Đối tượng nghiên cứu: Đề tài này sẽ nghiên cứu, tổng kết về phương pháp dạy học môn lịch sử:xây dựng hệ thống câu hỏi nhằm phát huy tính tích cực, chủ động trong học tập của học sinh qua
Trang 12 Thực trạng của việc xây dựng câu hỏi trong dạy học bài 20 4
3.1.Nhận thức đúng về vấn đề xây dựng hệ thống câu hỏi 5
3.2 Xây dựng bảng hệ thống câu hỏi trong bài 20 5
3.5 Sử dụng hệ thống câu hỏi trong bài 20 8
3.5.1 Sử dụng câu hỏi ở phần kiểm tra bài cũ 8
3.5.2 Sử dụng câu hỏi nhằm cung cấp nội dung kiến thức 9
3.5.3 Sử dụng câu hỏi nhằm khai thác kênh hình 11
3.5.4 Sử dụng câu hỏi nhằm củng cố bài học 17
4 Hiệu quả của SKKN đối với hoạt động giáo dục 17
Trang 2I MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài:
Môn lịch sử trong trường THPT là môn học có ý nghĩa và vị trí quantrọng đối với việc đào tạo thế hệ trẻ theo mục tiêu giáo dục đã được Đảng vàNhà nước ta xác định Bởi lịch sử giúp học sinh nắm được những kiến thức cơbản cần thiết về lịch sử thế giới, lịch sử dân tộc làm cơ sở bước đầu cho sự hìnhthành thế giới quan khoa học, giáo dục lòng yêu quê hương, đất nước, niềm tựhào dân tộc, tình đoàn kết quốc tế Trên nền tảng kiến thức đã học môn lịch sửcòn giúp học sinh phát triển năng lực tư duy, hành động, có thái độ ứng xử đúngđắn trong đời sống xã hội, đáp ứng yêu cầu của sự phát triển con người ViệtNam trong công cuộc công nghiệp hóa- hiện đại hóa đất nước
Tuy nhiên, tình trạng học sử của học sinh ngày nay là một điều báo động.Học sinh không thích học sử, vô cảm trước lịch sử, và như vậy sẽ có nguy cơ vôcảm trước vận mệnh dân tộc
Nguyên nhân của thực trạng trên có nhiều, theo tôi tựu chung lại có mấy
lý do sau: Thứ nhất, Sách giáo khoa Lịch sử mang tính hàn lâm, chưa hấp dẫn, kiến thức còn dàn trải, nặng nề.Thứ hai, tác động tiêu cực của cơ chế thị trường
dẫn đến học sinh chỉ tập trung học những môn thi vào các trường đại học sau
này ra kiếm được nhiều tiền.Thứ ba, lối dạy lịch sử vẫn chủ yếu thầy nói trò nghe làm cho chất lượng bộ môn không cao.Thứ tư, vấn đề thi cử đánh giá như
hiện nay cũng ảnh hưởng tới chất lượng dạy học lịch sử Môn sử chỉ là môn tựchọn Học sinh ít chọn môn lịch sử đương nhiên các em sẽ không học lịch sử
Để khắc phục thực trạng trên cần có sự tham gia của toàn xã hội mà đặc
biệt là ngành giáo dục nước nhà để có những giải pháp tối ưu Song theo chủ
quan của tôi cần phải có những giải pháp sau: Thứ nhất, đưa môn lịch sử về
đúng với vị trí, vai trò của nó Xác định lịch sử là môn học chính khóa bắt buộc
trong chương trình giáo dục phổ thông nước ta.Thứ hai, biên soạn lại sách giáo
khoa lịch sử phổ thông theo hướng bỏ bớt tính hàn lâm để lịch sử gần gũi hơn,
sinh động hơn.Thứ ba, đổi mới phương pháp dạy học môn lịch sử và bồi dưỡng
đội ngũ giáo viên dạy môn lịch sử ngang tầm với yêu cầu mới
Đâu là phương pháp hiệu quả để kích thích sự say mê, tìm tòi, khám phácủa học sinh với môn lịch sử? Đi tìm trong rất nhiều phương pháp dạy học như
sử dụng tài liệu tham khảo, sử dụng đồ dùng trực quan, thì tôi thấy hiệu quả
đó là sử dụng câu hỏi để phát huy tính tích cực, chủ động của học sinh trong họctập lịch sử Bởi vì với những câu hỏi của người thầy, người học chủ động tìmđến, khám phá và tiếp thu những cái mới chứ không chỉ thụ động như những cỗmáy chép Ngoài ra phương pháp này còn hình thành nên những thao tác tư duycho các em, rèn luyện kĩ năng tự học tốt hơn
Trong dạy học lịch sử, dạy những bài liên quan tới quân sự chiến tranh đãkhó thì dạy bài về văn hóa còn khó gấp bội Ở các bài học này khối lượng kiếnthức nhiều, vừa khái quát cao lại đi vào từng biểu hiện cụ thể, chi tiết Vì vậyđòi hỏi mỗi giáo viên phải sử dụng phương pháp thích hợp, cải tiến cách dạy thìmới đáp ứng được yêu cầu đặt ra Với mong muốn giúp cho thế hệ trẻ của ViệtNam biết và quý trọng những giá trị văn hóa của dân tộc đồng thời biết hội nhậpchứ không hòa tan, tôi quyết định chọn bài văn hóa dân tộc để nghiên cứu
Trang 3Tuy nhiên, trong khuôn khổ có hạn của một SKKN tôi chỉ tập trung
trình bày về việc xây dựng hệ thống câu hỏi khi dạy bài 20: Xây dựng và phát triển văn hóa dân tộc từ X - XV” Từ đó, giáo viên có thể vận dụng vào việc
dạy các dạng bài về lịch sử văn hóa nói chung cho các đối tượng học sinh
Vì vậy để phát huy tính tích cực của học sinh, nâng cao hiệu quả dạy họcgiúp các em yêu thích hơn môn học lịch sử tôi lựa chọn đề tài này để nghiêncứu
2 Mục đích nghiên cứu:
Mục đích mà đề tài này hướng đến chính là để phát huy tính tích cực củahọc sinh, nâng cao hiệu quả dạy học giúp các em yêu thích hơn môn học lịch sử,yêu thích tìm hiểu văn hóa của dân tộc Từ đó các em sẽ hiểu, cảm nhận đượcnhững giá trị văn hóa mà ông cha để lại và có ý thức, trách nhiệm hơn trong việcbảo vệ những giá trị văn hóa đó
3 Đối tượng nghiên cứu:
Đề tài này sẽ nghiên cứu, tổng kết về phương pháp dạy học môn lịch sử:xây dựng hệ thống câu hỏi nhằm phát huy tính tích cực, chủ động trong học tập
của học sinh qua bài 20 “Xây dựng và phát triển văn hóa dân tộc từ X-XV” ở lớp 10 chương trình chuẩn
4 Phương pháp nghiên cứu: Phương pháp nghiên cứu trên cơ sở lý thuyết về
phương pháp dạy học môn lịch sử, phương pháp điều tra, khảo sát thực tế,
II NỘI DUNG CỦA SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
1 Cơ sở lí luận của sáng kiến kinh nghiệm
Định hướng đổi mới phương pháp dạy và học đã được xác định trong nghịquyết Trung Ương IV khóa VII (1-1993), nghị quyết trung ương 2 khóa VIII(12-1996), được thể chế hóa trong luật giáo dục (12- 1998), được cụ thể hóatrong các chỉ thị của Bộ Giáo dục và Đào tạo, đặc biệt là chỉ thị số 5 (4-1999)
Luật giáo dục, điều 24.2 đã ghi: “ Phương pháp giáo dục phổ thông phảiphát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của học sinh; phù hợp với đặc điểmcủa từng môn học; bồi dưỡng phương pháp tự học, rèn luyện kĩ năng vận dụngkiến thức vào thực tiễn; tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú họctập cho học sinh ”
Trong phương pháp phát huy tính tích cực, chủ động của học sinh cónhiều phương pháp như : đặt và giải quyết vấn đề, thảo luận nhóm, phương phápvấn đáp (đàm thoại) Vấn đáp là một phương pháp trong đó giáo viên nêu câuhỏi để học sinh trả lời, hoặc học sinh có thể tranh luận với cả giáo viên; qua đóhọc sinh lĩnh hội được nội dung bài học
Sử dụng hệ thống câu hỏi nhằm phát huy tính tích cực trong dạy học lịch
sử, xét đến cùng cũng là để nâng cao hiệu quả bài học Theo một số nhà nghiêncứu giáo dục cho rằng tư duy của con người thường bắt nguồn từ những trở ngại
về mặt trí tuệ Hay nói một cách khác đó là những thắc mắc, những ngạc nhiênnhững rào cản buộc con người phải suy nghĩ để tìm ra câu trả lời Đây chính làtình huống có vấn đề đặt ra tạo động lực kích thích hoạt động tư duy của học
sinh Ví dụ khi giáo viên đưa ra câu hỏi: Vì sao Nho giáo trở thành hệ tư tưởng
chính thống của chế độ phong kiến? Hay câu: Hãy nêu những đóng góp của phong trào Tây Sơn đối với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc? Các câu hỏi
Trang 4đưa ra học sinh phải suy nghĩ để tìm ra câu trả lời Thông qua hoạt động tư duy,qua những hướng dẫn gợi mở của giáo viên, học sinh sẽ dần lĩnh hội được cáckiến thức Khi ấy quá trình dạy học đã đạt được hiệu quả bài học.
2 Thực trạng của việc xây dựng hệ thống câu hỏi trong giảng dạy bài 20
“Xây dựng và phát triển văn hóa dân tộc từ X-XV” ở lớp 10 chương trình chuẩn
Hiện nay việc dạy và học về lĩnh vực văn hóa nói chung và cụ thể bài 20
“Xây dựng và phát triển văn hóa dân tộc từ X-XV” nói riêng là một vấn đề
khó Do dung lượng kiến thức nhiều, thời gian lại hạn chế, lại có nhiều kháiniệm mới cần hình thành Vì vậy nêu không đổi mới phương pháp dạy học sửdụng câu hỏi để hướng dẫn học sinh tìm hiểu bài thì không đảm bảo nội dungcủa bài học Đặc biệt là học sinh không hiểu được những giá trị văn hóa thời kìnày như truyền thống hiếu học, coi trọng nhân tài, sự sáng tạo của nghệ nhândân gian Vậy thì các em làm sao có thể quý trọng những di sản mà cha ông đểlại huống chi là bảo vệ những giá trị đó
Như vậy với bài học trên việc xây dựng hệ thống câu hỏi là rất quan trọng.Tôi nhận thấy việc sử dụng câu hỏi của giáo viên tuy đã có nhiều chuyển biếntích cực những vẫn còn bộc lộ một số hạn chế sau:
- Giáo viên chưa có nhận thức đúng đắn về việc xây dựng hệ thống câuhỏi Vì thế trong dạy học thường tiện đâu hỏi đó hoặc hỏi cho có hỏi
- Một số tiết học giáo viên chỉ huy động một số học sinh khá, giỏi tham giatrả lời câu hỏi mà chưa quan tâm đến đối tượng học sinh yếu kém cho nên đốitượng học sinh này ít được tham gia hoạt động, dẫn đến các em thêm tự ti vềnăng lực của mình và cảm thấy chán nản môn học
- Các loại câu hỏi chưa phong phú, chưa kích thích được tư duy ham họchỏi của học sinh
- Giáo viên sử dụng quá nhiều câu hỏi, vụn vặt trong một tiết học dẫn tớibài giảng trở nên dàn trải không khắc sâu những nội dung trọng tâm
- Nhiều giáo viên chưa biết kết hợp các phương pháp dạy học đặc biệt lànêu câu hỏi để khai thác tối ưu các kênh hình trong bài học này
Qua bài học cụ thể này với việc xây dựng hệ thống câu hỏi để phát huytính tích cực, chủ động trong học tập của học sinh tôi sẽ giúp cho các em thấyhọc lịch sử còn là học văn hóa Nếu không học lịch sử sẽ là tự đánh mất đi vănhóa, bản sắc dân tộc mình Chính vì vậy vượt qua những khó khăn nêu trên tôimạnh dạn đi vào nghiên cứu vấn đề: xây dựng hệ thống câu hỏi nhằm phát huy
tính tích cực, chủ động trong học tập của học sinh qua bài 20 “Xây dựng và phát triển văn hóa dân tộc từ X-XV” ở lớp 10 chương trình chuẩn.
3 Những giải pháp thực hiện
3.1.Nhận thức đúng về vấn đề xây dựng hệ thống câu hỏi.
Chỉ khi người thầy có suy nghĩ, nhận thức đúng về vai trò của câu hỏi thì mớitạo được động lực, quyết tâm để xây dựng hệ thống câu hỏi trong dạy học mộtcách có hiệu quả:
- Câu hỏi giúp cho học sinh phải nắm được những kiến thức cơ bản của bàihọc Kiến thức ở đây không phải là cái mà người thầy cung cấp sẵn cho học
Trang 5sinh Theo như đại văn hào người Nga Lep Tônxtôi “kiến thức chỉ thực sự làkiến thức khi nó là thành quả cố gắng của tư duy chứ không phải trí nhớ ” Sửdụng hệ thống câu hỏi trong dạy học lịch sử là dạy cho học sinh biết tư duy Tưduy càng phát triển thì việc lĩnh hội kiến thức càng dễ dàng Một hệ thống cáccâu hỏi sẽ phác họa lại bức tranh chân thực về lịch sử.
- Việc sử dụng hệ thống câu hỏi không chỉ giúp cho việc hình thành kiếnthức mới mà còn là phương tiện quan trọng để củng cố, kiểm tra đánh giá kiếnthức học sinh đạt được Các câu hỏi đưa ra để kiểm tra, đánh giá, người giáoviên biết được học sinh nắm kiến thức ở các mức độ: biết, hiểu, vận dụng thấp,vận dụng cao
3.2.Xây dựng bảng hệ thống câu hỏi trong bài 20 “Xây dựng và phát triển văn hóa dân tộc từ X-XV” ở lớp 10 chương trình chuẩn
Hệ thống câu hỏi trong bài khá phong phú Tuy nhiên, do thời gian trênlớp hạn chế nên không phải câu hỏi nào cũng khai thác vì còn phải dành thờigian cho các hoạt động khác Để đạt được hiệu quả sử dụng cao, giáo viên phảichọn lọc được những câu hỏi cơ bản, có giá trị để khai thác Giáo viên tùy theo mức độcủa từng đối tượng học sinh để đặt câu hỏi nhằm nâng cao hiệu quả của giờ học.
1 Tư tưởng –
tôn giáo
- Câu hỏi 1: Tại sao Nho giáo sớm trở thành hệ tư tươngchính thống của giai cấp thống trị nhưng lại không phổbiến trong nhân dân?
- Câu hỏi 2: Vì sao nói thời Lý – Trần Phật giáo được coi
là quốc giáo?
2 Giáo dục - Câu hỏi 1: Nhà Lý cho xây dựng Văn miếu- Quốc tử
giám thể hiện điều gì?
- Câu hỏi 2: Việc dựng bia tiến sĩ có tác dụng gì?
- Câu hỏi 3: Vì sao giáo dục Nho học không tạo điều kiệncho kinh tế phát triển?
3 Văn học -Câu hỏi 1: Cho biết tác phẩm nào vừa là tác phẩm văn
học vừa là tác phẩm lịch sử ở thế kỉ XV và lý giải?
- Câu hỏi 2: Tại sao văn học nước ta trong giai đoạn
X-XV có đặc điểm chính là thể hiện lòng yêu nước và niềm
tự hào dân tộc?
4 Nghệ thuật - Câu hỏi 1: Hãy quan sát hình ảnh chùa Một Cột, cho
biết nét độc đáo của nghệ thuật kiến trúc chùa Một Cột?
- Câu hỏi 2: Qua lan can đá chạm rồng tại thềm điện Kính
Thiên (Hà Nội), em hãy cho biết hình rồng thời Lê có gìkhác với hình rồng thời Lý? Từ đó chỉ ra nét độc đáo củanghệ thuật điêu khắc Việt Nam?
-Câu hỏi 3: Qua theo dõi đoạn phim về nghệ thuật múarối nước, em hãy cho biết vì sao nghệ thuật sân khấu dângian này lại thu hút nhiều du khách quốc tế khi đến vớiViệt Nam?
5 KHKT -Câu hỏi 1: Trong các thế kỉ X-XV, nước ta đạt được
Trang 6những thành tựu gì tiêu biểu về khoa học và kĩ thuật?
- Câu hỏi 2: Em có nhận xét gì về văn hóa Đại Việt từ thế
kỉ X-XV?
Trên đây là hệ thống câu hỏi mà tác giả nêu lên để tạo nên khung của bàihọc Trong quá trình sử dụng, tùy theo đối tượng học sinh giáo viên có thể linhhoạt sử dụng có thêm hay bớt cho phù hợp
3.3.Nguyên tắc khi sử dụng hệ thống câu hỏi
Để nâng cao hiệu quả sử dụng câu hỏi cần đảm bảo các nguyên tắc sau:
Một là: Đảm bảo tính chính xác, khoa học Câu hỏi phải bám sát nội
dung chương trình học, có nội dung chính xác, rõ ràng, dễ hiểu Đó là những câuhỏi nêu được vấn đề cần đặt ra để có thể hiểu đúng, sâu sắc hơn sự kiện Câu hỏinhư vậy đòi hỏi học sinh phải có những thao tác tư duy mới tìm được câu trả lờithích đáng
Hai là: Đảm bảo tính sư phạm Đây là nguyên tắc rất quan trọng, bởi xét
đến cùng, mọi phương tiện dạy học dù hiện đại đến đâu thì cũng chỉ có thể pháthuy được tác dụng của mình nếu giáo viên có phương pháp sư phạm tốt.Nguyên tắc sư phạm trong sử dụng câu hỏi được thể hiện ở những khía cạnhsau:
- Phù hợp với trình độ học sinh Việc xây dựng hệ thống câu hỏi phải đảm
bảo tính vừa sức, không quá dễ cũng không quá khó làm giảm hứng thú của họcsinh khi học tập Mỗi giờ giáo viên chỉ sử dụng lượng câu hỏi vừa phải Các câuhỏi của giáo viên phải tạo thành hệ thống hoàn chỉnh có mối quan hệ lôgic chặtchẽ làm nổi bật chủ đề, nội dung tư tưởng của bài
- Sử dụng đúng mục đích Mỗi một loại câu hỏi có một chức năng riêng
nên chúng phải được nghiên cứu cụ thể để sử dụng đúng mục đích, phù hợp vớiyêu cầu bài học
Ví dụ: Câu hỏi đặt vấn đề khác với câu hỏi cung cấp kiến thức mới, câuhỏi kiểm tra bài cũ, củng cố bài học
- Sử dụng đúng thời điểm Giáo viên cần khắc phục tình trạng chưa cung
cấp kiến thức lịch sử mà đặt câu hỏi, cách đặt câu hỏi như vậy trái với đặc trưng
bộ môn, buộc học sinh nhìn vào SGK để trả lời chứ không hoàn toàn tự suy nghĩtìm kiến thức Khi nêu câu hỏi nhất định phải để cho học sinh có thời gian đểsuy nghĩ để trả lời, học sinh khác có thể bổ sung và tranh luận sau đó giáo viênmới nhận xét, tổng kết lại
- Thiết kế câu hỏi hợp lý, trọng tâm Câu hỏi hợp lý, trọng tâm, có ý nghĩa
rất quan trọng, nó không những phát huy được tính tích cực, phát triển khả năng
tư duy của học sinh; mà còn giúp học sinh hiểu sâu, nhớ kĩ những kiến thứcđược tìm hiểu
- Lưu ý đến nhiều đối tượng học sinh trong lớp Trong quá trình dạy học,
giáo viên đặt và sử dụng câu hỏi cần phải linh hoạt, tùy theo từng lớp và từngđối tượng học sinh Cần phải nắm vững đối tượng học sinh, phân biệt được trình
độ của các em trong việc học tập bộ môn để từ đó giáo viên điều chỉnh các thao
Trang 7tác sư phạm của mình cho phù hợp với Khi đặt câu hỏi cần ngắn gọn đơn giản,
dễ hiểu, phù hợp với tư duy của học sinh Không nên đặt ra những câu hỏi chungchung; những câu hỏi “Đúng” hay “Sai”, “Có” hay “Không”
- Kết hợp với nhiều phương pháp, kỹ thuật dạy học khác như: Sử dụng hệ
thống câu hỏi là một phương pháp nhưng cũng cần có sự kết hợp với cácphương pháp khác như sử dụng đồ dùng trực quan, khai thác các nguồn tài liệukhác cùng các thao tác sư phạm hợp lý để vận dụng linh hoạt trong giờ học gópphần nâng cao hiệu quả bài học lịch sử
Ba là: Đảm bảo tính truyền cảm Trong quá trình tổ chức dạy học, khi
đặt ra câu hỏi người giáo viên cần có ngôn ngữ truyền cảm, có ngữ điệu rõ ràng,
có thái độ xúc cảm đối với các sự kiện hiện tượng lịch sử Giáo viên cũng cầnđộng viên khuyến khích học sinh tích cực trả lời có thể khen ngợi các học sinhtích cực, uốn nắn học sinh thụ động chưa tích cực
3.4 Kỹ năng sử dụng hệ thống câu hỏi
3.4.1 Phân loại hệ thống câu hỏi
Theo mục đích, hệ thống câu hỏi trong một bài học lịch sử hiện nay cócách phân chia như sau:
- Câu hỏi kiểm tra bài cũ: mục đích là nhằm giúp học sinh liên hệ, nhớlại kiến thức cũ đồng thời tạo sự khởi động phấn khởi cho học sinh khi họcbài mới
- Câu hỏi nhằm phát hiện, tái hiện kiến thức: nhằm để cung cấp nộidung bài học
- Câu hỏi phát triển tư duy: nhằm giúp học sinh rèn luyện thao tác tưduy như so sánh, phân tích, tổng hợp… Vì những câu hỏi đó chỉ trả lời đượckhi có sự liên hệ suy luận với những kiến thức đã học
- Câu hỏi củng cố: thường là những câu hỏi ở cuối mỗi bài giúp họcsinh hệ thống kiến thức trong bài học Giáo viên tùy theo bài học có thể mởrộng liên hệ thực tiễn hiện nay
Việc phân loại câu hỏi sẽ giúp cho giáo viên xác định các biện pháp sưphạm để hướng học sinh lĩnh hội kiến thức, bởi mỗi loại câu hỏi thể hiện mộtnội dung khác nhau thì phương pháp sử dụng cũng khác nhau
3.4.2 Các bước tiến hành
Việc sử dụng câu hỏi phải được tiến hành theo các bước sau:
Bước1: Giáo viên cung cấp kiến thức hoặc gợi nhớ những nội dung lịch
sử đã học trước khi tìm hiểu nội dung mới
Bước2: Giáo viên đưa ra câu hỏi nêu vấn đề và tổ chức, hướng dẫn học
sinh tìm hiểu nội dung bài học
Bước 3: Học sinh trình bày, trả lời câu hỏi mà giáo viên đã nêu.
Bước 4: Giáo viên nhận xét, bổ sung ý kiến trả lời của học sinh, hoàn
thiện nội dung câu hỏi cho học sinh
3.5 Sử dụng hệ thống câu hỏi trong bài 20 “Xây dựng và phát triển văn hóa dân tộc từ X-XV” ở lớp 10 chương trình chuẩn
3.5.1 Sử dụng câu hỏi ở phần kiểm tra bài cũ
Trước hết giáo viên trình chiếu bảng và đặt câu hỏi: Em hãy điền tên các cuộc kháng chiến chống ngoại xâm của dân tộc ta từ thế kỉ X-XV và trình bày
Trang 8về 1 cuộc kháng chiến mà em ấn tượng nhất?
cũ một cách có hệ thống các cuộc kháng chiến chống ngoại xâm của dân tộc ta
từ thế kỉ X- XV Từ đó giáo viên dẫn dắt vào bài mới: trong các thế kỉ X- XVnhân dân ta không chỉ thắng lợi oai hùng về quân sự mà còn có những thành tựu
to lớn về văn hóa- giáo dục chúng ta sẽ cùng tìm hiểu ở bài 20 này
3.5.2 Sử dụng câu hỏi nhằm cung cấp nội dung kiến thức của bài học
*Sử dụng câu hỏi ở mục I: tư tưởng, tôn giáo
Ở mục này khi dạy về phần tư tưởng, tôn giáo là một phần khó đối với
học sinh lại liên hệ đến kiến thức cũ đã học giáo viên phải giới thiệu khái quát
về tình hình chung Trong các thế kỉ X- XV, về tư tưởng tôn giáo nước ta xuấthiện hiện tượng “tam giáo đồng nguyên” tức là ba tôn giáo cùng tồn tại và pháttriển song song với nhau đó là: Nho giáo, Đạo giáo và Phật giáo Cả ba tôn giáonày đều từ bên ngoài như Trung Quốc, Ấn Độ vốn được du nhập nước ta từ thờiBắc thuộc, đến thời kì này có điều kiện phát triển
Câu hỏi 1: Tại sao Nho giáo sớm trở thành hệ tư tưởng chính thống của giai cấp thống trị nhưng lại không phổ biến trong nhân dân?
Câu hỏi này chỉ đưa ra khi giáo viên đã trình bày được những nét chính về
sự phát triển của Nho giáo ở nước ta qua các thời kì Lý-Trần và Lê sơ Học sinh
sẽ dễ hiểu vì sao Nho giáo sớm là hệ tư tưởng chính thống của chế độ phongkiến vì những quan điểm, tư tưởng của Nho giáo đã quy định một trật tự, kỷcương đạo đức phong kiến rất quy củ, khắt khe nên giai cấp thống trị đã triệt đểlợi dụng Nho giáo là công cụ thống trị, bảo vệ chế độ phong kiến Còn với nhândân chỉ tiếp thu khía cạnh đạo đức của Nho giáo Nhà lê sơ Nho giáo trở thànhđộc tôn vì lúc này nhà nước quân chủ chuyên chế đã đạt tới đỉnh cao, đã hoànchỉnh Điều này còn thể hiện việc tiếp nhận văn hóa bên ngoài đã được “Việthóa” không phải sao chép một cách máy móc mà phù hợp với hoàn cảnh đấtnước
Câu hỏi 2: Vì sao nói thời Lý- Trần Phật giáo được coi là quốc giáo?
Câu hỏi này được sử dụng khi học sinh đã nhớ lại những nét chính vềPhật giáo như là có nguồn gốc từ đâu? Vào thời gian nào? Giáo lí cơ bản của nó
là gì? Câu hỏi này hướng cho các em hiểu được vị trí quan trọng của tôn giáonày vào thời kì Lý – Trần là: Phật giáo thời kì này có vị trí đặc biệt quan trọng
và rất phổ biến như là quốc giáo được cả giai cấp thống trị và nhân dân tôn sùng
Nó được biểu hiện như sau:
Trang 9+ Phật giáo được nhân dân và nhà nước tôn sùng
+ Chùa chiền mọc ra ở nhiều nơi
+ Bộ phận sư tăng có vai trò quan trọng trong nhà nước
+ Vua Trần Nhân Tông còn lập ra phái thiền Trúc lâm
Giáo viên có đặt câu hỏi thêm để nâng cao kiến thức: Vì sao nhà vua Trần
Nhân Tông lập ra một môn phái riêng của Đạo Phật ở Việt Nam? Câu hỏi này
buộc học sinh phải tư duy mới trả lời được Giáo viên có thể gợi ý cho học sinh
tư tưởng chủ đạo của nhân dân ta từ thế kỉ X- XV chính là tư tưởng độc lập, tựchủ Do tác động của tư tưởng này mà chi phối các mặt đời sống của nhân dânta: kinh tế tự chủ, kháng chiến bảo vệ nền độc lập và tất nhiên về tư tưởng cũngphải có hệ tư tưởng riêng để đối lập với Trung Quốc Vì vậy mà thời Lý Trần rấtcoi trọng phát triển Phật giáo và đặc biệt vua trần Nhân Tông còn lập ra mônphái riêng là phái thiền Trúc Lâm
Như vậy, với những câu hỏi trên giáo viên giúp cho học sinh tích cực, chủđộng trong việc đi tìm hiểu những nội dung kiến thức tình hình tư tưởng tôngiáo nước từ X- XV Đây là thời kì có sự tồn tại song song cùng phát triển củaNho giáo – Phật giáo – Đạo giáo Tuy mỗi thời kì tôn giáo này hưng hay suynhưng sự tồn tại đó làm cho văn hóa nước ta đa dạng, phong phú Sự phong phú
đó cũng chi phối đến nhiều lĩnh vực khác đặc biệt như kiến trúc, điêu khắc
* Sử dụng câu hỏi khi dạy mục II: Giáo dục, văn học, nghệ thuật, khoa
được : đặc điểm chính là thể hiện lòng yêu nước và niềm tự hào dân tộc.
Câu hỏi 3: Trong thế kỉ X – XV nước ta đạt được những thành tựu gì tiêu biểu về khoa học- kĩ thuật ?
Câu hỏi này nhằm hệ thống những thành tựu chính về khoa học – kĩ thuật
ở nước ta từ thế kỉ X- XV Với câu hỏi này giáo viên nên linh hoạt vào nội dungbài học hoặc có thể giao cho học sinh về nhà hoàn thiện Đây là câu hỏi nên sửdụng bảng để thống kê giúp học sinh dễ làm lại dễ nhớ
Trang 10Bảng thống kê những thành tựu khoa học – kĩ thuật tiêu biểu từ X- XV
3.5.3 Sử dụng câu hỏi nhằm khai thác các kênh hình dạy học
Trong dạy học bài 20 “Xây dựng và phát triển văn hóa dân tộc từ XV” ở lớp 10 chương trình chuẩn việc sử dụng câu hỏi nhằm khai thác kênh
X-hình là yêu cầu bắt buộc để phát huy tính tích cực của học sinh, nâng cao hiệuquả dạy học
Để nâng cao hiệu quả sử dụng kênh hình cần đảm bảo các nguyên tắc sau:
Một là: Đảm bảo tính chính xác, khoa học Nội dung đưa ra phải ngắn
gọn, súc tích, không quá sức đối với học sinh Muốn làm được điều này đòi hỏigiáo viên phải nắm chắc nội dung cơ bản của kênh hình, có sự chuẩn bị chu đáocẩn thận, nghiên cứu kỹ nội dung các kênh hình trước khi lên lớp Chuẩn bị lờinói ngắn gọn, dễ hiểu và gây hứng thú cho học sinh
Hai là: Đảm bảo tính trực quan Kênh hình khi đưa ra sử dụng phải được
trình bày đẹp, rõ ràng, dễ quan sát
Ba là: Đảm bảo tính sư phạm như phù hợp với trình độ học sinh, sử
dụng đúng mục đích, sử dụng đúng thời điểm, thiết kế câu hỏi hợp lý, trọng tâm, lưu ý đến nhiều đối tượng học sinh trong lớp, kết hợp với nhiều phương pháp,
kỹ thuật dạy học khác như
Sau khi nghiên cứu bài học, tôi đã lựa chọn những câu hỏi gắn với nhữngkênh hình trong bài như sau:
Câu hỏi 1: Trình chiếu hình ảnh văn miếu – quốc tử giám và nêu câu
hỏi: Việc nhà Lý cho xây dựng Văn miếu – Quốc tử giám thể hiện điều gì?
Trang 11Hình 1: Văn miếu (Hà Nội)
Hình 2: Quốc tử giám
Câu hỏi này được nêu ra khi giáo viên trình bày những sự kiện gắn liền vớinền giáo dục thời Lý Năm 1070 vua Lý Thánh Tông cho xây dựng Văn miếu;năm 1075 nhà nước cho mở khoa thi Nho học đầu tiên; năm 1076 Nhà Lý choxây dựng quốc tử giám Giáo viên trình chiếu hình ảnh của văn miếu và quốc tửgiám và miêu tả cũng như tác dụng của quần thể kiến trúc này Văn miếu tứcmiếu thờ văn, Nho giáo coi trọng văn lấy văn làm đầu Đây là công trình kiến trúc
có giá trị biểu tượng như chùa với Phật giáo, quán phủ với Đạo giáo, nhà thờ vớiđạo Ki-tô Đây là nơi thờ Khổng tử, Chu công và 72 học trò xuất sắc của Khổng
tử Đến thời Trần vua Trần cho thờ thầy Chu Văn An trong văn miếu Quốc tửgiám đầu tiên là trường dạy học cho hoàng tử, về sau những người học giỏi ở cácđịa phương được đến học Đây được coi là trường đại học đầu tiên của nước ta đểđào tạo người tài Qua hình ảnh và giải thích tác dụng của những công trình kiếntrúc trên học sinh sẽ trả lời được câu hỏi của giáo viên Trải qua 10 thế kỉ Bắcthuộc nhân dân ta không được học hành, giáo dục không ai quan tâm Trong khi
Trang 12đó ở Trung Quốc giáo dục được coi trọng từ thời Xuân Thu Chính vì vậy bướcvào thế kỉ độc lập, cùng với nhu cầu phát triển đất nước các triều đại phong kiếnnước ta mà đầu tiên là nhà Lý đã quan tâm đến giáo dục Như vậy việc làm trêncủa nhà Lý thể hiện sự tôn vinh, quan tâm đến giáo dục.
Câu hỏi 2: Việc dựng bia tiến sĩ có tác dụng gì?
Hình 3: Bia tiến sĩ trong Văn miếu
Đầu tiên giáo viên cho học sinh quan sát bia tiến sĩ trong văn miếu Sau
đó giáo viên nêu câu hỏi: Em biết gì về bia tiến sĩ trong văn miếu ở Hà Nội ?
Học sinh sẽ được đặt trong tình huống có vấn đề, giáo viên gọi một em trả lời vàsau đó chốt ý: Bia tiến sĩ ở văn miếu có 82 bia, bia đầu tiên được dựng vào năm
1484 thời vua Lê Thánh Tông, bia cuối cùng dựng năm 1780, ghi danh 1304 tiến
sĩ thời Lê – Mạc 82 tấm bia có giá trị về nhiều mặt sử học, văn học, kĩ thuật, mỹthuật, điêu khắc Mỗi tấm bia đều chạm khắc công phu, tỉ mỉ, có chiều caotrung bình từ 1.5 đến 1.9m; rộng từ 1- 1,3 m Trên tấm bia thường khắc hình 2con rồng chầu mặt nguyệt, diềm bia được trang trí bằng hình hoa lá Nội dungmỗi tấm bia đều có hai phần: phần văn bia và danh sách các vị tiến sĩ đỗ trongkhoa đó Dưới mỗi tấm bia đều có một con rùa đá được tạc công phu sinh độngbiểu trưng cho sự trường tồn của tinh hoa dân tộc Năm 2010, 82 bia tiến sĩ đượccông nhận là di sản tư liệu thế giới
Qua việc tìm hiểu trên học sinh hiểu thêm về những giá trị văn hóa dântộc Học sinh sẽ biết tác dụng của việc dựng bia tiến sĩ: trước hết là khuyếnkhích sự học trong nhân dân ta, mặt khác thể hiện sự tôn vinh những người tàigiỏi của nhà nước lúc bấy giờ
Câu hỏi 3: Qua hình ảnh chân dung của Nguyễn Trãi và đoạn trích của
Bình Ngô Đại Cáo nêu câu hỏi: Qua hình ảnh trên em hãy cho biết tác phẩm nào vừa là tác phẩm văn học vừa là tác phẩm lịch sử ở thế kỉ XV và lý giải?