Nội dung của báo cáo trình bày kết quả triển khai thực hiện chương trình; đánh giá chung về kết quả triển khai thực hiện chương trình; phương hướng, nhiệm vụ năm 2014-2015.
Trang 2địa phương trong việc hướng dẫn, hỗ trợ thực hiện các tiêu chí NTM
2 Công tác tuyên truyền, vận động xây dựng NTM
- Tuyên truyền về xây dựng NTM được xác định là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu, quyết định đến tiến độ thực hiện xây dựng NTM của tỉnh, do đó UBND tỉnh đã ban hành Quyết định số 2237/QĐ-UBND ngày 17/7/2012 về việc ban hành
kế hoạch tuyên truyền Chương trình xây dựng NTM trên địa bàn tỉnh, để các sở ngành, địa phương căn cứ tổ chức tuyên truyền bằng các hình thức phù hợp với chức năng, nhiệm vụ của ngành, địa phương
- Tỉnh đã thường xuyên phối hợp với các cơ quan truyền thông ở trong và ngoài tỉnh, nhằm phổ biến, giới thiệu các hoạt động xây dựng NTM trên địa bàn tỉnh Tổ chức biên tập, in 3.000 cuốn sổ tay hướng dẫn xây dựng NTM và 23.750 cuốn “TÀI LIỆU TUYÊN TRUYỀN XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI” cấp cho Ban phát triển các ấp, Ban chỉ đạo và Ban Quản lý xây dựng NTM các xã, để làm tài liệu phục vụ cho việc tuyên truyền xây dựng NTM
- Đã xây dựng và đưa vào vận hành trang thông tin điện tử “Nông thôn mới
tỉnh Long An (http://nongthonmoi.longan.gov.vn), qua đó đã chuyển tải kịp thời
các chủ trương, chính sách về nông nghiệp, nông dân và xây dựng NTM Đồng thời phản ánh, giới thiệu những hoạt động xây dựng NTM của các ngành, địa phương
- Các tổ chức đoàn thể tỉnh, Ban Dân vận Tỉnh ủy, Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy cũng đã tổ chức nhiều hoạt động tuyên truyền xây dựng NTM Một số địa phương (huyện Đức Hòa, Đức Huệ, Thủ Thừa, Thạnh Hóa ) đã thực hiện tuyên truyền bằng hình thức tổ chức Hội thi tìm hiểu về xây dựng NTM; xây dựng các pano tuyên truyền về NTM
Nhìn chung, công tác tuyên truyền xây dựng NTM tiếp tục được triển khai sâu rộng trong nhân dân với nhiều hình thức phong phú, qua đó đã giúp cho người dân và cả hệ thống chính trị nắm được mục tiêu, nội dung cơ bản của xây dựng NTM và tích cực, chủ động tham gia đóng góp xây dựng NTM
3 Công tác đào tạo, bồi dƣỡng về kiến thức xây dựng NTM
Đến cuối năm 2013, toàn tỉnh đã đào tạo, bồi dưỡng về kiến thức xây dựng NTM cho 7.193 lượt người, trong đó cấp xã và ấp 6.289 lượt người
Nhìn chung, hầu hết cán bộ chủ chốt và cán bộ, công chức làm công tác xây dựng NTM đã được đào tạo, bồi dưỡng những kiến thức cơ bản về xây dựng NTM, tạo điều kiện thuận lợi cho việc triển khai thực hiện xây dựng NTM
4 Về huy động nguồn lực
Đến cuối năm 2013, toàn tỉnh huy động được khoảng 11.086,5 tỷ đồng để thực hiện xây dựng NTM, gồm có: Vốn ngân sách nhà nước 5.789 tỷ đồng, chiếm 52,2%; vốn huy động nhân dân đóng góp 3.378,7 tỷ đồng, chiếm 30,5%; vốn tín dụng 1.714,9 tỷ đồng, chiếm 15,5%; vốn huy động từ các tổ chức, doanh nghiệp 197,3 tỷ đồng, chiếm 1,8%; vốn khác 6,6 tỷ đồng, chiếm 0,1%
Nguồn lực huy động được phần lớn để đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng nông thôn, chủ yếu là công trình giao thông, thủy lợi, trường học, Trung tâm Văn hóa xã Tuy còn nhiều khó khăn nhưng ngân sách nhà nước vẫn tập trung đầu tư cho nông nghiệp, nông thôn và các địa phương đã có sự vận động, huy động khá tốt
Trang 3nguồn lực của dân và toàn xã hội tham gia xây dựng NTM
(Chi tiết tại Biểu 1-Kết quả huy động các nguồn lực xây dựng NTM)
5 Công tác lập quy hoạch, đề án xây dựng NTM
Toàn bộ 166 xã đã hoàn thành lập quy hoạch xây dựng NTM và 100/166 xã
đã phê duyệt đề án xây dựng NTM Tổng kinh phí lập quy hoạch xây dựng NTM của toàn tỉnh 47,2 tỷ đồng, bình quân 284 triệu đồng/xã
Nhìn chung tiến độ lập quy hoạch xây dựng NTM chậm so với mục tiêu của Chương trình đề ra là “Hoàn thành quy hoạch NTM cho 100% số xã năm 2012” Nguyên nhân chủ yếu là việc triển khai lập quy hoạch được triển khai thực hiện đồng loạt tại tất cả các xã trên địa bàn tỉnh, do đó đã dẫn đến tình trạng quá tải cho các đơn vị tư vấn Mặt khác, phần lớn các đơn vị tư vấn chưa có nhiều kinh nghiệm, chuyên môn về quy hoạch phát triển sản xuất, do đó các đồ án phải lấy ý kiến góp ý, chỉnh sửa nhiều lần
6 Phát triển sản xuất, nâng cao thu nhập cho người dân
a) Về sản xuất nông nghiệp:
- Đã thực hiện rà soát điều chỉnh bổ sung quy hoạch phát triển nông nghiệp chung của tỉnh và các quy hoạch phát triển các sản phẩm chủ lực, thế mạnh của tỉnh để làm cơ sở thực hiện chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp và nông thôn theo hướng sản xuất hàng hóa tập trung, sử dụng đất nông nghiệp tiết kiệm, hiệu quả, gắn sản xuất và chế biến Cụ thể đã điều chỉnh, bổ sung các Quy hoạch: Quy hoạch vùng trồng đay nguyên liệu tập trung đến năm 2015, tầm nhìn đến 2020; Quy hoạch phát triển vùng rau an toàn đến năm 2020; Quy hoạch vùng lúa chất lượng cao phục vụ chế biến gạo xuất khẩu vùng Đồng Tháp Mười đến năm 2020;
Đề án sản xuất thanh long xuất khẩu; Quy hoạch vùng mía nguyên liệu giai đoạn 2011-2020; Quy hoạch đê bao lững vùng Đồng Tháp Mười đến năm 2020; Quy hoạch thủy lợi phục vụ chuyển đổi sản xuất đến năm 2020; Quy hoạch phát triển ngành nghề nông thôn đến 2020; Quy hoạch xây dựng nông thôn mới cấp xã )
- Tập trung đầu tư phát triển cơ sở vật kỹ thuật ngành nông nghiệp, nhất là các cơ sở sản xuất giống Tăng cường các hoạt động khuyến nông, bảo vệ thực vật, thú y; triển khai thực hiện chương trình giống vật nuôi, cây trồng; xây dựng, nhân rộng các mô hình sản xuất hiệu quả
Kết quả: Tốc độ tăng trưởng khu vực nông-lâm-ngư nghiệp năm 2013 đạt 4,6%; tỷ trọng ngành nông-lâm-ngư nghiệp trong cơ cấu GDP chung toàn tỉnh năm
2013 đạt 29,7%
b) Phát triển công nghiệp nông thôn:
Công nghiệp nông thôn tiếp tục được đầu tư phát triển, tập trung vào các ngành nghề chính có thế mạnh của địa phương như: Xay xát, chế biến lương thực, thực phẩm; may mặc; chế biến gỗ, hàng thủ công mỹ nghệ, cơ khí hàn tiện; dịch vụ phục vụ sản xuất nông nghiệp Toàn tỉnh có khoảng 13.000 cơ sở công nghiệp,
(trong đó cơ sở công nghiệp nông thôn 12.140 cơ sở, chiếm 93,3%, tăng 11,3% so với năm 2008) Lao động khu vực công nghiệp nông thôn có 24.300 người, chiếm
gần 15% tổng số lao động toàn ngành công nghiệp Giá trị sản xuất công nghiệp nông thôn tăng bình quân 11,6%/năm
c) Đào tạo nghề cho lao động nông thôn:
Trang 4Năm 2013, toàn tỉnh đã đào tạo nghề cho 5.309 lao động nông thôn, trong đó: Đào tạo nghề nông nghiệp 3.587 người, chiếm 67,6%; nghề phi nông nghiệp 1.722 người, chiếm 32,4% Tỷ lệ lao động có việc làm sau đào tạo đạt 91,3%, trong đó: Nghề nghiệp đạt 91,6%, nghề phi nông nghiệp đạt 90,7%
Việc triển khai thực hiện các giải pháp hỗ trợ phát triển sản xuất trong thời gian qua đã có tác động tích cực đến khu vực nông thôn, đời sống của người dân nông thôn được cải thiện, bộ mặt nông thôn nhiều nơi đã thực sự khởi sắc Năm
2013, thu nhập bình quân đầu người khu vực nông thôn ước đạt 25 triệu đồng/năm;
tỷ lệ hộ nghèo toàn tỉnh giảm còn 3,81%, trong đó: Tỷ lệ hộ nghèo tại các xã giảm còn 4,07%; 94 xã (chiếm 52,6%) đạt tiêu chí thu nhập; 128 xã (chiếm 77%) đạt tiêu chí hộ nghèo; 78 xã (chiếm 47%) đạt tiêu chí nhà ở dân cư; 122 xã (chiếm 73,5%) đạt tiêu chí tỷ lệ lao động có việc làm thường xuyên
7 Xây dựng kết cấu hạ tầng thiết yếu
Từ năm 2011-2013, toàn tỉnh đã huy động được khoảng 9.592,8 tỷ đồng để đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng thiết yếu trên địa bàn nông thôn, trong đó: Vốn ngân sách nhà nước 5.652,5 tỷ đồng, chiếm 58,9%; vốn huy động nhân dân đóng góp 3.376,7 tỷ đồng, chiếm 35,2%; vốn tín dụng 359,8 tỷ đồng, chiếm 3,8%; vốn huy động từ các doanh nghiệp 197,3 tỷ đồng, chiếm 2,1%; vốn khác 6,5 tỷ đồng, chiếm 0,1% Kết quả đạt được cụ thể như sau:
- Giao thông: Toàn tỉnh đã huy động được 5.893,4 tỷ đồng (trong đó: Ngân
sách nhà nước 4.883,1 tỷ đồng, chiếm 82,9%; nhân dân đóng góp 1.010,3 tỷ đồng,chiếm 17,1 %) để thực hiện đầu tư, nâng cấp gần 2.830 km đường giao thông,
gồm có: Nhựa hóa, bê tông hóa 950 km đường trục xã, liên xã; cứng hóa 1.000 km đường ấp, xóm; làm sạch và không lầy lội 600 km đường ngõ, xóm; cứng hóa 280
km đường trục chính nội đồng
- Thủy lợi: Thủy lợi trên địa bàn tỉnh tiếp tục được quan tâm đầu tư, phát
triển theo hướng phục vụ đa mục tiêu Hệ thống đê sông ngăn triều – mặn – trữ ngọt, đê bao chống lũ sớm được củng cố, nâng cấp một bước, nhiều công trình tiêu thoát lũ được đầu tư Trong 3 năm (2011-2013) toàn tỉnh đã huy động được 842,8
tỷ đồng (trong đó: Ngân sách nhà nước 338,5 tỷ đồng, chiếm 40,2%; nhân dân đóng góp 504,3 tỷ đồng,chiếm 59,8 %) để thực hiện đầu tư mới, nâng cấp 239 công
trình thủy lợi, kiên cố hóa 88 km kênh mương
Các công trình thủy lợi đã đảm bảo tưới cho 230.262 ha đất canh tác (đạt 78% yêu cầu), đảm bảo tiêu cho 235.695 ha (đạt 80 % yêu cầu), ngăn triều-mặn-trữ ngọt cho 66.679 ha ( đạt 89 % yêu cầu), ngăn lũ sớm (lũ tháng 8) cho 51.244ha (đạt 34 % yêu cầu), diện tích có trạm bơm đảm bảo tưới tiêu chủ động đạt 11.319
ha (đạt 6 % yêu cầu)
- Điện: Ngành điện đã đầu tư 169,9 tỷ đồng từ để đầu tư cải tạo hệ thống
điện đảm bảo yêu cầu, góp phần nâng tỷ lệ hộ sử dụng điện thường xuyên an toàn
từ các nguồn năm 2012 lên 98,6%, ước năm 2013 đạt 99%
- Trường học: Toàn tỉnh đã huy động được 329 tỷ đồng đề đầu tư xây mới,
cải tạo nâng cấp các phòng học, trong đó: vốn ngân sách các cấp 225,5 tỷ đồng, chiếm 68,5%; vốn dân góp 103,5 tỷ đồng, chiếm 31,5% Do đó, dự kiến đến năm
2013 toàn tỉnh sẽ có 244 trường học đạt chuẩn
Trang 5- Cơ sở vật chất văn hoá: Đã huy động 46,7 tỷ đồng (trong đó: ngân sách
nhà nước 37,2 tỷ đồng, chiếm 79,6%; nhân dân góp 9,5 tỷ đồng, chiếm 20,4 %) để đầu tư xây dựng mới, sửa chữa các Trung tâm văn hóa – thể thao - học tập cộng động xã và nhà văn hóa ấp Do đó, ước đến cuối năm 2013, toàn tỉnh có 57 xã có Trung tâm văn hóa – thể thao - học tập cộng động, 560 ấp có nhà văn hóa
- Chợ nông thôn: Các doanh nghiệp đã đầu tư 13,8 tỷ đồng để đầu tư xây
dựng mới, nâng cấp 15 chợ nông thôn, do đó đến cuối năm 2013 toàn tỉnh có 85 xã
có chợ, chiếm 51 % Theo quy hoạch, đến năm 2015, toàn tỉnh sẽ đầu tư xây mới, nâng cấp 82 chợ nông thôn tại 76 xã
- Bưu điện: Các doanh nghiệp đã đầu tư 4,5 tỷ đồng đề đầu tư nâng cấp,
xây mới các điểm phục vụ viễn thông và cung cấp internet đến ấp, trong đó: Đầu tư nâng cấp, xây mới điểm phục vụ viễn thông 609 triệu đồng; đầu tư cung cấp internet đến ấp 3.891 triệu đồng Nâng tổng số điểm viễn thông đạt chuẩn của toàn tỉnh lên 489 điểm và nâng số xã có internet đến ấp lên 155 xã
- Y tế: Toàn tỉnh đã huy động 30,2 tỷ đồng từ nguồn vốn ngân sách nhà
nước (vốn lồng ghép với các chương trình, dự án khác) để đầu tư nâng cấp, xây mới các trạm y tế xã
- Nước sinh hoạt: Đã huy động 396,8 tỷ đồng để đầu tư xây dựng, cải tạo,
nâng cấp các công trình cấp nước, thoát nước tập trung, trong đó: Vốn tín dụng 241,4 tỷ đồng, chiếm 54%; vốn ngân sách nhà nước 99,7 tỷ đồng, chiếm 25%; vốn dân góp 78,8 tỷ đồng, chiếm 19,9%; nguồn khác 3,9 tỷ đồng, chiếm 1% Kết quả đến cuối năm 2013, tỷ lệ hộ được sử dụng nước sinh hoạt hợp vệ sinh ước đạt 93%, tăng 5% so với năm 2010
- Nhà ở dân cư: Toàn tỉnh đã huy động 1.865 tỷ đồng để thực hiện đầu tư
cải tạo, nâng cấp, xây mới nhà ở của các hộ dân, trong đó: Vốn của các hộ dân 1.669,7 tỷ đồng, chiếm 89,5%; vốn tín dụng 145,5 tỷ đồng, chiếm 7,8%; vốn ngân sách nhà nước 36,7 tỷ, chiếm 2%; vốn huy động từ các doanh nghiệp 10,4 tỷ đồng, chiếm 0,6%; vốn khác 2,6 tỷ đồng, chiếm 0,1% Kết quả ước đến cuối năm 2013,
tỷ lệ nhà đạt chuẩn đạt 79,2%, tăng 20,6% so với năm 2010
- Phát triển các hình thức tổ chức sản xuất: Đến cuối năm 2013, toàn tỉnh
có 49 hợp tác xã (trong đó có 47 hợp tác xã hoạt động trong lĩnh vực nông-lâm-thủy sản), tăng 17 hợp tác xã so với năm 2010; có 2.325 tổ hợp tác (trong đó 1.213
tổ hợp tác hoạt động trong lĩnh vực nông-lâm-thủy sản) Số hợp tác xã hoạt động
có hiệu quả chiếm 55% (27 hợp tác xã)
Từ năm 2011-2013, các hợp tác xã, tổ hợp tác trên địa bàn tỉnh đã huy động được khoảng 550 triệu đồng từ các xã viên để đầu tư mua sắm máy móc, trang thiết bị, xây dựng nhà kho, trụ sở làm việc
(Chi tiết tại Biểu 2-Kết quả huy động vốn xây dựng kết cấu hạ tầng thiết yếu)
8 Về phát triển giáo dục, văn hoá, y tế và bảo vệ môi trường
- Giáo dục: Tỉnh đã thực hiện nhiều giải pháp đồng bộ như: Đổi mới phương
pháp dạy và học, tăng cường đầu tư cơ sở vật chất trường, lớp theo hướng kiên cố hóa nên chất lượng giáo dục ngày càng nâng lên Đến cuối năm 2013, toàn tỉnh
đã có 100% số xã đạt phổ cập giáo dụng trung học cơ sở; 74,1% số học sinh tốt
Trang 6nghiệp trung học cơ sở vào học lớp 10 hệ phổ thông; 63/145 trường mầm non đạt chuẩn; 132/221 trường tiểu học đạt chuẩn; 48/108 trường THCS đạt chuẩn
- Văn hóa: Toàn tỉnh đã có 342.070 hộ (chiếm 95%) đạt tiêu chuẩn “gia đình
văn hóa”; 805 ấp (chiếm 89,4%) được công nhận danh hiệu “ấp văn hóa”; 34 xã (chiếm 20,5%) được công nhận đạt chuẩn văn hóa Tỉnh đã chọn huyện Cần Đước
là huyện điển hình về văn hóa giai đoạn 2010-2015
Về xây dựng thiết chế văn hóa: Đến cuối năm 2013, toàn tỉnh có 55 xã (chiếm 33%) có Trung tâm Văn hóa Thể thao xã; 560 ấp (chiếm 62,2%) có Nhà văn hóa ấp; 90% cán bộ của Trung tâm Văn hóa Thể thao xã được đào tạo, bồi dưỡng, tập huấn về nghiệp vụ
Hầu hết các Trung tâm Văn hóa Thể thao xã, Nhà văn hóa ấp hoạt động có hiệu quả, các loại hình hoạt động như: Sinh hoạt các Câu lạc bộ văn hóa–văn nghệ-thể thao, hội họp, liên hoan, hội thi, hội diễn văn nghệ quần chúng, thi đấu các môn thể thao được tổ chức thường xuyên, góp phần nâng cao đời sống tinh thần của người dân nông thôn, xóa dần khoảng cách hưởng thụ văn hóa giữa nông thôn và thành thị
- Y tế và bảo vệ môi trường: Các cơ sở y tế vùng nông thôn, đặc biệt là vùng
sâu, vùng xa, vùng biên giới được tăng cường đầu tư cả về cơ sở vật chất và nhân lực Các Chương trình mục tiêu quốc gia về y tế như: Chương trình tiêm chủng mở rộng; chăm sóc sức khỏe sinh sản; cải thiện tình trạng dinh dưỡng trẻ được thực hiện có hiệu quả, qua đó đã góp phần nâng cao chất lượng khám chữa bệnh cho người dân nông thôn, sức khỏe của người dân nông thôn từng bước được cải thiện
Công tác khám chữa bệnh bảo hiểm y tế được triển khai đến tuyến xã, cùng với cơ sở vật chất, trang thiết bị trạm y tế xã được tăng cường đầu tư, nên tỷ lệ người dân tham gia bảo hiểm y tế đến năm 2013 đạt 61%
Tỷ lệ hộ chăn nuôi có chuồng trại hợp vệ sinh ước đạt 64%; việc thu gom và
xử lý rác thải ở khu vực nông thôn đang từng bước đi vào nề nếp
9 Về xây dựng hệ thống tổ chức chính trị xã hội vững mạnh và gìn giữ
an ninh, trật tự xã hội
Đến cuối năm 2013, toàn tỉnh có 4.004 cán bộ, công chức cấp xã (gồm có 2.057 cán bộ; 1.947 công chức chuyên môn), trong đó số cán bộ công chức cấp xã đạt chuẩn chiếm khoảng 77% Toàn bộ 166 xã (100%) đã có đủ các tổ chức trong
hệ thống chính trị cơ sở theo quy định
10 Kết quả thực hiện xây dựng NTM theo Bộ tiêu chí
- Tính đến tháng 2/2014, số tiêu chí đạt bình quân/xã 12 tiêu chí Toàn tỉnh
đã có 8 xã cơ bản đạt chuẩn NTM, 46 xã đạt từ 14-18 tiêu chí, 95 xã đạt từ 9-13 tiêu chí, 15 xã đạt từ 6-8 tiêu chí, 2 xã đạt 5 tiêu chí (Kiến Bình và Tân Bình – Tân Thạnh) Đã có 10 tiêu chí có từ 70% số xã đạt trở lên; 5 tiêu chí có từ 40% đến 70% số xã đạt; 4 tiêu chí có từ 13% đến 40% số xã đạt
(Chi tiết tại Biểu 3 - Kết quả thực hiện các tiêu chí NTM từ năm 2010 đến tháng 2/2014 và Biểu 4 - Số tiêu chí đạt bình quân/xã từ năm 2010 đến tháng 2/2014)
Đối với 8 xã cơ bản đạt chuẩn NTM, UBND tỉnh đã tổ chức thẩm tra theo Quyết định số 4101/QĐ-UBND ngày 25/11/2013 của UBND tỉnh Kết quả cụ thể
Trang 7như sau:
+ Xã Dương Xuân Hội – Châu Thành: Tổng số điểm đạt được 97,5 điểm
Còn 3 tiêu chí chưa đạt điểm chuẩn tối đa, gồm: Giao thông (do bề rộng mặt đường trục ấp và trục chính nội đồng chưa đạt chuẩn); Cơ sở vật chất văn hóa (do nhà VH ấp chưa đạt chuẩn); Hệ thống tổ chức chính trị xã hội vững mạnh (do còn
2 cán bộ xã chưa đạt chuẩn)
+ Xã Bình Quới – Châu Thành: Tổng điểm đạt được 96,0 điểm Còn 3 tiêu
chí chưa đạt điểm chuẩn tối đa, gồm: Giao thông (do bề rộng mặt đường trục ấp và trục chính nội đồng chưa đạt chuẩn); Cơ sở vật chất văn hóa (do nhà VH ấp chưa đạt chuẩn); Y tế (do y tế xã chưa đạt Bộ tiêu chí quốc gia về y tế)
+ Xã Hòa Phú – Châu Thành: Tổng điểm đạt được 91,5 điểm Còn 6 tiêu
chí chưa đạt điểm chuẩn tối đa, gồm: Giao thông (do bề rộng mặt đường trục ấp chưa đạt chuẩn); Trường học (do xã có 50% trường học đạt chuẩn về cơ sở vật chất); Cơ sở vật chất văn hóa (do Trung tâm VHTT xã và nhà VH ấp chưa đạt chuẩn); Thu nhập (do thu nhập chỉ đạt 27,7 triệu đồng/người/năm); Y tế (do y tế
xã chưa đạt Bộ tiêu chí quốc gia về y tế); Hệ thống tổ chức chính trị xã hội vững
mạnh (do Đảng bộ xã chỉ đạt danh hiệu “Hoàn thành tốt nhiệm vụ”)
+ Xã Tân Lân – Cần Đước: Tổng số điểm đạt được 93,75 điểm Còn 6 tiêu
chí chưa đạt điểm chuẩn tối đa, gồm: Quy hoạch (do chưa cắm mốc chỉ giới các công trình hạ tầng theo Quy hoạch); Giao thông (do bề rộng mặt đường trục ấp chưa đạt chuẩn); Trường học (do xã có 50% trường học đạt chuẩn về cơ sở vật chất); Cơ sở vật chất văn hóa (do Trung tâm VHTT xã và nhà VH ấp chưa đạt chuẩn); Môi trường (do còn nhiều nghĩa trang chưa có quy chế quản lý); Hệ thống
tổ chức chính trị xã hội vững mạnh (do còn 2 cán bộ xã chưa đạt chuẩn)
+ Xã Mỹ Lệ – Cần Đước: Tổng số điểm đạt được 92,75 điểm Còn 6 tiêu
chí chưa đạt điểm chuẩn tối đa, gồm: Quy hoạch (do chưa cắm mốc chỉ giới các công trình hạ tầng theo Quy hoạch); Giao thông (do bề rộng mặt đường trục chính nội đồng chưa đạt chuẩn); Trường học (do xã có 50% trường học đạt chuẩn về cơ
sở vật chất); Cơ sở vật chất văn hóa (do Trung tâm VHTT xã và nhà VH ấp chưa đạt chuẩn); Chợ nông thôn (do hệ thống điện, nước, chiếu sáng của chợ chưa đảm bảo); An ninh trật tự xã hội (do có phát sinh tụ điểm phức tạp về trật tự xã hội)
+ Xã Khánh Hưng – Vĩnh Hưng: Tổng số điểm đạt được 93 điểm Còn 3
tiêu chí chưa đạt điểm chuẩn tối đa, gồm: Giao thông (do tỷ lệ đường trục chính nội đồng được cứng hóa đạt chuẩn chỉ đạt 38,2%); Cơ sở vật chất văn hóa (do Trung tâm VHTT xã chưa đạt chuẩn); Y tế (do tỷ lệ người dân tham gia BHYT chỉ đạt 63% và y tế xã chưa đạt Bộ tiêu chí quốc gia về y tế)
+ Xã Hậu Thạnh Đông – Tân Thạnh: Tổng điểm đạt được 92,25 điểm
Còn 6 tiêu chí chưa đạt điểm chuẩn tối đa, gồm: Quy hoạch (do chưa cắm mốc chỉ giới các công trình hạ tầng theo Quy hoạch); Giao thông (do bề rộng mặt đường trục xã, đường trục ấp và đường trục chính nội đồng chưa đạt chuẩn); Cơ sở vật chất văn hóa (do Trung tâm VHTT xã và nhà VH ấp chưa đạt chuẩn); Nhà ở dân
cư (do còn 4,9% hộ dân ở trong nhà tạm); Hình thức tổ chức sản xuất (do hợp tác
xã, tổ hợp tác hoạt động chưa hiệu quả); Y tế (do tỷ lệ người dân tham gia BHYT chỉ đạt 68,1.%)
Trang 8+ Xã Mỹ Yên – Bến Lức: Tổng số điểm đạt được 94,25 điểm Còn 5 tiêu chí
chưa đạt điểm chuẩn tối đa, gồm: Cơ sở vật chất văn hóa (do nhà VH ấp chưa đạt chuẩn); Y tế (do chưa đạt Bộ tiêu chí quốc gia về y tế); Môi trường (do tỷ lệ cơ sở sản xuất, kinh doanh đạt tiêu chuẩn về môi trường đạt 83%); Hệ thống tổ chức chính trị xã hội (do còn 2 cán bộ chưa đạt chuẩn); An ninh trật tự xã hội ((do có phát sinh tụ điểm phức tạp về trật tự xã hội và người mắc tệ nạn xã hội)
Để công nhận 8 xã đạt chuẩn NTM trong thời gian tới, tỉnh đã chỉ đạo các huyện tập trung huy động các nguồn lực để đẩy nhanh tiến độ thực hiện các tiêu chí chưa đạt chuẩn, tổ chức tuyên truyền, vận động các hộ gia đình thường xuyên thực hiện các hoạt động để đảm bảo cho môi trường nông thôn luôn luôn “xanh - sạch – đẹp” như: Tổ chức thu gom và xử lý rác thải đúng nơi quy định; cải tạo vườn, chỉnh trang hàng rào, cổng ngõ; xây dựng nhà vệ sinh, nhà tắm đạt tiêu chuẩn quy định Đồng thời có kế hoạch nâng chất các tiêu chí đã đạt chuẩn để đảm bảo
sự phát triển bền vững của xã đạt chuẩn NTM
II ĐÁNH GIÁ CHUNG VỀ KẾT QUẢ TRIỂN KHAI THỰC HIỆN CHƯƠNG TRÌNH
1 Những mặt đạt được
Thứ nhất: Phong trào xây dựng NTM đã có sự chuyển biến tích cực từ nhận
thức đến hành động trong đội ngũ cán bộ công chức và ngườ dân Cán bộ công chức đã hiểu rõ mục đích, ý nghĩa cũng như trách nhiệm của mình trong xây dựng NTM Người dân đã ý thức được vai trò “chủ thể” của mình trong xây dựng NTM
và tích cực tham gia hưởng ứng
Thứ hai: Kết cấu hạ tầng nông thôn phát triển nhanh, từng bước đáp ứng yêu
cầu sản xuất và đời sống của cư dân nông thôn Hệ thống chính trị ở nông thôn hoạt động ngày càng hiệu quả An ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội ở nông thôn được giữ vững
Thứ ba: Các chính sách hỗ trợ phát triển sản xuất được triển khai thực hiện
có hiệu quả Đào tạo nghề cho lao động nông thôn được quan tâm đầu tư Cơ cấu kinh tế nông thôn chuyển dịch theo hướng tăng dần tỷ trọng công nghiệp - dịch vụ, nâng cao chất lượng - hiệu quả sản xuất nhất các sản phẩm thế mạnh của tỉnh (lúa gạo, chăn nuôi gia cầm, rau thực phẩm…)
2 Những khó khăn, vướng mắc
Thứ nhất: Một số Ban Chỉ đạo xây dựng NTM cấp xã, huyện chưa làm hết
vai trò, trách nhiệm, nên việc vận động, huy động các nguồn lực xã hội tham gia xây dựng NTM còn hạn chế
Thứ hai: Sản xuất nông nghiệp là nguồn thu chính của người dân nông thôn,
nhưng đầu ra còn gặp nhiều khó khăn, thường trúng mùa nhưng rớt giá, các doanh nghiệp chế biến, tiêu thụ nông sản chưa gắn kết chặt với vùng nguyên liệu đã ảnh hưởng rất lớn đến nguồn thu nhập của người dân Mặt khác, một số địa phương ít quan tâm chú ý nhân rộng (phát triển) các mô hình sản xuất mà chỉ chú ý đến đầu
tư hạ tầng
Thứ ba: Các hình thức liên kết trong sản xuất như: Hợp tác xã, Tổ hợp tác,
trang trại chậm phát triển, mức độ áp dụng khoa học công nghệ ở một số khâu còn hạn chế, quy mô vốn, doanh thu, lợi nhuận bình quân còn thấp
Trang 9Thứ tư: Thu nhập ở nông thôn tăng, nhưng chất lượng cuộc sống của người
dân nông thôn chưa cải thiện nhiều do giá cả các hàng hóa thiết yếu tăng mạnh Tỷ
lệ hộ nghèo đã giảm, nhưng vẫn còn khá cao so với mục tiêu đặt ra
Phần 2 PHƯƠNG HƯỚNG, NHIỆM VỤ NĂM 2014 - 2015
I MỤC TIÊU
Mục tiêu cơ bản là tiếp tục huy động các nguồn lực để thực hiện Chương trình xây dựng NTM theo đúng kế hoạch, lộ trình đã đề ra Năm 2014 phấn đấu có thêm 18 xã đạt chuẩn NTM, nâng tổng số xã đạt chuẩn NTM đến cuối năm 2014 là
26 xã (Xem chi tiết tại Biểu 5 - Danh sách xã đạt chuẩn NTM năm 2014) Năm
2015 phấn đấu có thêm 10 xã đạt chuẩn NTM, nâng tổng số xã đạt chuẩn NTM đến cuối năm 2015 là 36 xã, chiếm 22% số xã trên địa bàn tỉnh Phấn đấu đến cuối năm 2015, số tiêu chí đạt bình quân/xã từ 14 tiêu chí trở lên
II NHIỆM VỤ, GIẢI PHÁP THỰC HIỆN
Để đạt mục tiêu trên, tỉnh tập trung thực hiện một số nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm sau:
1 Công tác quản lý, chỉ đạo Chương trình
- Tiếp tục củng cố, kiện toàn hệ thống quản lý, thực hiện Chương trình các cấp từ tỉnh đến ấp, trong đó chú trọng củng cố cán bộ, công chức cấp xã có đủ trình
độ chuyên môn - nghiệp vụ để tham mưu triển khai, tổ chức thực hiện xây dựng NTM ở cơ sở
- Thường xuyên kiểm tra, hướng dẫn kịp thời việc triển khai thực hiện xây dựng NTM Triển khai, quán triệt việc tổ chức thực hiện cơ chế đầu tư đặc thù trong xây dựng NTM
2 Công tác tuyên truyền, vận động và thi đua xây dựng NTM
Tiếp tục thực hiện các hoạt động thông tin, tuyên truyền phổ biến quán triệt sâu rộng các chủ trương, chính sách về xây dựng NTM để người dân hiểu rõ nội dung xây dựng NTM và chủ động tự giác tham gia Đồng thời, tuyên truyền để thấy được trách nhiệm cụ thể của chính quyền, các đoàn thể và hộ dân trong xây dựng NTM
3 Công tác đào tạo, tập huấn
Tiếp tục chỉ đạo cho các địa phương tăng cường bồi dưỡng kiến thức xây dựng NTM cho cán bộ công chức các cấp, nhất là cấp xã Đây là nhiệm vụ được thực hiện thường xuyên, nhằm đảm bảo tính ổn định cho cán bộ làm công tác xây dựng NTM ở cơ sở
4 Triển khai thực hiện quy hoạch, đề án xây dựng NTM
Tiếp tục chỉ đạo các địa phương thực hiện việc công bố đồ án quy hoạch xây dựng NTM Tăng cường kiểm tra, hướng dẫn các địa phương thực hiện xây dựng NTM theo đúng Quy hoạch và Đề án xây dựng NTM đã được duyệt thông qua việc
cụ thể hóa thành kế hoạch và các dự án, công trình đầu tư cụ thể
5 Phát triển sản xuất, nâng cao thu nhập cho người dân
- Về phát triển sản xuất nông nghiệp: Triển khai thực hiện kế hoạch tái cơ
Trang 10cấu ngành nông nghiệp theo hướng nâng cao giá trị gia tăng và phát triển bền vững, nhằm duy trì tăng trưởng ổn định, bền vững, góp phần giải quyết các vấn đề
an sinh xã hội nông thôn
Triển khai thực hiện các quy hoạch, đề án phát triển sản nông nghiệp Tăng cường công tác khuyến nông, khuyến ngư Quản lý và phòng chống tốt dịch bệnh cây trồng vật nuôi Tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra quản lý chất lượng vật
tư nông nghiệp, thuốc thú y thủy sản Đẩy mạnh các hoạt động xúc tiến thương mại, hỗ trợ nông dân tiêu thụ nông sản phẩm
- Về phát triển công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp ngành nghề nông thôn: Tiếp tục thực hiện các chính sách tạo điều kiện thuận lợi phát triển công nghiệp, dịch vụ ở vùng nông thôn theo quy hoạch Khuyến khích và hỗ trợ các ngành nghề truyền thống phát triển; nâng cao chất lượng sản phẩm làng nghề
- Đào tạo nghề cho lao động nông thôn: Tập trung đào tạo nghề, tạo nguồn nhân lực cho tái cơ cấu nông nghiệp và xây dựng nông thôn mới theo 2 hướng
Thứ nhất: Đào tạo bồi dưỡng cho lực lượng lao động trực tiếp sản xuất nông
nghiệp ứng dụng khoa học công nghệ, nhằm tạo ra nông sản hàng hóa có chất
lượng và tính cạnh tranh cao Thứ hai: Đào tạo nghề mới để chuyển dịch cơ cấu
lao động, gắn với nhu cầu sử dụng lao động cụ thể của doanh nghiệp
6 Xây dựng kết cầu hạ tầng thiết yếu
Tập trung huy động nguồn lực để xây dựng kết cấu hạ tầng nông thôn, nhất
là các công trình kết cấu hạ tầng phục vụ sản xuất và dân sinh như: Đường giao thông, hệ thống thủy lợi phục vụ sản xuất, điện sản xuất, nước sinh hoạt…
7 Phát triển giáo dục, Văn hóa, Y tế và bảo vệ môi trường nông thôn
- Tăng cường huy động các nguồn lực để đầu tư nâng cấp, xây dựng mới các phòng học, nâng tỷ lệ trường học các cấp đạt chuẩn quốc gia; duy trì kết quả phổ
cập giáo dục trung học cơ sở
- Tăng cường huy động các nguồn lực xã hội thực hiện đầu tư xây dựng hoàn chỉnh các thiết chế văn hóa ở nông thôn như: Trung tâm Văn hóa - Thể thao
xã, Nhà văn hóa ấp
- Tập trung đầu tư cơ sở vật chất, trang thiết bị y tế cho các trạm y tế cấp xã Thực hiện có hiệu quả các Chương trình mục tiêu quốc gia về y tế; công tác khám chữa bệnh bảo hiểm y tế Tập trung huy động các nguồn lực để đầu tư các công trình cung cấp nước sinh hoạt hợp vệ sinh cho các hộ dân nông thôn, tăng cường kiểm tra, giám sát các cơ sở sản xuất, trang trại trên địa bàn nông thôn thực hiện nghiêm các quy định về bảo vệ môi trường
8 Xây dựng hệ thống tổ chức chính trị xã hội vũng mạnh và giữ gìn an ninh, trật tự xã hội
Chỉ đạo các địa phương thực hiện các giải pháp nhằm nâng cao tỷ lệ cán bộ cấp xã đạt chuẩn; tỷ lệ Đảng bộ, chính quyền xã đạt tiêu chuẩn “trong sạch, vững mạnh”; các tổ chức Đoàn thể chính trị của xã đều đạt danh hiệu tiên tiến trở lên; đảm bảo an ninh, trật tự xã hội ở địa bàn nông thôn
9 Huy động và bố trí nguồn lực thực hiện Chương trình
Dự báo nguồn vốn ngân sách nhà nước các cấp trong những năm tới sẽ vẫn còn nhiều khó khăn, do đó tỉnh tiếp tục chỉ đạo các ngành, địa phương tập trung