1. Trang chủ
  2. » Tài Chính - Ngân Hàng

BẢN WORD kế TOÁN NGÂN HÀNG NHÓM 8 LHP 1770BAUD0621

39 359 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 39
Dung lượng 142,12 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

các phương thức cấp tín dụng của ngân hàng thương mại,các nguyên tắc tin dụng ở ngân hàng thương mại,ví dụ về 1 ngân hàng thương mại về các hoạt động cấp tin dụng của ngân hàng cấp tín dụng sẽ mang lại cho các bạn đọc một cách nhìn nhân mới về các hoạt động cấp tín dụng của ngân hàng thương mại. từ đó hiểu hơn các ngân hàng cấp tín dụng và các phương thức cấp tín dụng cho doanh nghiệp hoặc các cá nhân có nhu cầu về vốn

Trang 1

MỤC LỤC

Contents

LỜI MỞ ĐẦU 2

CHƯƠNG 1 : MỘT SỐ NỘI DUNG CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VÀ HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG TRONG NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 3

I Khái niệm về ngân hàng thương mại 3

II Các chức năng của ngân hàng thương mại 4

1, Chức năng trung gian tín dụng 4

2, Chức năng trung gian thanh toán 4

3, Chức năng tạo tiền 5

III Hoạt động cấp tín dụng của ngân hàng thương mại 5

1) Khái niêm tín dụng ngân hàng 5

2) Đặc điểm của tín dụng ngân hàng 5

3) Phân loại tín dung ngân hàng 6

4) Vai trò của nghiệp vụ tín dụng đối với Ngân hàng thương mại 7

CHƯƠNG 2: CÁC PHƯƠNG THỨC CẤP TÍN DỤNG VÀ NGUYÊN TẮC CẤP TÍN DỤNG CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 8

I Các phương thức cấp tín dụng của ngân hàng thương mại 8

1 Cấp tín dụng bằng hình thức cho vay 8

2 Tín dụng cho thuê tài chính 22

3 Tín dụng về bảo lãnh 28

II Nguyên tắc cấp tín dụng và điều kiện cấp tín dụng 31

1 Nguyên tắc cấp tín dụng 31

2 Điều kiện cấp tín dụng 31

CHƯƠNG 3 : LIÊN HỆ THỰC TIỄN MỘT NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 32

I Giới thiệu về ngân hàng Vietcombank 32

II.Vậng dụng các phương thức tín dụng và nguyên tắc tín dụng vào ngân hàng vietcombank 33

1. Các dịch vụ cho vay của ngân hàng vietcombank 33

2 Quy trình cho vay của ngân hàng vietcombank 37

TÀI LIỆU THAM KHẢO 39

Trang 2

LỜI MỞ ĐẦU

Hệ thống các ngân hàng thương mại là một bộ phận của ngân hàng trung gian,chiếm một vị trí quan trọng nhất về qui mô tài sản và về thành phần các nghiệp vụ.Bởi lẽ nằm trong hệ thống ngân hàng trung gian cho nên Ngân hàng Thương mạicũng có hoạt động thu gom nguồn tích luỹ nhỏ từ các doanh nghiệp, các tổ chứckinh tế, cá nhân để tạo thành vốn kinh doanh của nó rồi tiến hành cho vay Cứ nhưvậy tạo nên dòng luân chuyển vốn trong nền kinh tế Điều đó một mặt đáp ứng nhucầu về vốn của những người đi vay để phát triển sản xuất, mặt khác lại làm giatăng những khoản vốn nhàn rỗi, đồng thời cũng đem lại lợi nhuận cho ngân hàng.Hoạt động của Ngân hàng Thương mại bao gồm 3 lĩnh vực: nghiệp vụ nợ (huyđộng vốn), nghiệp vụ có (cho vay kinh doanh) và nghiệp vụ môi giới trung gian( dịch vụ thanh toán, đại lý, tư vấn , thông tin…) Trong ba lĩnh vực này thì nghiệp

vụ cho vay là nghiệp vụ đem lại lợi nhuận trực tiếp cho Ngân hàng Thương mại,đồng thời cũng là nghiệp vụ chứa đựng nhiều rủi ro Nghiệp vụ này luôn được đặttrong mối quan tâm hàng đầu của Chính phủ và bản thân các Ngân hàng Thươngmại bởi nó ảnh hưởng lớn đến sự tồn tại và phát triển của Ngân hàng Thương mạicũng như đảm bảo cung ứng vốn cho hoạt động sản xuất kinh doanh trong toàn bộnền kinh tế Do vậy, việc bảo đảm an toàn cho nó đang là vấn đề hết sức bức bốitại hầu hết các Ngân hàng Thương mại trên thế giới nói chung và tại Việt Nam nóiriêng Chính vì tầm quan trọng như vậy nên em muốn đi sâu nghiên cứu đề tài vềcho vay để có thể tìm hiêủ thêm về bản chất và hoạt động của một nghiệp vụ chứađầy những yếu tố rủi ro bất ngờ này

Trang 3

CHƯƠNG 1 : MỘT SỐ NỘI DUNG CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VÀ HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG TRONG

NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI.

I Khái niệm về ngân hàng thương mại.

Ngân hàng thương mại đã hình thành, tồn tại và phát triển gắn liền với sự phát triểncủa kinh tế hàng hoá Sự phát triển của hệ thống ngân hàng thương mại đã có tácđộng rất lớn và quan trọng đến quá trình phát triển của nền kinh tế hàng hoá, ngượclại kinh tế hàng hoá phát triển mạnh mẽ đến giai đoạn cao của nó – kinh tế thịtrường – thì ngân hàng thương mại cũng ngày càng được hoàn thiện và trở thànhnhững định chế tài chính không thể thiếu được

Luật các tổ chức tín dụng: NHTM là tổ chức tín dụng được thực hiện toàn

bộ hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác có liên quan vì mục tiêulợi nhuận theo quy định của Luật Các tổ chức tín dụng và các quy định khác của

pháp luật (Nghị định số 59/2009/NĐ-CP của Chính phủ về tổ chức và hoạt động

của NHTM)

Theo Luật Ngân hàng nhà nước:

Hoạt động ngân hàng là hoạt động kinh doanh tiền tệ và dịch vụ ngân hàngvới nội dung thường xuyên là nhận tiền gửi và sử dụng số tiền này để cấp tín dụng,

cung ứng dịch vụ thanh toán.

Như vậy ngân hàng thương mại là định chế tài chính trung gian quan trọngvào loại bậc nhất trong nền kinh tế thị trường Nhờ hệ thống định chế này mà cácnguồn tiền vốn nhàn rỗi sẽ được huy động, tạo lập nguồn vốn tín dụng to lớn để cóthể cho vay phát triển kinh tế

Từ đó có thể nói bản chất của ngân hàng thương mại được thể hiện qua cácđiểm sau:

Trang 4

– Ngân hàng thương mại là một tổ chức kinh tế

– Ngân hàng thương mại hoạt động kinh doanh trong lĩnh vực tiền tệ tíndụng và dịch vụ ngân hàng

Phân biệt NHTM và TCTD phi ngân hàng

- Không cung cấp dịch vụthanh toán

II Các chức năng của ngân hàng thương mại

1, Chức năng trung gian tín dụng

Chức năng trung gian tín dụng được xem là chức năng quan trọng nhất của ngân hàng thương mại Khi thực hiện chức năng trung gian tín dụng, NHTM đóng vai trò là cầu nối giữa người thừa vốn và người có nhu cầu về vốn Với chức năng này, ngân hàng thương mại vừa đóng vai trò là người đi vay, vừa đóng vai trò là người cho vay và hưởng lợi nhuận là khoản chênh lệch giữa lãi suất nhận gửi và lãi suất cho vay và góp phần tạo lợi ích cho tất

cả các bên tham gia: người gửi tiền và người đi vay

2, Chức năng trung gian thanh toán

Ở đây NHTM đóng vai trò là thủ quỹ cho các doanh nghiệp và cá nhân, thực hiện các thanh toán theo yêu cầu của khách hàng như trích tiền từ tài khoản tiền gửi của họ để thanh toán tiền hàng hóa, dịch vụ hoặc nhập vào tàikhoản tiền gửi của khách hàng tiền thu bán hàng và các khoản thu khác theo lệnh của họ Các NHTM cung cấp cho khách hàng nhiều phương tiện thanh toán tiện lợi như séc, ủy nhiệm chi, ủy nhiệm thu, thẻ rút tiền, thẻ thanh toán, thẻ tín dụng… Tùy theo nhu cầu, khách hàng có thể chọn cho mình phương thức thanh toán phù hợp Nhờ đó mà các chủ thể kinh tế không phải

Trang 5

giữ tiền trong túi, mang theo tiền để gặp chủ nợ, gặp người phải thanh toán

dù ở gần hay xa mà họ có thể sử dụng một phương thức nào đó để thực hiện các khoản thanh toán Do vậy các chủ thể kinh tế sẽ tiết kiệm được rất nhiều chi phí, thời gian, lại đảm bảo thanh toán an toàn Chức năng này vô hình chung đã thúc đẩy lưu thông hàng hóa, đẩy nhanh tốc độ thanh toán, tốc độ lưu chuyển vốn, từ đó góp phần phát triển kinh tế

3, Chức năng tạo tiền

Tạo tiền là một chức năng quan trọng, phản ánh rõ bản chất của

NHTM Với mục tiêu là tìm kiếm lợi nhuận như là một yêu cầu chính cho sựtồn tại và phát triển của mình, các NHTM với nghiệp vụ kinh doanh mang tính đặc thù của mình đã vô hình chung thực hiện chức năng tạo tiền cho nềnkinh tế

Chức năng tạo tiền được thực thi trên cơ sở hai chức năng khác của NHTM là chức năng tín dụng và chức năng thanh toán Thông qua chức năng trung gian tín dụng, ngân hàng sử dụng số vốn huy động được để cho vay, số tiền cho vay ra lại được khách hàng sử dụng để mua hàng hóa, thanh toán dịch vụ trong khi số dư trên tài khoản tiền gửi thanh toán của khách hàng vẫn được coi là một bộ phận của tiền giao dịch, được họ sử dụng để mua hàng hóa, thanh toán dịch vụ… Với chức năng này, hệ thống NHTM đãlàm tang tổng phương tiện thanh toán trong nền kinh tế, đáp ứng nhu cầu thanh toán, chi trả của xã hội Ngân hàng thương mại tạo tiền phụ thuộc vào

tỉ lệ dự trữ bắt buộc của ngân hàng trung ương đã áp dụng đối với nhtm do vậy ngân hàng trung ương có thể tăng tỉ lệ này khi lượng cung tiền vào nền kinh tế lớn

III Hoạt động cấp tín dụng của ngân hàng thương mại

1) Khái niêm tín dụng ngân hàng.

Tín dụng ngân hàng là quan hệ tín dụng phát sinh giữa các ngân hàng, các tổ chức tíndụng với các đối tác kinh tế - tài chính của toàn xã hội, bao gồm doanh nghiệp, cá nhân, tổ chức xã hội, cơ quan nhà nước

2) Đặc điểm của tín dụng ngân hàng.

• Huy động vốn và cho vay vốn đều thực hiện dưới hình thức tiền tệ;

• Ngân hàng đóng vai trò trung gian trong quá trình huy động vốn và chovay;

Trang 6

• Quá trình vận động và phát triển của tín dụng ngân hàng không hoàn toàn phù

hợp với quy mô phát triển sản xuất và lưu thông hàng hóa;

• Tín dụng ngân hàng thúc đẩy quá trình tập trung và điều hòa vốn giữa các chủ thể trong nền kinh tế

3) Phân loại tín dung ngân hàng.

Căn cứ vào thời hạn tín dụng

- Tín dụng ngắn hạn: là những khoản vay có thời hạn đến 1 năm, thường được sử dụng để cho vay bổ sung thiếu hụt tạm thời vốn lưu động và phục vụ cho nhu cầu sinh hoạt của cá nhân

- Tín dụng trung hạn: là những khoản vay có thời hạn trên 1 năm đến 5 năm; được cung cấp để mua sắm tài sản cố định, cải tiến và đổi mới kỹ thuật, mở rộng và xây dựng các công trình nhỏ có thời gian thu hồi vốn nhanh

- Tín dụng dài hạn: là những khoản vay có thời hạn trên 5 năm Loại tín dụng này được sử dụng để cung cấp vốn cho xây dựng cơ bản, cải tiến

và mở rộng sản xuất với quy mô lớn

Căn cứ vào đối tượng tín dụng

- Tín dụng vốn lưu động: được sử dụng để hình thành vốn lưu động của các tổ chức kinh tế như cho vay để dự trữ hàng hóa, mua nguyên vật liệucho sản xuất…

- Tín dụng vốn cố định: được sử dụng để hình thành tài sản cố định.Căn cứ vào mục đích sử dụng vốn

- Tín dụng sản xuất và lưu thông hàng hóa: là loại cấp phát tín dụng cho các doanh nghiệp và các chủ thể kinh tế khác tiến hành sản xuất và lưu thông hàng hóa

- Tín dụng tiêu dùng: là hình thức cấp phát tín dụng cho cá nhân để đáp ứng nhu cầu tiêu dùng

- Tín dụng học tập: là hình thức cấp phát tín dụng để phục vụ việc học tập của sinh viên

Ngoài ra, căn cứ vào mục đích sử dụng vốn còn có thể có nhiều hình thức tín dụng khác

Căn cứ vào đối tượng trả nợ

- Tín dụng trực tiếp: là hình thức tín dụng mà trong đó người đi vay cũng

là người trực tiếp trả nợ

- Tín dụng gián tiếp: là hình thức tín dụng mà trong đó người đi vay và người trả nợ là hai đối tượng khác nhau

Trang 7

Căn cứ vào tính chất của khoản vay

- Tín dụng có đảm bảo: các khoản vốn tín dụng phát ra đều có hàng hóa, vật tư tài sản tương đương đảm bảo

- Tín dụng không có đảm bảo: các khoản tín dụng phát ra không cần có hàng hóa, vật tư, tài sản đảm bảo mà chỉ dựa vào uy tín, sự tín nhiệm đốivới các tổ chức, cá nhân để cấp vốn tín dụng

4) Vai trò của nghiệp vụ tín dụng đối với Ngân hàng thương mại.

NHTM huy động tiền từ các cá nhân, các doanh nghiệp và các hình thức tín dụng khác và đương nhiên ứng với mỗi loại tiền gửi do các ngân hàng phải chi trả cho một khoản lãi nhất định Để đảm bảo khả năng chi trả, ngân hàng sẽ phải sử dụng phần lớn khoản tiền huy động đưa vào các hoạt động kinh doanh như cho vay, đầu tư … Trong đó cho vay là hoạt động kinh doanh chủ yếu của NHTM tạo

ra lợi nhuận trực tiếp cho ngân hàng Sở dĩ cho vay được coi là một trong những loại hình quan trọng nhất không thể thiếu được của các ngân hàng bởi lẽ chỉ có lãi suất thu được từ cho vay mới bù đắp mọi chi phí mà các ngân hàng phải bỏ ra như:Chi phí tiền gửi, chi phí dự trữ, chi phí kinh doanh, quản lý, thuế và các chi phí rủi

ro đầu tư…

Cùng với sự phát triển của nền kinh tế thì nhu cầu về vốn cho hoạt động sản xuất kinh doanh của tầng lớp dân cư các doanh nghiệp các tổ chức kinh tế ngày càng lớn Do vậy lượng cho vay của các NHTM càng tăng và kèm theo nó thì các loại hình cho vay ngày càng được mở rộng và phát triển hết sức đa dạng ở các nước phát triển hàng đầu thế giới thì nhu cầu vay dài hạn đã dần thay thế cho nhu cầu ngắn hạn Trong khi đó thì ở các nước đang phát triển, hầu hết cho vay ngắn hạn vẫn chiếm tỉ lệ lớn so với cho vay trung và dài hạn

Điều đó cũng có lẽ bởi các nước này vẫn chưa tìm được biện pháp khắc phục, hạn chế sự thiếu an toàn cho các khoản vay dài hạn Họ e sợ cùng với nền kinh tế đất nước còn yếu kém, lạc hậu mà rủi ro của các khoản vay dài hạn đó xảy ra đồng thời sẽ dấn đến sự sụp đổ, nợ nần của các NHTM ảnh hưởng nghiêm trọng đến sự tăng trưởng kinh tế

Nói đến cho vay tức là nói đến rủi ro cao Đa phần rủi ro tín dụng xẩy ra đều bắt nguồn từ những khoản cho vay của NHTM Đối với những khoản cho vay càng lớnthì độ rủi ro càng cao Mỗi một khoản rủi ro lớn xẩy ra nó tác động mạnh mẽ đến hoạt động của ngân hàng Có thể nói nghiệp vụ cho vay là một nghiệp vụ phức tạp,

độ an toàn thấp,rủi ro cao nhưng lại là hoạt động không thể thiếu được, quyết định

Trang 8

và ảnh hưởng rất lớn đến sự tồn tại và phát triển của NHTM Nó chiếm một tỷ lệ lớn trong cơ cấu tổng tài sản của ngân hàng (trên , dưới 70%).

CHƯƠNG 2: CÁC PHƯƠNG THỨC CẤP TÍN DỤNG VÀ NGUYÊN TẮC CẤP TÍN DỤNG CỦA NGÂN HÀNG

Số tiền cho vay của ngân hàng được xác định căn cứ vào nhu cầu vay vốn của khách hàng, giá trị tài sản bảo đảm và khả năng hoàn trả của khách hàng, khả năng nguồn vốn của ngân hàng và giới hạn cho vay theo qui định của Luật pháp

Thời hạn cho vay và số kỳ hạn trả nợ được xác định tùy thuộc vào đặcđiểm sản xuất kinh doanh của khách hàng, nguồn trả nợ trong giai đoạn vay

Trong hợp đồng tín dụng khách hàng có thể vốn vay làm nhiều lần tùytheo tiến độ hoặc nhu cầu sử dụng thực tế Khi rút vốn vay khách hàng phải lập bảng kê rút vốn theo mẫu của ngân hàng và được ngân hàng chấp nhận,

số tiền ngân hàng duyệt rút vốn là khoản nợ chính thức của lần rút vốn đó

Việc trả nợ được thực hiện theo lịch trả nợ đã được ghi trong hợp đồng tín dụng, bất cứ khoản nợ nào khi đến hạn theo hợp đồng tín dụng đã

ký khách hàng phải chủ động trả nợ cho ngân hàng, nếu không thì ngân hàng

sẽ trích tiền từ tài khoản tiền gửi của khách hàng để thu nợ hoặc khách hàng

sẽ bị phạt quá hạn nếu không có tiền trả nợ cho khoản nợ đến hạn

Ngân hàng cũng có thể cho vay theo hình thức “cho vay trên tài sản” – là hình thức cho vay được bảo đảm trực tiếp bằng bằng các khoản phải thu

Trang 9

hoặc hàng tồn kho của khách hàng Ngân hàng sẽ cho vay theo tỷ lệ phần trăm nhất định trên giá trị ghi sổ các khoản phải thu hoặc hàng tồn kho Khi thu được nợ hoặc khi bán hàng thu được tiền khách hàng sẽ trả nợ cho ngân hàng, trường hợp này giống như chiết khấu bộ chứng từ bán hàng.

1.1.1 Khái niệm

Cho vay từng lần (từng món) là hình thức cấp tín dụng của ngân hàng thương mại

mà theo đó làm 1 bộ hồ sơ vay 1 lần nhất định với mức tín dụng ngân hàng và khách hàng thoả thuận

1.1.2 Đặc điểm

- Hợp đồng tín dụng ký độc lập cho từng lần vay

- Giải ngân, thu nợ được thực hiện riêng cho từng lần (từng món) vay

- Vốn tín dụng chỉ tham gia vào một giai đoạn hay một chu kỳ sản xuất kinh doanh

1.1.3 Đối tượng áp dụng

- Áp dụng cho các tổ chức kinh tế có điều kiện vay vốn nhưng không đủ điều kiện vay theo hạn mức

- Khách hàng vay vốn không thường xuyên

- Khách hàng mới giao dịch với ngân hàng lần đầu

1.1.4 Giải ngân

Giải ngân một lần toàn bộ hạn mức tín dụng

Hồ sơ xin vay theo quy định của chế độ tín dụng do người vay nộp vào, sau khi được cán bộ tín dụng thẩm định và giám đốc ngân hàng duyệt cho vay, được chuyển sang kế toán để kiểm soát và giải ngân toàn bộ số tiền cho vay theo hạn mức tín dụng ghi trên hợp đồng tín dụng (hoặc khế ước vay tiền, sổ cho vay).Căn cứ vào chứng từ như giấy lĩnh tiền mặt (nếu giải ngân bằng tiền mặt), hoặc uỷ nhiệm chi (nếu giải ngân bằng chuyển khoản) kế toán vào sổ chi tiết hoặc nhập dữ liệu vào máy tính

Trang 10

Bút toán phản ánh giai đoạn giải ngân:

Nợ: TK Cho vay ngắn hạn/ Nợ đủ tiêu chuẩn thích hợp (TK2111)

Có: - TK Tiền mặt (nếu giải ngân bằng tiền mặt) (TK1011), hoặc

- TK Tiền gửi người thụ hưởng (TK4211) (nếu cho vay bằng chuyển khoản thanh toán cùng ngân hàng), hoặc

- TK Thanh toán vốn giữa các ngân hàng thích hợp (nếu cho vay bằng chuyển khoản thanh toán khác ngân hàng)

Đối với các khoản vay có tài sản thế chấp, cầm cố, kế toán căn cứ vào biên bản định giá tài sản thế chấp, cầm cố để hạch toán ngoại bảng, ghi:

Nhập: TK 994 “TS cầm cố, thế chấp của khách hàng”

Giấy đề nghị vay vốn, hợp đồng tín dụng hay khế ước vay tiền lập mỗi loại 2 bản

để trả lại người vay mỗi loại một bản, một bản kế toán lưu giữ để theo dõi thu nợ

và được lưu vào trong hồ sơ vay vốn của khách hàng vay cùng với các giấy từ pháp lý xác nhận quyền sở hữu hợp pháp đối với các tài sản thế chấp, cầm cố.Trong hồ sơ vay vốn của từng khách hàng vay, hợp đồng tín dụng được sắp xếp theo trật tự kỳ hạn nợ để theo dõi thu hồi nợ Nếu kế toán cho vay đã được tin học hoá thì phần hạch toán và phần theo dõi kỳ hạn nợ được thực hiện trên máy vi tính theo chương trình phần mềm kế toán cho vay

Để đảm bảo số tiền cho vay trên hợp đồng tín dụng khớp đúng với số dư Nợ các tàikhoản cho vay thì cuối định kỳ (tháng, quý) kế toán cho vay tiến hành sao kê số dưcác hợp đồng tín dụng để đối chiếu với dư Nợ tài khoản cho vay Nếu có chênh lệch thì phải tìm nguyên nhân để điều chỉnh sao cho tổng dư nợ trên hợp đồng tín dụng phải bằng tổng dư nợ của các tài khoản cho vay tương ứng

Trang 11

TH2: Một khoản nợ được chia ra làm nhiều kỳ hạn, mỗi kỳ hạn là một mức tiền khi ngân hàng thu nợ gốc đồng thời sẽ tính và thu lãi cho vay

Chú ý

- Nếu đến kỳ trả mà bên vay không có tiền để trả , thì phải làm đơn xin gia

hạn nợ

+ Nếu vì lý do chính đáng thì ngân hàng giải quyết cho gia hạn

+ Nếu không có lý do chính đáng thì ngân hàng thực hiện chuyển nợ quá hạn và tính lãi suất quá hạn

Lãi phải trả quá hạn = Dư nợ quá hạn* Lãi suất quá hạn (ngày)* Số ngày quá hạn

- Nếu đến kỳ trả nợ mà bên vay có trả nhưng trả không đủ nợ gốc và lãi vay

+ Ngân hàng thu lãi trước

+ Sau đó mới trừ vào nợ gốc

+Số còn lại chưa trả được tính lãi quá hạn

- Trường hợp khách hàng trả trước thời hạn vay một số tiền nhất định cho ngân hàng:

Ví dụ: Một khoản tín dụng trị giá 500 triệu được ngân hàng A cho công ty B vay

thời hạn 1 tháng với lãi suất 1%/tháng Ngày vay 01/5 đáo hạn 01/6, ngày 20/5 công ty B trả trước 300 triệu và trả nợ gốc đúng hạn

Trang 12

Ngày 10/07 ngân hàng đồng ý cho khách hàng vay bổ sung vốn lưu động với nội dung cụ thể như sau:

2 Nếu toàn bộ số nợ được trả làm 3 đợt:

+ Đợt 1: ngày 10/8, gốc 250 triệu và lãi

1.2.Cho vay theo hạn mức tín dụng

Là phương pháp cho vay mà ngân hàng và khách hàng xác định và thỏa thuận một hạn mức tín dụng được duy trì trong một khoản thời gian nhất định Hạn mức tín dụng là mức dư nợ vay tối đa được duy trì trong một khoản thời gian nhất định mà ngân hàng và khách hàng đã thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng

Trang 13

Cho vay theo hạn mức tín dụng thường được áp dụng đối với các khách hàng có nhu cầu vay vốn – trả nợ thường xuyên, có uy tín với ngân hàng Ví dụ một doanh nghiệp chế biến nước mắm, đến mùa vụ cá cần tăng khối lượng cá giá thấp để chế biến kịp thời vụ, ngân hàng có thể cho doanh nghiệp sử dụng một hạn mức tín dụng từ tháng 7 đến tháng 9, cho phép doanh nghiệp được rút tiền vay nhiều lần trong suốt giai đoạn này, qui mô của hạn mức tín dụng này được xác định trên cơ sở dự tính về lượng vốn lớn nhất mà doanh nghiệp có thể cần tại bất kỳ thời điểm nào trong suốt thời hạn duy trì hạn mức tín dụng.

Mỗi lần rút tiền vay, khách hàng ký vào khế ước nhận nợ, trong đó nêu rõ thời gian trả nợ cho từng khoản rút vốn Thời gian này được xác định căn cứ vào kỳ luân chuyển của đối tượng vay vốn hoặc thời gian thu tiền bán hàng của khách hàng

1.2.1 Khái niệm

Phương thức cho vay theo hạn mức tín dụng là phương thức cho vay mà việc cho vay và thu nợ căn cứ vào quá trình nhập, xuất vật tư hàng hóa, ngân hàng cho vay khi doanh nghiệp có nhu cầu vốn phát sinh để nhập vật tư hàng hóa và ngân hàng thu nợ khi doanh nghiệp có thu nhập từ việc tiêu thụ sản phẩm, hàng hóa Theo phương thức cho vay này khách hàng được ngân hàng xác định cho một hạn mức tín dụng duy trì trong một khoảng thời gian nhất định để làm căn

cứ cho việc phát tiền vay

1.2.2 Đối tượng:

Phương thức cho vay theo hạn mức tín dụng thường được áp dụng cho các doanh nghiệp mà trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh họ thường xuyên có nhu cầu vay trả, tốc độ luân chuyển vốn tín dụng nhanh, có tín nhiệm với ngân hàng trong quan hệ tín dụng Đồng thời cũng được áp dụng trong cho vay ngắn hạn đối với các tổ chức kinh tế, cá nhân có đủ điều kiện vay theo phương thức này

1.2.3 Đặc điểm:

Chỉ áp dụng cho các khách hàng vay có nhu cầu vay vốn thường xuyên, có vòng quay vốn lưu động nhanh, có khả năng tài chính lành mạnh và uy tín với ngân hàng Nhu cầu vay thường là để tài trợ cho nguồn vốn lưu động thiếu hụt.Không định kỳ hạn nợ cụ thể cho từng lần giải ngân nhưng kiểm soát chặt chẽ hạn mức tín dụng còn thực hiện

Ví dụ:

+ Hạn mức tín dụng trong kì là 2 tỷ đồng

+ Dư nợ tài khoản cho vay là 0,8 tỷ đồng

Vậy hạn mức tín dụng còn thực hiện là 1,2 tỷ (bằng 2 tỷ – 0,8 tỷ)

Trang 14

– Khách hàng vay trả nợ ngân hàng bằng hai cách: (i) nộp tiền bán hàng trực tiếp vào bên có tài khoản cho vay, hoặc (ii) ngân hàng thanh toán từ tài khoản tiền gửi theo định kỳ theo sự thoả thuận giữa ngân hàng và khách hàng, còn tiềnbán hàng khách hàng nộp vào tài khoản tiền gửi tại ngân hàng.

1.2.4 Kế toán giai đoạn giải ngân:

Hợp đồng tín dụng sau khi ký kết được chuyển cho kế toán để kiểm soát lại và theo dõi giải ngân

Việc giải ngân được thực hiện theo nhu cầu vốn của khách hàng vay trong phạm vi hạn mức tín dụng Do vậy mỗi lần giải ngân kế toán phải đối chiếu với hạn mức tín dụng còn thực hiện để tránh giải ngân vượt quá hạn mức

Căn cứ vào các chứng từ hợp lệ, hợp pháp như giấy lĩnh tiền mặt (nếu giải ngânbằng tiền mặt) hoặc các chứng từ thanh toán không dùng tiền mặt như ủy nhiệmchi… kế toán sẽ vào sổ tài khoản chi tiết cho vay hoặc nhập dữ liệu vào máy tính

Bút toán hạch toán:

Nợ: TK cho vay ngắn hạn/ Nợ đủ tiêu chuẩn

Có: – TK tiền mặt (1011) nếu giải ngân bằng tiền mặt, hoặc

– TK tiền gửi người thụ hưởng (4211) nếu thanh toán chuyển khoản cùng ngân hàng, hoặc

– TK thích hợp trong thanh toán vốn giữa các ngân hàng nếu thanh toán chuyểnkhoản khác ngân hàng

1.2.5 Kế toán thu nợ:

Kế toán tiến hành hạch toán thu nợ theo 2 trường hợp:

* Trường hợp 1: Thu nợ trực tiếp vào tài khoản cho vay

Khách hàng vay nộp tiền bán hàng bằng tiền mặt hoặc bằng chuyển khoản vào bên Có tài khoản cho vay để trả nợ ngân hàng, căn cứ vào các chứng từ thích hợp, kế toán hạch toán:

* Trường hợp 2: Ngân hàng thu nợ định kỳ từ tài khoản tiền gửi.

Trường hợp này tiền bán hàng sẽ được nộp vào tài khoản tiền gửi thanh toán Đến kỳ hạn trả nợ khách hàng vay lập ủy nhiệm chi trích tài khoản tiền gửi để

Trang 15

trả nợ ngân hàng Nếu khách hàng vay không chủ động trả nợ thì ngân hàng chủđộng lập phiếu chuyển khoản để trích tài khoản tiền gửi khách hàng thu nợ, hạch toán:

Nợ: TK tiền gửi của khách hàng vay (TK 4211)

Có cho tài khoản vay ngắn hạn/ Nợ đủ tiêu chuẩn

1.2.6 Kế toán thu lãi:

Xuất phát từ đặc điểm của cho vay theo hạn mức tín dụng là gốc không cố định nên lãi cho vay được tính và thu hàng tháng theo phương pháp tích số (thường vào ngày cố định cuối tháng), theo đó công thức tính lãi như sau:

Tổng tích số tính lãi trong tháng = Số dư nợ Tài khoản cho vay x Số ngày duy trì số dư nợ tài khoản cho vay

Vào ngày cân đối tháng (theo ví dụ trên là ngày 27 hàng tháng) các thanh toán viên quản lý tài khoản cho vay của khách hàng lập bảng kê tính lãi để hạch toánthu lãi

Bút toán hạch toán thu lãi trực tiếp:

Nợ: TK tiền gửi khách hàng (4211)

Có: TK thu lãi cho vay (702)

1.3 Cho Vay có chiết khấu

Trang 16

Chứng từ có giá là những phương tiện chuyển tải và dự trữ giá trị, do những đơn vịđược phép phát hành hợp pháp như: Kỳ phiếu, trái phiếu, tín phiếu, thương phiếu

… Những chứng từ này được luật pháp thừa nhận Chúng được coi là tài sản của những người sở hữu Khi chưa đến hạn thanh toán, người sở hữu chúng có thể mang chúng đến bán tại NHTM Việc mua các chứng từ chưa đến hạn thanh toán của khách hàng được gọi là nghiệp vụ chiết khấu

Như vậy, chiết khấu chứng từ có giá là một nghiệp vụ tín dụng ngắn hạn được thựchiện dưới hình thức chuyển nhượng quyền sở hữu chứng từ cho ngân hàng để nhậnmột khoản tiền bằng mệnh giá trừ đi mức triết khấu

1.3.1.Điều kiện chiết khấu

- Chứng từ có giá phải do các đơn vị được phép phát hành hợp pháp

- Chứng từ có giá còn thời hạn thanh toán phù hợp với thời hạn chiết khấu ngân hàng quy định

- Chứng từ có giá phải được phép chuyển nhượng mua bán.

1.3.2 Quy trình chiết khấu

- Khách hàng lập và nộp hồ sơ xin chiết khấu Khi có nhu cầu chiết khấu chứng từ

có giá, khách hàng phải lập hồ sơ xin chiết khấu để gửi lên ngân hàng Hồ sơ xin chiết khấu bao gồm: Đơn xin chiết khấu, bản gốc chứng từ có giá, bảng kê các chứng từ xin chiết khấu và cá tài liệu khác có liên quan đến nghiệp vụ chiết khấu

- Ngân hàng thẩm định hồ sơ xin chiết khấu Ngân hàng tiến hành kiểm tra các điều kiện chiết khấu Ngân hàng trả lời ngay cho khách hàng biết những chứng từ được chấp nhận chiết khấu

- Mức chiết khấu: Mức chiết khấu bằng 80% - 120% mức sinh lời của chứng từ chiết khấu, trong phạm vi thời hạn hiệu lực còn lại của chứng từ Trường hợp chứng từ không ghi rõ lãi suất, thì ngân hàng lấy lãi suất của chứng từ tại thời điểmxin chiết khấu để xác định mức sinh lời của chứng từ

+ Nếu chứng từ có lãi suất được trả lãi trước:

Trang 17

Lãi chiết khấu = Mệnh giá chứng từ x Thời hạn chiết khấu x Lãi suất chiết khấu

Lãi chiết

khấu =

(Mệnh giá X lãi chứng

chứng từ từ )

xThời hạn chiết khấu x

Lãi suất chiết khấu

Trong một số trường hợp, ngân hàng thực thi nghiệp vụ này còn thu hoa hồng phí.+ Hoa hồng phí là các chi phí cho nghiệp vụ chiết khấu mà khách hàng phải trả chongân hàng Nó cũng được xác định khác nhau tùy theo chứng từ đó được trả lãi trước hay trả lãi sau hoặc được quy định cố định cho nghiệp vụ chiết khấu

Nếu chứng từ được trả lãi trước:

Hoa hồng phí = Mệnh giá chứng từ x Thời hạn chiết khấu x Tỷ lệ hoa hồng phí Nếu chứng từ được trả lãi sau:

Hoa hồng

phí =

(Mệnh giá X lãi chứng

chứng từ từ )

xThời hạn chiết khấu x

Tỷ lệ hoa hồng phí

- Ngân hàng xác định số tiền cho vay Sau khi đã xác định được mức chiết khấu, ngân hàng sẽ xác định số tiền cho vay khi ngân hàng xin chiết khấu Nói chung, số tiền ngân hàng cho khách hàng vay (hay trả cho khách hàng) là:

Trang 18

Số tiền phải trả cho khách

Tổng số mệnh giá chứng

-Tổng số mức chiết khấu

VD1: doanh nghiệp A có tín phiếu kho bạc với mệnh giá là 50 trđ, lãi suất tín phiếu là 12%.năm Thời hạn hiệu lực còn lại của tín phiếu là 75 ngày Doanh nghiệp xin chiết khấu là 2%/tháng Hai bên thỏa thuận mức chiết khấu bằng 80% mức sinh lời

Tổng số tiền ngân hàng cho vay được tính như sau:

- Mức sinh lời của chứng từ trong 2 tháng:

Số tiền cho vay là số tiền ngân hàng trả cho khách hàng chiết khấu Số tiền này được chuyển vào tài khoản tiền gửi cho khách hàng hoặc trả trực tiếp bằng tiền mặthay trả bằng ngân phiếu thanh toán

Khi phát tiền vay, ngân hàng yêu cầu khách hàng chiết khấu phải ký chuyển

nhượng vào chứng từ có giá chiết khấu

Trang 19

Thu nợ:

Hết thời hạn chiết khấu, ngân hàng trích tài khoản tiền gửi hoặc yêu cầu khách hàng chiết khấu nộp tiền mặt bằng số tiền xin chiết khấu để trả nợ đồng thời làm thủ tục trả lại chứng từ chiết khấu cho khách hàng Trường hợp đến hạn, khách hàng không có tiền để trả nợ thì ngân hàng xử lý như sau:

- Chứng từ có giá không chuyển nhượng được thì ngân hàng chuyển số nợ trên sang nợ qua hạn và xử lý như trường hợp nợ cho vay quá hạn

- Chứng từ chuyển nhượng được, ngân hàng sẽ làm thủ tục đưa đến đơn vị phát hành để thanh toán và thu hồi nợ khi chứng từ đó đến hạn thanh toán

Về nguyên tắc tại mỗi ngân hàng thành viên và ngân hàng đầu mối chỉ sử dụng cáctài khoản loại 2 “hoạt động tín dụng” để phản ánh phần gốc cho vay từ phần vốn của chính ngân hàng mình Ngoài ra trong cho vay đồng tài trợ còn phát sinh những nghiệp vụ chuyển vốn, lãi giữa các ngân hàng thành viên với ngân hàng đầumối

1.4.1 Kế toán tại ngân hàng thành viên

– Giai đoạn chuyển vốn cho ngân hàng đầu mối để tham gia đồng tài trợ:

Trên cơ sở hợp đồng cho vay đồng tài trợ giữa các ngân hàng cùng cho vay, khi nhận được yêu cầu của ngân hàng đầu mối yêu cầu ngân hàng thành viên chuyển vốn tham gia đồng tài trợ, ngân hàng thành viên hạch toán để chuyển vốn, ghi.Nợ: TK góp vốn đồng tài trợ (381, 382)

Có: TK Thích hợp (TG tại NHNN, Thanh toán bù trừ)

Ngày đăng: 21/01/2018, 23:20

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w