Chương I: Đại cương về thị trường chứng khoánĐường lối kinh tế và chiến lược phát triển kinh tế của nước ta là "Đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá, xây dựng nền kinh tế độc lập tự ch
Trang 1Chương I: Đại cương về thị trường chứng khoán
Đường lối kinh tế và chiến lược phát triển kinh tế của nước ta là "Đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá, xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ, đưa nước ta trở thành một nước công nghiệp; ưu tiên phát triển lực lượng sản xuất, đồng thời xây dựng quan hệ sản xuất phù hợp theo định hướng xã hội chủ nghĩa " (trích Báo cáo chính trị của Ban chấp hành Trung ương Đảng khoá VIII và trình đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng) đòi hỏi phải có nguồn lực lớn
mà cụ thể là huy động được nguồn vốn lớn cho sự phát triển kinh tế đất nước Phát triển thị trường chứng khoán, tìm ra các giải pháp phát triển thị trường chứng khoán đã đáp ứng được nhucầu cấp bách về nguồn vốn hiện nay Do yêu cầu phát triển của xã hội, do sự thương lượng, trao đổi hàng hóa , do nhu cầu về vốn ngày càng tăng và mong muốn tìm kiếm lợi nhuận… yêu cầu cần có nhiều thị trường mở ra để mọi người có thể giao dịch, trao đổi thuận lợi với nhau Chính
vì vậy TTCK đã ra đời góp phần đáp ứng yêu cầu của xã hội Vì vậy việc trang bị những kiến thức cơ bản về thị trường chứng khoán đối với mỗi người đang trở thành nhu cầu thiết yếu
1 Khái niệm về chứng khoán và thị trường chứng khoán
1.1 Khái niệm về chứng khoán
Chứng khoán là hàng hóa trên thị trường chứng khoán bao gồm: cổ phiếu, trái phiếu và một số loại khác như: quyền mua cổ phiếu mới, hợp đồng tương lai, hợp đồng quyền lựa chọn, chứng chỉ quỹ đầu tư…
1.2 Khái niệm thị trường chứng khoán
Hiện nay, tồn tại nhiều quan điểm khác nhau về thị trường chứng khoán
Quan điểm thứ nhất cho rằng: TTCK và thị trường vốn là một chỉ là tên gọi khác nhau của cùng một khái niệm: Thị trường tư bản Nếu xét về mặt nội dung thì thị trường vốn biểu hiệncác quan hệ bản chất bên trong của quá trình mua bán các chứng khoán TTCK là biểu hiện bên ngoài, là hình thức giao dịch vốn cụ thể Do đó các thị trường này không thể phân biệt, tách rời nhau mà thống nhất và cùng phản ánh các quan hệ bên trong và bên ngoài của thị trường tư bản
Quan điểm thứ 2 của đa số các nhà kinh tế cho rằng:” TTCK được đặc trưng bởi thị trường vốn chứ không phải đồng nhất là một” Như vậy, theo quan điểm này, TTCK và thị trường vốn là khác nhau, trong đó thị trường chứng khoán chỉ giao dịch, mua bán các công cụ tàichính trung và dài hạn như trái phiếu chính phủ, cổ phiếu và trái phiếu công ty
Trang 2=> Nói tóm lại: TTCK là thuật ngữ dùng để chỉ cơ chế của hoạt động giao dịch mua bán chứng khoán dài hạn như các loại trái phiếu, cổ phiếu và các công cụ tài chính khác như: chứng chỉ quỹ đầu tư, công cụ phái sinh- hợp đồng tương lai, quyền lựa chọn, bảo chứng phiếu, chứng quyền.
TTCK là thị trường vốn dài hạn tập trung các nguồn vốn cho đầu tư và phát triển kinh tế,
do đó có tác động rất lớn tới môi trường đầu tư nói riêng và nền kinh tế nói chung Mặt khác TTCK là một thị trường cao cấp, nơi tập trung nhiều đối tượng tham gia với các mục đích, sự hiểu biết và các lợi ích khác nhau; các giao dịch các sản phẩm tài chính được thực hiện với gía trịrất lớn Đặc tính đó khiến cho TTCK cũng là môi trường dễ xảy ra các hoạt động kiếm lợi không chính đáng thông qua các hoạt động gian lận, không công bằng, gây tổn thất cho các nhà đầu tư, tổn thất cho thị trường và cho toàn bộ nền kinh tế
2.Quá trình hình thành và phát triển của thị trường chứng khoán
a Qúa trình hình thànhGiữa thế kỉ 15 ở phương tây, tại những thành phố trung tâm buôn bán, các thương gia thường tụ tập tại các quán cà phê để bàn bạc về việc mua bán, trao đổi các loại hàng hóa, ngoại tệ
Cuối thế kỉ 15 “ khu chợ riêng” trở thành một “thị trường” Ở đó họ thống nhất với nhau những quy ước cho các cuộc thương lượng Dần dần những quy ước đó được sửa đổi hoàn chỉnh thành quy tắccó giá trị bắt buộc chung
Giao lưu kinh tế ngày càng phát triển, những phiên chợ cách nhau cả tháng không còn phù hợp, họ đã rút xuống hàng tuần và sau đó là hàng ngày
Phiên chợ riêng được diễn ra đầu tiên vao năm 1453 tại một lữ điếm của gia đình Vanber
ở Bruges( bỉ) Tại đó có một bảng hiệu hình 3 túi da với một tiếng Pháp “Bourse” tức là “ mậu dịch trường” hay còn gọi là “Sở giao dịch”
Mậu dịch trường là một bảng hiệu chung, ba túi da tượng trưng cho 3 nội dung của “Mậu dịch trường” , Mậu dịch trường hàng hóa, Mậu dịch trường ngoại tệ và Mậu dịch trường giá khoán động sản
Vào năm 1547, thành phố Bruges mất đi sự phồn vinh do eo biển Even bị cát lấp, tàu bè
ra vào khó khăn, “Mậu dịch trường” ở đây bị sụp đổ và được chuyển qua thị trấn Auvers, một hảicảng lớn của Bỉ thời đó
Mậu dịch trường Auvers phát triển rất nhanh Giữa thế kỉ 16, viên quan đại thần tài chính Anh quốc Theomes Gresham đến đây thị sát và sau đó đã thiết lập một “Mậu dịch trường” tại London, nơi mà sau này được gọi là Sở giao dịch chứng khoán London Các “Mậu dịch trường” khác cũng lần lượt được thành lập tại Pháp, Đức, Bắc Âu Sau một thời gian hoạt động thị trường
đã chứng tỏ được khả năng không đáp ứng được yêu cầu của cả 3 giao dịch khác nhau Vì thế,
Trang 3thị trường hàng hóa được tách ra thành các khu thương mại, thị trường ngoại tệ được tách ra và phát triển thành thị trường hối đoái, thị trường chứng khoán dộng sản trở thành thị trường chứng khoán.
b.Quá trình phát triển của thị trường chứng khoán
Đã trải qua 2 đợt khủng hoảng lớn, đó là khi các thị trường chứng khoán lớn ở Mỹ, Tây
âu, Bắc âu, Nhật Bản bị sụp đổ chỉ trong vài giờ “vào ngày thứ 5 đen tối” 29/10/1929 và “ ngày thứ 2 đen tối” 19/10/1987 Song trải qua các cuộc khủng hoảng, cuối cùng thị trường chứng khoán lại được phục hồi và tiếp tục phát triển, trở thành một thể chế tài chính không thể thiếu được trong nền kinh tế vận hành theo cơ chế thị trường
Hiện nay, do các biến động lớn trong nền kinh tế thế giới, do tác động của tiến bộ khoa học kỹ thuật và mong muốn của Chính Phủ các nước trong việc tăng cường vai trò của thị trườngchứng khoán đối với đời sống kinh tế, thị trường chứng khoán đã được tạo mọi điều kiện phát triển Các chính sách của chính phủ các nước đã góp phần thúc đẩy sự hình thành và phát triển của thị trường chứng khoán thể hiện:
Thứ nhất, Chính Phủ các nước đã cải cách mạnh mẽ hệ thống thuế nhằm kích thích tiết kiệm và đầu tư.Đồng thời với các chính sách khuyến khích phát triển, Chính Phủ các nước cũng tăng cường quản lý Nhà nước đối với các hoạt động của thị trường UB chứng khoán- cơ quan quản lý nhà nước về chứng khoán và thị trường chứng khoán được thành lập
Thứ 2, một loạt các công cụ tài chính mới được tạo ra nhằm đáp ứng tốt hơn cho nhu cầu của nhà phát hành và các nhà đầu tư Hàng loạt các công cụ phòng vệ cũng xuất hiện như các hợp đồng quyền chọn, hợp đồng kì hạn…
Thứ 3, các nước tiến hành thành lập các thị trường giao dịch qua quầy với các yêu cầu niêm yết chặt chẽ hơn nhằm tạo điều kiện cho các công ty mới và các doanh nghiệp có tầm cỡ trung bình có thể tham gia thị trường
Thứ 4, TTCK đã có sự đổi mới mạnh mẽ về kỹ thuật các thị trường được tin học hóa triệt
để, đồng thời với các cải cách về nghiệp vụ giao dịch, nghiệp vụ lưu kí và thanh toán,… đã làm giảm chi phí trung gian, giảm thời gian và tăng khối lượng giao dịch qua thị trường
Thứ 5, thành lập thị trường các công cụ dẫn suất Năm 1986 , Pháp thành lập thị trường MATIF và đến 1987 thành lập thêm thị trườngMONEF Các thị trường này được thành lập tạo điều kiện cho các tổ chức kinh tế và các nhà kinh doanh chứng khoán có khả năng phòng ngừa các rủi ro liên quan đến biến động về giá cổ phiêu về lãi suất và tỷ giá hối đoái
Thứ 6, đẩy mạnh sự tham gia của các trung gian tài chính trên thị trường chứng khoán, đặc biệt sau khủng hoảng tài chính năm 1987
Thứ 7, sự hiện đại hóa thị trường vay nợ của chính phủ tạo điều kiện cho Nhà Nước có thể tăng cường huy động các nguồn tài chính trên thị trường với các chi phí thấp, tránh nguy cơ lạm dụng phát hành để tài trợ cho Ngân sách và tạo điều kiện thực hiện chính sách tiền tệ
Với những cải cách đó TTCK đã trở thành một kênh dẫn vốn quan trọng, một thực thể không thể thiếu được đối với nền kinh tế hiện đại
1.3.1.bản chất của TTCK
Thị trường chứng khoán trong điều kiện của nền kinh tế hiện đại, được quan niệm là nơi diễn ra các hoạt động giao dịch mua bán các loại chứng khoán trung và dài hạn việc mua bán này
Trang 4được tiến hành ở thị trường sơ cấp khi người mua mua được chứng khoán lần đầu từ người phát hành, và ở thị trường thứ cấp khi có sự mua đi bán lại các chứng khoán đã được phát hành ở thị trường sơ cấp Như vậy xét về mặt hình thức , thị trường chứng khoán chỉ là nơi diễn ra các hoạtđộng mua bán , trao đổi , chuyển nhượng các loại chứng khoán đó, qua đó thay đổi các chủ thể nắm giữ chứng khoán , nhưng xét về mặt bản chất thì :
Thị trường chứng khoán là nơi tập trung phân phối các nguồn vốn tiết kiệm Tập trung các nguồn tiết kiệm để phân phối lại cho nhưng ai muốn sử dụng các nguồn tiết kiệm đó theo giá
mà người sử dụng sẵn sằng trả và theo phán đoán của thị trường về khả năng sinh lời từ các dự
án của người sử dụng Chuyển từ tư bản sở hữu sang tư bản king doanh
Thị trường chứng khoán là định chế tài chính trực tiếp : cả chủ thể cung và cầu vốn đều tham gia thị trường một cách trực tiếp Ngược với cách tài trợ gián tiếp thông qua các trung gian tài chính, những người có vốn có khi có đủ điều kiện về môi trường tài chính pháp lý,… sẽ trực tiếp đầu tư vào sản xuất, kinh doanh không cần qua các trung gian tài chính mà chuyển vốn thông qua thị trường chứng khoán , một thị trường dẫn vốn trực tiếp từ những người có vốn sang những người cần vốn theo nguyên tắc đầu tư
Với việc đầu tư qua các trung gian tài chính các chủ thể đầu tư không thể theo dõi , kiểm tra, quản lý vốn đầu tư của họ, do đó làm cho quyền sở hữu và quyền sử dụng vốn tách rời nhau, làm giảm động lực tiềm năng trong quản lý Trái lại việc đầu tư qua thị trường chứng khoán , kênh dẫn vốn trực tiếp, các chủ thể đầu tư đã thực sự gắn quyền sử dụng và quyền sở hữu về vốn , nâng cao tiềm năng quản lý
Thị trường chứng khoán thực chất là quá trình vận động của tư bản tiền tệ Các chứng khoán mua bán trên thị trường chứng khoán có thể đem lại thu nhập cho người nắm giữ nó sau một thời gian nhất định và được lưu thông trên thị trường chứng khoán theo giá cả thị trường, do
đó bề ngoài nó được coi như là một tư bản hàng hóa
Có thể nói, thị trường chứng khoán là nơi mua bán các quyền sở hữu về tư bản , là hinh thức phát triển cao của nền sản xuất hàng hóa
Thị trường chứng khoán cũng gắn với loại hình tài chính ngắn hạn Những người có chứng khoán có thể mua bán chứng khoán tại bất kỳ thời điểm nào trên thị trường chứng
khoán ,nên các chứng khoán trung và dài hạn cũng trở thành đói tượng đầu tư ngắn hạn
Trang 5Thị trường chứng khoán là nơi diễn ra các loại giao dịch mua bán, trao đổi các loại chứngkhoán Các giao dịch mua bán, trao đổi chứng khoán có thể diễn ra ở thị trường sơ cấp (Primary Market) hay thị trường thứ cấp (Secondary Market), tại sở giao dịch (Stock Exchange) hay thị trường chứng khoán phi tập trung (Over-The Counter Market), ở thị trường giao ngay hay thị trường có kỳ hạn.Các quan hệ mua bán trao đổi này làm thay đổi chủ sở hữu của chứng khoán,
và như vậy, thực chất đây chính là quá trình vận động của tư bản, chuyển từ tư bản sở hữu sang
tư bản kinh doanh
Thị trường chứng khoán không giống các loại thị trường hàng hóa thông thường khác vì hàng hóa của thị trường chứng khoán là loại hàng hóa đặc biệt, là quyền sở hữi về tư bản Loại
hàng hóa này cũng có giá trị, và giá trị sử dụng.Như vậy có thể nói, bản chất của thị trường
chứng khoán là thị trường thể hiện mối quan hệ giữa cung và cầu của vốn đầu tư mà ở đó, giá
cả của chứng khoán chứa đựng thông tin về chi phí vốn hay giá cả của vốn đầu tư.Thị trường chứng khoán là hình thức phát triển bậc cao của nền sản xuất và lưu thông hàng hóa.
Bản chất chung nhất là thể hiện mối quan hệ giữa cung và cầu của vốn đầu tư ,mà ở đó giá cả của chứng khoán chứa đựng thông tin về chi phí vốn hay giá cả của vốn đầu tư Thị trườngchứng khoán là hình thức phát triển bậc cao của nền sản xuất và lưu thông hàng hóa Mặt khác thị trường chứng khoán chịu tác động của nhiều yếu tố : kinh tế vĩ mô, tinh hình của từng ngành ,từng công ty riêng lẻ…
Thị trường chứng khoán là biểu tượng của sự phát triển các quan hệ kinh tế, quan hệ sản xuất trong các nền kinh tế thị trường Thị trường chứng khoán là bộ phận tất yếu của thị trường tài chính và là bộ phận quan trọng nhất của thị trường vốn
1.3.2 Đặc điểm của thị trường chứng khoán :
1.Các nguyên tắc hoạt động cơ bản của thị trường chứng khoán
Thị trường chứng khoán hoạt động theo các nguyên tắc cơ bản sau:
a-Nguyên tắc công khai
Trang 6Tất cả các hoạt động trên thị trường chứng khoán đều được công khai hoá Thông tin về cácloại chứng khoán được đưa ra mua bán trên thị trường, tình hình tài chính và kết quả kinh doanhcủa các công ty phát hành, số lượng chứng khoán và giá cả của từng loại chứng khoán đều đượcthông báo công khai trên thị trường Khi kết thúc một cuộc giao dịch, số lượng mua bán và giá cảthống nhất lập tức được thông báo ngay Nguyên tắc công khai của thị trường chứng khoán nhằmđảm bảo quyền lợi cho người mua bán chứng khoán không bị "hớ" trong mua bán chứng khoán.
b-Nguyên tắc trung gian mua bán chứng khoán
Hoạt động mua bán chứng khoán không phải trực tiếp diễn ra giữa những người muốn mua vàbán, chứng khoán thực hiện mà do các nhà trung gian môi giới thực hiện Đây là nguyên tắctrung gian căn bản cho tổ chức và hoạt động của thị trường chứng khoán
Nguyên tắc trung gian nhằm đảm bảo cho các loại chứng khoán là chứng khoán thực và thịtrường hoạt động lành mạnh, đều đặn hợp pháp và phát triển, bảo vệ lợi ích của người đầu tư Vìnhững nhà đầu tư không thể xét đoán một cách nhanh chóng và chính xác giá trị thực sự của từngloại chứng khoán và cũng không dự đoán được chính xác xu hướng biến động của nó Vì vậynếu người môi giới có thái độ không khách quan trong hoạt động trung gian sẽ gây thiệt haị chocác nhà đầu tư
Xét về tính chất kinh doanh, môi giới chứng khoán có 2 loại: Môi giới chứng khoán và thươnggia chứng khoán
Môi giới chứng khoán chỉ thương lượng mua bán chứng khoán theo lệnh của khách hàng và ănhoa hồng
Thương gia chứng khoán còn gọi là người kinh doanh chứng khoán
Nói chung các công ty môi giới chứng khoán tại các thị trường chứng khoán đều đồng thờithực hiện 2 nghiệp vụ là người môi giới vừa là người kinh doanh nhưng tại thị trường chứngkhoán New York, London từ lâu người ta đã phân biệt 2 loại môi giới này và có luật lệ không chỉhoạt động của thương gia chứng khoán
Trang 7c Nguyên tắc định giá của mua bán chứng khoán.
Giá chứng khoán trên thị trường chứng khoán do các nhà môi giới đưa ra Mỗi nhà môi giớiđịnh giá mỗi loại chứng khoán tại từng thời điểm tuỳ theo sự xét đoán, kinh nghiệm và kỹ thuậtdựa trên lượng cung cầu loại chứng khoán đó trên thị trường
2 Đặc điểm chủ yếu của thị trường chứng khoán:
- Được đặc trưng bởi hình thức tài chính trực tiếp, người cần vốn và người cung cấp vốn đều trực tiếp tham gia thị trường, giữa họ không có trung gian tài chính;
- Là thị trường gần với Thị trường cạnh tranh hoàn hảo Mọi người đều tự do tham gia vào thị trường Không có sự áp đặt giá cả trên thị trường chứng khoán, mà giá cả ở đây được hình thành dựa trên quan hệ cung – cầu;
- Về cơ bản là một thị trường liên tục, sau khi các chứng khoán được phát hành trên thị trường
sơ cấp, nó có thể được mua đi bán lại nhiều lần trên thị trường thứ cấp Thị trường chứng khoán đảm bảo cho các nhà đầu tư có thể chuyển chứng khoán của họ thành tiền mặt bất cứ lúc nào họ muốn
1.4 Chức năng,vai trò và những mặt hạn chế của thị trường chứng khoán
1.4.1 chức năng của thị trường chứng khoán
Trang 8- Huy động vốn đầu tư cho nền kinh tế: Khi các nhà đầu tư mua chứng khoán do các công ty phat
hành, số tiền nhà rỗi của họ được đưa vào hoạt động sản xuất kinh doanh và qua đó góp phần mởrộng xản xuất xã hội Thông qua TTCK, Chính phủ và chính quyền ở các địa phương cũng huy động được các nguồn vốn cho mục đích sử dụng và đầu tư phát triển hạ tầng kinh tế, phục vụ cácnhu cầu chung của xã hội
- Cung cấp môi trường đầu tư cho công chúng: TTCK cung cấp cho công chúng một thị trường
đầu tư lành mạnh với các cơ hội lựa chọn phong phú Các loại chứng khoán trên thị trường rất khác nhau về tính chất, thời hạn và độ rủi ro, cho phép các nhà đầu tư có thể lựa chọn loại hàng hoá phù hợp với khả năng, mục tiêu và sở thích của mình
- Tạo tính thanh khoản cho các chứng khoán: Nhờ có TTCK mà các nhà đầu tư có thể chuyển
đổi các chứng khoán họ sở hữu thành tiền mặt hoặc các loại chứng khoán khác khi họ muốn Khảnăng thanh khoản là một trong những đặc tính hấp dẫn của chứng khoán đối với nhà đầu tư Đây
là yếu tố cho thấy tính linh hoạt, an toàn của vốn đầu tư TTCK hoạt động càng năng động và có hiệu quả thì tính thanh khoản của các chứng khoán giao dịch trên thị trường càng cao
- Đánh giá hoạt động của doanh nghiệp: Thông qua chứng khoán, hoạt động của doanh nghiệp
được phản ánh một một cách tổnghợp và chính xác, giúp cho việc đánh giá và so sánh hoạt động của doanh nghiệp được nhanh chóng và thuận tiện, từ đó cũng tạo ra một môi trường cạnh tranh lành mạnh nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng vốn, kích thích áp dụng công nghệ mới, cải tiến sản phẩm
- Tạo môi trường giúp Chính phủ thực hiện các chính sách kinh tế vĩ mô: Các chỉ báo của TTCK
phản ánh động thái của nền kinh tế một cách nhạy bén và chính xác Giá chứng khoán tăng lên cho thấy đầu tư đang mở rộng, nền kinh tế tăng trưởng; ngược lại, giá chứng khoán giảm sẽ cho thấy dấu hiệu tiêu cực của nền kinh tế Vì thế, TTCK được gọi là phong vũ biều của nền kinh tế
và là một công cụ quan trọng giúp Chính phủ thực hiện các chính sách kinh tế vĩ mô Thông qua TTCK, Chính phủ có thể mua và bán trái phiếu Chính phủ để tạo ra nguồn thu bù đắp thâm hụt ngân sách và quản lý lạm phát Ngoài ra, Chính phủ cũng có thể sử dụng một số chính sách, biện pháp tác động vào TTCK nhằm định hướng đầu tư đảm bảo cho sự phát triển cân đối của nền kinh tế
1.4.2 Vai trò của thị trường chứng khoán
a.tập trung tích tụ vốn cho thị trường
Quy mô thị thị trường có bước tăng trưởng mạnh mẽ,vững chắc,từng bước đóng vai trò là kênh dẫn vốn trung và dài hạn quan trọng ,đóng góp tích cực cho sự nghiệp công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước.trong suốt thời kì từ năm 2000-2005,vốn hóa thị trường chỉ đạt dưới 1% GDP.Quy
mô thị trường đã có bước nhảy vọt lên 22.7% GDP vào năm 2006 và tiếp tục tăng 43,7% năm 2007.Trước biến động của thị trường tài chính thế giới và những khó khăn của nền kinh tế trong nước,chỉ số giá chứng khoán đã liên tục sụt giảm trong năm 2008 và làm mức vốn hóa thị trường
Trang 9giảm hơn 50%,xuống còn 18%.khi nền kinh tế trong nước bắt đầu hồi phục nhẹ từ quý II năm
2009 chỉ số giá chứng khoán bắt đầu tăng trở lại cùng với các công ty niêm yết trên thị trường cũng gia tăng nhanh chóng.Giá trị vốn hóa thị trường cổ phiếu tính đến cuối năm 2009 đã đạt 37,71% GDP Ước tính tới năm 2010 sẽ đạt 40-50% GDP
Hoạt động phát hành huy động vốn trên thị trường chứng khoán thực tế chỉ mới phát sinh từ năm
2006 trở lại đây.Trong năm 2006,có 44 công ty cổ phần thực hiện việc chào bán hơn 203 triệu cổphoeeus và tới năm 2007 hoạt động phát hành mới thực sự bùng nổ khi có 200 đợt phát hành của
192 công ty và 4 ngân hàng thương mại được đăng kí với UBCKNN với tổng lượng vốn huy động đạt gần 50000 tỷ VND.trong năm 2008, do sự suy giảm của thị trường chứng khoán tổng sốvốn huy động chỉ đạt hơn 14300 tỷ đồng thông qua 100 đợt chào bán chứng khoán ra công chúng.thị trường hồi phục vào năm 2009 đã tạo điều kiện cho hoạt động phát hành qua thị trườngchứng khoán,đặc biệt là phát hành cổ phiếu.Tổng số vốn phát hành cổ phiếu năm 2009 đã tăng hơn 50% so với 2008 đạt 21,724% tỷ đồng
Trong 5 năm trở lại đây,lượng vốn huy động qua thị trường chứng khoán đạt khoảng 300000
tỷ đồng,riêng năm 2007,tổng giá trị vốn huy động qua thị trường chứng khoán đạt 127000 tỷ đồng đã góp phần quan trọng giúp chính phủ và các doanh nghiệp huy đọng vốn trung và dài hạn
để đầu tư phát triên,mở rộng sản xuất kinh doanh,làm cho nền kinh tế ít hụ thuộc vào tín dụng ngân hàng
b.Vai trò tách biệt giữa sở hữu và quản lý doanh nghiệp
Khi quy mô của doanh nghiệp tăng lên việc cạnh tranh trên thị trường ngày càng tăng nhu cầ về quản lý chuyên nghiệp cũng tăng theo.Bởi việc nắm giữ vốn không đi đôi với năng lực quản lý.Thị trường chứng khoán tạo điều kiện cho việc chuyên môn hóa, tiết kiệm vốn và chất
xám.Một trong những biểu hiện của vai trò này có thể thấy thông qua quá trình cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước của Việt nam
Trong những năm trước thời kì đổi mới cũng như nhiều năm về sau này việc hoạt động của các doanh nghiệp nhà nước không hiệu quả.Một trong những nguyên nhân là do nhà nước vừa là người sở hữu vừa là người quản lý các doanh nghiệp nhà nước mà không có sự giám sát từ bên ngoài.Chúng ta nói rằng nhà nước sở hữu nhà nước quản lý nhưng thực chất nhà nước cử ra những cá nhân làm việc này.động cơ nào giúp DNNN tìm kiếm lợi nhuận, động cơ nào giúp DNNN làm ăn uy tin,minh bạch trong tài chính….hoàn toàn không có.chính vì nhập nhằng giữa quản lý và sở hữu,đồng thời nguồn vốn lại từ ngân sách nhà nước,chính vì thế mà việc thất thoát vốn,tham nhũng,sử dụng vốn không hiệu quả dang là thực trạng đáng buồn của doanh nghiệp nhà nước ở việt nam.Rất nhiều DNNN vẫn thường sống sót sau thời gian dài làm ăn thua lỗViệc thị trường chứng khoán ra đời đã tạo điều kiện cho quá trình cổ phần hóa các doanh nghiệp nhà nước.Từ đó góp phần minh bạch hóa thực hiện việc giám sat từ bên ngoài đối với các hoạt động của chúng.tính đến cuối năm 2009, Việt Nam đã cổ phần hóa được 4000 doanh nghiệp nhà nước,trong đó nhà nước vẫn nắm 53% vốn điều lệ.Đã có nhiều doanh nghiệp cổ phần hóa
Trang 10như:Vietcombank, Viettinbank, Bảo Việt góp phần tạo điều kiện cho các doanh nghiệp này phát triển hơn đồng thời góp phần tăng quy mô hàng hóa của thị trường phát triển.Tuy tiến trình cổ phần hóa DNNN vẫn còn nhiều bất cập thế nhưng nhìn về mặt tích cực việc này sẽ làm tăng hiệuquả của cácDNNN
c.thực hiện tái phân phối công bằng hơn
Vai trò này được hiểu là thị trường buộc các tập doàn gia đình phát hành chứng khoán ra công chúng giải tỏa sự tập trung vốn cho phát triển kinh tế
Gia đình trị khép kín sẽ dẫn đến quản trị yếu kém thiếu minh bạch không đủ niềm tin đối với người bên ngoài,trình độ, kĩ năng và kinh nghiệm kinh doanh yếu,nguồn lực hạn chế không tập trung và tích tụ nhữngn nguyên nhân dẫn đến kém phát triển
Gia đình trị đến cổ phần hóa
1/3 số công ty trong dnh sách S&P 500(500 công ty có giá trị vốn hóa cổ phần lớn nhất của mỹ)
và hơn 40% trong hơn 250 công ty lớn nhất ở pháp và Đức là những công ty gia đình.Con số này
đủ để nói lên sự thành công của mô hình công ty gia đình ngay trong thời đại mới
Tuy nhiên để đạt đến vị thế đó các công ty này phải đối mặt với nhiều thách thức.Chưa tới 30% trong số đó tồn tại được đến thế hệ thứ 3.Và để thành công lâu dài,các ông chủ công ty gia đình phải đồng thời đạt được 2 mục tiêu vốn rất khó song hành:đạt được hiệu quả kinh doanh tốt nhất
và tiếp tục giữ quyền sở hữu công ty
Ở châu Á,điển hình là hàn quốc một số tập đoàn lớn vẫn nằm trong sự kiểm soát của gia đình như samsung của gia đình lee, Hyundai thuộc về tộc Chung, LG là họ nhà Koo.Tuy nhiên theo các nhà phân tích phương tây các công ty gia đình muốn lớn mạnh và cạnh tranh trên thị trường quốc tế thì cần phải lột xác trong đó có việc giảm bớt vai trò của quản trị gia đình và mở rộng quyền sở hữu cổ phần cho các đối tác bên ngoài
Tại Việt Nam rất hiếm công ty gia đình tồn tại qua thế hệ thứ 3.Sự chuyển giao công ty theo hìnhthức cha truyền con nối cũng chỉ mới bắt đầu ở thế hệ thứ 2, như gốm xứ Minh Long,Nệm Liên
Á còn lại khi đứng trước xứ mệnh đưa doanh nghiệp tăng trưởng hầu hết các nhà sáng lập đều chọn hình thức chuyển đổi cổ phần để gọi vốn và tăng hiệu quả quản lý
Công ty Minh phúc và công ty Giấy sài gòn,gỗ đức thành là 3 là trường hợp đã trải qua thời kì chuyển đổi cổ phần với nhiều thách thức.câu chuyện 3 cong ty này cho thấy việc chuyển đổi đã mang lại hiệu quả kinh doanh rất khả quan như tốc độ tăng trưởng được cải thiện,quản trị doanh nghiệp hiệu quả hơn,phần lớn được nhận vốn từ các quỹ đầu tư và có triển vọng niêm yết trên thịtrường chứng khoán.tuy nhiên mỗi công ty đều gặp những vấn đề khó giải quyết đó cũng là thách thức chung cho các công ty gia đình trong quá trình chuyển đổi thành công ty cổ phần
Trang 11Cụ thể tháng 10 năm 2004 công ty Minh phúc đã cổ phần hóa để phát triển quy mô,trước khi chuyển đổi ông tiến sở hữu 60% công ty.Sau khi chuyển đổi tỷ lệ sở hữu còn 32.4%.Những kế hoạch phát triển của ông tiến đã được thực hiện sau khi Minh phúc gặp được một quỹ đầu tư lớn vào tháng 11-2004.Không lâu sau công ty chính thức chuyển sang cổ phần.Quỹ này đầu tư vào Minh Phúc 1 triệu USD,tương đương với 28,2 vốn điều lệ của công ty.Năm 2009 doanh thu của Minh Phúc đạt 174 tỷ đồng.Và với sự hỗ trợ của cổ đông,ông Tiến bắt đầu kế hoạch chuyển công
ty về một dịa điểm có diện tích 12000m2, gấp đôi diện tích hiện tại trong khu công nghiệp phongphú.Tuy vậy nhưng nguồn vốn chủ sở hữu chỉ đáp ứng hơn 50% nhu cầu vốn, ông cũng không giấu việc sẽ đua công ty bước qua 1 giai đoạn mới:niêm yết trên sàn giao dịch chứng khoán hà nội vào cuối năm 2010.Cho đến nay công ty đã tăng 24 lần so với khi chưa chuyển đổi cổ phần,
cổ đông tham gia cũng đa dạng về thành phần và số lượng
d.Hiệu quả quốc tế hóa thị trường chứng khoán
Chúng ta biết rằng mở cửa ttck làm tăng tính lỏng và cạnh tranh trên thị trường quốc tế, cho phépcác công ty có thể huy động nguồn vốn rẻ hơn,tăng cường đầu tư nguồn tiết kiệm bên ngoàiTheo các số liệu thống kê tổng mức đầu tư gián tiếp vào việt nam từ 2001-2006 ước đạt 12 tỷ USD và năm 2007 đạt 5.7 tỷ USD, lĩnh vực hoạt động của các quỹ đầu tư nước ngoài có sự thay đổi.Nếu như các quỹ đầu tư vào
Nếu như các quỹ đầu tư nước ngoài vào Việt Nam trong thời gian những năm 90 chủ yếu là các quỹ đầu tư mạo hiểm sẵn sàng chấp nhận rủi ro khi đầu tư vào Việt Nam với khung pháp lí chưa hoàn thiện, khu vực kinh tế tư nhân chưa phát triển, TTCK chưa được thành lập,cơ hội đầu tư còn ít, nên việc giải ngân vốn đầu tư gặp nhiều khó khăn thì những quỹ đầu tư trong những năm sau này được thành lập do các nhà đầu tư nước ngoài đã nhận thấy tiềm năng phát triển lớn của TTCK Việt Nam cùng với chính sách cổ phần hóa cácDNNN có quy mô lớn được đẩy mạnh thực hiện
Tuy nhiên, sang tới năm 2008 và những tháng đầu năm 2009, trước những khó khăn của nềnkinh tế Việt Nam,dòng vốn đầu tư gián tiếp nước ngoài có dấu hiệu chững lại và thậm chí có dấuhiệu đọng vốn đảo chiều trong nửa đầu 2008 Vốn đầu tư gián tiếp rút ra khỏi Việt Nam trong 10tháng đầu năm 2009 lên tới 500 triệu USD và mặc dù những tháng cuối năm, dòng vốn có dấu hiệu phục hồi nhưng cả năm 2009 vào khoảng 600 triệu USD (tương đương với dòng vốn rút ra của năm 2008)
e Thị trường chứng khoán tạo điều kiện cho chính phủ phát hành huy động nguồn tài chính mà không tạo áp lưc lạm phát
Chúng ta biết rằng chính phủ đã không còn sử dụng biện pháp in tiền để tài chợ cho chi tiêu từ năm 1998.Chính vì thế TTCK đã trở thành một kênh huy động vốn quan trọng của chính phủ
Trang 12TPCP bằng ngoại tệ phát hành trong nước trong những đợt gần đây.đặc biệt trong năm 2009 đều không thu được kết quả như mong muốn,nguyên nhân chính là do vấn đề lãi suất không hấp dẫn.Đợt phát hành thứ nhất vào tháng 3/2009,3 lần đấu thầu chỉ huy động được 230,11 triệu USD trong tổng số 3 triệu USD được đưa ra mời thầu đợt 2 vào tháng 8/2009 trái phiếu kì hạn dài số lượng bỏ thầu rất ít.Trong đó, cả 3 phiên chỉ huy động được 100 triệu USD/100 triệu USDtrái phiếu chào bán kì hạn một năm;47 triệu USD/100 triệu USD trái phiếu kì hạn 2 năm; và 10 triệu USD/50 triệu USD trái phiếu kì hạn 3 năm.Đợt phát hành thứ 3 và thứ 4 vào ngày
29/12/2009,kết quả chỉ huy động đước 73 triệu USD trong tổng số 200 triệu USD giá trị trái phiếu gọi thầu đạt 36,5%.Tỉ lệ huy động thành công có xu hướng giảm dần theo từng đợt phát hành kể từ đầu 2009 tới nay.Tính chung cả năm 2009,khối lượng huy động đạt 530,2 triệu USD (tương đương 9,278 tỉ đồng theo tỉ giá ước tính 17500 đồng/ USD)trên tổng số 850 triệu USD gọi thầ
Đối với trái phiếu bằng nội tệ việc huy động cũng còn nhiều hạn chế
Tính đến năm 2009,có khoảng 70 đợt phát hành trái phiếu được thực hiện bao gồm trái phiếu kho bạc nhà nước(KBNN), ngân hàng phát triển,ngân hàng chính sách xã hội và các trái phiếu chính quyền địa phương Theo thống kê cua ngân hàng đầu tư phát triển Việt
Nam(BIDV),chỉ có trên 2000 tỷ đồng giá trị trái phiếu KBNN được phát hành trên tổng 15000 tỷđồng gọi thầu.Dư nợ trái phiếu chính phủ(TPCP) tính đến cuối 2009 vào khoảng 16,9%
GDP.Nguyên nhân do thị trường trái phiếu thứ cấp ảm đạm thanh khoản ở mức thấp,thể hiện quagiá trị trái phiếu được chuyển nhượng trên thị trường cũng như cac số liệu thông kê giao dich trung binh trong phiên.Tổng giá trị trái phiếu được chuyển nhượng qua sàn trong năm 2009 vào khoảng 7500 tỷ đồng chỉ bằng 40% so với mức 195600 tỷ đồng của năm 2008.Giá trị trái phiếu được chuyển nhượng trung bình trong một phiên giao dịch cũng giảm mạnh,xoay quanh mức
300 tỷ đồng/phiên,thấp hơn nhiếu so với mức 800 tỷ đồng/phiên năm 2008.Đặc biệt,tráiphieeus chính quyền địa phương gần như không được quan tâm.Trái phiếu kho bạc bằng Việt Nam đồng chỉ thành công với tỷ lệ 15%,một con số rất khiêm tốn
Bước sang năm2010, những tháng đầu năm tình hình cũng không khả quan hơn.Tính đến ngày 28/5 kho bạc nhà nước đã có 5 lần đấu thầu trái phiếu với khối lượng lớn nhưng đa số
là thất bại chỉ bán được khoảng 100 tỷ đồng Ngân hàng Chính sách xã hội 4 lần đấu thầu nhưng không bán được đồng nào, ngân hàng Phát triển 3 lần đấu thầu cũng thất bại
Tuy nhiên tù tháng 5 tới nay, việc phát hành đã thu được thành công nhất định Việc phát hành theo lô lớn đầu tiên trong năm đã diễn ra vào cuối tháng 5, nửa đầu tháng 6, tổng khối lượng trái phiếu phát hành đợt này là 5000 tỷ đồng với lãi suất danh nghĩa 11,33% tiền lãi thanh toán hàng năm.chia làm 3 đợt Đợt đấu thầu 1 và 2(25/5/2010 và 4/6/2010) giá trị gọi thầu tương ứng mỗi đợt là 2000 tỷ đồng Đợt thứ3 (11/6/2010) giá trị gọi thầu là 1000 tỷ đồng Kết quả đợt thứ nhất không thành công Hai lần sau tổng số tiền huy động được là 2300 tỷ
Trang 13Tuần trước đó, ngày 7/10, Kho bạc Nhà nước chào thầu 6000 tỷ đồng trái phiếu với các
kì hạn3,5 và 10 năm; huy động được 3965 tỷ đồng với lãi suất trúng thầu ở các kì hạn lần lượt là 9,68%; 10,3% và 10,8% /năm
Như vậy có thể nói TTCK đã tạo ra một kênh huy động vốn khá tiềm năng cho Chính Phủ, cung cấp lượng vốn đáng kể cho việc đầu tư cũng như thực hiện các chính sách tiền tệ của một nước
f Một trong những vai trò của TTCK làcung cấp một dự báo tuyệt vời về các chu kì kinh doanh
trong tương lai (hay nói cách khác là hàn thử biểu của nền kinh tế.
Tuy nhiên khi xem xét vấn đề này cần nhận thức một điều là TTCK Việt Nam chưa phải là hàn thử biểu của nền kinh tế lí do đưa ra là:
TTCK Việt Nam chỉ được coi là hàn thử biểu của nền kinh tế khi đo lường được”sức khỏe” của toàn bộ nềnkinh tế, chỉ số của thị trường phải thể hiện chu kì phát triển của nền kinh tế, từ đó tạo mối quan hệ chặt chẽ và tương hỗ giữa TTCK và thị trường tài chính Nó phải đáp ứng đủ 3 yếu tố chính sau:
Quy tụ đầy đủ dữ liệu tiêu biểu của mọi ngành nghề
Một trong những yếu tố bắt buộc để TTCK Việt Nam trở thành hàn thử biểu của nền kinh tế, đó
là thị trường phải chứa đựng những DN lớn
Tiêu biểu cho mọi nghề, đại biểu cho một nền kinh tế
Tuy nhiên theo thống kê hiện nay, TTCK Việt Nam có 289 DN niêm yết Con số này quá ít so
với con số hàng trăm nghìn DN thực tế đang hoạt động Mặt khác, các DN niêm yết chủ yếu là những DN nhỏ và vừa, chưa phải là những DN lớn có sức chi phối nền kinh tế…
Về mức vốn hóa của thị trường, năm 2007 đạt khoảng 40%GDP Song đến thời điểm hiện tại, TTCK đang suy giảm từng ngày, thì mức vốn hoá thị trường cũng giảm đi tương ứngTrong khi đó, theo kế hoạch Chính phủ đặt ra, tới năm 2010, tỷ lệ vốn hóa TTCK phải chiếm 50% GDP và con số này phải tăng đến 70% vào năm 2020 Khi đó, quy mô thị trường mới đủ lớn để có thể đưa TTCK thực sự trở thành hàn thử biểu của nền kinh tế theo đúng nghĩa của nó Giá chứng khoán phản ánh tương đối chính xác giá trị thực của DN niêm yết
; Một thực tế hiện nay là phần lớn con số tính toán về giá trị thực của cổ phiếu đều chỉ sử dụng một cách máy móc những số liệu ghi trên báo cáo tài chính của các DN niêm yết; chưa thể hiện được đầy đủ giá trị nội tại của DN mà nó phản ánh Ngoài ra, sự kém minh bạch còn phổ biến, kèm theo đó là những yếu tố thuộc về tài sản vô hình của công ty (trình độ quản lý, uy tín sản phẩm, nhãn hiệu thương mại, chất lượng sản phẩm ) chưa phản ánh hết trong báo cáo tài chính Mặt khác, sự thiếu kiến thức và tâm lý đám đông của NĐT đã và đang tác động mạnh mẽ tới TTCK Tâm lý "phải tháo chạy bằng mọi giá" đã đẩy chỉ số VN-Index xuyên thủng 400 điểm
Rõ ràng, tâm lý NĐT chứ không phải phương pháp xác định hay hoạt động kinh doanh của DN quyết định giá chứng khoán
Trang 14Phản ánh tương đối chính xác sự biến động của nền kinh tế Hai năm qua, chúng ta đã chứng kiến những bước thăng trầm của TTCK Việt Nam Ngày 8/11/2006, VN-Index xuất phát với mức 525,99 điểm, chỉ 4 tháng sau (ngày 12/3/2007) VN-Index đã leo lên tới đỉnh 1.170,67 điểm, để rồi hiện tại VN-Index đã quay trở lại và thậm chí phá mốc 400 điểm Tất nhiên, lên xuống là chuyện bình thường của thị trường, nhưng lên xuống với biên độ lớn trong thời gian ngắn là bất thường Và điều này có phản ánh chính xác sự biến động của nền kinh tế hay không? Câu trả lời là không! Dễ dàng nhận thấy, từ cuối năm 2007 đến nay, VN-Index đã giảm quá sâu, bất chấp những thông tin rất tốt về hiệu quả sản xuất - kinh doanh của đại đa số công ty niêm yết trên sàn, bất chấp nỗ lực chống lạm phát đã có kết quả bước đầu của Chính phủ
Ngoài ra, nếu nền kinh tế Việt Nam chủ yếu có 4 kênh đầu tư: TTCK, thị trường tín dụng trung
và dài hạn, thị trường bất động sản và thị trường tiền tệ thì trong thời gian qua, sự ảm đạm của TTCK dường như cũng chưa ảnh hưởng nhiều tới các thị trường còn lại, nếu có, thì cũng chỉ như
sự ảnh hưởng của một hàng hóa này tới một hàng hóa thay thế khác Nhìn vào TTCK, chưa thấy được bức tranh khái quát của toàn bộ nền kinh tế
Như vậy, rõ ràng VN-Index hiện chưa phải là hàn thử biểu của kinh tế Việt Nam Tuy nhiên, bên cạnh những vai trò trên, có thể nói thị trường chứng khoán Việt Nam vẫn còn rấtnhiều hạn chế Trước hết là nói đến vấn đề thông tin không cân xứng Ở Việt Nam hiện nay có thể nói thông tin được chuyển đến các nhà đầu tư là không đầy đủ và không giống nhau Tình trạng tùy tiện trong công bố thông tin, công bố thông tin chậm, thiếu chính xác, không trung thựcđang gây bức xúc cho cộng đồng đầu tư và ngày càng đặt ra nhiều thách thức đối với cơ quan quản lý
Vẫn có những hoạt động làm giá, thao túng cổ phiếu, thao túng thị trường khiến cho nhà đầu tư
(NĐT) bất an, họ rất ngại trong việc đầu tư giá trị, mà dần dần chuyển sang lướt sóng nhiều hơn
Hiện trạng sử dụng nguồn vốn không đúng mục đích Hoạt động phát hành của các
công ty đại chúng vẫn còn mang tính tự phát, không hoàn toàn dựa trên nhu cầu sử dụng vốn của doanh nghiệp, làm giảm hiệu quả sử dụng vốn Không ít tổ chức phát hành huy động vốn trên TTCK để đầu tư trở lại vào chứng khoán mà không phải để mở rộng sản xuất kinh doanh, góp phần tạo nên bong bóng thị trường và rủi ro mất vốn khi thị trường sụt giảm Hoạt động chào bán riêng lẻ không có sự điều chỉnh đầy đủ của pháp luật và quản lý của các cơ quan có thẩm quyền dẫn đến các hành vi lạm dụng, ảnh hưởng đến sự lành mạnh của TTCK Bên cạnh đó, việc tuân thủ chào bán ra công chúng phải đăng ký với UBCKNN còn hạn chế (đặc biệt vào thời kỳ ngay sau khi Luật chứng khoán mới ban hành) đã tạo nên những rủi ro tiềm ẩn cho TTCK Hoạt động phát hành TPCP còn nhiều bất cập, công tác kế hoạch hoá phát hành trái phiếu chưa tốt, cơ chế phát hành trái phiếu còn nhiều bất cập, chưa có các tổ chức tạo lập thị trường TPCP đúng nghĩa để đảm bảo thành công cho các đợt phát hành cũng như tạo tính thanh khoản cho thị trường thứ cấp Thiếu đường cong lợi suất chuẩn và tổ chức định mức tín nhiệm
Tuy nhiên, theo nhận định, sau 10 năm phát triển, thị trường CK Việt Nam đã có những đóng
góp quan trọng cho nền kinh tế Việt Nam, góp phần tăng trường kinh tế, gia tăng thu nhập cho người dân
Trang 151.4.3 Những mặt hạn chế của thị trường chứng khoán
Hạn chế của TTCK Việt Nam
1 Xuất phát điểm của thị trường chứng khoán Việt Nam thấp
Hình thành từ việc cổ phần hoá các DNNN, các công ty có cổ phần niêm yết trên TTCK Việt Nam chủ yếu do Nhà nước nắm cổ phần chi phối và vì vậy, hoạt động của các công ty này ảnh hưởng đáng kể về tính chất quản lý theo cách mà các DNNN vẫn làm Bộ máy với các thành viên chủ chốt vẫn là những cá nhân do Nhà nước (cổ đông lớn nhất) bổ nhiệm Phần còn lại, do các cá nhân bên ngoài và người lao động trong công ty nắm giữ Nhiều cổ đông trong công ty thậm chí không có đủ kiến thức về pháp luật để biết được mình có quyền lợi như thế nào khi nắmgiữ quyền biểu quyết Hành lang pháp lý chưa đầy đủ và không rõ ràng, thiếu một cơ chế giám sát đủ mạnh đã gần như không bảo vệ được quyền lợi cho các cổ đông thiểu số
Ban giám đốc của một số công ty này vẫn do Nhà nước bổ nhiệm và gần như chẳng có trách nhiệm gì đáng kể về hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty Chính đặc điểm này làm cho bộ máy quản lý trở nên chuyên chế và có xu hướng chú trọng tới lợi ích các nhân của mình hơn là lợi ích của các cổ đông và các chủ sở hữu Điều mà chúng ta vẫn thường thấy trong các doanh nghiệp nhà nước Trước hiện trạng đó câu hỏi đặt ra là các công ty kiểm toán độc lập, người chịu trách nhiệm về sự trung thực của các báo cáo tài chính do các công ty này công bố và cá nàhđầu tư, liệu đã làm hết trach nhiệm của mình? Và các thông tin được SSC yêu cầu công bố là hoàn toàn không đủ để có thể phân tích và đánh giá một cách sát thực hơn về tình
hình kinh doanh và tài chính của các công ty này Một số công ty còn cung cấp thông tin một cách thiếu trung thực và không đầy đủ
Đánh giá về các công ty niêm yết:
Các công ty niêm yết trên TTCK Việt Nam hầu như đều là các DNNN cổ phần hoá Trong một vài năm trước và sau khi cổ phần hoá, các công ty này tạo được mức lợi nhuận tương đối hấp dẫn
vì được hưởng những lợi thế nhất định từ khi chuyển đổi sở hữu Phần lớn các công ty đầu tiên được lựa chọn để tiến hành cổ phần hoá (theo kiểu thí điểm) đều là các công ty đang hoạt động tương đối tốt của các Bộ, các Tổng công ty hoặc của các địa phương Ngoài ra, việc được hưởng
ưu đãi về thuế thu nhập doanh nghiệp trong những năm đầu sau khi cổ phần hoá tạo cho các doanh nghiệp này khả năng tạo được mức lợi thế tương đối hấp dẫn Tuy nhiên, cũng phải nhìn nhận rằng, lợi thế của một số công ty có được là nhờ một số lợi thế độc quyền mà đơn vị chủ quản trước đây mang lại Những lợi thế này chỉ tạo được khả năng duy trì lợi nhuận trong một khoảng thời gian ngắn và hầu như không xuất phát từ tiềm năng và khả năng cạnh tranh thực lực của doanh nghiệp Chính vì vậy, doanh nghiệp không có khả năng đối phó với những biến động
Trang 16của nền kinh tế Tình hình hoạt động của họ vì vậy chịu tác động rất mạnh của các yếu tố kinh tế
vĩ mô Trong khi đó, nền kinh tế Việt Nam vốn được xem là hết sức phức tạp, tuy ít có khả năng xảy ra khủng hoảng
nghiêm trọng nhưng lại đầy rủi ro ( khả năng ít xảy ra khủng hoảng nghiêm trọng vì nguyên nhân sự trì trệ về kinh tế chứ không phải xuất phát từ một nền kinh tế đủ tiềm lực để đối phó với rủi ro)
Các công ty niêm yết hiện tại hầu hết là các công ty có lịch sử ra đời khá lâu và hoạt động trong các ngành kinh tế rất phổ thông và mang tính cạnh tranh cao như sản xuất hàng tiêu dùng, chế biến thực phẩm, vật liệu xây dựng thị trường Việt Nam và quốc tế đối với các sản phẩm này hầu như đã bão hoà Mặt khác, các sản phẩm này phần lớn nằm trong danh mục các mặt hàng cắtgiảm thuế khi hội nhập Khả năng mở rộng và phát triển nhanh là rất ít Việc này duy trì ở mức
độ hiện tại và gia tăng chút ít so với năm trước Điều này làm cho giá trị cổ phiếu của công ty khó có thể gia tăng ổn định
2 TTCK Việt Nam hiện nay còn nhiều bất cập
Kinh tế quí 1-2007 tăng 7,7%, nhưng những thử thách trên con đường phát triển cũng đã được phân tích, đó là sự yếu kém về cơ sở hạ tầng, về năng lượng, và những áp lực cải cách… Tình hình của Việt Nam hiện nay, áp lực cải cách vẫn lớn trong khi không gian để cải cách còn rộng Thách thức nhiều nhưng điều kiện xử lý thách thức cũng rất lớn Nhìn ra ngoài, nền kinh tế thế giới cũng sẽ phát triển ổn định trong năm nay và điều này cho phép Việt Nam tiếp tục duy trì tăng trưởng cao trong một thời gian nữa.Theo báo cáo kinh tế của Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB), Việt Nam sẽ đạt tốc độ tăng trưởng GDP 8,3% trong năm 2007 và 8,5% trong năm 2008 nếu Việt Nam tiếp tục thúc đẩy việc cải cách kinh tế và hệ thống hành chính công Quí 1 năm
2007, tiền gửi (bằng tiền đồng) của các tổ chức kinh tế tăng mạnh (11,4% so với mức 1,05% của quí 1-2006) thì tiền gửi củadân cư tăng thấp (6,6% so với mức 13,2% của quí 1-2006 (Báo cáo của Bộ Kế hoạch và Đầu tư) Nguyên nhân được xác định là trong quí 1 nhiều doanh nghiệp đã tích cực phát hành cổ phiếu, trái phiếu để tăng vốn trong khi người dân dồn tiền vào chứng khoán thay vì gửi vào ngân hàng TTCK tiếp tục phát triển nhưng không ổn định Nguyên nhân
có phần do tác động tích cực của tình hình kinh tế tăng trưởng cao và ổn định nhưng chủ yếu do nhu cầu tăng quá lớn và do hoạt động đầu cơ trên trên thị trường
Cơ chế hạn chế đầu tư đã đặt các kế hoạch của chính phủ nhằm cải cách các doanh nghiệp nhà nước làm ăn thiếu hiệu quả hoặc thua lỗ vào tình huống khó xử Hiện nay, với việc Việt Nam gianhập tổ chức thương mại Thế giới WTO, hoạt động M&A đã bắt đầu có những bước tiến ổn địnhđầu tiên, bằng việc các nhà đầu tư nước ngoài đã tận dụng được lợi thế của các doanh nghiệp đã
cổ phần hòa kết hợp với môi trường pháp lý đang được hoàn thiện, gia nhập vào đội ngũ các doanh nghiệp trong nước, hoặc là đối tác kinh doanh hoặc là thông qua kênh hoạt động độc lập.Hầu hết các công ty trong nước rất cần đến nguồn vốn đầu tư từ nước ngoài, những bí quyết công nghệ - kỹ thuật và phương pháp quản lý của nước ngoài, để có thể cạnh tranh với thị trường