là
do florigen Hay thí nghiệm ghép cây ngắn ngày và cây dài ngày hay chích chất trích từ cây ngắn ngày hay biến đổi đang hoa vào 1 cây chưa cảm ứng quang kỳ thì làm cây này ra hoa
2.2.4.3 Các tác nhân bên ngoài ảnh hưởng đến sự phân hóa mầm hoa: Nhiều loài
thực vật đã đến độ tuổi ra hoa nhưng vẫn tiếp tục sinh trưởng sinh dưỡng Chúng chỉ ra hoa trong những điều kiện xác định dưới tác động của tác nhân cảm ứng tạo hoa đó là: tương quan độ dài ngày đêm gọi là chu kỳ quang và nhiệt độ dương thấp gọi là tác nhân xuân hóa
- Ánh sáng: hiện tượng quang chu kỳ hay tương quan độ dài ngày đêm đã được nghiên cứu trong phần 2.2.3.2 Thực vật theo đó được chia thành 3 nhóm theo phản ứng chu kỳ quang là: thực vật ngày ngắn, thực vật ngày dài và thực vật trung tính Những nghiên cứu tiếp theo đã phát hiện thêm sự tồn tại phản ứng chu kỳ quang 2 bậc: thực vật ngày dài- ngày ngắn đòi hỏi đầu tiên tác động của ngày dài, tiếp theo là tác động của ngày ngắn và những thực vật ngày ngắn-ngày dài đòi hỏi đầu tiên sự tác động của ngày ngắn, còn về sau là tác động của ngày dài
- Xuân hóa hay tác động của nhiệt độ thấp: Một số thực vật trong quá trình phát
triển yêu cầu phải qua giai đoạn đầu ở nhiệt độ thấp thì mới phát triển bình thường mục đích để phân hóa mầm hoa Căn cứ vào mức độ yêu cầu nhiệt độ khác nhau chia thành 4 nhóm:
+ Thực vật “đông tính”: yêu cầu nhiệt độ từ 0oC đến 10 o
C trong thời gian 30-70 ngày để hoàn thành giai đoạn xuân hóa
+ Thực vật “xuân tính”: yêu cầu nhiệt độ 5-10 o
C trong 5-15 ngày, phần lớn là cây hoa một năm
+ Thực vật “bán đông tính”: là loại hình giữa 2 loại trên
+ Thực vật không có giai đoạn xuân hoá hoặc xuân hoá không mẫn cảm với nhiệt
độ
Trang 23Sau khi cây sinh trưởng dinh dưỡng một thời gian nhất định, sau khi qua giai đoạn phân hóa thì bước vào giai đoạn sinh thực Trước khi chuyển giai đoạn, sinh trưởng dinh
dưỡngthấp dần rồi ngưng hẳn và phân hóa mầm hoa bắt đầu Quá trình này có thể chia thành 3 giai đọan:
- Giai đọan biến đổi sinh lý sinh hóa với sự thay đổi ở các đỉnh sinh trưởng biểu
hiện sự tích tụ nhiều protein ở đỉnh và các tế bào phân chia mạnh
- Giai đoạn phân hóa hình thái: búp thay đổi
- Giai đọan hình thành tế bào đơn tính (đực, cái) trong các bông hoa hình thành các vòi nhò túi phấn, và các bầu nhụy
2.2.4.4 Lo ại hình phân hóa mầm hoa: Trên cơ sở thời kỳ ra hoa trong một năm có
thể phân thành 3 loại như sau
Lo ại hình phân hóa Hè –Thu: Mỗi năm phân hóa một lần từ tháng 6 đến tháng 9
trong mùa hè nhiệt độ cao, cuối mùa thu các bộ phận chủ yếu của hoa được hình thành Tế bào đơn tính hình thành ở nhiệt độ thấp (thu-đông) Nhiều loại cây thân gỗ ở dạng này:
mẫu đơn, linh hương, mai, đào Các loại cây có rễ là loại thân củ cũng phân hóa mầm hoa mùa hè khi nhiệt độ tương đối cao Nhiệt độ để phân hóa không nên quá cao (> 20o
C)
Loại hình phân hóa Đông – Xuân:
Ví dụ: một số loài cây thân gỗ nhỏ như cam, quít thường phân hóa mầm hoa vào tháng 2 - tháng 4 Thời gian tương đối ngắn và không liên tục Một số loài cây 2 năm và các loại mọc theo khóm cũng phân hóa theo mùa Đông – Xuân
Loại hình phân hóa và ra hoa trong năm
* Một số loài cây ra hoa trong mùa thu, đỉnh ngọn và cả cành đó phân hóa ngay Ví duï, tường vi và các loại hoa nhóm phân hóa Hè – Thu, ra hoa vào ngay mùa thu đó như cúc Loại hoa này thời gian phân hóa ngắn
* Loại hình phân hóa nhiều lần trong năm, một năm nhiều lần ra cành Mỗi lần trên đỉnh đầu cành đều có thể hình thành mầm hoa Các loại hoa mọc cụm như Lan Ý Khi thân chính ở dưới mọc đến độ cao nhất định thì sinh trưởng dinh dưỡng ngừng lại, hình thành mầm hoa Hoa Vạn thọ: khi nhiệt độ cao thì ngày ngắn mới ra hoa, ngược lại khi nhiệt độ thấp 12 – 13o
C thì ngày dài mới ra hoa
Đối với cây Duyên cúc hay cúc Di nha (Zinnia elegans) khi ngày ngắn thì hình
thành mầm hoa nhanh, nhưng hoa nhỏ cây phân cành nhiều Khi ngày dài thì cây ra hoa
muộn, hoa nhiều và to, cây mọc dày rậm
Cây đỗ quyên: Dưới điều kiện ngày ngắn, xúc tiến hình thành mầm hoa Giữa các giống khác nhau thì hình thành khác nhau: ngày ngắn dưới 40 – 50 ngày thì hiệu quả tốt
Cây thược dược: ngày ngắn 10 – 12h thì mầm hoa phát triển nhanh, ra hoa sớm
Dưới điều kiện ngày dài, cành nhánh nhiều, hoa nhiều nhưng phát triển chậm
Cây báo xuân (Primula prinata): Dưới nhiệt độ thấp thì bất kể ngày dài hay ngắn
cũng ra hoa Dưới nhiệt độ cao thì chỉ ngày ngắn mới ra hoa
2.3 Đất, giá thể và chất dinh dưỡng
2.3.1 Đất trồng hoa
2.3.1.1 Phân loại đất trồng hoa: Đất là nơi sinh sống của cây trồng Mặc dù cây
lấy một phần khá lớn thức ăn trong không khí, trong nước, nhưng đất vẫn là một nguồn
Trang 24cung cấp dinh dưỡng dồi dào Dựa trên kinh nghiệm đánh giá hàm lượng mùn, thành phần
cơ giới….người trồng hoa thường chia thành một số loại đất trồng hoa như sau: đất thịt, đất sét, đất cát, đất đen, đất đỏ bazan, đất phù sa
- Đất thịt tơi xốp có khả năng giữ nước tốt, đồng thời không khí cũng dễ dàng xâm nhập Ngoài chế độ nước và sự lưu thông không khí được bảo đảm, thì chế độ nhiệt được điều hòa cũng tạo điều kiện cho sự phát triển bình thường của cây Đất thịt có tỉ lệ mùn
nhất định, nhờ vậy sự điều hòa chế độ nhiệt tốt hơn các loại đất khác, chất mùn hấp thụ ánh sáng nhiều, phản chiếu lại ít Ngoài ra sự phân giải chất mùn cũng là nguồn năng
lượng làm ấm đất Nói chung, các chủng loại cây hoa phát triển rất tốt trên đất thịt, loại đất có kết cấu tốt và giàu chất dinh dưỡng
- Đất sét tuy giữ nước tốt, tương đối giàu chất mùn, nhưng thấm nước rất kém,
thường bị ứ đọng, không khí khó xâm nhập, lực cản kéo lớn, khó làm, khi khô cứng làm đứt rễ cây Biện pháp cải tạo loại đất này chủ yếu là bón phân hữu cơ như phân chuồng, phân xanh, mùn, hoặc nếu có điều kiện thì bồi thêm đất thịt, đất cát để thay đổ thành phần
cơ giới
- Đất cát tuy thấm nước nhanh, không khí dễ xâm nhập, nhưng là loại đất xấu, nghèo chất dinh dưỡng Đất cát giữ nước và giữ chất màu kém, phân bón phân giải quá nhanh, và có thể bị thấm xuống sâu trong đất quá tầm hút của rễ Biện pháp cải tạo loại đất này là bón nhiều phân hữu cơ, hoặc bồi thêm đất mùn, đất thịt, đất sét để cải tạo thành
phần cơ giới
- Đất đen hay đất than bùn: là loại đất có màu đen xám, nhẹ xốp, khi nắm trong tay đất rã nhuyễn thành hạt nhỏ Đất màu mỡ, thích hợp để trồng các loại kiểng chậu lâu năm,
để làm vườn ươm giâm cành một số cây hoa và để làm vườn kiểng nuôi cây giống
- Đất đỏ bazan: có nguồn gốc từ phún xuất núi lửa, màu vàng đỏ Đất màu mỡ, khi ướt dính vào chân Đất giữ ẩm lâu nhưng nếu để khô, đất sẽ nứt nẻ, loại đất này thường
gặp trên vùng cao, khí hậu lạnh, thích hợp với hoa dài ngày
- Đất phù sa: do các sông ngòi vận chuyển, bồi đắp hoặc lắng đọng lại trên đồng
ruộng sau khi nước lũ rút đi Đất rất giàu dinh dưỡng và có màu sắc giống như đất bazan Khi lấy từ ruộng về, đất có lẫn rơm rạ nên rất xốp, dùng làm đất trồng hoa kiểng ngắn ngày
2.3.1.2 Các biện pháp cải tạo đất: Đối với bất kỳ loại đất nào cũng phải nghiên
cứu các yếu tố vật lý, hóa học, sinh học để tiến hành biện pháp cải tạo thích hợp
Cải tạo thành phần cơ giới và hóa lý của đất thông qua các khâu như: cày xới làm đất, luân canh cây trồng, bón phân Cải tạo tính chất đất phải đạt mục đích làm thay đổi những điều kiện không hợp lý về vật lý và hóa học của đất, biến đất xấu thành đất tốt Trong thực tế, loại đất tốt đầy đủ các yếu tố hóa, lý để trồng hoa rất hiếm, mà phải qua quá trình trồng trọt cải tạo mới làm thay đổi tính chất đất theo hướng có lợi nhất
- Kỹ thuật làm đất: Trong quá trình này, không nên đập đất quá vụn vì làm như vậy
là phá vỡ kết cấu của đất Cày đất phơi ải, năng xới, vun gốc để không khí dễ xâm nhập vào đất, diệt cỏ dại Tưới nước đủ nhưng không quá nhiều để ứ đến mức bít tất cả các khe
hở giữa các hạt đất Đối với cây hoa, vấn đề kỹ thuật đó lại càng quan trọng hơn Cây hoa
Trang 25thường có bộ rễ yếu, để giúp cho bộ rễ hô hấp được dễ dàng, đảm bảo cho sự phát triển bình thường thì phải tạo điều kiện cho đất thông thoáng
Cây hoa trồng chậu, nếu tưới nước nhiều làm cho đất ngày càng bị nén không thoáng khí, vì vậy bộ lá có thể bị vàng úa và rụng Các chủng loại hoa trồng bằng củ nên chọn trồng ở các khu đất thịt có độ thông thoáng và tiêu nước tốt
- Luân canh cây trồng là sự thay đổi cây trồng trên từng cánh đồng theo một thứ tự chu kỳ nhất định, dựa trên cơ sở khoa học cây trồng, điều kiện trồng trọt, điều kiện phân bón không những nhằm tăng năng suất cây trồng mà còn để cải tạo đất, đồng thời còn là
một biện pháp tích cực phòng chống sâu bệnh và cỏ dại
Mỗi loài cây yêu cầu một số chất dinh dưỡng nhiều hơn các chất khác trong các giai đọan sinh trưởng và phát triển của nó Cho nên nếu trồng liên tiếp một loại cây trên
một đám đất thì có thể làm cho một vài chất dinh dưỡng bị thiếu hụt, trong khi các chất khác còn nhiều Vì vậy, cây trồng tiếp theo trong các vụ sau, sản lượng bị giảm sút Luân canh thay đổi cây trồng vụ sau khác vụ trước, tình trạng đó có thể khắc phục được Độ sâu của bộ rễ cây trồng khác nhau, có loại ăn sâu (họ đậu), có loại ăn cạn (họ hòa thảo), cho nên thay đổi cây trồng tận dụng được chất dinh dưỡng ở các lớp đất khác nhau Trong thực tế, có cây sử dụng dễ dàng các chất dinh dưỡng khó tiêu, nếu luân canh cây có khả
năng sử dụng các loại chất dinh dưỡng khó tiêu trong vụ trước sẽ có lợi cho những cây
trồng vụ sau
Luân canh có tác dụng phòng ngừa sâu bệnh, vì mỗi loài cây thường bị một số loài sâu bệnh phá hại Sau vụ thu hoạch, mầm mống sâu bệnh còn sống sót trong đất, nếu mùa sau gặp lại loài cây đã trồng trong vụ trước (hay cùng một họ thực vật), chúng sẽ phá hại mạnh hơn Nếu thay đổi cây trồng thì những mầm mống sâu bệnh sẽ bị suy giảm tiêu diệt
Đối với cây hoa, cần nghiên cứu một hệ thống luân canh hợp lý Luân canh các loại cây hoa trồng củ (lay ơn, thược dược, loa kèn,…) với các loại cây trồng bằng gieo hạt (cẩm chướng, bươm bướm, mõm sói,…) hay các loại cây trồng bằng giâm ngọn (cúc, thu
hải đường, tùng diệp,…) Luân canh các loại cây có bộ rễ ăn sâu (phần lớn thuộc họ đậu)
và các loại cây có bộ rễ ăn không sâu (bươm bướm, cúc kim tiền…) Luân canh các loại cây dễ bị sâu bệnh (lay ơn, cẩm chướng thơm…) với các loại cây chống chịu tốt (mõm sói, phlox…)
2.3 2 Giá thể:
Giá thể là những chất liệu nhân tạo có độ nhẹ, xốp giúp cho bộ rễ cây bám vào và phát triển, trong nhiều trường hợp giá thể còn cung cấp dinh dưỡng cho cây trồng Chất liệu theo kinh nghiệm dân gian dùng làm giá thể gồm có trấu, rơm vụn, mạt cưa, than bùn, than trấu (trấu un), hạt nhựa nhỏ, gạch loại xấu có độ xốp được đập nhỏ, bột xơ dừa cũ, đá hoặc sỏi, vermiculite, perlite… Tuỳ theo loại cây trồng và biện pháp canh tác người trồng hoa phối trộn hỗn hợp các vật liệu này với nhau hay là trộn thêm phân chuồng hoai mục
và đất sạch (đã được ủ để diệt cỏ dại và mầm mống gây bệnh)
Hỗn hợp các chất bao gồm tro trấu, đất vườn hay đất đen, phân rác mục và phân chuồng thật hoai có tính chất tơi xốp và nhẹ nên thường được sử dụng làm giá thể trong gieo ươm, trồng cây trong túi nylon, chậu hay giỏ tre vì rất tiện lợi cho việc bốc xếp vận
Trang 26chuyển Tro trấu (trấu un) trước khi sử dụng cần được phơi trải mưa hay tưới nước thường xuyên để rửa các muối kim loại và các độc tố có thể gây hại cho rễ cây
Giá thể hay chất trồng cây nhân tạo đã được các nhà khoa học nghiên cứu ở nhiều nước phát triển trên thế giới và được sản xuất quy mô công nghiệp phục vụ cho ngành trồng hoa trong nhà kính nhà lưới rất hiệu quả Đặc biệt nhiều loại hoa được trồng theo công nghệ thủy canh (trồng trên giá thể không có đất) đạt được hiệu quả kinh tế cao Việc trồng cây trên môi trường dinh dưỡng (thủy canh) đã chứng tỏ rằng cây hút dưỡng chất qua dung dịch muối khoáng với nước, đất chỉ là nơi hệ rễ cây phân bố và cố định phần thân lá
Cũng từ nhiều thập niên trước, người ta đã sử dụng các loại tuf của san hô, của đá bọt núi lửa trong thành phần chất trồng hỗn hợp, thường là với than bùn rêu nước, để chất trồng được nhẹ hơn, sạch hơn Đôi khi, còn thêm một vài chất khoáng để bổ sung dinh dưỡng
Thập niên 70, các sách giáo khoa về sinh lý thực vật thường giới thiệu đến một loại vật liệu nhân tạo là keramzit là sản phẩm của sét dẻo trương phồng trong nhiệt độ cao; khi phối hợp với việc hấp phụ dinh dưỡng bề mặt sẽ có khả năng sản xuất hàng trăm kilogam sinh khối cây trồng trên một mét vuông Loại chất trồng này đã giúp cho nông dân ở Israel, Thổ Nhĩ Kỳ trồng được rau xanh trên những đồi sỏi đá và ngay cả trong sa mạc
Năm 1988, Thụy Điển công bố một công nghệ sản xuất nham thạch nhân tạo và được những nhà làm vườn giầu có ở châu Á tiếp nhận, họ phối hợp với alcosorb là một loại polymer hút nước rất mạnh để trồng cây Tuy vậy alcosorb dễ bị rữa ra khi gặp chất kiềm và loại nham thạch này không khá gì hơn tuf (đá tro) núi lửa, vốn rất rẻ tiền ở các nước thuộc cung núi lửa Thái Bình Dương
Năm 1994, công trình nghiên cứu nhiều năm của Trường đại học tổng hợp Cornell (Hoa Kỳ) giới thiệu chất trồng nhân tạo cũng từ perlite (tuf núi lửa) than bùn rêu nước và một ít vỏ cây tẩm chất cần thiết, với tên gọi thương phẩm là Park Grow Mix, sử dụng khá rộng rãi để trồng cây, nhưng giá thành khá đắt, khoảng 22.000 đ/kg Với một quy mô lớn hơn, Pháp đã trồng cỏ cho sân vận động Stade de France, chuẩn bị cho World Cup 1998, trên đất nhân tạo lavaterre, làm từ tuf của Pháp tổng cộng hơn 9.600 m3 đất nhân tạo
Tương tự, nhiều nước đã kết khối xỉ lò cao với một lớp áo sét terra-cotta, có dung trọng chừng 800-1.000 kg/m3 để phủ lên bề mặt chất trồng hoa trong các phi trường hay khi xuất nhập cây trồng, vừa tránh nhiễm tảo vừa giữ ẩm và có giá trị trang trí, nổi bật là sản phẩm của Nhật Bản, tạo ra từ xỉ than đá
Các nhà khoa học Việt Nam cũng đã tiến hành tìm kiếm nguyên vật liệu và xây dựng quy trình sản xuất để tạo nên những giá thể có đặc tính lý hóa tốt, đồng thời chứa những vi sinh vật vùng rễ cần thiết cho cây Loại "đất" này thực chất là những khoáng vật không có giá trị làm đất trồng, chúng được phối trộn giữa montmorillonit và diatomit, lên
men tạo bọt khí, trương phồng Sau đó mới định hình theo các khuôn mẫu, rồi thiêu kết để cứng vững nhằm tránh rửa trôi xói mòn Tùy theo yêu cầu trồng trọt mà "đất sinh học" có thể có những hình thù khác nhau, nhưng chúng đều có tỷ trọng rất nhẹ từ 0,34 - 0,85; dung trọng còn nhẹ hơn nữa để có thể giữ được nhiều chất dinh dưỡng Khả năng hút nước đạt khoảng 60% thể tích nhưng vẫn đủ dưỡng khí cho vi sinh vật đất và cây trồng phát triển,
Trang 27đồng thời giải quyết mâu thuẫn giữa nhiệt độ và chất trồng trong trường hợp trồng cây trong chậu
Bản thân "đất sinh học" có được hệ vi lỗ rỗng của diatomit, với 80.000 - 100.000 vi
lỗ trên mỗi phân vuông diện tích Bên cạnh đó, các bọt khí của quá trình lên men và hình thù của các vi sinh vật tạo nên trước khi thiêu kết đã tạo ra những lỗ rỗng liên thông với nhau nhằm giúp cho vi sinh vật dễ tránh được sự cạnh tranh sinh tồn và thiêu đốt của nắng nóng hay úng ngập Những vi sinh vật này cung cấp đạm được cố định tự do, phân giải lân khó tiêu và xơ bã, tạo điều kiện cho cây trồng sinh trưởng phát triển
Chính nhờ vào quá trình lên men, thiêu kết mà "đất sinh học" không tiềm tàng các loại côn trùng sống trong đất, các loại bệnh hại do vi sinh vật đất và sự cạnh tranh của cỏ dại đối với cây trồng Với loại chất trồng mới này, đã mở ra triển vọng trồng trọt rau, hoa cho những vùng đất khắc nghiệt như những đỉnh núi đá tai mèo, những đảo đá san hô, những vùng đất nhiễm phèn, nhiễm mặn
Hơn nữa, những thực nghiệm cho thấy khả năng ứng dụng vào việc trồng hoa lan, cây kiểng quý hiếm, cũng như các loại hoa cảnh nội thất, rau sạch sinh học, v.v là hoàn toàn hiện thực Hiện nay, việc nghiên cứu, phát triển loại vật liệu mới này đang nhằm đến
xử lý làm sạch môi trường như: các chất lơ lửng trong nước thải sinh hoạt, nước thải công
nghiệp qua các tháp lọc sinh học, tận thu khí đốt (biogaz) để thiêu kết đất hoặc hoạt hóa đất trước khi tiếp tục quy trình tạo ra chất trồng nhân tạo
2.3.3 Phân bón và phương pháp bón:
Bón phân nói chung là một biện pháp canh tác rất hiệu quả để tăng năng suất và phẩm chất cây trồng Riêng đối với cây hoa, phân bón phải đảm bảo đầy đủ và cân đối, vì nếu đói phân cây rất dễ bị còi cọc, cành cong queo, hoa nhỏ, màu sắc nhợt nhạt, dễ bị sâu bệnh phá hại Ngoài ra, nếu bón không đủ, không hợp lý sẽ ảnh hưởng đến thời gian nở hoa và chất lương bông hoa
Các chất dinh dưỡng cho cây hoa cũng tương tự như cho các loài cây trồng khác,
có thể chia làm hai nhóm là:
- Các chất đa lượng - cây cần với số lựợng nhiều là đạm, lân và kali
- Các chất vi lượng - cây cần số lượng rất ít như: sắt, mangan, molipden, bo, lưu huỳnh… Mỗi một nguyên tố (chất) dinh dưỡng có một chức năng rõ ràng và riêng biệt,
thực hiện sự sinh trưởng và phát tnển của cây trồng Mỗi sự thiếu hụt hay dư thừa nguyên
tố dinh dưỡng là nguyên nhân của sự sinh trưởng không bình thường của cây trồng Sự thiếu hụt này có thể do đất trồng không thỏa mãn và việc bón bổ sung dinh dưỡng không
đủ hoặc bón đủ nhưng cây trồng không sử dụng được, hoặc bón mất cân đối
Bảng 2.2 Chức năng chính của các nguyên tố
Nitơ (N) Là hợp phần quan trọng của chất hữu cơ cấu tạo diệp lục tố, nguyên sinh chất, axit
nucleic, protein.Tăng sinh trưởng và phát triển của các mô sống
Phốt pho
(P)
Có vai trò trung tâm trong quá trình trao đổi năng lượng và protein
Là thành phần của phosphatides, axit nucleic, protein, phospho-lipid, coenzim NAP, NATP Là thành phần tất yếu của aminoaxit, ATP.Cần thiết cho sự phân chia tế bào,
là thành phần của nhiễm sắc thể, kích thích rễ phát triển Cần thiết cho sự phát triển của mô phân sinh, hạt và phát triển của quả, kích thích ra hoa
Trang 28Kali (K) Giúp tăng khả năng thẩm thấu qua màng tế bào, điều chỉnh pH, lượng nước ở khí
khổng Hoạt hóa enzim có liên quan đến quang hợp và tổng hợp hydratcarbon
Giúp vận chuyển hydratcarbon, tổng hợp protein, và duy ra sự ổn định của nó
Cải thiện khả năng sử dụng ánh sáng khi thời tiết lạnh và mây mù, do vậy nâng cao khả năng chống rét và các điều kiện bất lợi khác của cây
Canxi (Ca) Là thành phần của màng tế bào dưới dạng canxi pectate cần thiết cho sự phân chia tế
bào được bình thường Giúp cho màng tế bào vững chắc, duy trì cấu trúc nhiễm sắc thể.Hoạt hóa nhiều enzim (như phospholipase, arginine, triphosphata)
Đóng vai trò như một chất giải độc bằng cách trung hòa axit hữu cơ trong cây
Magiê
(Mg)
Là thành phần cấu tạo của diệp lục tố, có vai trò quan trọng trong quang hợp
Là hoạt chất của hệ enzim gắn liến với sự chuyển hóa hydratcarbon, và tổng hợp axit nucleic Giúp đường vận chuyển dễ dàng trong cây
Thúc đẩy hấp thụ và vận chuyển lân của cây
Lưu huỳnh
(S)
Là thành phần của các axit min chứa lưu huỳnh cũng như aminoaxit
Liên quan đến hoạt động trao đổi chất của vitamin, biotin, thiamin và coenzim A Giúp cho cấu trúc protein được vững chắc
Đồng (Cu) Là thành phần của men cytochrome oxydase và thành phần của nhiều enzim-ascorbic,
axit axidase, phenolase, lactase Xúc tiến quá trình hình thành vitamin A
Kẽm (Zn) Liên quan đến sự tổng hợp sinh học của axit indolacetic
Là thành phần thiết yếu của một số enzim Đóng vai trò quan trọng trong quá trình tổng hợp axit nucleic và protein Tăng cường khả năng sử dụng lân và đạm
Sắt (Fe) Cần thiết cho sự tổng hợp và duy trì chất diệp lục tố trong cây Là thành phần chủ yếu
của nhiều enzim Đóng vai trò chủ yếu trong sự chuyển hóa axit nucleic, ảnh hưởng đến sự chuyển hóa RNA hoặc diệp lục tố
Bo (B) Ảnh hưởng đến hoạt động của một số enzim Tăng khả năng thấm ở màng tế bào, làm
cho việc vận chuyển hydrat carbon được dễ dàng Liên quan đến quá trình tổng hợp liqnin, sự phân chia tế bào, sự tổng hợp protein trong cây Ảnh hưởng với sự lấy đi và
sử dụng Ca, giúp điều chỉnh tỷ lệ K/CA trong cây
Molypden
(Mo)
Xúc tiến quá trình cố định đạm và sử dụng đạm của cây
Là thành phần của men khử nitrat và men nitrogenase
Cần thiết cho vi khuẩn (Rhizobium) cố định đạm cộng sinh ở nốt sần cây họ đậu Clo (Cl) Là thành phần của axit auxin chloindole-3 acetic mà ở các hạt chưa chín nó chiếm vị
trí của axit indole acetic Kích thích sự họat động của một số Enzim và ảnh hưởng đến
sự chuyển hóa hydrat Carbon và khả năng giữ nước của mô thực vật
Đạm (N) là thành phần cơ bản của chất nguyên sinh trong tế bào, quyết định sự sinh trưởng của cây Thành phần tất cả các loại enzim đều có N, mà enzim có vai trò quyết định đến sự sống của cây Đạm cũng tham gia cấu tạo chất diệp lục của lá, thành phần chính đảm bảo cho sự quang hợp Nhờ vậy, vai trò của N là rất quan trọng, đối với toàn bộ cây, từ nhỏ đến lớn, nhất là cây đang trong thời kỳ sinh trưởng, phát triển N ảnh hưởng đến màu sắc của lá, màu sắc và hình dạng của hoa Thiếu N, cây hoa dễ bị cằn cỗi,
lá úa vàng, hoa không nở được hoặc xấu Ví dụ: hoa Lay ơn, thiếu đạm thì bị đui (không
ra hoa) hoặc hoa nở ra được thì cong queo, gầy Phần lớn cây hoa ngắn ngày rất mẫn cảm đối với N, vì vậy các nhà trồng hoa thường sử dụng N để thúc hoa nở sớm, hay để tăng khả năng chống chịu sâu bệnh Bón đủ N, cây xanh tốt, hoa nhiều, màu sắc đậm Nhưng
Trang 29trái lại, nếu bón quá nhiều N, thân cây sẽ vống cao, yếu dễ bị đỗ, cành lá sum sê ít hoa, khả năng chịu rét, chống sâu bệnh giảm
Lân (P2O5) cần thiết để hình thành chất Nucleoproteit của nhân tế bào Toàn bộ cây, hoa quả, nhất là hạt đều cần nhiều lân Đủ lân cây con mọc khỏe, tỉ lệ sống cao, khi nhổ đi giâm cây, quá trình sinh trưởng, phát triển, điều hòa bộ rễ mạnh, cành nhánh nhiều, hoa nở sớm hơn, màu sắc đẹp Lân giúp cho cây hút đạm nhiều hơn Bón đủ lân có tác dụng làm tăng khả năng chống chịu (rét, sâu bệnh ) cho cây
Cây thiếu lân, bộ rễ phát triển kém, cành nhánh ít, hoa ít, chóng tàn, các hoa để lấy giống thì quả lép và ít hạt, chín không đều Đất có nhiều mùn, nhiều chất hữu cơ thì lượng lân cao hơn Khả năng hút lân khác nhau tùy vào loại cây Cây họ đậu hút lân mạnh hơn các loại cây khác Sự huy động lân cũng tùy tuổi cây, cây lớn hút lân mạnh hơn
Kali (K2O) cần cho các bộ phận sinh trưởng mạnh như mầm, lá non, chóp rễ, Kali giúp cho sự tổng hợp và vận chuyển các chất đường bột trong cây Vì vậy, nếu thiếu Kali thì củ hạt sẽ kém, màu sắc hoa không được tươi thắm, hoa mau tàn, K còn giúp cho cây chịu hạn, chịu rét mạnh hơn Cùng với lân, K đảm bảo quá trình quang hợp của cây có
hiệu quả Đối với những loài hoa nhân giống bằng củ như Lay ơn, thược dược, loa kèn , thì vai trò của K rất rõ ràng, vì ngoài tác dụng tham gia cấu tạo toàn bộ cơ thể cây, còn tham gia cấu tạo chất dự trữ trong củ giống
Các loại chất dinh dưỡng cây cần rất ít gọi là phân vi lượng gồm có: sắt, kẽm, bo, magiê, mangan, đồng, molipden,… Những chất dinh dưỡng này, tuy cần rất ít nhưng không thể thiếu, không thể thay thế được, nếu thiếu cây sẽ bị vàng úa, suy yếu, dễ bị bệnh Các chất dinh dưỡng vi lượng này có trong đất, tuy vậy có nơi thiếu nên cần phải bón bổ sung
Canxi (Ca): tham gia vào quá trình trao đổi chất, có tác dụng ảnh hưởng đến sự phát triển của bộ rễ Thiếu Ca cây hoa lá bị vàng và có nhiều vết thối, cây bị còi cọc Bón
đủ Ca sẽ làm gia tăng sự nở hoa và tăng độ bền của hoa
Phân bón cho hoa
Phân h ữu cơ: thường dùng là phân xanh, khô dầu, xác bã của các cơ thể, các chất
bài tiết của động thực vật Phân hữu cơ cung cấp chất dinh dưỡng cho cây đồng thời cung
cấp chất mùn cải tạo lý tính của đất Phân hầm cầu, nước tiểu là loại phân có tỉ lệ đạm cao, trong đó chủ yếu là đạm amoni (NH3) dễ tiêu Do đó, hiệu quả của phân hầm cầu, nước
tiểu nhanh, nhưng sau nhiều năm sử dụng có thể tích lũy các chất muối làm cho đất bị chua dần và chai cứng Phải bón phối hợp với các loại phân chuồng để đảm bảo hóa lý tính của đất
Phân hữu cơ có một số nhược điểm: cây hút chậm, khối lượng vận chuyển lớn
Tro: là loại phân có chứa Kali (K) dưới dạng carbonat kali, cây dễ hấp thu Ngoài
K, trong tro còn có Ca nên có thể dùng tro bón cho đất chua Trong sản xuất, người trồng hoa có thể sử dụng nhiều loại tro, ví dụ như tro trấu, tro bếp, tro mặn… Trước khi sử dụng cần ngâm và rửa tro để loại bỏ bớt các chất độc tố… Tro trấu thường được sử dụng như một loại giá thể để tăng tính giữ nước, tăng độ xốp nhẹ của đất trồng cây trong chậu, liều lượng sử dụng phụ thuộc vào thành phần cơ giới của đất
Trang 30Phân hóa học: thành phần chính là các chất đa lượng NPK (đạm:lân:kali), cây dễ
hấp thụ, hiệu quả nhanh, có tỉ lệ chất dinh dưỡng cao hơn phân hữu cơ, dễ vận chuyển
Nhưng nếu bón không hợp lý sẽ làm đất hóa chua, hóa kiềm, hoặc chai cứng Cần
lưu ý các đặc điểm của một số loại phân hóa học thông dụng:
- Sunfat đạm là loại phân có tính axit Trên đất chua, phải bón vôi trước
- Nitrat đạm không gây chua đất hoặc chua tạm thời Không nên bón ở đất ẩm ướt quá vì nitrat rất dễ bị rửa trôi
- Nitrat Natri là loại phân kiềm, dễ bị rửa trôi
- Urea có tỉ lệ đạm cao (46%N), là loại phân kiềm, dùng bón thúc rất tốt, hoặc phun trên lá Do urea có tỉ lệ đạm cao, không nên bón nhiều và tập trung một chỗ vì nồng
độ đạm cao có thể làm tổn thương rễ hay thối củ
- Supe lân dễ tan trong nước, có thể bón với số lượng nhiều
- Apatit lân dùng để bón tốt nhất trên các loại đất chua mặn
- Phân lân nung chảy (lân thủy tinh) là loại phân kiềm, dùng bón đất chua rất tốt
- Clorua Kali khi bón vào đất, ion K+bị rễ cây hút còn lại ion Cl
làm chua đất Do
đó, bón KCl cần có biện pháp khắc phục đất chua
- Sunfat Kali dễ tan trong nước, có thể dùng trên nhiều loại đất, nên dùng để bón lót
Phương pháp bón phân cho hoa:
Kỹ thuật bón phân cho hoa cũng như các loại cây trồng khác tương đối phức tạp vì
nó liên quan đến nhiều yếu tố Bón đúng phương pháp thì sẽ tăng số lượng và phẩm chất hoa, tiết kiệm phân, bồi bổ kết cấu đất, góp phần điều khiển ra hoa…Trái lại, nếu bón không đúng phương pháp thì vừa lãng phí vừa làm cây phát triển không cân đối
Cơ sở khoa học của chế độ bón phân hợp lý là phải xem xét nhiều yếu tố ảnh hưởng:
- Nhu cầu dinh dưỡng của cây trồng
- Đặc điểm của đất
- Lượng phân bón, cách bón, thời kỳ bón, khả năng hấp thụ của bộ rễ và thời tiết trong vụ sản xuất hoa
- Tác động của phân bón đến chất lượng hoa
- Ảnh hưởng của phân bón đến kết cấu đất và đối với các vụ tiếp theo
Trong các yếu tố đó quan trọng nhất là cần bón phân đúng lúc cây đang có nhu cầu Bón đúng liều lượng là bón theo nhu cầu của cây, nếu bón quá ít thì không có tác dụng, nhưng bón quá nhiều không những không đạt yêu cầu mà còn gây hại cho cây Chú
ý bón phân trong kỳ cây con xúc tiến sinh trưởng, thời kỳ ra hoa nên bón phân lân để có lợi cho cây ra hoa
Bón phân theo mùa, mùa xuân-hè cây sinh trưởng nhanh có thể bón nhiều phân, mùa thu cây sinh trưởng chậm nên bón ít sang mùa đông thì không cần bón phân Số lần bón phân cũng là một vấn đề quan trọng, nên bón nhiều lần, nhưng lượng bón mỗi lần không nên nhiều nhất thiết không được bón quá: nhiều, quá đặc Thời kỳ từ lập xuân đến lập thu nói chung 1- 2 tuần bón 1 lần, sau lập thu cứ 2- 3 tuần bón 1 lần, đến lập đông không cần bón
Trang 31Nên bón phân vào lúc chiều mát, mùa hè nóng nực không nên bón vào buổi trưa, vì nhiệt độ cao phân dễ gây vết thương cho rễ Ngoài ra trước khi tưới nước phân, tốt nhất nên xới qua đất trong chậu, như thế có lợi cho việc thấm sâu vào rễ Hoa trồng trong chậu không nên bón nhiều phân hóa học vì dễ làm cho đất kết von
Phải chú ý đến lượng phân cho từng loài cây hoa Ví dụ như cây hoa quế, hoa trà
ưa phân heo, kỵ phân hầm cầu và nước tiểu Hoa trà, hoa đỗ quyên nguồn gốc từ phía Nam kỵ phân có kiềm; hàng năm phải tỉa cành nên bón thêm phân lân phân kali theo tỷ lệ nhất định
Khi bón phân hữu cơ nhất thiết không bón phân chưa hoai, phải bón đúng lượng từ
ít đến nhiều, từ loãng đến đặc nếu không rễ cây sẽ bị cháy lá cây chết khô
Bảng 2.3.Triệu chứng thiếu hụt dinh dưỡng ở cây trồng
Triệu chứng thiếu hụt dinh dưỡng Đạm (N) Sinh trưởng còi cọc Xuất hiện màu xanh lợt đến vàng nhạt trên các lá già, bắt đầu từ
chóp lá Tiếp đó là các lá già bị chết hoặc bị rụng tùy theo mức độ thiếu
Khi thiếu trầm trọng số hoa bị giảm nhiều.Hàm lượng protein thấp,
Lân (P) Cây còi cọc toàn bộ, các lá trưởng thành có màu xanh sẫm đến lam lục, rễ bị kìm hãm
Khi thiếu trầm trọng lá và thân có vết tím, thân mảnh
Kali (K) Úa vàng dọc mép lá, chóp lá già chuyển nâu, sau đó các triệu chứng này dần phát triển
vào phía trong theo chiều từ chóp lá trở xuống, từ mép lá trở vào
Cây phát triển chậm và còi cọc Thân yếu, cây dễ bị đổ ngâ
Canxi (Ca) Thiếu canxi thường ít thấy trên đồng ruộng vì các ảnh hưởng phụ gắn liền với độ chua
hạn chế sinh trưởng Các lá non của cây mới trồng thường bị ảnh hưởng trước tiên Chúng bị biến dạng, nhỏ và có màu xanh lụa sẫm không bình thường
Lá có hình đài hoa và quăn, các chồi tận cùng suy thoái Rễ bị suy yếu, cổ rễ thường gãy Đỉnh sinh trưởng bị khô khi thiếu nắng Chồi và hoa rụng sớm Cấu trúc thân bị yếu
Ma giê
(Mg)
Lá già bị đốm vàng lan rộng, cây hoa thường nhỏ, giòn, dễ gãy
Úa vàng ở phần thịt giữa các gân lá, chủ yếu ở lá già do diệp lục tố hình thành không đầy đủ, gây nên vết sọc hoặc vết không liên tục Khi thiếu trầm trọng có thể bị khô và chết Lá nhỏ, giòn ở thời kỳ cuối và mép lá cọng lên
Ở một số loại hoa có các đốm vàng lợt giữa các gân lá và các màu da cam, đỏ hoặc tía Nhánh yếu và dễ bị nấm bệnh tấn công, thường bị rụng lá sớm
Lưu huỳnh
(S)
Các lá non trở nên xanh vàng nhẹ hoặc vàng lợt Thân cứng, hóa gỗ sớm và đường kính thân nhỏ Sinh trưởng của chồi bị hạn chế, ảnh hưởng đến số hoa
Kẽm (Zn) Xuất hiện chủ yếu trên các lá đã trưởng thành hoàn toàn (lá thứ 2 và 3 từ trên xuống) Ở
ngô, từ một sọc vàng nhạt đến một dải các mô màu trắng hoặc vàng với các sọc màu đỏ tía giữa các gân và mép lá, xảy ra chủ yếu ở phần dưới của lá
Đồng (Cu) Hoa dài, vàng, mềm, cây sinh trưởng chậm Trên cây có múi, chết đen ở phần mới sinh
trưởng, quả có những đốm nâu
Sắt (Fe) Úa vàng ở các gân lá điển hình, các lá non bị ảnh hưởng trước tiên, đỉnh và mép lá giữ
màu xanh lâu nhất Trường hợp thiếu nặng, toàn bộ thịt và gân lá chuyển vàng và cuối
Bo (B) Cây đang mọc bị chết (đầu chồi), lá non bị xoăn, những lá khác có vết vàng hoặc nâu
bên mép lá Lá có kết cấu dày., đôi khi bị cong lên và dòn Hoa không hình thành và rễ còi cọc Bệnh "Ruột nâư” ở cây có củ đặc trưng bởi những đốm thẫm màu trên rễ Molypden
(Mo)
Đốm vàng ở giữa các gân của những lá dưới, tiếp đó là hoại tử mép lá và lá bị gập nếp lại Thiếu molypden thấy rất rõ ở cây họ đậu
Trang 32Clo (Cl) Héo đỉnh lá non, úa vàng lá và cuối cùng chuyển màu đồng thau và chết khô
Thông thường, người trồng hoa phải luôn nhớ nguyên tắc nhìn cây, nhìn đất, nhìn trời mà bón phân:
- Nhìn cây để bón vì nhu cầu của mỗi loại cây hoa không giống nhau Nhũng loại hoa trồng bằng củ như Lay ơn, Thược dược, Huệ…đòi hỏi tỷ lệ phân kali cao hơn so với các loại hoa khác Những loại hoa trồng bằng gieo hạt như đậu thơm, cẩm chướng, kim tiền…cần tỷ lệ phân lân nhiều hơn Những loại cây hoa trồng bằng củ nếu bón phân đạm
dư thừa sẽ làm củ dễ bị thối Nhìn cây còn để chẩn đoán nhu cầu dinh dưỡng của nó trong từng thời kỳ sinh trưởng và phát triển cụ thể mà quyết định loại phân và số lượng cần thiết Ví dụ: khi cây hoa lay ơn có 4 lá là thời kỳ chuẩn bị tạo đòng hoa, lúc này đòi hỏi dinh dưỡng nhiều, nếu bón kịp thời gian này và bón đầy đủ thì cành hoa sẽ nhiều bông, hoa mập, màu sắc tươi, hoa lâu tàn, củ chất lượng tốt Ngược lại nếu bón chậm, khi đòng
hoa đã hình thành thì tác dụng của phân bón chỉ ở phạm vi thực hiện chức năng nuôi đòng, hiệu quả kinh tế không cao
- Nhìn đất để bón vì đất là cơ sở nhận phân, bộ rễ cây hút các chất dinh dưỡng từ đây, cho nên đối với từng loại đất khác nhau phải có cách bón khác nhau Ví dụ, trên đất cát có các cấu tượng rời rạc, các chất màu dễ bị rữa trôi nên phải chia ra bón thúc nhiều lần, không bón tập trung một hai lần, nhất là bón phân hóa học Trái lại trên đất thịt và đất sét có khả năng giữ các chất màu, có thể bón phân tập trung một hai lần để đỡ tốn công
Trong đất đã có nhiều chất dinh dưỡng cho cây nhưng khối lượng và phẩm chất
thường không đáp ứng đầy đủ các nhu cầu của cây Đúc kết kinh nghiệm bón phân qua các vụ trồng hoa và kết hợp với phân tích đất để đánh giá hàm lượng các chất dinh dưỡng còn thiếu và có chế độ bón phân hợp lý
- Phải nhìn trời để bón, vì thời tiết ảnh hưởng quan trọng đến phân bón Cần xem xét kỹ thời tiết không phải chỉ lúc bón mà thời tiết suốt cả vụ hoa để xây dựng quy trình bón phân (liều lượng, thời điểm, loại phân…) Trong mùa hè nhiệt độ cao, ngày dài hơn, ánh sáng nhiều hơn, phân bón dễ bị phân hóa nhanh hơn so với mùa lạnh (đông xuân) Do
đó cần có cách bón phân khác nhau giữa hai mùa Trong mùa mưa, nước mưa có thể làm trôi chất màu hoặc thấm xuống các lớp đất sâu quá tầm hút của rễ cây, cho nên phải bón nhiều lần để khắc phục Khi trời sắp mưa lớn sau các trận mưa không nên bón phân, vì đất còn quá ướt, khe hở giữa các hạt đất bị nước chiếm hầu hết, đẩy ôxy ra khí quyển Lúc này nếu bón phân khô, trộn không đều được với đất, nếu bón phân hòa với nước lại càng làm đất thêm bí, rễ cây thiếu ôxy để hô hấp, do đó thiếu năng lượng để đảm sự hoạt động bình thường
Những lúc nắng to, quá khô cũng không nên bón, nhất là phân hòa nước, vì dung dịch phân có nồng độ cao hơn so với nồng độ của dung dịch tế bào sẽ hút một phần nước
ở dịch tế bào ra, và do đó có thể làm cho cây vàng úa, chết Thời điểm bón phân tốt nhất
là lúc trời mát và đất ẩm vừa
Ngoài ra, có thể tham khảo thêm kinh nghiệm bón phân của một số người trồng hoa đã tổng kết thành các quy tắc dễ nhớ là: "4 nhiều, 4 ít, 4 không, 3 kỵ”
+ "4 nhiều' là bón nhiều phân khi (1) cây vàng, yếu, (2) trước khi nảy chồi, (3) kỳ
ra nụ hoa, (4) sau mùa hoa nở
Trang 33+ "4 ít' là bón ít phân khi: (1) cây khoẻ, (2) nảy chồi, (3) hoa nở, (4) mùa mưa + "4 không' là không bón phân khi: (1) cây mọc cao vống, (2) khi mới trồng, (3) nắng nóng nhiều, (4) cây ngủ nghỉ
+ "3 kỵ" là (1) kỵ phân bón đặc, (2) kỵ phân nóng tránh bón vào buổi trưa mùa hè lúc nhiệt độ đất cao, (3) kỵ phân dính rễ tránh khi trồng đem rễ cây hoa trực tiếp tiếp xúc với phân lót đáy chậu, phải cách ly một lớp đất
Như trên đã nói, cây hoa cần nhiều chất dinh dưỡng phức tạp và yêu cầu khác nhau tùy theo giai đọan phát triển Mặt khác tính chất vật lý và hóa học của đất cũng như hoàn
cảnh khí hậu và thời tiết cũng ảnh hưởng quan trọng đến vấn đề bón phân Do vậy không nên sử dụng đơn thuần một loại phân bón, bón phân hữu cơ cần bón thêm phân vô cơ
Cần lưu ý trong lúc trộn phân hỗn hợp phải trộn đúng loại, không nên trộn chung các loại phân có thể làm giảm chất lượng lẫn nhau, thậm chí gây hại Ví dụ: vôi hay tro kỵ trộn với phân hầm cầu, phân chuồng vì có thể làm mất phần lớn N trong các loại phân hầm cầu và phân chuồng Do đó, vôi và tro cần được bón riêng và bón trước 5-7 ngày
Phải thực hiện bón lót và bón thúc trong qui trình trồng cây Không nên cho rằng
đã bón lót thì không cần bón thúc hay ngược lại không cần bón lót mà chỉ bón thúc là đủ
Bón lót rất cần thiết vì không những cung cấp chất màu cho cây sớm, cho cây con
mới ra rễ, mà còn góp phần củng cố cấu trúc đất, và giữ nước cho cây Bón lót rất cần thiết đối với các loại hoa, trong mọi trường hợp không nên trồng chay
Đi đôi với bón lót, cần phải bón thúc trong từng giai đoạn phát triển của cây Mỗi giai đoạn cây đòi hỏi nhu cầu dinh dưỡng khác nhau, ngoài chất màu xung quanh gốc đã bón cho cây trong giai đoạn trước Nếu đến giai đoạn sau không bón thêm cây sẽ thiếu dinh dưỡng để phát triển trong giai đoạn mới Do đó bón thúc theo từng giai đoạn phát triển của cây có tác dụng quyết định làm tăng số lượng và phẩm chất của hoa
Bón thúc có thể chia làm 4 lần
- Lần 1, khi cây còn nhỏ, lúc này bón phân hòa tan trong nước là nên pha loãng, giúp cho cây con có sức ngay từ lúc đầu
- Lần 2, khi cây con sắp phát triển mạnh, nên pha phân hơi đậm đặc hơn
- Lần 3, khi cây sắp tạo đòng hoa, cần bón phân hòa đặc hơn, và lượng phân cũng nhiều hơn 2 lần trước
- Lần 4, khi cây đã có đòng, cũng bón phân đặc như lần 3
Trong các lần bón thúc, lần bón quan trọng nhất là lần 3 (bón để tạo đòng hoa) Ngoài ra, một số loài hoa phải bón thêm lúc hoa mới ra đợt 1 để củng cố các đợt hoa sau
Ví dụ: cẩm chướng, đậu thơm, kim tiền
Đối với các loài hoa gây giống bằng củ, nhất là Lay ơn, sau khi cắt hoa, cần bón thêm phân nước pha loãng để giúp cây nuôi củ tốt hơn
2.4 Gi ống hoa
Công tác giống bao gồm một số nội dung chính như:
- Nghiên cứu, sưu tầm, chọn tạo giống mới
- Sản xuất hạt giống
- Nhân giống vô tính phục vụ sản xuất
Trang 34Giống tốt, trước hết phải có giá trị kinh tế cao, vì vậy điều kiện đầu tiên là phải có
năng suất cao, ổn định, phẩm chất tốt Ngoài ra, giống tốt là giống có khả năng chống chịu đối với hạn, rét, sâu bệnh, đồng thời cũng có khả năng thích nghi cao đối với điều kiện đất đai, chế độ canh tác và thời tiết khu vực sản xuất
Trước đây công tác giống chủ yếu là chọn loại hình tốt trong thiên nhiên, phân biệt giống tốt xấu bằng mắt thường Ngày nay, cùng với việc sưu tầm chọn lọc các nguồn gen
có loại hình tốt, các nhà khoa học còn dùng một số phương pháp vật lý, hóa học tạo đột biến trong lai tạo để sản xuất giống mới Công nghệ sinh học cũng được ứng dụng phổ biến trong chọn giống (bắn gen, chuyển nạp gen….)
Riêng đối với ngành trồng hoa, bên cạnh vấn đề chọn giống tốt, còn có vấn đề tạo giống mới có hình dáng và màu sắc đẹp Đi đôi với việc chọn giống tốt là tạo giống mới Các loài cây hoa như lay ơn, thược dược…, trước đây mọc hoang dại ở miền đồi núi, qua quá trình cải tiến và chọn giống lâu dài của người trồng hoa ngày nay đã có hoa đẹp rất phong phú đa dạng Song song với biện pháp bón phân, tưới nước, làm đất, khâu giống
cần được đặc biệt chú trọng Nếu đảm bảo đủ phân, đủ nước, năng suất tuy có tăng nhưng
tăng có mức độ, vì khả năng hấp thụ của giống có hạn Nhưng nếu áp dụng giống mới có thể đạt năng suất và hiệu quả kinh tế cao, tất nhiên phải đi đôi với các khâu cải tiến kỹ thuật khác
Nội dung công tác giống bao gồm một số khâu chính như sản xuất và chọn lọc, thu
hoạch, bảo quản và cây giống
2.5 Phòng trừ sâu bệnh phá hại hoa:
Trong quá trình sinh trưởng phát triển, cây hoa cũng như các cây trồng khác, luôn
bị sâu, bệnh đe dọa Nếu không phòng trị kịp thời, tác hại gây ra có thể rất lớn
2.5.1 Phòng tr ừ sâu hại:
Trong điều kiện khí hậu nhiệt đới, cây cối phát triển quanh năm Do đó sâu bệnh
dễ có điều kiện sinh sôi nảy nở, gây tác hại ở vườn ươm, vườn hoa, cũng như ở kho cất
giữ giống Cách phòng trừ thế nào để đạt hiệu quả cao nhất, đó là vấn đề cần đặt ra
Trước hết phải nghiên cứu quy luật phát sinh, phát triển, điều kiện ngoại cảnh thuận lợi và không thuận lợi đối với sâu bệnh Đồng thời, phải nghiên cứu phản ứng của cây bị sâu phá hại để trên cơ sở đó có biện pháp chăm sóc tăng sức đề kháng của cây
Trong công tác phòng trừ sâu cho hoa, phải luôn chú ý biện pháp phòng là chính
để chủ động Khi sự phá hại của sâu đã xảy ra thì phải áp dụng cả hai phương pháp phòng (cách ly…) và diệt trừ, không áp dụng một biện pháp đơn độc Phải dựa trên hoàn cảnh thực tế từng vườn ươm, vườn hoa để áp dụng phương pháp thích hợp Phải thi hành các biện pháp diệt trừ sớm, nhanh chóng trong thời gian ngắn để hạn chế tác hại Diệt trừ triệt
để trứng, nhộng, sâu bướm, diệt trừ liên tục, vì sâu có nhiều lứa tuổi
Một số phương pháp phòng trừ sâu hại: bằng kỹ thuật canh tác, bằng cơ giới, vật
lý, bằng chất hóa học, bằng phương pháp sinh vật học
2.5.2 Phòng trừ bệnh cây:
Cây bị bệnh, thân cành, lá hay một vài bộ phận của cây có những biến đổi bất thường Nguyên nhân có thể do mầm bệnh xâm nhập hoặc do điều kiện ngoại cảnh không thuận lợi gây ra sự rối loạn trong sinh lý của cây dẫn đến cây chết hoặc một vài bộ phận bị
Trang 35hư hỏng như vỏ cây thối, cành khô, lá vàng Khi phát hiện các hiện tượng này, việc đầu tiên trong điều trị là chẩn đoán bệnh (bên ngoài và bên trong) một cách chính xác Phương pháp chẩn đoán bên ngoài dễ làm, đơn giản nhưng đòi hỏi kinh nghiệm và độ chính xác không cao Phương pháp chẩn đoán bên trong cần dùng một số phương tiện kỹ thuật (kính hiển vi), khó làm, lâu hơn, nhưng độ chính xác cao
Các nguyên nhân gây bệnh cho cây hoa: Có thể phân thành 2 nhóm chính là nhóm bệnh không truyền nhiễm và nhóm bệnh truyền nhiễm hại cây hoa
- Nhóm bệnh không truyền nhiễm gây ra do tác động của điều kiện ngoại cảnh hay môi trường sống của cây hoa không phù hợp như:
+ Đất đai thiếu hoặc quá thừa dinh dưỡng
+ Bệnh do thiếu hoặc quá thừa nước
+ Các yếu tố về thời tiết không thuận lợi như: nhiệt độ không khí hay nhiệt độ đất quá nóng hay quá lạnh, cường độ ánh sáng quá mạnh hay quá yếu, gió khô nóng, sương muối, mưa dầm…
+ Các chất độc do ô nhiễm môi trường ví dụ như: khói bụi nhà máy, khí thải độc hại (SO2, H2S, CO2….), nước thải nhiễm độc chất, hóa chất……
- Nhóm bệnh truyền nhiễm gây ra bởi các vi sinh vật và có khả năng phát triển lây lan thành dịch bệnh, bao gồm:
+ Bệnh do các loại thực vật thượng đẳng ký sinh
Các triệu chứng bệnh điển hình trên cây hoa:
- Dạng vết đốm: gồm các dạng vết hay đốm có hình dạng, màu sắc và kích thước khác nhau do mô bị bệnh chết hình thành trên các bộ phận của cây hoa
- Dạng thối: do cấu trúc mô tế bào bị phá vỡ dưới tác động của các men vi sinh vật gây hại với các màu sắc khác nhau kèm theo có mùi khó chịu Loại triệu chứng bệnh này
có thể là các dạng thối ướt hoặc thối khô
- Dạng héo rũ: hiện tượng cây chết lá héo rũ xanh tái hoặc héo lá rũ vàng Nguyên nhân thường do các loại vi khuẩn, nấm hoặc tuyến trùng….hại gốc rễ mạch dẫn làm cây bị thiếu hụt nước và chất dinh dưỡng
- Biến dạng: các bộ phận lá, thân, cành hoặc toàn bộ cây hoa bị thay đổi hình dạng khác thường như xoăn lá, cuốn lá, cây cao vống hoặc lùn thấp khác thường, ra nhiều cành nhánh
- Thay đổi màu sắc: Lá cây hoa bị bệnh thường mất màu xanh bình thường chuyển sang màu trắng, màu xanh nhạt hoặc lá hoa loang lổ phai màu Nguyên nhân có thể do virus Mycoplasma hoặc có thể là bệnh không truyền nhiễm do cây thiếu nước, thiếu dinh dưỡng hoặc các nguyên tố vi lượng
Sau khi phát hiện bệnh, cần khắc phục thay đổi điều kiện sống của cây nếu là bệnh thuộc nhóm không truyền nhiễm Nếu bệnh thuộc nhóm truyền nhiễm thì tiến hành khẩn
Trang 36trương các biện pháp tiêu diệt trực tiếp tại chỗ và ngăn ngừa sự lây lan, đồng thời bồi
dưỡng sức đề kháng của cây Phòng trừ, tiêu diệt mầm bệnh và chăm sóc bồi dưỡng cây luôn đi đôi để hỗ trợ lẫn nhau
Nội dung của phương pháp này bao gồm:
- Luân canh cây trồng, thay đổi môi trường sống, thay đổi điều kiện thức ăn, thay đổi chỗ cư trú của sâu hại
- Thay đổi thời gian gieo trồng sớm hơn, hoặc muộn hơn so với thường lệ
- Thực hiện kỹ thuật chăm sóc đúng cách, đúng lúc như cắt cành bị sâu hại, cắt bớt cành sum sê tạo điều kiện thuận lợi cho ánh sáng xâm nhập sâu trong tán cây
- Sau mỗi vụ thu hoạch, dọn sạch vườn Đối với những vườn bị sâu hại, phải đốt tất
cả tàn dư cây cối, vì đây là những nơi ẩn náu của sâu Sau đó rắc vôi cày lấp, và tháo nước vào ngâm
- Trong vườn ươm, vườn hoa, cày xới làm cỏ không bỏ đất hoang, vì đấy là những
nơi ẩn náu và sinh sản của sâu hại
- Bón phân thích hợp Chọn giống kháng sâu bệnh
Phương pháp này có lợi nhờ kết hợp phòng trừ sâu bệnh ngay trong sản xuất, nhưng nhược điểm là kết quả không thấy được rõ ràng
2.5.4 Ph ương pháp phòng trừ bằng cơ giới, vật lý
Phòng trừ bằng cơ giới, vật lý là một phương pháp thông dụng, thường dựa vào sư
hoạt động sinh sống, tập quán của sâu hại Nghiên cứu lợi dụng các nhược điểm của chúng để bắt bằng tay, hoặc dùng bẫy đèn Phương pháp này đơn giản nhưng tốn nhiều công và kết quả chậm Bắt bằng tay và bằng dụng cụ cải tiến như bẫy, vợt, chỉ thực hiện được đối với các loại sâu sống tập trung, di chuyển chậm và tương đối lớn
2.5.5 Ph ương pháp phòng trừ bằng hóa học
Phương pháp phòng trừ bằng thuốc hóa học được dùng rộng rãi, hiệu quả nhanh Nhưng cần chú ý một số điểm như sau:
- Về thuốc: liều lượng nhiều, nồng độ cao có thể làm rụng nụ, hỏng hoa
- Về sâu hại: mỗi loại sâu, mỗi giai đoạn phát triển của sâu có phản ứng khác nhau Sâu non phản ứng nhạy hơn sâu lớn Khi sâu bệnh kháng thuốc phải đổi loại thuốc khác
- Đối với bệnh hại: các vi khuẩn, nấm bệnh đều nằm trong thân cây, dưới đất nên khó tiếp xúc Muốn có hiệu quả cần phun thuốc vào thời kỳ bệnh mới xuất hiện
- Trong ngày nên phun thuốc bột vào buổi sáng sớm khi cây còn ướt sương để thuốc dễ bám Đối với thuốc nước nên phun vào buổi sáng khi cây đã khô sương
- Về điều kiện ngoại cảnh: khi nhiệt độ tăng thuốc phun vào cây sẽ bốc hơi nhanh, nếu nhiệt độ quá cao, phun thuốc sẽ gây hại cho cây trồng Mưa sẽ làm nồng độ thuốc bị loãng, do đó hiệu quả kém Vì vậy tránh phun thuốc lúc trời sắp mưa
Trang 372.5.6 Phương pháp phòng trừ bằng sinh học
Nội dung của phương pháp này là nuôi các loài sinh vật có ích hay thiên địch để
diệt các loại có hại Sưu tầm một số chim ăn sâu bọ (chim sâu, chèo bẻo, ) và một số côn trùng có ích về nuôi dưỡng cho chúng sinh sản nhanh, nhiều và bảo vệ chúng
Phương pháp này dễ làm, ít tốn Chim và côn trùng có ích ăn sâu bọ thường xuyên, liên tục, không gây ô nhiễm môi trường so với phương pháp hóa học
Ngoài ra, có thể dùng một số chế phẩm trừ sâu bệnh có nguồn gốc vi sinh hay thảo
mộc không hại cho người và gia súc như Bacillus thuringinensis
2.5.7 Một số sâu hại phổ biến
Nh ện chân tơ (chân màng) Chủ yếu phát sinh ở lá đọt nõn, mặt dưới lá non và nụ
non, nhện chích hút dịch nhựa của lá và nụ Lá bị hại cong ngược lên, nhiều nốt phồng lên, có bóng dầu, lá dòn cứng Nụ bị hại cánh hoa nhạt màu, phần lớn không nở được, nếu
có nở thì cánh hoa cũng bị xám lại, co ngắn và có rất nhiều đốm trắng nhỏ, màu tối
Biện pháp: thu dọn kịp thời lá già, lá bị bệnh, nụ bị hại để tiêu hủy, làm cỏ vườn
sạch sẽ Dùng các loại thuốc đặc hiệu trừ nhện như Polytrin P440 EC 15-20ml/8 lit, Pegasus 500 EC 5-10ml/8 lit, Kelthane 18.5 EC 10-15ml/8 lit
Nhện chân tơ có sức kháng thuốc mạnh nên phải thường xuyên thay thuốc Khi phun cần chú ý phun kỹ mặt dưới lá vì lông tơ lá non mặt dưới lá là nơi ẩn nấp của nhện
Rệp nhảy (họ Aphididae) Rệp non có màu xanh vàng, mình dài khoảng 2mm,
bụng hình ống dài, đuôi hình thùy Rệp nhảy có miệng chích hút, hút dịch lá và nụ non Cây bị rệp hại, sinh trưởng chậm, lá cong lại, trên lá có nhiều chất bài tiết dính, màu nâu đen, ảnh hưởng đến quang hợp Khi bị nặng, lá sẽ bị chết khô
Biện pháp: rệp sinh sản nhanh, lây lan mạnh và là môi giới truyền virus, nên khi phát hiện cần phải phòng trị ngay Phun thuốc Supracide 40ND 10-15ml/8 lit, Polytrin P440 EC 15-20ml/8 lit, Ofatox 440 EC 8-10ml/8 lit
Bọ trĩ ( Prankliniella sp.) Sâu non và bọ trưởng thành chích hút dịch hoa, hoa bị
hại trên cánh có chấm trắng, cong lại Con trưởng thành dài 1mm, con cái màu nâu, con đực màu trắng vàng có viền Cánh trước cánh sau xếp thành hàng, con non không có cánh
Biện pháp: trước khi trồng dùng thuốc xử lý đất như Sumiciclin 1kg/sào để diệt trừ tàn dư trong đất Khi phát hiện thấy triệu chứng, có thể dùng Bassa 50 EC 15-20ml/8 lít, Match 50 ND 10ml/8 lít, Suprathion 40 EC 15-20ml/8 lít
Ngài đêm sọc trắng Con trưởng thành dài 15-17mm, cánh dài 32-36mm, màu nâu
xám Cánh trước màu nâu sẫm, ở giữa có sọc màu trắng bạc và có một đốm nâu xung quanh, hình móng ngựa Cánh sau màu nâu tối Trứng hình bán cầu đường kính 0.4-0.5mm Sâu non có đầu màu xanh lá cây, mình màu xanh vàng, hai đôi chân bụng Nhộng dài 18-20cm, hình chùy, màu xanh vàng có sọc đen, đoạn cuối bụng có gai
Biện pháp: thường xuyên kiểm tra bắt giết ấu trùng, nếu số lượng lớn thì dùng thuốc hóa học, ví dụ Malathion 50% pha 0,1% hoặc Omethoate 40% pha 0,15% Con
trưởng thành có tính hướng quang tương đối mạnh, nên có thể dùng bẫy đèn đêm để dẫn
dụ và tiêu diệt
Bọ phấn trắng (Bemisia sp.) Sâu trưởng thành dài 1-1.2mm, màu vàng nhạt hoặc
xanh nhạt, lưng có phấn sáp trắng, bụng màu đỏ, râu ngắn, cánh màng Cánh trước, cánh
Trang 38sau đều có đường gân Sâu non hình dẹt hoặc hình trứng màu xanh vàng, dài 0.5mm
Nhộng hình bầu dục dài, màu vàng nhạt, hơi trong Toàn lưng phủ một lớp sợi sáp màu
trắng sữa
Biện pháp: lợi dụng tính thích màu vàng của con trưởng thành có thể treo hoặc cắm bảng màu vàng bên trong nhà lưới, trên bảng bôi một lớp dầu dính, rung lá cây, làm cho bọ phấn bay vào bảng, hoặc dùng dung dịch Omithoat 40% nhũ tương, pha loãng 0,1%
2.5.8 Một số bệnh thường gặp
Bệnh thối gốc (Fusarium sp.) – Thời kỳ đầu lá cong cuộn lại và héo vàng, sau đó
biến thành màu đỏ tím, lá khô và chết Gốc cổ rễ bị thối có màu nâu, vỏ long ra
Bệnh này khi đã phát sinh thành dịch thì rất khó cứu chữa hẳn được, vì vậy phòng bệnh là chủ yếu, kết hợp biện pháp kỹ thuật trồng trọt (luân canh…) và hóa học: tiêu độc đất trước khi trồng Dùng Foocmon công nghiệp pha loãng 30 lần, phun vào đất rồi phủ nylon ủ đất 10-15 ngày, sau đó xới đất cho thuốc bốc hơi hết rồi mới trồng cây thì hiệu
quả rất tốt
Trong quá trình sinh trưởng của cây phải định kỳ rắc bột lưu huỳnh vào đất Sử dụng một số loại thuốc sau BenlateC 15-20g/8 lit, Validamycin 50 SC 10-20ml/8 lít
Bệnh mốc tro (Bdrytiscinerea) - Lá xuất hiện vết đốm mốc màu tro Sau đó, các
đốm này lan rộng và nối với nhau thành đốm màu nâu to Trời ẩm trên vết bệnh xuất hiện
một lớp màu vàng nâu, lá non bị bệnh thì thối nát và khô héo
Biện pháp: tăng cường thông gió, hạ nhiệt trong nhà lưới, kịp thời nhỏ bỏ cây
bệnh, đồng thời xử lý tiêu độc đất hoặc thay hố đất nơi có cây mắc bệnh Phun thuốc: Benlate C BTN 50% 15-20g/8 lít, Cavil 50SC 8-12 ml/8 lít, Rovral 50WP 10-20g/8 lít
Bệnh phấn trắng (Didium geberathium) – Chủ yếu hại lá Thời kỳ đầu trên lá có
đốm mốc màu trắng Sau đó lan rộng ra thành những đốm hình tròn hoặc hình bầu dục to hơn, màu trắng vàng, trên phủ một lớp phấn trắng Cây bị hại lá cong lại, bệnh nặng lá ít
và nhỏ, lá màu nâu vàng và khô
Biện pháp: chăm sóc tốt cho cây để nâng cao sức đề kháng, thông gió Cắt bỏ lá bệnh, nhỏ bỏ cây bị bệnh, luân canh cây khác họ Phun thuốc trừ nấm như: Benomyl BTN 50% 7-10g/8 lít, Score 250 EC 8-10ml/8 lít, Ridomil BTN 20g/8 lít Một số loại thuốc trừ nấm khi phun sẽ làm giảm chiều dài cuống hoa, có thể dùng Gibberelin nồng độ 30ppm phun để hồi phục lại, 10-15 ngày phun 1 lần, phun 2 lần là đủ
Bệnh nấm hạch (Scerotinia sclerotiorum) Bệnh phát sinh ở gốc cây làm cho thân
bị thối nát, thời kỳ đầu xuất hiện trạng thái thối nhũn, không có mùi, màu vàng nâu Sau
đó lan đến thân và gân lá Thời kỳ sau xuất hiện những đám sợi nấm hạch màu đen ở phía ngoài và phía trong thân Chỗ bệnh bị thối, mềm rất nhanh và phủ lên một lớp màu trắng
sữa dày đặc, hoặc lớp màu đen
Biện pháp: chọn đất tơi xốp, thoát nước tốt để trồng và trồng với mật độ thưa, loại
bỏ sớm cây bị bệnh để giảm nguồn lây bệnh Cày lật đất sâu để vùi lấp hạch nấm, ở độ sâu 20cm hạch nấm dễ bị chết và khó nảy mầm Luân canh với cây trồng nước (lúa…) Phun thuốc trừ nấm Topsin M70 WP 5-10g/8 lít, Rovral 50 WP 10-20g/8 lít
Trang 39Bệnh đốm lá (Cercospora) - Lúc đầu nấm xâm nhiễm vào lá hình thành các vết
nhỏ như đầu mũi kim, sau đó lan rộng ra thành các đốm hoặc miếng hình tròn, nhiều màu
sắc (nâu, đen, trắng, xám,…)
Biện pháp: sau khi thu hoạch, thu dọn sạch sẽ, cày đất sâu Dùng thuốc DT 50% bột thấm nước, pha loãng 400-500 lần phun 10 ngày 1 lần, khoảng 2-3 lần Hoặc dùng Boóc đô 1:1:200 phun 10 ngày 1 lần, phun 2-4 lần Cũng có thể dùng các thuốc sau: Champion 10-20g/8 lít, Anvil 5SC 10-15ml/8 lít, Vimonyl 72BTN 25-30g/8 lít
Bệnh đốm vi khuẩn (Erwinia carotovara) - Lúc đầu ở gân lá và trên lá có những
đốm màu tối không đều, sau đó phát triển thành những đốm tròn màu nâu Bệnh tiếp tục phát triển, thịt lá mất đi lớp màng mỏng, các đốm bệnh lan đến gân lá
Biện pháp: khi bệnh phát sinh cần hạn chế tưới nước để cho rễ phát triển sâu, tăng
sức chống bệnh của cây Dùng Steptomycin pha loãng 4000 lần, 7-10 ngày phun 1 lần, phun 3-4 lần Có thể phun thay đổi một số loại thuốc như Validacin, Kasumin, Champion
B ệnh virus hoa lá – Rất phổ biến đối với cây hoa trồng trong nhà kính Nguồn
bệnh chủ yếu là virus hoa lá dưa leo CMV và virus hoa lá thuốc lá TMV
Virus CMV gây nên đốm sọc hoặc đốm màu xanh vàng trên lá, bệnh nặng lá sần sùi, nhăn nheo, cây thấp lùn, hoa co ngắn, nứt nẻ, biến dạng Triệu chứng bệnh do TMV là
giữa lá bị biến màu, cong lên, mặt sau lá và gân lá chuyển màu xanh nhạt Bệnh nặng ở lá non thịt lá bị thoái hóa, lá cong queo, cây thấp lùn, mọc chụm lại, hoa không dài ra được
Biện pháp phòng trừ: Hiện nay chưa có loại thuốc nào phòng trừ hiệu quả, lưu ý chăm sóc cây khỏe tăng sức đề kháng là chính Tiêu độc dụng cụ như cuốc, xẻng, dao kéo, tránh lây lan Phòng trừ côn trùng đặc biệt nhện chích hút để tránh lây lan, nhổ cỏ và tiêu hủy cây bệnh Tạo giống kháng bệnh Nhân giống cây bằng phương pháp nuôi cấy mô sạch bệnh để tránh mầm virus tích tụ nhiều đời Dùng lưới ngăn côn trùng hay trồng trong nhà kính hay nhà lưới cũng là những biện pháp có hiệu quả
2.5.9 S ử dụng nông dược hiệu quả và an toàn: Để sử dụng nông dược có hiệu
quả kinh tế cao, tránh ngộ độc và lãng phí cần tuân theo các hướng dẫn như sau:
- Dùng thu ốc đúng loại Mỗi loại thuốc sát trùng nông nghiệp chỉ có tác dụng đối
với một hoặc một số đối tượng (sâu bệnh, cỏ dại…) không có loại thuốc nào diệt được tất
cả sâu bệnh Do đó khi sử dụng phải chọn đúng thuốc Công dụng và cách sử dụng của thuốc được ghi cụ thể trên bao nhãn Dùng sai thuốc không những không đạt được kết quả mong muốn mà còn lãng phí, có trường hợp làm chết cây, hại đến sức khỏe con người, động vật có ích và môi sinh
- Dùng thu ốc đúng lúc: Dùng thuốc đúng vào từng giai đoạn phát triển của cây
trồng và giai đoạn phát triển của sâu bệnh nên hiệu quả của thuốc rất cao, tiết kiệm được thuốc, hạn chế rất lớn tác hại của sâu bệnh gây ra
- Dùng đúng liều lượng Chỉ cần với liều lượng thích hợp là có thể tiêu diệt được
sâu bệnh, không được dùng thuốc ít hơn hay nhiều hơn liều lượng chỉ dẫn Dùng thuốc trừ sâu quá đậm đặc, sâu chết nhưng cũng gây ngộ độc cho cây, tốn nhiều thuốc, có hại cho môi trường sống và sức khỏe con người Ngược lại, dùng thuốc dưới liều chỉ dẫn thì sâu không chết mà còn tăng thêm tính kháng thuốc của sâu, gây tốn nhiều thuốc và công sức
Trang 40- Dùng thuốc đúng cách Sản phẩm nông dược được gia công dưới nhiều hình
thức khác nhau: nhũ dầu, bột thấm nước, bột rắc khô, hạt rải… mỗi loại được xử lý bằng công cụ riêng như thuốc hạt dùng bằng tay, thuốc bột dùng máy phun… Sử dụng không đúng công cụ yêu cầu thuốc sẽ bị lãng phí Việc dùng thuốc đúng cách còn tùy thuộc từng đối tượng gây hại như rầy xanh thường chích, hút nhựa ở phía dưới mặt lá, ta phải phun thuốc phía dưới lá không phun ở mặt trên lá
- B ảo quản thuốc Thuốc cần được lưu trữ ở nơi khô ráo, thoáng mát tránh tia nắng
trực tiếp, không bị ngập úng Thuốc phải có nhãn hiệu rõ ràng, không sử dụng bao bì thuốc vào bất kỳ mục đích gì Nơi tồn trữ thuốc phải xa khu dân cư, nguồn nước, thực
phẩm, gia súc Thuốc diệt cỏ phải để trong khu vực riêng biệt để tránh lẫn với các loại thuốc khác
2.6 Ứng dụng hoa thảo:
Công dụng chính của hoa thảo là trang trí làm đẹp theo sở thích của con người trong các trường hợp:lễ hội, đón tiếp khách quí, trao tặng để bày tỏ lòng yêu thương, lòng ngưỡng mộ hay kính trọng Ngoài ra hoa cảnh còn có các công dụng khác ít được nhắc đến như:
- Dược phẩm: nhiều loại hoa có hương thơm được chung cất thành tinh dầu có giá trị dược liệu rất quý (hoa hồng, hoa lài….) Một só loại hoa còn được sử dụng trong đông
y (hoa cúc ngâm rượu, mao địa hoàng Digitalis purpurea L làm thuốc trợ tim, Mào gà Celosia cristata L làm thuốc cầm máu, bồ công anh hoa tím Cichorium intybus L dùng
hãm nước uống bổ phổi… )
- Hương liệu dùng trong công nghiệp (hoa lài, hoa sen dùng ướp trà)
- Thực phẩm: một số loại hoa có thể dùng để chế biến thức ăn (hoa thiên lý….), làm trà hay nước giải khát (hoa cúc, lô hội ), lấy hạt ăn hay làm mứt (hoa sen, hướng dương, )
- Ở nhiều vùng trồng hoa tập trung như Đà Lạt (Lâm Đồng) có thể kết hợp trồng hoa làm cảnh với nuôi ong lấy mật vừa tăng tỷ lệ thụ phấn thụ tinh vừa tăng hiệu quả kinh
tế
Bảng 2.4: Bảng tổng hợp thị trường tiêu thụ hoa thảo