1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đồ án nghệ thuật giao tiếp

36 253 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 36
Dung lượng 546 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Phương tiện giao tiếp Giao tiếp là một quá trình xã hội thường xuyên bao gồm các ứng xử rất đa dạng và phong phú, thể hiện qua ngôn ngữ nói và viết: qua nét mặt, cử chỉ, tư thế, giọng

Trang 1

LỜI MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Trải qua nhiều thời kỳ, ngôn ngữ đã và đang phát triển không ngừng Nó thể hiện, diễn đạt tâm tư, suy nghĩ và mong ước của mọi người, mọi thế hệ Đặc biệt là trong thế kỉ XXI, thế kỉ của cuộc cách mạng khoa học và công nghệ hiện đại sẽ mở ra cơ hội tốt đẹp cho sự phát triển toàn diện của đất nước ta

Tiếng Việt là công cụ giao tiếp chính giữa các dân tộc ở Việt Nam Tuy nhiên, ở một số phạm vi sử dụng, có sự "cạnh tranh" giữa tiếng Việt với một số tiếng nước ngoài, đặc biệt là với tiếng Anh Từ đó đã làm ảnh hưởng trực tiếp và gián tiếp đến sự trong sáng của tiếng Việt trong xã hội phát triển hiện nay

Tuy vậy, tiếng Việt luôn luôn có vai trò quyết định trong việc giữ gìn và bảo tồn các di sản văn hóa của mình Những "tranh chấp" mới xuất hiện và cũng là gay gắt nhất của các biến thể mới trong tiếng Việt (kể cả phạm vi phong cách) là giữa xu hướng "quốc tế hóa" và xu hướng "Việt hóa"

Chính vì vậy, nhóm chúng tôi chọn đề tài này là mong muốn trong mỗi chúng ta nên nhận định đúng về ngôn ngữ giao tiếp và đặc biệt là giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt

2 Đối tượng nghiên cứu đề tài

Sự lạm dụng ngôn ngữ nước ngoài trong giao tiếp (cụ thể là tiếng Anh)

3 Kết cấu đề tài

Đề tài gồm 3 phần chính:

Phần A: Cơ sở lý luận về ngôn ngữ giao tiếp

Phần B: Thực trạng của việc lạm dụng ngôn ngữ nước ngoài trong giao tiếp tiếng ViệtPhần C: Giải pháp cho việc lạm dụng ngôn ngữ nước ngoài trong giao tiếp tiếng Việt.Vì đề tài này mới và rộng nên thiếu sót trong quá trình hoàn thành đồ án là khó tránh khỏi Rất mong nhận được ý kiến đóng góp của thầy cô và các bạn

Xin chân thành cám ơn!

Trang 2

NHẬN XÉT CỦA GIẢNG VIÊN

Trang 3

MỤC LỤC LỜI MỞ ĐẦU 1

1 L Y ́ DO CHO ̣ N ĐÊ ̀ TA ̀ I 1

2 Đ Ô ́ I TƯƠ ̣ NG NGHIÊN CƯ ́ U ĐÊ ̀ TA ̀ I 1

3 K Ê ́ T CÂ ́ U ĐÊ ̀ TA ̀ I 1

NHẬN XÉT CỦA GIẢNG VIÊN 2

MỤC LỤC 3

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NGÔN NGỮ GIAO TIẾP 4

1.1 T Ô ̉ NG QUAN VÊ ̀ GIAO TIÊ ́ P 4

1.1.1 K HA ́ I NIÊ ̣ M VÊ ̀ GIAO TIÊ ́ P 4

1.1.2 Chức năng và vai trò của giao tiếp 4

1.1.3 Nguyên tắc trong giao tiếp 5

1.1.4 Phương tiện giao tiếp 7

1.2 N GÔN NGƯ ̃ TRONG GIAO TIÊ ́ P 10

1.2.1 Khái niệm về ngôn ngữ 10

1.2.2 Chức năng và vai trò của ngôn ngữ 10

1.2.3 Phân loại ngôn ngữ 11

1.3 S Ư ̣ HI ̀ NH THA ̀ NH VA ̀ PHA ́ T TRIÊ ̉ N CU ̉ A NGÔN NGƯ ̃ TIÊ ́ NG V IÊ ̣ T 12

1.3.1 Tiếng Việt trong thời kỳ dựng nước 12

1.3.2 Tiếng Việt trong thời kỳ Bắc thuộc và chống Bắc thuộc 12

1.3.3 Tiếng Việt trong thời kỳ độc lập tự chủ 12

1.3.4 Tiếng Việt trong thời kỳ Pháp thuộc 12

1.3.5 Tiếng Việt từ sau Cách mạng Tháng 8 đến nay 12

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG CỦA VIỆC LẠM DỤNG NGÔN NGỮ NƯỚC NGOÀI TRONG GIAO TIẾP TIẾNG VIỆT 13

2.1 S Ư ̣ PHA ́ T TRIÊ ̉ N NGÔN NGƯ ̃ NƯƠ ́ C NGOA ̀ I TA ̣ I V IÊ ̣ T N AM .13

2.1.1 Sự hình thành và thâm nhập của ngôn ngữ nước ngoài trong giao tiếp tiếng Việt 13

2.1.2 Sự thông dụng của tiếng nước ngoài (cụ thể là tiếng Anh) tại Việt Nam 16

2.2 N HƯ ̃ NG ĐÔ ́ I TƯƠ ̣ NG TIÊ ́ P NHÂ ̣ N NGÔN NGƯ ̃ NƯƠ ́ C NGOA ̀ I TRONG GIAO TIÊ ́ P 18

2.2.1 Giới trẻ 20

2.2.2 Giới công sở 21

2.3 N GUYÊN NHÂN DÂ ̃ N ĐÊ ́ N VIÊ ̣ C LA ̣ M DU ̣ NG NGÔN NGƯ ̃ NƯƠ ́ C NGOA ̀ I TRONG GIAO TIÊ ́ P 23

2.3.1 Nguyên nhân khách quan 23

2.3.2 Nguyên nhân chủ quan 23

2.4 Ả NH HƯƠ ̉ NG CU ̉ A NGÔN NGƯ ̃ NƯƠ ́ C NGOA ̀ I TRONG GIAO TIÊ ́ P VA ̀ TA ́ C ĐÔ ̣ NG CU ̉ A NO ́ ĐÊN SƯ ̣ TRONG SA ́ NG CU ̉ A TIÊ ́ NG V IÊ ̣ T 23

2.4.1 Những mặt tích cực của ảnh hưởng tiếng nước ngoài 23

2.4.2 Những mặt trái của việc lạm dụng tiếng nước ngoài 24

2.5 Ý THƯ ́ C VA ̀ VĂN HO ́ A TRONG VIÊ ̣ C SƯ ̉ DU ̣ NG NGÔN NGƯ ̃ TRONG SA ́ NG , KÊ ̉ CA ̉ TIÊ ́ NG V IÊ ̣ T VA ̀ TIÊ ́ NG NƯƠ ́ C NGOA ̀ I 29

CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP CHO VIỆC LẠM DỤNG NGÔN NGỮ NƯỚC NGOÀI TRONG GIAO TIẾP TIẾNG VIỆT 31

3.1 B A ̉ O VÊ ̣ TIÊ ́ NG V IÊ ̣ T BĂ ́ T ĐÂ ̀ U TƯ ̀ NHA ̀ TRƯƠ ̀ NG 31

3.2 G IƯ ̃ GI ̀ N VA ̀ PHA ́ T TRIÊ ̉ N SƯ ̣ TRONG SA ́ NG CU ̉ A TIÊ ́ NG V IÊ ̣ T 31

3.2.1 Về phần của đảng và nhà nước .31

3.2.2 Về phần của toàn dân: 32

KẾT LUẬN 35

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 36

Trang 4

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NGÔN NGỮ GIAO TIẾP

1.1 Tổng quan về giao tiếp

1.1.1 Khái niệm về giao tiếp

Giao tiếp là mối quan hệ qua lại giữa con người với con người, thể hiện sự tiếp xúc tâm lý giữa người và người, thông qua đó con người trao đổi với nhau về thông tin, về cảm xúc, tri giác lẫn nhau, ảnh hưởng tác động qua lại với nhau Hay nói cách khác, giao tiếp là quá trình xác lập và vận hành các quan hệ người- người, hiện thực hoá các quan hệ xã hội giữa chủ thể này với chủ thể khác

Mối quan hệ giao tiếp giữa con người với con người có thể xảy ra với các hình thức khác nhau sau đây:

- Giao tiếp giữa cá nhân với cá nhân

- Giao tiếp giữa cá nhân với nhóm

- Giao tiếp giữa nhóm với nhóm, giữa nhóm với cộng đồng

1.1.2 Chức năng và vai trò của giao tiếp

1.1.2.1 Chức năng thông tin

Trang 5

Qua giao tiếp, con người trao đổi, truyền đạt tri thức, kinh nghiệm với nhau Mỗi cá nhân vừa là nguồn phát thông tin vừa là nơi tiếp nhận thông tin Thu nhận và xử lý thông tin là một con đường quan trọng để phát triển nhân cách.

1.1.2.1 Chức năng cảm xúc

Giao tiếp không chỉ bộc lộ cảm xúc mà còn tạo ra những ấn tượng, những cảm xúc mới giữa các chủ thể Vì vậy giao tiếp là một trong những con đường hình thành tình cảm của con người

- Chức năng nhận thức lẫn nhau và đánh giá lẫn nhau

Trong giao tiếp, mỗi chủ thể tự bộc lộ quan điểm, tư tưởng, thái độ, thói quen… của mình, do đó các chủ thể có thể có nhận thức được về nhau làm cơ sở đánh giá lẫn nhau Điều này quan trọng hơn là trên cơ sở so sánh với người khác và ý kiến đánh giá của người khác, mỗi chủ thể có thể tự đánh giá được về bản thân mình

- Chức năng điều chỉnh hành vi

Trên cơ sở nhận thức lẫn nhau, đánh giá lẫn nhau và tự đánh giá được bản thân, trong giao tiếp, mỗi chủ thể có khả năng tự điều chỉnh hành vi của mình cũng như có thể tác động đến động cơ, mục đích, quá trình ra quyết định và hành động của chủ thể khác

- Chức năng phối hợp hoạt động

Nhờ có quá trình giao tiếp, con người có thể phối hợp hoạt động để cùng nhau giải quyết nhiệm vụ nào đó nhằm đạt tới mục tiêu chung Đây là một chức năng giao tiếp phục vụ các nhu cầu chung của xã hội hay của một nhóm người

Giao tiếp là điều kiện tồn tại của cá nhân và của xã hội loài người, nhu cầu giao tiếp là một trong những nhu xã hội cơ bản xuất hiện sớm nhất của con người

Nhờ giao tiếp, con người gia nhập vào mối quan hệ xã hội, lĩnh hội nền văn hoá xã hội, quy tắc đạo đức, chuẩn mực xã hội, đồng thời nhận thức được chính bản thân mình, tự đối chiếu so sánh với người khác vơí chuẩn mực xã hội, tự đánh giá bản thân mình như một nhân cách để hình thành thái độ giá trị cảm xúc Hay nói một cách khá

đi, qua giao tiếp con người hình thành năng lực tự ý thức

1.1.3 Nguyên tắc trong giao tiếp

Trang 6

1.1.3.1 Hãy tiếp cận với con người ở góc độ không tốt, không xấu:

Không có ai là người hoàn toàn xấu cả Khi đánh giá con người cụ thể chúng ta thường bị những cách nhìn tĩnh tại, xơ cứng, bị định kiến che lấp, ít khi tách ra được

dù chỉ là tương đối đầy đủ những ưu điểm, nhược điểm của họ và lại càng không xác định được giới hạn, hoàn cảnh, diễn biến có thể có của những ưu điểm và nhược điểm

đó Con người cũng dễ bị chi phối bởi qui luật cảm xúc "yêu nên tốt, ghét nên xấu" Kết quả là dễ mắc sai lầm trong giao tiếp Do vậy nguyên tắc đầu tiên trong nghệ thuật ứng xử là hãy tiếp cận với con người ở góc độ không tốt, không xấu

Ở nguyên tắc này, mỗi người có thể tự tìm cho mình một cách ứng xử thành công,

ta tạm chia thành các bước sau:

Bước 1: Hãy thừa nhận (chấp nhận)

Bước 2: Biết lắng nghe ý kiến, tìm ra chỗ mạnh, chỗ yếu của người Thấy cái mạnh, lợi thế của ta (cái ta có mà người không có)

Bước 3: Tạo ra sự đồng cảm, gây niềm tin (hiểu biết lẫn nhau, gây sự tin tưởng)

Bước 4: Tìm điểm chung, mỗi bên đều thấy được cái lợi, cái vui và cách cộng tác, tương lai của sự cộng tác đó

Bước 5: Tạo dư luận ủng hộ, xây dựng mối quan hệ thân tình

1.1.3.2 Lường mọi điều, tính đến mọi khả năng với nhiều phương án:

Nếu trong mỗi con người đều có những giá trị dương (+) (những đức tín tốt, những mặt mạnh, những ưu điểm ) và có cả những giá trị âm (-) (những tính xấu, những mặt yếu, những khuyết điểm ) thì với người này có thể tới 90 (+), có 10 (-) hoặc ở người khác có thể đạt 99 (+) chỉ có 1 (-) Vấn đề là ở chỗ cần phải biết nhìn ra "dấu cộng" trong cả khối "dấu trừ" và phát hiện kịp thời "dấu trừ" trong "vô khối dấu cộng" để có thể dự đoán được tác động có hại của mặt trái "dấu trừ" mà khởi thủy của nó chỉ là một chấm nhỏ rất mờ nhạt trong cả khối "dấu cộng"

Điều quan trọng hơn trong phép ứng xử là tìm ra những chất xúc tác để kích thích phản ứng đổi dấu tích cực xảy ra theo hướng 1 (+) trở thành n (+) và n (-) giảm xuống còn 1 (-)

1.1.3.3 Nắm bắt nghệ thuật theo nhu cầu:

Trang 7

Điều khó nhất trong giao tiếp ứng xử là đối tượng thờ ơ, không có nhu cầu Bạn sẽ ứng xử như thế nào khi đối tượng không muốn nói chuyện, không muốn nghe bạn can ngăn, không muốn hợp tác với bạn v.v ?

- Hãy gợi trí tò mò hoặc cho họ thấy cái lợi, cái vui mà bạn đang có, còn người ấy đang thiếu, đang cần

- Chỉ cho họ bằng cách nào đó, thấy tia hy vọng vào kết quả, gây thiện cảm, tạo sự tin tưởng

- Giao trách nhiệm một cách công khai, tạo ra tình huống chỉ có tiến chứ không có lùi, ràng buộc bằng những sợi dây vô hình về quan hệ nào đó đã được hình thành

- Gây niềm say mê, tìm được ý nghĩa trong cuộc sống, công việc đang tiến hành

- Củng cố niềm tin, thuyết phục về một kết cục tốt đẹp

- Phải tạo ra sự an toàn, biết cách chống đỡ dư luận, tạo dư luận mới ủng hộ

- Tính đến nhiều phương án, chọn phương án hợp với mình nhất, có thể tạo ra những vấp ngã nhỏ để luyện tập bản lĩnh, chủ động đề phòng tính tự kiêu

Trong những trường hợp cụ thể đòi hỏi mọi người phải biết ứng biến và điều quan trọng hơn là hãy tìm cho được sơ đồ đi tới thành công riêng của mình

1.1.4 Phương tiện giao tiếp

Giao tiếp là một quá trình xã hội thường xuyên bao gồm các ứng xử rất đa dạng và phong phú, thể hiện qua ngôn ngữ nói và viết: qua nét mặt, cử chỉ, tư thế, giọng nói, trang phục, cách sử dụng không gian trong giao tiếp… Đó là một hệ thống toàn vẹn, không có sự tách rời giữa biểu hiện ngôn ngữ và phi ngôn ngữ trong giao tiếp Các phương tiện giao tiếp là cách thức để biến những mục đích giao tiếp thành hiện thực trong thực tế

1.1.4.1 Phương tiện giao tiếp bằng ngôn ngữ

Ngôn ngữ là phương tiện giao tiếp chủ yếu của con người Bằng ngôn ngữ, con người có thể truyền đi bất cứ lại thông tin nào, như diễn tả tình cảm, ám chỉ, miêu tả

sự vật Nó dựa vào các yếu tố:

Trang 8

- Nội dung ngôn ngữ: nghĩa của ngôn ngữ có hai hình thức để tồn tại là: Khách quan

và chủ quan Hiểu được cá nhân là cơ sở tạo nên sự đồng điệu trong giao tiếp, còn được gọi là khả năng đồng cảm

- Tính chất của ngôn ngữ: Gồm nhịp điệu, âm điệu, ngữ điệu… Có vai trò hết sức

quan trọng trong giao tiếp, nó tạo lời thế cho ta để giao tiếp được thành công Điệu bộ khi nói sẽ phụ học theo lời nói để giúp thêm nghĩa cho nó Tuy nhiên điệu bộ phải phù hợp với phong tục tập quán, nền văn hóa, do đó đừng gò ép mình bằng cách bắt chước điệu bộ của người khác, vì điệu bộ tự nhiên là đáng yêu nhất

Giao tiếp ngôn ngữ là sự giao tiếp được tiến hành thông qua hệ thống tín hiệu thứ hai: lời nói và chữ viết

Đây là hình thức giao tiếp đặc trưng cơ bản nhất trong hệ thống giao tiếp xã hội bởi

nó có những chức năng: chức năng thông báo, chức năng diễn cảm và chức năng tác động

Giao tiếp ngôn ngữ có thể được biểu hiện qua nhiều hình thức Trong giao tiếp, tùy vào đối tượng, mục đích, hoàn cảnh… mà người ta sử dụng các hình thức biểu đạt ngôn ngữ khác nhau Theo như cách chia của trường phái Palo Alto thì có giao tiếp chỉ định và giao tiếp loại suy; hay bác sỹ Nguyễn Khắc Viện thì lại gọi là giao tiếp nói chỉ (chỉ định) và giao tiếp nói ví (loại suy) Trong tiếng Việt tương ứng với cách gọi như trên ta còn có thể gọi là hiển ngôn và hàm ngôn

1.1.4.2 Phương tiện giao tiếp bằng phi ngôn ngữ

Là tất cả các kích thích bên ngoài và tâm lí bên trong của con người không phải là lời nói và chữ viết, bao gồm sự chuyển động của thân thể, các đặc điểm của cơ thể được biểu lộ ra ngoài, các đặc điểm giọng nói và sự sử dụng không gian và thời gian.Nghiên cứu phương tiện giao tiếp phi ngôn ngữ rất quan trọng, nó giúp ta nhạy cảm hơn trong giao tiếp

- Ngôn ngữ cơ thể

Trang 9

- Đặc điểm cơ thể

những đặc điểm thay đổi đượcnhuw tóc, râu, trang điểm trang sức

tiếp

- Tư thế: Nó liên quan mật thiết với vai trò vị trí xã hội của cá nhân, thông thường một cách vô thức, nó bộc lộ cương vị xã hội mà cá nhân đảm nhận

- Giọng nói: Là nhịp điệu, âm thanh, ngữ điệu được sử dụng khi nói để thể hiện mối quan hệ tâm trạn, suy nghĩ của người nói đồng thời tạo tâm lí thoải mái và hứng thú cho người nghe

- Khoảng cách: Là phương tiện để bộc lộ mối quan hệ tình cảm giữa các bên với nhau

Có 4 khoảng cách giao tiếp

Trang 10

• Những phụ kiện đi kèm trong quá trình giao tiếp thể hiện phong cách của người giao tiếp.

đều mang những thông điệp xác định

Tóm lại, các phương tiện giao tiếp phi ngôn ngữ chịu ảnh hưởng rất lớn của các yếu tố văn hóa, đặc điểm dân tộc, phong tục, tập quán

1.2 Ngôn ngữ trong giao tiếp

1.2.1 Khái niệm về ngôn ngữ

Giống như các phạm trù khác, ngôn ngữ cũng có rất nhiều khái niệm:

- Ngôn ngữ là hệ thống tín hiệu quan trọng và độc đáo nhất trong giao tiếp của loài người; là phương tiện để biểu hiện và phát triển tư duy, bảo lưu và chuyển giao có hiệu lực nhất các truyền thống lịch sử - văn hoá của một dân tộc

- Ngôn ngữ là một loại hệ thống tín hiệu bao gồm mặt hình thức và mặt nội dung

- Ngôn ngữ là âm thanh có ý nghĩa và hệ thống mà loài người dùng để liên lạc, cảm thông và diễn đạt tư tưởng với nhau

Tóm lại: Ngôn ngữ có thể được hiểu là hệ thống những âm, những từ và những quy tắc kết hợp chúng mà những người trong cùng một cộng đồng dùng làm phương tiện để giao tiếp với nhau

1.2.2 Chức năng và vai trò của ngôn ngữ

hóa từ xưa đến nay

tượng có chung thuộc tính bản chất

đẩy và điều chỉnh hoạt động của con người

Ngôn ngữ là một trong những yếu tố quan trọng trong quá trình hình thành và phát triển loài người, làm cho đời sống tâm lý con người khác xa về chất so với con vật

Trang 11

1.2.3 Phân loại ngôn ngữ

1.2.3.1 Ngôn ngữ bên ngoài

Ngôn ngữ bên ngoài là thứ ngôn ngữ hướng vào người khác, được dùng để truyền đạt và tiếp thu tư tưởng, ý nghĩ Ngôn ngữ bên ngoài bao gồm hai loại: Ngôn ngữ nói và ngôn ngữ viết

- Ngôn ngữ nói

Là ngôn ngữ hướng vào người khác, có người nói và có người nghe

để nói

với nhau, hoặc cùng chung một chủ đề gì đó

tầng nghĩa,…Câu ngắn hoặc các câu tỉnh lược vì trong khi nói người nói có thể chỉnh sửa được

Ngôn ngữ độc thoại: là loại ngôn ngữ mà trong đó một người nói và những người khác nghe

Ngôn ngữ đối thoại: là ngôn ngữ diễn ra giữa hai hay một số người khác nhau

- Ngôn ngữ viết

Là ngôn ngữ được thể hiện bằng các kí hiệu chữ viết và được tiếp nhận bằng cơ quan thị giác Ngôn ngữ viết cần chính xác, tuân thủ đầy đủ các nguyên tắc ngữ pháp, cấu trúc câu, chính tả và logic

không phải trực tiếp mặt đối mặt

môn cao

Trang 12

1.2.3.2 Ngôn ngữ bên trong

Là ngôn ngữ cho mình, hướng vào chính mình giúp con người suy nghĩ được, tự điều chỉnh, tự giáo dục Ngôn ngữ bên trong không phải là phương tiện giao tiếp

1.3 Sự hình thành và phát triển của ngôn ngữ tiếng Việt.

1.3.1 Tiếng Việt trong thời kỳ dựng nước

Thời kỳ này, tiếng Việt chưa có thanh điệu, còn có hai âm tiết ( 1 mờ 1 rõ ) còn đậm nét Nam Á, chưa phân hoá thành hai tiếng Việt và Mường

1.3.2 Tiếng Việt trong thời kỳ Bắc thuộc và chống Bắc thuộc

Tiếng Việt và tiếng Mường bắt đầu phân hoá, tiếng Việt chịu ảnh hưởng mạnh mẽ của tiếng Hán về các mặt ngữ âm, từ vựng và cả ngữ pháp, các thanh điệu tăng lên gấp đôi

1.3.3 Tiếng Việt trong thời kỳ độc lập tự chủ

Thời kỳ này một hệ thống chữ viết đã được xây dựng nhằm ghi lại tiếng Việt

Đó là chữ Nôm Tiếng Việt thời kỳ này đã rất giống với tiếng Việt hiện đại, cặp âm tiết mờ và rõ đã biến mất, xuất hiện nhóm phụ âm đầu bl, ml, tl…

1.3.4 Tiếng Việt trong thời kỳ Pháp thuộc

Dưới thời Pháp thuộc, ngôn ngữ hành chính, ngoại giao, giáo dục lúc này là tiếng Pháp nhưng tiếng Việt vẫn không ngừng tự khẳng định mình Tiếng Việt ngày càng

tỏ rõ tính năng động và tiềm năng phát triển dồi dào

1.3.5 Tiếng Việt từ sau Cách mạng Tháng 8 đến nay

Sau cách mạng tháng Tám, tiếng Việt đã trở thành một ngôn ngữ văn hoá phát triển, được mở rộng chức năng xã hội Bên cạnh là công cụ giao tiếp chung của người Việt và các dân tộc anh em trong nước, tiếng Việt còn làm công cụ giáo dục

và hoạt động của nhà nước trên mọi lĩnh vực

Hiện nay, khi nhân loại đã bước sang thế kỉ XXI, với sự phát triển như vũ bão của khoa học-công nghệ thì việc sử dụng các ngôn ngữ nước ngoài vào ngôn ngữ giao tiếp đã ảnh hưởng đến phần nào sự trong sáng của tiếng Việt

Trang 13

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG CỦA VIỆC LẠM DỤNG NGÔN NGỮ

NƯỚC NGOÀI TRONG GIAO TIẾP TIẾNG VIỆT2.1 Sự phát triển ngôn ngữ nước ngoài tại Việt Nam

2.1.1 Sự hình thành và thâm nhập của ngôn ngữ nước ngoài trong giao tiếp tiếng Việt

2.1.1.1 Sự thâm nhập từ miền nam Trung Hoa

Tiếng Việt là ngôn ngữ dùng trong sinh hoạt giao tiếp của dân thường từ khi lập quốc Có 6 âm sắc chính là: ngang, sắc, huyền, hỏi, ngã, nặng Bắt đầu từ khi Trung Quốc có ảnh hưởng tới Việt Nam, tiếng Việt có rất nhiều âm mà không có trong tiếng Trung Hoa; "đ" Trong quá trình phát triển đã du nhập thêm những từ ngữ Hán cổ như đầu, gan, ghế, ông, bà, cậu , từ đó hình thành nên hệ thống Hán-Việt trong tiếng Việt bằng cách đọc các chữ Hán theo ngữ âm hiện có của tiếng Việt (tương tự như người Nhật Bản áp dụng kanji đối với chữ Hán và katakana với các tiếng nước ngoài khác)

Số lượng từ vựng tiếng Việt có thêm hàng loạt các yếu tố Hán-Việt Như là tâm, minh, đức, thiên, tự do giữ nguyên nghĩa chỉ khác cách đọc; hay thay đổi vị trí như nhiệt náo thành náo nhiệt, thích phóng thành phóng thích Hoặc được rút gọn như thừa trần thành trần (trong trần nhà), lạc hoa sinh thành lạc (trong củ lạc, còn gọi là đậu phộng) ; hay đổi khác nghĩa hoàn toàn như phương phi trong tiếng Hán có nghĩa là

"hoa cỏ thơm tho" thì trong tiếng Việt lại là "béo tốt", bồi hồi trong tiếng Hán nghĩa là

"đi đi lại lại" sang tiếng Việt thành "bồn chồn, xúc động" Đặc biệt là các yếu tố Hán-Việt được sử dụng để tạo nên những từ ngữ đặc trưng chỉ có trong tiếng Việt, không có trong tiếng Hán như là các từ sĩ diện, phi công (dùng 2 yếu tố Hán-Việt) hay bao gồm, sống động (một yếu tố Hán kết hợp với một yếu tố thuần Việt) Nói chung tỉ

Trang 14

lệ vay mượn tiếng Hán trong tiếng Việt rất lớn (khoảng 50%) nhưng đại đa số những

từ đó đều đã được Việt hóa cho phù hợp với nhận thức của người Việt

Tiếng Việt gọi là "thủ tướng" nhưng tiếng Hoa là "tổng lý"; tiếng Việt là "truyền hình" thì tiếng Hoa là "điện thị"; tiếng Việt là "thành phố" thì tiếng Hoa là "đô thị" Những chữ thủ tướng, truyền hình, thành phố hoàn toàn là Hán Việt nhưng người Hoa tuyệt nhiên không dùng Do vậy tiếng Việt dù vay mượn tiếng Hán nhưng giữ được bản sắc riêng của mình trước ảnh hưởng của văn hóa Hán, trong khi lợi dụng được những thành tựu ngôn ngữ trong tiếng Hán để tự cải tiến mình

Kể từ đầu thế kỷ thứ 11, Nho học phát triển, việc học văn tự chữ Nho được đẩy mạnh, tầng lớp trí thức được mở rộng tạo tiền đề cho một nền văn chương của người Việt bằng chữ Nho cực kỳ phát triển với cái áng văn thư nổi tiếng như bài thơ thần của

Lý Thường Kiệt bên sông Như Nguyệt (sông Cầu) Cùng thời gian này, một hệ thống chữ viết được xây dựng riêng cho người Việt theo nguyên tắc ghi âm tiết được phát triển, và đó chính là chữ Nôm Nhờ có chữ Nôm, văn học Việt Nam đã có những bước phát triển rực rỡ nhất, đạt đỉnh cao với Truyện Kiều của Nguyễn Du Tiếng Việt, được thể hiện bằng chữ Nôm ở những thời kỳ sau này về cơ bản rất gần với tiếng Việt ngày nay Tuy hầu hết mọi người Việt đều có thể nghe và hiểu văn bản bằng chữ Nôm, chỉ những người có học chữ Nôm mới có thể đọc và viết được chữ Nôm

Chữ Nôm được chính thức dùng trong hành chính khi vua Quang Trung lên ngôi vào năm 1789

2.1.1.2 Ảnh hưởng từ Pháp

Tiếng nói là một hoạt động thuộc phạm vi giao tiếp của con người Nó góp phần làm nên bản sắc của dân tộc, phân biệt dân tộc này với dân tộc khác Nó là mối liên hệ giữa con người với dân tộc Thông qua tiếng nói của mình con người thấy lại cả được quá khứ của cha ông mình, dân tộc mình Bởi tiếng nói dân tộc là nơi ghi lại, nơi phản ánh những tri thức, kinh nghiệm và hiểu biết của các thế hệ cha ông từ ngàn đời Theo Hum-bôn, "Ngôn ngữ là linh hồn của dân tộc và linh hồn của dân tộc chính là ngôn ngữ." "Khi một dân tộc rơi vào vòng nô lệ, chừng nào họ vẫn giữ tiếng nói của mình thì chẳng khác gì nắm được chìa khóa chốn lao tù" (Trích "Buổi học cuối cùng" của nhà văn Pháp An-phông-xơ Đô-đê) Hiểu biết về cơ bản vai trò của tiếng nói dân tộc như thế, ta có thể có những cảm nhận tinh tế hơn về trái tim khắc khoải lo âu của nhà

Trang 15

yêu nước Nguyễn An Ninh về tiếng mẹ đẻ, mà ở đây không thể không kể đến sự phê phán của ông với hiện tượng lai căng, học đòi theo lối "Tây hóa" những năm đầu thế kỉ

XX, giai đoạn thực dân Pháp ráo riết tiến hành chia để trị nước ta

Kể từ khi Pháp xâm lược Việt Nam vào nửa cuối thế kỷ thứ 19 – đầu thế kỉ XX, tiếng Pháp dần dần thay thế vị trí của chữ Nho như là ngôn ngữ chính thức trong giáo dục, hành chính và ngoạ giao Chữ Quốc ngữ, vốn được tạo ra bởi một số nhà truyền giáo Tây phương, đặc biệt là linh mục Alexandre de Rhodes (tác giả cuốn Từ điển Việt-Bồ-La và Ngữ pháp tiếng An Nam năm 1651), với mục đích dùng ký tự Latinh để biểu diễn tiếng Việt, ngày càng được phổ biến, đồng thời chịu ảnh hưởng bởi những thuật ngữ, từ ngữ mới của ngôn ngữ Tây phương (chủ yếu là từ tiếng Pháp) như phanh, lốp, găng, pê đan và tiếng Hán như chính đảng, kinh tế, giai cấp, bán kính

Tờ Gia Định báo là tờ báo đầu tiên được phát hành bằng chữ Quốc Ngữ vào năm

1865, khẳng định sự phát triển và xu hướng của chữ Quốc Ngữ như là chữ viết chính thức của nước Việt Nam độc lập sau này

2.1.1.3 Thời kỳ 1945 cho đến nay

Chữ Quốc Ngữ là chữ ghi âm, chỉ sử dụng 27 ký tự Latin và 6 dấu thanh, đơn giản, tiện lợi và có tính khoa học cao, dễ học, dễ nhớ, thông dụng; thay thế hoàn toàn tiếng Pháp và tiếng Hán vốn khó đọc, khó nhớ, không thông dụng với người Việt

Trong thời kỳ đất nước chia cách sau Hiệp định Genève, sự phát triển tiếng Việt giữa miền Bắc và miền Nam có chiều hướng khác nhau Vì lý do chính trị và kinh tế, chính quyền miền Bắc có mối quan hệ sâu xa với Trung Quốc, và sự hiện diện của các chuyên viên nhân sự Trung Quốc đưa nhiều từ Bạch Thoại (ngôn ngữ nói của Trung Quốc) vào ngữ vựng tiếng Việt Những từ này thường có gốc Hán-Việt, nhưng thường đổi ngược thứ tự hay có nghĩa mới Tại miền Nam, sự hiện diện của quân đội Hoa Kỳ

Tuy nhiên, trong giai đoạn Chiến tranh Việt Nam thì miền Bắc có xu hướng sử dụng từ thuần Việt và miền Nam lại có khuynh hướng sử dụng từ Hán-Việt Ví dụ như miền Nam vẫn giữ tên "Ngân hàng Quốc gia" trong khi miền Bắc đổi thành "Ngân hàng Nhà Nước" (1960), miền Nam lại gọi là "phi trường" thì miền Bắc gọi là "sân bay", miền Nam gọi là "Ngũ Giác Đài" thì miền Bắc gọi là "Lầu Năm Góc", miền Nam gọi là "Đệ nhất Thế chiến" thì miền Bắc kiên quyết gọi là "Chiến tranh thế giới

Trang 16

lần thứ nhất", miền Nam gọi là "hỏa tiễn" thì miền Bắc lại gọi là "tên lửa", miền Nam vẫn gọi là "phi công" còn miền Bắc lại đổi thành "người lái máy bay", "giặc lái" (theo

ý Hồ Chí Minh), miền Nam vẫn gọi là "thủy quân lục chiến" còn miền Bắc lại đổi thành "lính thủy đánh bộ" Ngược lại danh từ miền Bắc như "tham quan", "sự cố",

"nhất trí", "đăng ký", "đột xuất", "vô tư" v.v thì miền Nam dùng những chữ "thăm viếng", "trở ngại/trục trặc", "đồng lòng", "ghi tên", "bất ngờ", "thoải mái" Các từ có gốc phương Tây, miền Nam có khuynh hướng biến đổi thành từ Hán Việt, như Băng đảo, Úc Đại Lợi, Hung Gia Lợi còn miền Bắc có khuynh hướng phiên âm ra thành Ai-xơ-lan, Ơxtrâylia, Hung-ga-ri

Sau khi thống nhất vào năm 1975, quan hệ Bắc Nam được kết nối lại Gần đây, sự phổ biến của các phương tiện truyền thanh và truyền hình trên toàn quốc đã làm tiếng Việt được chuẩn hóa một phần nào Nhiều từ thuần Việt được sử dụng phổ biến thay cho từ Hán Việt, cũng như với sự tiến triển của internet và toàn cầu hóa, nhiều từ nước ngoài được dùng theo đúng ngôn ngữ gốc

2.1.2 Sự thông dụng của tiếng nước ngoài (cụ thể là tiếng Anh) tại Việt Nam.

Gia nhập tổ chức thương mại thế giới WTO, Việt Nam đứng trước nhiều cơ hội giao lưu, học hỏi với những nền kinh tế, văn hóa trên thế giới nhưng cũng không ít thách thức Một trong những thách thức đó là làm sao vẫn giữ nguyên vẹn được nền văn hóa truyền thống, không bị ảnh hưởng, pha trộn với nền văn hóa khác trong quá trình hội nhập

Hội nhập thì ngoại ngữ, đặc biệt là những ngôn ngữ thông dụng quốc tế như tiếng Anh là một đòi hỏi tất yếu, sử dụng ngoại ngữ trong giao tiếp ngày một cần thiết hơn Xong việc lạm dụng ngoại ngữ, sử dụng ngoại ngữ không đúng lúc, đúng chỗ đã và đang làm mất đi tính thuần khiết vốn có của Tiếng Việt

Trang 17

Như chúng ta đã thấy, Anh ngữ ngày nay được xem như một sinh ngữ quốc tế được nhiều người sử dụng và giảng dạy như một ngôn ngữ thứ hai trong nhiều quốc gia trên thế giới Việc sử dụng Anh ngữ như một ngôn ngữ chung cho toàn cầu ngày càng tăng trưởng và đã trở thành một tiện ích Nó mang lại sự cảm thông trong sinh hoạt toàn cầu không những trong các lĩnh vực thông tin, truyền thông, liên mạng mà cả ở những lãnh vực giáo dục, kinh tế, thương mại, nghiên cứu, âm nhạc, du lịch, cũng như các hoạt động tôn giáo, chính trị hay văn hóa khác.

Trong nền kinh tế thị trường, Việt Nam là một nước mới phát triển Các nước tiên tiến mang tài chính và nhân lực vào Việt Nam để đầu tư nên nhu cầu học và hiểu tiếng Anh như một nhịp cầu thông cảm cần thiết hơn bao giờ Thêm nữa, vì phải mở cửa ngành du lịch, Việt Nam cần phải nói và viết Anh Ngữ thông thạo, ngỏ hầu phục vụ tinh thần giao tiếp cho thật hữu hiệu Để chạy cho kịp bánh xe tiến hoá toàn cầu, Việt Nam đã du nhập tiếng Anh vào nước như một nhu cầu thiết yếu Sự ưa chuộng và sử dụng tiếng Anh cho nhuần nhuyễn của người Việt như một hấp lực mạnh mẽ đưa đến một việc lạm dụng không thể tránh Hậu quả là nhiều thứ tiếng Anh-Việt thời thượng lai tạp ra đời

Người Việt trong thói quen ứng xử rất thích dùng phương pháp tiện và lợi Tiếng Việt là tiếng đơn âm tiết không như tiếng Anh là tiếng đa âm tiết nên muốn tạo từ mới phương pháp ghép chữ là một phương pháp khả thi Do đó chúng ta hay ghép tắt các

từ vào với nhau, như “điều nghiên” là từ ghép của “điều tra và nghiên cứu” Để tân tiến hơn, tiếng Anh được mang vào ngôn ngữ hàng ngày và bỗng nhiên những từ lắp ghép Anh Việt trở thành thông dụng Nhất là giới trẻ, việc học và dùng tiếng Anh đã biến thành phong trào Khắp nước đi tới đâu ta cũng thấy thứ tiếng Việt pha tạp mà Việt kiều hay dùng, gọi là tiếng ba rọi Trong công sở, ngoài xã hội, trên truyền hình, các trang mạng, face book hay blog, đâu đâu cũng có

Người Việt đã tỏ ra ứng xử ngôn ngữ rất nhanh nhạy trước giai đoạn đổi mới khi đối đầu với lượng ngoại ngữ quá lớn từ bên ngoài ồ ạt đổ vào Chưa bao giờ tiếng Việt phát triển cực độ như bây giờ Kho tàng từ vựng của ngôn ngữ Việt Nam ngày một dồi dào thêm và du nhập về những “tiếng lạ” do nhu cầu giao tiếp cùng người ngoại quốc Học tiếng nước người không những chúng ta học từ vựng, ngữ pháp, cách đặt câu, cách viết bài mà chúng ta còn học cả văn hoá của ngôn ngữ đó nữa

Trang 18

Trong việc chuyển ngữ, dịch từ tiếng Anh sang tiếng Việt đã khó, dịch từ tiếng Việt sang Anh còn khó hơn Nó đòi hỏi người thông dịch phải thật giỏi cả hai ngôn ngữ mà còn cần có kinh nghiệm sống dồi dào trên đất nước của hai ngôn ngữ được sử dụng để hiểu cách dùng cho nhuần nhuyễn.

Tiếng Việt hết sức phong phú, và người Việt Nam hoàn toàn có thể dùng thuần tiếng Việt để diễn đạt Đã đến lúc mỗi người Việt Nam cần ý thức về văn hóa giao tiếp nói chung và ý thức về việc gìn giữ tính thuần khiết và phong phú của Tiếng Việt Có như vậy thì đất nước mới thật sự hội nhập, phát triển nhưng không bị suy thoái một nền văn hóa 4000 năm Ngôn ngữ cũng như văn hoá nói chung có sự giao thoa và ảnh hưởng lẫn nhau Có sự “mượn”, du nhập; song, cũng có thể có cả sự thôn tính (tự nhiên hoặc áp đặt) Đừng bảo thủ khiến ngôn ngữ của mình trở nên nghèo nàn, trì trệ; nhưng cũng đừng vô tình tiếp tay cho sự “xâm thực” và xa hơn, có thể là sự thôn tính Giao tiếp và ngôn ngữ sử dụng trong giao tiếp là một nét văn hóa nằm trong tổng thể văn hóa Việt Nam nói trên Dù hội nhập ở mức độ nào thì việc phải gìn giữ vẻ đẹp, sự trong sáng, thuần khiết của tiếng Việt trong giao tiếp vẫn rất quan trọng, bởi tiếng Việt

là bản sắc riêng có của dân tộc ta

2.2 Những đối tượng tiếp nhận ngôn ngữ nước ngoài trong giao tiếp

Hiện nay trong xu thế hội nhập quốc tế, nhất là khi Việt Nam chính thức trở thành thành viên của WTO và là thành viên không thường trực của Hội đồng bảo an liên hợp quốc, tiếng Việt càng có nhiều thuận lợi để phát triển nhanh chóng và mạnh mẽ, đặc biệt là ở hệ thống từ vựng của nó, bộ phận năng động và nhạy cảm nhất Nó tiếp tục đóng vai trò quan trọng trong việc cấu tạo một xã hội nông nghiệp thành một xã hội công nghiệp hiện đại

Tiếng Việt là cơ sở để "du nhập" những từ ngữ, khái niệm mới ở Việt Nam, nhất là trong các ngành khoa học và công nghệ đóng vai trò then chốt trong việc tạo lập các

hệ thống thuật ngữ khoa học trong công tác giáo dục ở các cấp học từ phổ thông đến đại học, nâng cao dân trí và truyền bá tri thức

Tuy nhiên, chúng ta đang đứng trước tình hình là "sự ô nhiễm môi trường ngôn ngữ dân tộc" do tiếng Việt phải cạnh tranh với sự phổ biến mạnh mẽ của các ngoại ngữ trong thời kì hội nhập, nhất là tiếng Anh Chưa bao giờ, trong lịch sử văn hóa, học thuật Việt Nam, số lượng người theo học ngoại ngữ lại ồ ạt như hiện nay Điều này đã

Ngày đăng: 12/08/2014, 19:27

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w