1. Trang chủ
  2. » Tài Chính - Ngân Hàng

Đề án Lạm phát và các vấn đề liên quan

54 256 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 54
Dung lượng 792,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đó là do khi lạm phát tăng cao nhưng tiền lương không tăng hoặc tăng chậm hơn so với mức độ lạm phát nên các chủ doanh nghiệp sẽ được lợi trong quá trình bán hàng, họ sẽ nhận được lượng

Trang 1

LỜI MỞ ĐẦU

Trong quá trình hội nhập quốc tế như hiện nay mỗi nước sẽ có kết cấu sản

nghiệp, cơ cấu kinh tế, trình độ phát triển khác nhau nên cũng sẽ phải đối mặt với nhiều thách thức, khó khăn khác nhau trong quá trình phát triển kinh tế nhưng một trong những khó khăn lớn nhất mà các quốc gia đều phải đối mặt đó là vấn đề lạm phát Trong lịch sử, đã cho thấy nhiều quốc gia rơi vào vòng xoáy của lạm phát cao không thể kiểm soát được mà hậu quả kéo theo là một sự sụt giảm kinh tế và tình trạng mất ổn định chính trị trong nước Lạm phát là quá trình tăng lên giá cả của các loại hàng hóa, sự mất giá của tiền tệ, mọi thứ đều trở nên khan hiếm trừ tiền Lạm phát chính là vấn đề quan tâm của mọi nước, mọi nền kinh tế và Việt Nam cũng không phải là ngoại lệ.

Sau khi tiến hành cải cách vào năm 1986, đặc biệt việc gia nhập tổ chức thương

mại thế giới WTO vào ngày 1/1/2007, Viêt Nam đã có những bước tiến nhanh chóng

về phát triển kinh tế như tốc độ tăng trưởng GDP trung bình đạt trên 7%/năm và vào năm 2007 đạt mức 8,5%/năm,có nền chính trị ổn định lại nằm trong khu vực đang có tốc độ tăng trưởng cao nhất thế giới nên Việt Nam đang là điểm đến đầy hứa hẹn của các nhà đầu tư Tuy vậy, bên cạnh tốc độ tăng trưởng nhanh chóng, Việt Nam vẫn đang gặp phải vô vàn khó khăn trong quá trình hội nhập và phát triển Và một trong những khó khăn lớn nhất mà Việt Nam phải đối mặt đó chính là tình trạng lạm phát Lạm phát có tác động đến hầu hết các lĩnh vực trong nền kinh tế, nó vừa có thể giúp thúc đẩy sự phát triển của nền kinh tế nhưng cũng có thể gây ảnh hưởng xấu đến toàn

bộ nền kinh tế quốc dân, đến đời sống xã hội, đặc biệt là giới lao động Ở nước ta hiện nay chống lạm phát, giữ vững nền kinh tế phát triển ổn định, cân đối là một mục tiêu rất quan trọng trong phát triển kinh tế - xã hội và nâng cao đời sống nhân dân.

Việt Nam đã trải qua những khoản thời gian mà lạm phát trở thành vấn đề cực kỳ nghiêm trọng đó là vào những năm 1987 (lạm phát đến 700% - 1000% một năm), hiện nay dù không trầm trọng như năm 1987 nhưng cũng đã ở mức 2 con số vào năm

2007, 2008 gây ảnh hưởng tiêu cực đến phát triển sản xuất và đời sống nhân dân,

Trang 2

nhất là tầng lớp nhân dân lao động, đe dọa tính ổn định của nền kinh tế vĩ mô, tác động không tốt đến môi trường kinh doanh đã và đang làm đau đầu các nhà làm chính sách khi đưa ra các quyết định về kinh tế - xã hội.

Chính vì những lẽ đó và để có thể tìm hiểu một cách thấu đáo, sâu sắc hơn về lạm

phát Việt Nam hiện nay em đã lựa chọn đề tài:" Tình hình lạm phát Việt Nam trong giai đoạn 2005-2010".

Mục đích nghiên cứu của đề tài này nhằm để hiểu rõ hơn và sâu sắc hơn về những

lý luận cơ bản của lạm phát và từ đó có cái nhìn chính xác và đúng đắn hơn về thực trạng của tình hình lạm phát của Việt Nam trong giai đoạn 2005 – 2010.

Nội dung của đề án được kết cấu thành 3 phần :

Chương 1 : Những vấn đề lý luận cơ bản về lạm phát.

Chương 2 : Thực trạng lạm phát Việt Nam trong giai đoạn 2005 – 2010 Chương 3 : Kết luận.

Trong quá trình nghiên cứu đề tài này,dù đã nỗ lực hết mình nhưng vẫn không thể tránh khỏi những sai sót Vậy em rất mong có sự đóng góp của các thầy cô về đề tài nhằm hoàn thiện tốt hơn nữa đề tài nghiên cứu Em xin chân thành cám ơn cô Võ Thị Thúy Anh đã hướng dẫn em tận tình trong quá trình thực hiện đề tài này.

Đà Nẵng, ngày 20 tháng 12 năm 2010

Trang 3

CHƯƠNG I: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ

Trong bộ "Tư bản" nổi tiếng của mình C.Mác đã nêu lên quy luật lưu thông tiền tệ Quy luật đó là: " Việc phát hành tiền giấy phải được giới hạn trong số

lượng vàng (hay bạc) do tiền giấy đó tượng trưng, lẽ ra phải lưu thông thực sự" Khi khối lượng tiền giấy do nhà nước phát hành và lưu thông vượt quá khối lượng tiền cần cho lưu thông, thì giá trị của tiền tệ sẽ bị giảm xuống, tình trạng lạm phát sẽ xuất hiện

Theo định nghĩa của V.I.Lênin: Dựa trên quan điểm của C.Mác nhưng Lênin

lại lập luận rằng sở dĩ khối lượng tiền tệ lưu thông tăng lên là do nhà cầm quyền phát hành tiền để thỏa mãn nhu cầu chi tiêu chính phủ cũng như bộ máy nhà nước

Vậy lạm phát theo quan điểm của Lênin là sự gia tăng khối lượng tiền tệ do sự phát hành thêm tiền của bộ máy nhà nước

Theo quan điểm của Paul Samuelson thì cho rằng "lạm phát xảy ra khi mức

chung của giá cả và chi phí tăng – giá bánh mì ,dầu xăng ,xe ô tô tăng ,tiền lương ,giá đất, tiền thuê tư liệu sản xuất tăng “.Ông thấy rằng lạm phát chính là biểu thị sự tăng lên của giá cả

Trang 4

Quan điểm đối lập của Milton Friedman và quan điểm của các nhà kinh tế thuộc trường phái Keneys

Chống lại quan điểm lạm phát của các nhà kinh tế theo trường phái Keneys, Friedman đã đưa ra các bằng chứng ủng hộ thuyết lượng tiền tệ (quaility theory of money) xuất bản năm 1956 Ông cho rằng nếu tăng cung tiền sẽ làm tăng mặt bằng giá hay nói rõ hơn về lâu dài tăng tiền sẽ làm tăng giá các loại mặt hàng khiến mặt bằng giá mới sẽ được thiết lập và sẽ không làm tăng sản lượng Tuy về ngắn hạn nó có ảnh hưởng như thuyết Keneys là giúp tăng sản lượng nhưng trong dài hạn lại làm giảm sản lượng do giá đã thiết lập mặt bằng mới Friedman cho rằng ngân hàng trung ương đều đặn tăng cung tiền cùng với mức độ tăng (theo giá cố định) thì lạm phát sẽ biến mất Friedman cho rằng nguyên nhân của cuộc đại khủng hoảng kinh tế năm 1929 là do sai lầm của ngân hàng trung ương trong việc siết chặt tiền tệ quá mức làm thiếu hụt lượng

cung vốn cho thị trường được đề cập đến trong cuốn Money History Of United States

xuất bản năm 1963

Vào giai đoạn 1960 – 1970, lý thuyết Keneys về vai trò chi phối nhà nước trong nền kinh tế thị trường thông qua ngân sách chi (sách giáo khoa Economics của Paul Samuelson từ ấn bản năm 1960 đến năm 1985) Ông cho rằng có sự đánh đổi giữa lạm phát và tình trạng thất nghiệp Nếu một đất nước có tốc độ phát triển cao, tỉ lệ thất nghiệp thấp thì phải chấp nhận mức lạm phát cao, còn ngược lại muốn lạm phát thấp thì phải chấp nhận thất nghiệp cao Vậy đâu là lý do khiến giá tăng cao mà sản xuất phát triển Đó là do khi lạm phát tăng cao nhưng tiền lương không tăng hoặc tăng chậm hơn so với mức độ lạm phát nên các chủ doanh nghiệp sẽ được lợi trong quá trình bán hàng, họ sẽ nhận được lượng lợi tức cao hơn và có nhiều vốn hơn để

mở rộng sản xuất nhưng Friedman lại cho rằng người dân sẽ không "ngu lâu", khi lạm phát tăng cao sức mua của đồng lương giảm xuống người dân sẽ đòi hỏi lương cao hơn khiến chi phí sản xuất tăng cao hơn trong khi cầu vẫn không đổi gây ra tình trạng nền kinh tế vừa suy thoái, vừa lạm phát cao do nguyên nhân chi phí đẩy (nước Anh năm 1979 đã áp dụng chính sách kinh tế của Friedman để giả quyết tình trạng vừa lạm phát vừa suy thoái lúc đó)

Trang 5

Friedman đã cố gắng giải thích lại thuyết lượng tiền tệ cổ điển mà những người theo trường phái Keneys đã phá như sau Theo lý thuyết cổ điển ta có: (1)

M.V = P.Q trong đó M (khối lượng tiền), V (vòng quay đồng tiền), P (mặt bằng

giá), Q (sản lượng nền kinh tế) Từ định nghĩa (1) ta có thể suy ra những hệ quả như sau:

(2) Tỷ lệ thay đổi lượng tiền + tỷ lệ thay đổi vòng quay ≈ tỷ lệ thay đổi giá + tỷ lệ thay đổi sản lượng

(3) Tỷ lệ thay đổi giá ≈ Tỷ lệ thay đổi lượng tiền + tỷ lệ thay đổi vòng quay – tỷ lệ thay đổi sản lượng

Các nhà kinh tế cổ điển dựa vào định nghĩa (1) và (3) cho rằng vòng quay V của đồng tiền là không đổi nên khi ta tăng M thì chỉ làm tăng P chứ không tăng Q

Họ cho rằng Q chịu ảnh hưởng bởi sức sản xuất nên không bị ảnh hưởng, cung chỉ tạo ra cầu

Việc chỉ sử dụng lý thuyết để giải thích sự vận động của nền kinh tế nên những người theo trường phái thuyết lượng tiền tệ cổ điển đã bị quan điểm Keneys đưa ra phá vỡ, ông cho rằng

Cung = cầu + tồn kho (cầu không nhất thiết phải bằng cung).

Một khi cầu bé hơn cung vì lo ngại trong tương lai hàng hóa sẽ tồn kho nhiều nếu cứ sản xuất như bây giờ các doanh nghiệp buộc phải giảm sản lượng nhằm điều chỉnh cho cung bằng cầu ở mức thấp hơn sản lượng tiềm năng của nền kinh tế có thể đạt được, lúc đó Keneys cho rằng sự can thiệp nhà nước trong giai đoạn này là cần thiết để giải quyết khủng hoảng, nhưng chính phủ lại gặp khó khăn vì không thể tăng chi tiêu giúp đường tổng cầu sang trái liên tiếp được vì gặp phải giới hạn trong gia tăng chi tiêu và giảm thuế Chủ trương này của Keynes tất nhiên không nên hiểu

là phê phán cách giải thích của Friedman về nguyên nhân sự kéo dài cuộc đại khủng khoảng năm 1929 Vây đâu là nguyên nhân của trạng thái tâm lý lưỡng lự của dân chúng trong giai đoạn khủng hoảng "cầu" thì Keynes không giải thích được

Friedman vẫn dùng định nghĩa của các nhà theo trường phái kinh tế cũ nhưng ông cho rằng V là thay đổi, cầu cũng không tất yếu bằng cung, nhưng phương trình

để V ổn định là phải chịu nhiều nhân tố khác nhau tác động như lãi suất, mặt bằng

Trang 6

giá P, sản lượng Q và cả kì vọng lạm phát trong tương lai của dân chúng Nếu M cứ tăng đều đặn qua các năm khiến các biến số khác như lãi suất, mặt bằng giá tăng cao qua mức khiến người dân có xu hướng quay vòng đồng tiền nhiều hơn khiến V tăng lên, làm lạm phát tăng lên dù lượng tiền tăng lên không nhiều Kiềm chế lạm phát không phải chỉ kiềm chế lượng tiền mà còn phải giữ ổn định V, thay đổi kì vọng của người dân về lạm phát cao thì mới bình ổn được giá cả.

Qua nhiều định nghĩa ở trên ta có thể rút ra kết luận như thế nào về lạm

phát?

Vậy lạm phát là gì? Lạm phát là hiện tượng tiền trong lưu thông vượt quá nhu cầu

cần thiết làm cho chúng bị mất giá, giá cả của hầu hết các loại hàng hóa tăng lên

Các đặc trưng của lạm phát:

+ Hiện tượng gia tăng quá mức của lượng tiền có trong lưu thông dẫn đến đồng tiền bị mất giá

+ Mức giá cả chung tăng lên, đặc biệt là các loại hàng hóa thiết yếu

+ Sự mất giá các loại chứng khoán có giá

+ Sự giảm giá của đồng nội tệ so với các loại ngoại tệ

+ Sản xuất đình trệ, hàng hóa dịch vụ khan hiếm

+ Cán cân thương mại giảm sút, nhập siêu tăng nhanh

1.2 Lạm phát cơ bản

Lạm phát cơ bản là thước đo được sử dụng rộng rãi để đánh giá xu hướng cơ bản hay diễn biến chung của giá tiêu dùng bình quân Lạm phát cơ bản nắm bắt xu hướng dài hạn hoặc phổ biến của giá cả hàng hóa hay dịch vụ bằng cách loại trừ những cơn lốc hay biến động nhất thời trong mức giá tiêu dùng bình quân

Trang 7

2.1.2 Lạm phát cao

Loại lạm phát này xảy khi giá cả hàng hóa tăng chậm ở mức độ hai, ba con số hàng năm (10%, 50%, 200%, 500%, 800% một năm) Lạm phát này được gọi là lạm phát phi mã… đồng tiền trở nên mức giá nghiêm trọng, lãi suất thực thường là âm, trong điều kiện đó không ai cho vay với lãi suất bình thường, không ai muốn nắm giữ lượng tiền mặt quá lớn mà thay vào đó là các loại hàng hóa lâu bền Loại lạm phát này gây ra nhiều tác hại cho đời sống kinh tế - xã hội

2.1.3 Siêu lạm phát

Loại lạm phát này có tỉ lệ tăng giá trên 1000% một năm Không có điều gì là tốt khi nền kinh tế khi xảy ra tình trạng này, nó như căn bệnh ung thư chết người, tốc độ lưu thông tiền tệ tăng nhanh chóng, giá cả các mặt hàng tăng nhanh không ổn định, tiền lương thực tế giảm mạnh, đồng tiền mất giá, thông tin không còn chính xác, các yếu tố thị trường biến dạng Lịch sử lạm phát đã ghi nhận tác hại của siêu lạm phát như ở Đức năm 1920-1923 tốc độ tăng lên tới 1 triệu lần, Bôlivia năm 1985 với mức 50.000% năm

2.2 Dựa vào tính chất lạm phát

2.2.1 Lạm phát dự kiến được

Là loại lạm phát mà đã được dự tính một các chính xác sự tăng giá tương đối đều đặn của nó Loại này ít gây ra tổn hại thực cho mọi người và nền kinh tế mà gây ra những phiền toái đòi hỏi các giao dịch thường xuyên phải được điều chỉnh (thông tin kinh tế, tiền lương…)

2.2.2 Lạm phát không dự kiến được

Mọi người bị bất ngờ về tốc độ tăng giá của các loại mặt hàng Nó không chỉ gây

ra những phiền toái cho mọi người như lạm phát dự kiến được mà còn gây ảnh hưởng không tốt không chỉ nền kinh tế mà còn là nền chính trị xã hội của quốc gia đó

2.3 Dựa vào định tính

2.3.1 Lạm phát công bằng

Tốc độ tăng của lạm phát tương ứng với tốc độ tăng tiền lương và phù hợp với sự phát triển của các ngành sản xuất Lạm phát loại này là không ảnh hưởng đến người dân và nền kinh tế nói chung

Trang 8

3.1.1 Chỉ số giá sinh hoạt (viết tắt tiếng Anh : CLI)

Là sự tăng trên lý thuyết giá cả sinh hoạt của một cá nhân so với thu nhập, trong

đó các chỉ số giá tiêu dùng (CPI) được giả định một cách xấp xỉ Các nhà kinh tế học tranh luận với nhau là có hay không việc một CPI có thể cao hơn hay thấp hơn so với CLI dự tính Điều này được xem như là "sự thiên lệch" trong phạm vi CPI CLI

có thể được điều chỉnh bởi "sự ngang giá sức mua" để phản ánh những khác biệt

trong giá cả của đất đai hay các hàng hóa khác trong khu vực (chúng dao động một cách rất lớn từ giá cả thế giới nói chung)

3.1.2 Dựa vào chỉ số giá tiêu dùng (CPI)

CPI (Consunmer Price Index) là chỉ số giá tiêu dùng Chỉ số này phản ánh phản

ánh mức thay đổi giá cả hàng hóa trong một giỏ hàng so với năm gốc cụ thể

CPI thường được dùng để chỉ mức độ lạm phát tiền tệ trong xã hội Thông thường các nhóm chính trong giỏ hàng hóa để tính CPI thường là thực phẩm, quần áo, nhà cửa, chất đốt, vận tải và y tế Tùy theo tình hình phát triển – kinh tế xã hội, thị hiếu tiêu dùng của người dân mỗi nước mà chủng loại hàng hóa sẽ thay đổi sao cho phù hợp

Việc tính CPI bao gồm các bước:

Bước 1: cố định giỏ hàng hóa: ước lượng các hàng hóa và dịch vụ người tiêu

dùng điển hình mua

Bước 2: xác định giá cả của mỗi hàng hóa và dịch vụ trong giỏ hàng tại mỗi

thời điểm

Bước 3: tính chi phí để mua giỏ hàng: sử dụng các mức giá và lượng để tính

chi phí mua giỏ hàng trong mỗi năm

Bước 4: Lựa chọn năm cơ sở và tính chỉ số giá

Trang 9

2000

t t

p

p D

p q

p q

Trong đó:

CPIt: chỉ số CPI năm t

pt ; giá kỳ báo cáo;

D2000 : quyền số cố định kỳ gốc năm 2000

t : kỳ báo cáo; 2000: năm gốc

= ∑ 2000 2000

2000 2000 2000

p q

p q D

+ Tính lạm phát:

Trong đó:

CPIt: chỉ số CPI năm t

CPIt-1: chỉ số năm t-1

3.1.3 Dựa vào chỉ số giá cả sản xuất (PPI)

PPI (producer price index) là chỉ số giá người sản xuất hay còn gọi là chỉ số giá sản xuất được dùng để đo chi phí nguyên vật liệu sản xuất Đây là chỉ tiêu quan trọng nhằm đánh giá mức độ biến động của một lĩnh vực sản xuất trong thời kì nào đó

PPI là chỉ số quan trọng để các cấp lãnh đạo ra các chính sách kinh tế tài chính hay hạch toán nền kinh tế quốc dân

Trang 10

3.1.4 Dựa vào chỉ số giảm lạm phát GDP

Chỉ số giảm lạm phát GDP hay chỉ số điều chỉnh GDP thường được kí hiệu là DGDP ( viết tắt tiếng anh là GDP deflator ) đo lường GDP theo giá hiện hành và giá cố định cùng các thành phần của nó Ví dụ nếu GDP tăng theo mức cố định là 3% và theo mức giá danh nghĩa hiện hành là 8%, nó hàm ý mức lạm phát trong nền kinh tế là 5%

GDPdanh nghĩa phản ánh giá trị bằng tiền của sản lượng được nền kinh tế tạo ra GDPthực tế phản ánh khối lượng sản phẩm – tức là sản lượng được đánh giá theo giá năm cơ sở Chỉ số điều chỉnh GDP phản ánh giá của một đơn vị điển hình so với giá của nó trong năm cơ sở Điểm khác biệt giữa DGDP và chỉ số CPI là ở chổ: (1) giá của giỏ hàng hóa tính chỉ số này khác nhau, trong đó DGDP sử dụng giá của tất cả hàng hóa sản xuất trong nước còn CPI lại sử dụng giỏ hàng hóa cố định không kể nơi sản xuất

để tính CPI (2) DGDP sử dụng giỏ hàng hóa dịch vụ sản xuất trong kì nghiên cứu vì thế giỏ hàng hóa này được thay đổi mỗi năm còn CPI lại sử dụng giỏ hàng hóa cố định qua mỗi năm và chỉ thay đổi khi cục thống kê hay chính phủ điều chỉnh

3.1.5 Dựa vào chỉ số bán buôn

Chỉ số giá bán buôn đo sự thay đổi trong giá cả các hàng hóa bán buôn (thông thường là trước khi bán có thuế) một cách có lựa chọn

3.1.6 Dựa vào chỉ số giá cả hàng hóa

Đó là sự thay đổi trong giá cả của các hàng hóa một cách có lựa chọn Trong trường hợp bản vị vàng thì hàng hóa duy nhất được sử dụng là vàng Khi nước Mỹ

sử dụng bản vị lưỡng kim thì chỉ số này bao gồm cả vàng và bạc

3.1.7 Chỉ số giá chi phí tiêu dùng cá nhân (PCEPI)

Trong "Báo cáo chính sách tiền tệ cho Quốc hội" sáu tháng một lần ("Báo cáo Humphrey-Hawkins") ngày 17 tháng 2 năm 2000, Federal Open Market Committee

Chỉ số giảm lạm

GDPthực tế

GDPdanh nghĩa

Trang 11

(FOMC) nói rằng ủy ban này đã thay đổi thước đo cơ bản về lạm phát của mình từ CPI sang chỉ số giá cả dạng chuỗi của các chi phí tiêu dùng cá nhân

3.2 Lạm phát cơ bản

Phương pháp tính toán lạm phát cơ bản được nhiều quốc gia sử dụng là phương pháp loại trừ Phương pháp loại trừ tính toán lạm phát cơ bản bằng cách loại trừ giá cả của một số nhóm mặt hàng khỏi rổ CPI Các thành phần hay được loại trừ là loại hàng hóa dễ bị biến động nhất đó là nhóm hàng lương thực – thực phẩm, năng lượng

Phương pháp thống kê thuần túy để tính bao gồm: tính trung vị, trung bình lược

bỏ có quyền số/không có quyền số hay phương pháp tính lại quyền số mới hay phương pháp bình quân gia quyền nghịch đảo độ lệch chuẩn hoặc phương sai (những phương pháp này thường sử dụng nội bộ để nghiên cứu và phân tích)

Phương pháp sử dụng mô hình kinh tế lượng trong phân tích, tính toán và dự báo lạm phát cơ bản cũng nên tính thử nghiệm sử dụng nội bộ để nghiên cứu và phân tích

4 Nguyên nhân lạm phát

4.1 Lạm phát theo số lượng tiền tệ

Khi đề cập đến mối quan hệ giữa lạm phát và tiền tệ, Friedman cho rằng "lạm phát luôn và bất cứ ở đâu đều là hiện tượng tiền tệ" Lúc đó lạm phát được định nghĩa như là một sự tăng giá nhanh và liên tục

- Quan điểm các nhà thuộc trường phái tiền tệ:

1.1 Đồ thị lạm phát theo số lượng tiền tệ

AS3

AS2

3 2' AS1

AD3

AD2

(Tổng sản phẩm)

Yn

1' 1

P

P3

P2

P1

0 (Tổng mức giá)

Y1

2

Trang 12

Ban đầu nền kinh tế cân bằng ở điểm 1 (giao nhau giữa AD1 và AS1 với mức giá ban đầu là P1, trùng với mức sản lượng tiềm năng Nếu cung tiền gia tăng (tăng lương, tăng chi tiêu công…) sẽ khiến cho tổng cầu dịch qua bên phải trở thành đường AD2, trong ngắn hạn mức sản lượng của nền kinh tế sẽ dịch sang Y1 cắt đường AS1 tại điểm 1' nhưng cùng với đó việc mở rộng sản xuất khiến chi phí gia tăng, giá cả các nguyên liệu tăng cao khiến cung giảm xuống làm đường AS1 dịch chuyển song song sang trái cắt đường AD2 tại điểm số 2 thiết lập mức giá mới P2 và sản lượng trở về mức tiềm năng như cũ, Cứ như vậy, nếu cung tiền cứ gia tăng thì quá trình diễn ra tuần tự và giá

sẽ đươc thiết lập ở mức cao hơn ban đầu và lạm phát xảy ra Trong quan điểm của các nhà thuộc trường phái tiền tệ thì cung tiền là yếu tố duy nhất gây ra lạm phát

4.2 Sự thiếu hụt tài khóa

Khi xảy ra thiếu hụt tài khóa chính phủ có thể tài trợ bằng việc: (1) tăng thuế, (2) vay nợ bằng phát hành trái phiếu và in tiền Thiếu hụt tài khóa (DEF) chính là khoản chênh lệch giữa chi tiêu chính phủ (G) vượt quá thuế (T) và sẽ bằng tổng ∆MBvà thay đổi trái phiếu chính phủ mà công chúng nắm giữ (∆B)

DEF= G - T =∆ MB + ∆ B

Nếu xảy ra thiếu hụt tài khóa chính phủ tài trợ bằng việc phát hành tiền liên tục

và kéo dài, tất nhiên sẽ làm tăng cung tiền và lạm phát Hiện nay, các quốc gia không được phát hành tiền mà thông qua phát hành trái phiếu Tuy không làm tăng cơ số tiền nhưng nếu thâm hụt kéo dài thì đến hạn phải trả số tiền bao gồm cả gốc lẫn lãi có thể vượt quá số tiền cần lưu thông và gây ra lạm phát, hoặc người dân có thể bán lại cho ngân hàng trung ương thông qua nghiệp vụ thị trường mở và làm tăng cung tiền khiến lạm phát xảy ra

Nói chung nếu để trình trạng thâm hụt kéo dài xảy ra và tài trợ bằng tiền có tính lỏng cao thì sẽ dẫn đến mức gia tăng cung tiền làm tổng cầu dịch chuyển sang phải, dẫn đến giá cả tăng lên và lạm phát xảy ra

4.3 Lạm phát do cầu kéo

Sự gia tăng các khoản chi tiêu công của chính phủ (chính sách trợ cấp xã hội,các

dự án đầu tư xây dựng ), việc tiêu dùng nhiều hơn của dân cư (thu nhập tăng lên, thuế được giảm) dẫn đến sự mở rộng, gia tăng sản xuất của các doanh nghiệp khiến tổng

Trang 13

cầu gia tăng nhanh chóng nhưng với nguồn lực, công suât có giới hạn tổng cung không thể tăng lên một cách tương xứng dẫn đến sự mất cân đối trong quan hệ cung cầu và theo cơ chế thị trường nó sẽ được lấp đầy bằng sự gia tăng giá cả.

1.2 Đồ thị lạm phát do cầu kéo

Ban đầu nền kinh tế cân bằng tại điểm 1 (giao nhau giữa đường AD1 và AS và khi

có sự gia tăng tổng cầu (tăng lương, giảm thuế, tăng chi tiêu công) thì đường AD1 dịch chuyển sang phải thanh đường AD2 rồi đến AD3, trong khi đường tổng cung không thay đổi làm cho điểm cân bằng dich chuyển từ 1 rồi đến 2 và 3 và cứ tiếp tục như vậy nếu cầu vẫn tiếp tục tăng lên, hàng hóa thiết lập mức giá sau cao hơn mức giá trước và lạm phát xảy ra

* Quan điểm của các nhà kinh tế thuộc trường phái Keynes

Các nhà kinh tế học của trường phái Keneys cho rằng, thị trường không vận động một cách hoàn hảo nên vì thế cần sự can thiệp của chính phủ bằng công cụ tài khóa thông qua chính sách kích cầu, tạo việc làm cho người lao động Tuy nhiên, chính phủ lại không thể liên tục dịch chuyển đường tổng cầu sang trái liên tục được bởi vì có sự giới hạn trong các nguồn ngân sách Thay vào đó, các nhà làm chính sách, phải viện

Y1

23

Trang 14

đến chính sách mở rộng tiền tệ: sự gia tăng liên tục mức cung tiền tệ và vì thế tỉ lệ tăng trưởng tiền tệ cao, lạm phát xảy ra.

4.4 Lạm phát do chi phí đẩy

Nền sản xuất được đảm bảo bởi sự kết hợp giữa nguồn lực tự nhiên, tư bản

và lao động và một khi một trong những yếu tố đó có xu hướng tăng giá sẽ làm cho giá

cả hàng hóa tăng lên Vậy lạm phát chi phí đẩy là loại lạm phát xảy ra khi chi phí gia tăng một cách độc lập với tổng cầu (ví dụ như tỷ giá hối đoái thay đổi,đồng nội tệ bị

mất giá so với ngoại tệ làm nguyên vật liệu nhập khẩu tăng cao, thay đổi giá cả hàng hóa, những cú sốc từ bên ngoài như cú sốc về dầu mỏ, thép , sự thiếu hụt các nguồn tài nguyên hay do sự gia tăng tiền lương cơ bản do quy định của chính phủ) Và một khi giá cả hàng hóa gia tăng, người dân có xu hướng tích trữ hàng hóa, các khoản chi tiêu chính phủ đắt đỏ hơn càng khiến giá hàng hóa bị đẩy lên cao hơn Vì thế lạm phát chi phí đẩy có thể xảy ra nếu đường tổng cầu dịch chuyển sang bên phải, tổng cầu chỉ

có thể dịch chuyển sang phải khi có sự gia tăng mức cung tiền tệ (chính phủ chi nhiều hơn, người dân mua hàng tích trữ) Vậy lạm phát do chi phí đẩy là một hiện tượng tiền

tệ bởi vì nó không thể xảy ra nếu không có các chính sách tiền tệ đi kèm theo

1.3 Đồ thị lạm phát do chi phi đẩy

YY

Trang 15

Nếu do một nhân tố nào đó tác động, ví dụ như trường hợp nguyên vật liệu đầu vào tăng giá làm đường tổng cung dịch chuyển lên trên do chi phí sản xuất tăng tại một mức giá cho trước, ít nhà cung ứng hơn nên lượng cung hàng hóa và dịch vụ giảm, nếu tổng cầu được giữ nguyên không đổi thì nền kinh tế sẽ di chuyển từ điểm 1 đến điểm 2, mức giá tăng lên từ P1 đến P2, sản lượng giảm từ Y0 đến Y1 Đó chính là hiện tượng suy thoái kinh tế đi kèm lạm phát, vì nền kinh tế phải rơi vào trạng thái sản lượng giảm mà phải gánh chịu lạm phát

4.5 Lạm phát do quán tính

Lạm phát do quán tính là tỷ lệ lạm phát hiện tại mà mọi người dự kiến nó sẽ tiếp tục trong tương lai Tỷ lệ này được đưa vào các hợp đồng kinh tế, các giao dich mua bán hằng ngày, và chính vì điều này mà lạm phát trở thành hiện thực

Một ví dụ về lạm phát quán tính đó là khi nền kinh tế xảy ra lạm phát cao dẫn đến người dân có xu hướng chỉ giữ một số lượng tiền ít để tiêu dùng còn lại người ta

sẽ tích trữ hàng hóa, mua vàng, các loại ngoại tệ mạnh khác khiến số lượng tiền lưu thông càng nhiều hơn và làm lạm phát thêm trầm trọng

4.6 Lạm phát do sự thay đổi tỷ giá hối đoái

Tỷ giá hối đoái giữa đồng nội tệ so với đơn vị tiền tệ nước ngoài tăng cũng là nguyên nhân gây ra lạm phát

Thứ nhất, khi tỷ giá tăng, đồng nội tệ mất giá, trước hết nó tác động lên tâm lý

những người sản xuất trong nước, muốn kéo giá hàng lên theo mức tăng của tỷ giá hối đoái

Thứ hai, khi tỷ giá tăng, giá nguyên liệu, hàng hoá nhập khẩu cũng tăng cao,

đẩy chi phí về phía nguyên liệu tăng lên, lại quay trở về lạm phát phí đẩy như đã phân tích trên đây Việc tăng giá cả của nguyên liệu và hàng hoá nhập khẩu thường gây ra phản ứng dây chuyền, làm tăng giá cả ở rất nhiều các hàng hoá khác, đặc biệt là các hàng hoá của những ngành có sử dụng nguyên liệu nhập khẩu và những ngành có mối liên hệ chặt chẽ với nhau (nguyên liệu của ngành này là sản phẩm của ngành khác,điển hình như xăng dầu là nguyên liệu chính, trực tiếp liên quan đến các ngành sản xuất…)

Trang 16

4.7 Lạm phát do cơ cấu

Trong nền kinh tế, khi một ngành kinh doanh có hiệu quả sẽ tăng tiền công cho công nhân làm việc, còn đối với ngành kinh doanh không hiệu quả dù không muốn vẫn phải tăng lương cho người lao động (chính sách tăng lương cơ bản của chính phủ) nhưng để đảm bảo lợi nhuận công ty phải tăng giá thành sản phẩm, nhu cầu tăng lên nhưng cung lại không đáp ứng đủ nên lạm phát xảy ra hay do cơ cấu nền kinh tế quá tập trung vào một lĩnh vực sản xuất mà không quan tâm đến nghành khác dẫn đến sự rời bỏ ngành của doanh nghiệp (đầu tư công nghiệp không chú trọng nông nghiệp dẫn đến khan hiếm thực phẩm) khiến mức cân đối trong cung cầu thị trường gây ra tâm lý thiếu hàng trong dân chúng khiến nạn đầu cơ có điều kiện bộc phát gây nên tình trạng lạm phát cao

Hiện tượng kinh tế này chủ yếu phổ biến ở các nước đang phát triển do tình trạng mất cân đối trong nền kinh tế khiến sản xuất kém hiệu quả, cung không đủ cầu gây ra lạm phát

Các dạng mất cân đối chủ yếu trong nền kinh tế:

+ Mất cân đối trong cơ cấu ngành trong nền kinh tế (nông nghiệp lạc hậu chiếm tỷ trọng cao trong cơ cấu nền kinh tế), mất cân đối trong cơ cấu trong nội bộ ngành kinh tế (chú trọng công nghiệp nặng, luyện kim, khai khoáng ít chú trọng đến phát triển những ngành công nghiệp vật liệu mới, công nghiệp nhẹ đòi hỏi lượng chất xám cao như chip điện tử, sản xuất hàng điện tử)

+ Mất cân đối giữa mức tích lũy thấp nhưng đầu tư cao

+ Cơ cấu ngoại thương bất hợp lý

+ Cơ cấu tiêu dùng bất hợp lý

4.8 Lạm phát do xuất khẩu

Việc xuất khẩu tăng cao khiến tổng cầu tăng nhanh hơn tổng cung, hoặc sản phẩm được huy động cho xuất khẩu khiến tổng cung mặt hàng trong nước thấp hơn tổng cầu trong nước Sự mất cân đối giữa tổng cung và tổng cầu khiến lạm phát nảy sinh

4.9 Lạm phát do nhập khẩu

Trang 17

Do các sản phẩm không thể sản xuất trong nước mà phải nhập từ bên ngoài nên khi có sự gia tăng giá cả của mặt hàng nhập khẩu (như việc tăng giá dầu của OPEC, giá nhập khẩu phôi thép) khiến giá hàng trong nước phải tăng lên Lạm phát hình thành do giá nhập khẩu đội lên.

4.10 Lạm phát theo thuyết cấu tạo lỗ hổng

Xuất phát ở các nước xã hội chủ nghĩa trong thời kì chuyển đổi nền kinh tế

Do sự yếu kém trong việc điều hành nền kinh tế vĩ mô của nhà nước gây ra những lỗ hổng nghiêm trọng cho nền kinh tế và được nhà nước bù đắp bằng việc bao cấp giá hàng hóa Điều này bắt buộc nhà nước phải phát hành thêm tiền làm tăng khối lượng cung tiền trong lưu thông gây ra lạm phát

Những lỗ hổng chủ yếu của nền kinh tế khi chuyển đổi là:

5 Tác động của lạm phát

Lạm phát ảnh hưởng đến nhiều mặt đến đời sống kinh tế xã hội, nó cũng có thể đem lại những lợi ích bên cạch những tác hại nghiêm trọng đến đời sống kinh tế xã hội của đất nước Vậy tác động của nó như thế nào ?

5.1 Tác động tích cực

5.1.1 Tác động phân phối lại thu nhập của cải

Nó phát sinh từ những sự khác nhau trong các loại tài sản và nợ nần của người dân Khi lạm phát xảy ra, những người có tài sản, những người đi vay nợ là có lợi nhất

vì giá cả các loại hàng hóa nói chung đều tăng lên theo mức tăng lạm phát trong khi

Trang 18

giá trị của đồng tiền lại giảm xuống khiến những người nắm giữ tiền mặt, người làm công ăn lương, những người cho vay là bị thiệt hại.

5.1.2 Tác động phát triển kinh tế

Trong điều kiện nền kinh tế chưa đạt đến mức sản lượng tối ưu hay mức toàn dụng thì lạm phát vừa phải cũng giúp thúc đẩy phát triển nền kinh tế vì nó có tác dụng làm tăng khối lượng tiền tệ lưu thông, cung cấp thêm vốn cho các đơn vị sản xuất kinh doanh, kích thích quá trình tiêu dùng người dân và chính phủ

5.1.3 Tác động đến thất nghiệp

Lạm phát và thất nghiệp có mối quan hệ ngược chiều nhau: khi lạm phát tăng thì

sẽ giúp thất nghiệp giảm và ngược lại Nhà kinh tế học A.W.Phillips đã đưa ra" Lý thuyết đánh đổi giữa lạm phát và việc làm" đó là một nước có thể có một tỉ lệ thất nghiệp thấp hơn nếu nước đó sẵn sàng trả một tỉ lệ lạm phát cao hơn Điều này giúp các nhà lãnh đạo có thể có thê đưa ra các chính sách kinh tế để đảm bảo tăng trưởng kinh tế, người dân có thêm việc làm nhưng lạm phát được giữ ở mức chấp nhận được

1.4 Đồ thị mối quan hệ lạm phát và thất nghiệp

Như chúng ta đã biết chính sách tài khóa và chính sách tiền tệ và chính sách tài khóa đều có thể làm dịch chuyển đường tổng cầu Do đó chính sách tiền tệ và tài khóa

có thể làm dịch chuyển nền kinh tế dọc theo đường Phillips Nếu chính phủ tăng cung tiền, tăng chi tiêu chính phủ và cắt giảm thuế sẽ làm tăng tổng cầu và di chuyển nền

Lạm

Phát

%

Thât nghiệpAD

Trang 19

kinh tế dịch về phía bên trái trên đường Phillips sao cho ở đó lạm phát cao hơn và thất nghiệp ít hơn Còn chính phủ thực hiện biện pháp cắt giảm cung tiền, cắt giảm chi tiêu chính phủ và tăng thuế sẽ làm tổng cầu giảm xuống và nền kinh tế sẽ dịch chuyển về bên phải trên đường Phillips sao cho tại đó thất nghiệp cao hơn và lạm phát thấp hơn

Vì thế qua đường Phillips chính phủ sẽ có chính sách phù hợp nhằm tạo được sự kết hợp tối ưu nhất giữa lạm phát và thất nghiệp

5.1.4 Tác động làm tăng số thuế nhà nước thu được

Nếu thuế được đánh theo hệ thống thuế lũy tiến thì tỉ lệ lạm phát cao sẽ đẩy người

ta nhanh qua mức thuế cao hơn phải nộp, và như vậy chính phủ có thể thu được nhiều thuế hơn mà không phải thông qua luật

5.2 Tác động tiêu cực

5.2.1 Đối với lĩnh vực sản xuất

Trong điều kiện lạm phát cao và không dự kiến được thì mọi hoạt động sản xuất đều bị thay đổi, giá cả hàng hóa tăng cao và biến động không ngừng gây nên tình trạng mất ổn định trong nền kinh tế Quá trình hạch toán của các công ty trở nên vô hiệu do tốc độ thay đổi giá cả của hàng hóa gây ảnh hưởng đến hoạt động sản xuất kinh doanh, đối với những công ty có tỷ suất lợi nhuận thấp thì dẫn đến tình trạng phá sản Cơ cấu nền kinh tế bị thay đổi vì khi đó các nhà kinh doanh tập trung đầu tư vào các ngành sản xuất có chu kì ngắn, khả năng thu hồi và quay vòng vốn cao thay vì đầu tư vào các ngành có điều kiện ngược lại khiến tình trạng cung ứng hàng mất cân đối khiến lạm phát trầm trọng thêm

5.2.2 Đối với lĩnh vực lưu thông

Trong lĩnh vực lưu thông, khi giá cả hàng hóa tăng nhanh thì tình trạng đầu cơ, tích trữ hàng hóa thường là hiện tượng phổ biến khiến tình trạng khan hiếm hàng hóa trở nên trầm trọng Do đó người tham gia vào quá trình lưu thông trở nên hỗn loạn Tiền trong tay người này vừa bán xong lại nhanh chóng được đẩy ra lưu thông, tốc độ lưu chuyển tiền mặt nhanh chóng khiến tình trạng lạm phát thêm trầm trọng

5.2.3 Đối với lĩnh vực tiền tệ, tín dụng

Trong điều kiện các nhân tố khác không thay đổi, lạm phát tăng cao khiến tỷ giá hối đoái tăng lên Sự mất giá của đồng tiền khiến xuất khẩu có lợi thế nhưng lại gây

Trang 20

thiệt hại đối với hàng hóa nhập khẩu Lạm phát cao, siêu lạm phát làm giảm số lượng người dân đi gửi tiền, khả năng thanh khoản của ngân hàng kém đi khiến nhiều ngân hàng bị phá sản Lạm phát tăng nhanh khiến người dân không muốn nắm giữ tiền mặt trong tay, họ chuyển sang tích trữ vàng, ngoại tệ mạnh khiến tình trạng lạm phát càng trầm trọng.

5.2.4 Đối với chính sách kinh tế tài chính đất nước

Lạm phát tăng nhanh, sự biến động giá cả tăng nhanh khiến các giá trị thông tin bao hàm trong giá cả bị phá vỡ, tính toán kinh tế bị sai lệch nhiều, thông tin bị nhiễu loạn khiến mọi người không thể phán đoán doanh nghiệp nào lãi, doanh nghiệp nào lỗ

để có hướng đầu tư cho chính xác Lạm phát cao và lâu dài gây ra sự bào mòn đối với ngân sách nhà nước, các khoản chi tiêu trở nên đắt đỏ hơn, nhà nước phải giảm bớt các khoản phúc lợi xã hội, thu hẹp danh mục đầu tư đối với các dự án, ngân sách bị suy giảm do sản xuất bị đình đốn khiến các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội đã đề ra từ trước phải thay đổi

5.2.5 Làm méo mó số thuế phải nộp

Lạm phát tăng cao khiến người nộp thuế theo thuế suất lũy tiến nhanh chóng chuyển qua mức nộp thuế cao hơn trong khi lương thực tế lại giảm mạnh khiến đời sống của người dân bị xáo trộn, thay đổi và khó khăn hơn Không những thế việc lạm phát quá cao cũng khiến chi phí các nguyên vật liệu đầu vào tăng cao khiến doanh nghiệp khó khăn trong khâu tiêu thụ làm sản xuất bị đình đốn nhiều doanh nghiệp phá sản hơn cũng khiến cho số thuế thu được của nhà nước cũng giảm đi

5.2.6 Tính không chắc chắn của lạm phát khiến đầu tư ở trung dài hạn bị suy giảm

Vì lạm phát tăng cao các nhà đầu tư không thể dự kiến chính xác nguồn vốn cần

là bao nhiêu tiền cho các dự án trong tương lai, các công trình đang xây dựng phải ngừng thực hiện do chi phí nguyên vật liệu đầu vào tăng cao khiến doanh nghiệp không đủ nguồn lực thực hiện gây ảnh hưởng xấu đến các mục tiêu kinh tế trung dài hạn, các mục tiêu xã hội không thực hiện được khiến tăng trưởng kinh tế của đất nước giảm xuống

Trang 21

5.2.7 Lạm phát khiến người dân quan tâm đến lợi ích trước mắt

Thay vì gửi tiền vào ngân hàng người dân sẽ dùng số tiền đầu tư, tích trữ các loại hàng hóa, chuyển qua các loại đồng ngoại tệ mạnh, các kim loại quý (vàng, bạch kim ) và đẩy mạnh tích trữ hàng hóa do kì vọng lạm phát tăng trong tương lai khiến dòng tiền lưu thông nhanh hơn, giá cả hàng hóa tăng cao hơn và lạm phát tăng nhanh hơn trước

5.2.8 Lạm phát với thu nhập thực tế

Trong trường hợp thu nhập danh nghĩa không đổi, lạm phát xảy ra sẽ làm giảm thu nhập thực tế của người lao động Với 2.000.000 đồng tiền lương một tháng hiện nay, một công nhân sẽ mua được 2 tạ gạo (với giá 10.000đ/kg) Vào năm sau, nếu tiền lương của công nhân này không thay đổi, nhưng tỷ lệ lạm phát trong nền kinh tế vào năm sau tăng lên 50% so với năm trước, tức là giá gạo đã tăng lên 15.000đ/kg, thì với số tiền lương nhận được trong một tháng, người công nhân này chỉ có thể mua được 133,3 kg gạo

Lạm phát không chỉ làm giảm giá trị thực của những tài sản không có lãi (tức tiền mặt) mà nó còn làm hao mòn giá trị của những tài sản có lãi, tức là làm giảm thu nhập thực từ các khoản lãi, các khoản lợi tức Điều đó xảy ra là do chính sách thuế của nhà nước được tính trên cơ sở của thu nhập danh nghĩa Khi lạm phát tăng cao, những người đi vay tăng lãi suất danh nghĩa để bù vào tỷ lệ lạm phát tăng cao, điều đó làm cho số tiền thuế thu nhập mà người có tiền cho vay phải nộp tăng cao (mặc dù thuế suất vẫn không tăng) Kết quả cuối cùng là thu nhập ròng (thu nhập sau thuế), thực (sau khi đã loại trừ tác động của lạm phát) mà người cho vay nhận được bị giảm đi

Suy thoái kinh tế, thất nghiệp gia tăng, đời sống của người lao động trở nên khó khăn hơn sẽ làm giảm lòng tin của dân chúng đối với Chính phủ và những hậu quả

về chính trị, xã hội có thể xảy ra

5.2.9 Lạm phát và nợ quốc gia

Lạm phát khiến giá trị đồng tiền quốc nội giảm giá mạnh so với ngoại tệ, các khoản vay trước đây tăng cao hơn gây sức ép lên nền kinh tế quốc gia Tuy được lợi trong các khoản vay vốn trong nước nhưng chính phủ lại bị thiệt trong các khoản vay ngoại tệ nước ngoài

Trang 22

5.2.10 Các chi phí xã hội của lạm phát

Lạm phát vừa có thể gây ra những tác hại mà ta có thể dễ nhận biết nhưng cũng đồng thời gây ra những tác hại mà ta khó có thể nhận biết đó chính là chi phí xã hội của lạm phát

- Chi phí mòn giày: Lạm phát cao hơn làm tăng lãi suất danh nghĩa mà hệ quả mọi người sẽ giảm số tiền nắm giữ Nếu mọi người giữ số dư tiền thực tế ít hơn, thì họ phải thường xuyên đến ngân hàng rút tiền Điều này làm bạn phải đi rút tiền nhiều hơn (giầy bạn mòn hơn)

- Chi phí thực đơn: Lạm phát cao hơn làm cho doanh nghiệp thay đổi giá cả thường xuyên hơn Việc này là tốn kém nếu họ in lại biểu giá và cataglo

- Giá cả tương đối biến động mạnh hơn Nếu trong giai đoạn ổn định các doanh nghiệp không thay đổi giá cả thường xuyên thì lạm phát sẽ làm cho giá cả tương đối biến động mạnh hơn mà nền kinh tế thị trường lại phân bổ nguồn lực dựa trên giá cả, lạm phát dẫn đến tính phi hiệu quả của nền kinh tế

- Thay đổi gánh nặng về thuế Nhiều luật thuế không tính đến tác động của lạm phát Do đó, lạm phát có thể làm thay đổi gánh nặng về thuế của các cá nhân và doanh nghiệp, ngoài dự kiến ban đầu của các nhà hoạch định gây ra cản trở tiết kiệm và phát triển kinh tế

- Sự nhầm lẫn bất tiện: Lạm phát tăng cao khiến giá của hàng hóa biến động liên tục, giá trị của đồng tiền giảm xuống và thước đo lợi nhuận của các doanh nghiệp trở nên khó khăn và việc lựa chọn đầu tư của các doanh nghiệp trở nên phức tạp và dễ nhầm lẫn hơn

- Tái phân phối một cách tùy tiện: Ví dụ khi các điều kiện cho vay nói chung được tính theo giá trị danh nghĩa dựa theo một tỉ lệ lạm phát dự kiến nhất định Nhưng nếu lạm phát tăng cao so với dự kiến, người đi vay được lợi vì chỉ hoàn trả lại cho người cho vay một số tiền có sức mua thấp hơn dự kiến còn người cho vay lại bị lỗ Ngược lại, nếu lạm phát thấp hơn dự kiến thì người cho vay sẽ được lợi do họ sẽ thu

về được những đồng tiền có sức mua cao hơn trước Vì thế lạm phát đã gây ra hiện trượng tái phân phối một cách tùy tiện

Trang 23

6 Biện pháp kiềm chế lạm phát

Lạm phát gây ra những hậu quả rất xấu cho nền kinh tế vì thế chúng ta cần phải có

những biện pháp phù hợp nhằm ứng phó với mỗi giai đoạn lạm phát khác nhau, người

ta có thể phân chia các biện pháp khắc phục lạm phát bằng nhiều cách khác nhau

nhưng cách phân chia các biện pháp khắc phục lạm phát phổ biến hiện nay đó là biện pháp cấp bách và biện pháp chiến lược

6.1 Biện pháp cấp bách

Khi nền kinh tế lâm vào tình trạng lạm phát trầm trọng (lạm phát cao, siêu lạm phát) chính phủ cần phải nhanh chóng áp dụng các biện pháp tình thế sau:

6.1.1 Biện pháp chính sách tài khóa

Biện pháp tài khóa có vai trò hết sức quan trọng trong việc kiểm soát lạm phát vì trong nhiều trường hợp lạm phát có nguyên nhân xuất phát từ thâm hụt ngân sách Nhà Nước Vậy nếu nguyên nhân này được giải quyết thì tiền tệ sẽ ổn định, lạm phát sẽ được kiềm chế Chính phủ có thể sử dụng một số biện pháp sau

- Thực hành tiết kiệm triệt để, hạn chế chi tiêu công, giảm bớt các hạng mục xây dựng cần vốn lớn mà chưa thấy cần thiết, hoàn thành nhanh chóng triệt để các dự án xây dựng trọng điểm, tránh kéo dài lâu gây thất thoát lãng phí cho Nhà Nước

- Tăng thuế trực thu, đặc biệt là đối với những cá nhân và doanh nghiệp có thu nhập cao, chống thất thu thuế

- Kiểm soát chặt chẽ các chương trình tín dụng của nhà nước như chương trình vay vốn hỗ trợ sinh viên nghèo, tránh trường hợp sinh viên không nghèo vẫn được vay

- Tiến hành vay nợ trong và ngoài nước để giảm bội chi ngân sách

6.1.2 Biện pháp thắt chặt tiền tệ

Chính sách tiền tệ là một trong những biện pháp cấp bách mà chính phủ cần phải

sử dụng trong tình hình nền kinh tế có lạm phát cao, khó có thể điều tiết được bằng " bàn tay vô hình" của thị trường Với tư cách là "ngân hàng của các ngân hàng" ngân hàng trung ương cần phải điều hành linh hoạt đồng bộ các công cụ chính sách tiền tệ, kết hợp hài hòa linh hoạt tỷ giá và lãi suất, tăng cường sự phối hợp giữa các bộ ban

Trang 24

ngành, sự kết hợp giữa chính sách tài khóa và chính sách tiền tệ, nâng cao công tác thống kê, dự báo, phản ứng kịp thời trước những diễn biến kinh tế, tiền tệ trong và ngoài nước, đảm báo tính thanh khoản của các tổ chức tín dụng nhằm mục đích kiềm chế lạm phát thúc đẩy tăng trưởng kinh tế.

Và một trong những biện pháp quan trọng kiềm chế lạm phát mà ngân hàng trung ương phải làm đó là giảm lương tiền trong lưu thông bằng các biện pháp khác nhau như:

- Đóng băng tiền tệ

Ngân hàng trung ương thắt chặt việc thực hiện các nghiệp vụ tái chiết khấu, tái cấp vốn, cho vay theo hồ sơ tín dụng, giới hạn tăng trưởng tín dụng ngân hàng nhằm mục đích giảm bớt lượng tiền đang lưu thông trên thị trường

- Nâng lãi suất

Khi lãi suất tiền gửi tăng cao sẽ thu hút người dân gửi tiền hơn thay vì giữ tiền lưu thông, hay chuyển sang cất trữ vàng và đổi sang ngoại tệ, các doanh nghiệp sẽ gửi các khoản tiền không kì hạn vào ngân hàng khiến dòng tiền lưu thông trên thị trường ít lại Việc tăng mức dự trữ bắt buộc của ngân hàng trung ương cũng làm giảm khả năng tạo tiền của ngân hàng thương mại làm giảm lượng tiền lưu thông trên thị trường, giảm sức ép tăng giá

- Tiến hành vay nợ bên ngoài nhằm đảm bảo các nguồn lực nhằm đối phó với lạm phát (giữ ổn định đồng nội tệ, nhập khẩu các mặt hàng trọng yếu nếu xảy ra tình trạng khan hiếm)

Ngoài ra, ngân hàng sẽ phát hành các công cụ vay nợ cho chính phủ như trái phiếu nhằm thu hút lượng tiền nhàn rỗi trong dân chúng Trong thời kì lạm phát cao tâm lý người dân sẽ hoang mang và sẽ thực hiện việc bảo toàn tài sản của mình bằng việc rút tiền ồ ạt nhằm chuyển sang đầu tư các loại hàng hóa có giá khác nên ngân hàng trung ương cần hỗ trợ vốn nhằm đảm bảo tính thanh khoản cho các ngân hàng thương mại, tránh để xảy ra tình trạng mất thanh khoản gây ra tình trạng hoảng loạn trong dân chúng càng khiến tình trạng lạm phát tồi tệ hơn

Trang 25

6.1.3 Biện pháp kiềm chế giá cả

Muốn kiềm chế lạm phát ở mức cao, nhà nước có thể thực hiện một số chính sách sau:

- Nhập khẩu hàng hóa từ nước ngoài nhằm điều tiết cung cầu trong lưu thông hàng hóa

- Đẩy mạnh quá trình áp dụng khoa học kĩ thuật vào sản xuất nhằm tăng cung cho thị trường, xuất hàng dự trữ quốc gia nhằm bình ổn giá cả thị trường

- Nhà nước bán vàng, xuất quỹ dự trự ngoại hối nhằm thu hút tiền mặt trong lưu thông, ổn định giá vàng, tỷ giá hối đoái tạo tâm lý ổn định cho các mặt hàng

- Kiểm soát thị trường chặt chẽ, chống nạn đầu cơ tích trữ nhằm lũng đoạn thị trường, thực hiện việc kiềm chế không tăng một số nguyên liệu đầu vào chủ yếu của nhiều ngành sản xuất như điện, xăng dầu

6.1.4 Biện pháp đóng băng lương để kiềm chế giá cả

Nếu có sự cam kết của công đoàn về việc không tăng lương và hiệp hội các chủ doanh nghiệp là không tăng giá và nhà nước thực hiện nghiêm túc mọi biện pháp để không làm tình hình hình xấu thêm như giảm bội chi ngân sách sẽ là một yếu tố quan trọng giúp giá cả hàng hóa được kiềm chế

6.2 Biện pháp chiến lược.

Lạm phát tác động đến mọi mặt của đời sống kinh tế - xã hội nên chúng ta cần có những biện pháp "dài hơi" trong việc điều hành nền kinh tế để biến lạm phát trở thành một động lực thúc đẩy phát triển nền kinh tế đất nước, hạn chế đến mức thấp nhất các tác động xấu của lạm phát đến đời sống kinh tế - xã hội của người dân

6.2.1 Xây dựng và thực hiện chính sách kinh tế - xã hội đúng đắn

Tiền tệ chỉ rối loạn một khi nguồn cung hàng hóa bị thay đổi, vì thế để có thể giữ

ổn định quá trình lưu thông hàng hóa và lưu thông tiền tệ chúng ta cần có một quỹ hàng hóa với số lượng nhiều, chất lượng cao, phong phú về chủng loại Và thực hiện được điều đó, nhà nước cần xây dựng chính sách kinh tế vĩ mô hợp lý, điều chỉnh cơ cấu nền kinh tế theo xu hướng thị trường, khuyến khích áp dụng tiến bộ khoa học kĩ thuật trong để nâng cao sản lượng và chất lượng, tăng cường đầu tư trong lĩnh vực công nghệ sạch nhằm đảm bảo mục tiêu tăng trưởng phải bền vững

Trang 26

Tập trung đẩy mạnh công tác cải cách giáo dục, phát triển nguồn nhân lực có chất lượng thông qua các biện pháp như đưa ra các chính sách phù hợp hiệu quả nhằm nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo, chú trọng đầu tư cơ sở vật chất trong trường học, phân bổ đào tạo sử dụng hợp lý và hiệu quả nguồn nhân lực, chú trọng đào tạo lại và phát triển nguồn nhân lực cấp cao, có chính sách đãi ngộ xứng đáng nhằm giữ chân nhân tài, phát triển nhân lực trong các ngành khoa học – kĩ thuật, một số ngành công nghiệp phụ trợ.

Một chính sách kinh tế - xã hội đúng đắn không thể không đề cập đến chính sách

an sinh – xã hội nhằm đảm bảo công bằng và phát triển đất nước thông qua việc trợ cấp đối với người già, người cao tuổi, trợ cấp vốn đào tạo nghề cho người thất nghiệp, đẩy mạnh công tác y tế cho người nghèo Việc đảm bảo an sinh – xã hội cũng là một yếu tố quan trọng giúp phát triển kinh tế, xã hội ổn định và ngăn chặn lạm phát

6.2.2.Xây dựng chính sách quản lý tài chính công theo hướng hiện đại

Đẩy mạnh tăng cường quản lý các khoản thu, tăng thu từ thuế dựa trên cơ sở

mở rộng và nuôi dưỡng nguồn thu, chống thất thu về thuế Trong việc thực hiện ngân sách nhà nước phải thực hành tiết kiệm, đảm bảo chi phải hiệu quả thúc đẩy kinh tế phát triển, chống thất thoát lãng phí trong các dự án đầu tư của chính phủ nhằm đảm bảo cân đối ngân sách chính phủ Giảm bội chi là nhân tố quan trọng trong chống lạm phát

6.2.3 Tiến tới xây dựng thị trường cạnh tranh hoàn hảo

Trong thị trường cạnh tranh hoàn hảo, mọi doanh nghiệp đều công bằng như nhau về các chính sách nên các doanh nghiệp phải cố gắng hết sức để cải tiến kĩ thuật, nâng cao năng suất vừa tăng chất lượng nhưng cũng đảm bảo chất lượng vì thế tình hình lạm phát cao sẽ ít xảy ra do thiếu nguồn cung hay do sự lũng đoạn thị trường Vì thế các chính phủ cần xây dựng các bộ luật sao cho thúc đẩy việc cạnh tranh công bằng giữa các doanh nghiệp, chống độc quyền

6.2.4 Dùng lạm phát chống lạm phát

Những quốc gia hiện tại vẫn còn tiềm năng về tài nguyên thiên nhiên, đất đai, con người, chưa đạt đến mức sản lượng tiềm năng có thể gia tăng chi cho đầu tư phát

Trang 27

triển, có thể sử dụng lâu dài như công trình cầu đường, sân bay nhằm đem lại lợi ích kinh tế trong tương lai.

6.2.5 Thực hiện các biện pháp,chế tài nhằm chống tham nhũng, tinh giảm bộ máy công quyền

Tham nhũng là căn bệnh khó chữa đối với mọi quốc gia, nó gây ra nhiều tác động xấu đến nền kinh tế - xã hội như thất thoát lãng phí trong vấn để chi tiêu vì thê chúng ta cần phải để ra nhiều bộ luật, xử lý nghiêm các hiện tượng tham nhũng trong

bộ máy công quyền, tiết giảm bộ máy làm việc nhà nước vừa làm giảm những thủ tục

"rườm rà" gây cản trở đến hoạt động sản xuất lưu thông hàng hóa vừa giúp nhà nước tiết kiệm một khoản lớn cho chi tiêu ngân sách, giúp ngăn chặn lạm phát cao và siêu lạm phát

Ngoài ra, đẩy mạnh công tác quản lý giá thị trường, xây dựng các quỹ dự trự hàng hóa nhằm xuất dùng những lúc cần thiết, chống nạn đầu cơ lũng đoạn thị trường tạo tâm lý tốt cho người dân về các biện pháp của nhà nước cũng là yếu tố quan trọng chống nạn lạm phát cao

7 Hiện tượng giảm phát

Theo phương trình của Fisher M.V = P.Y, giảm phát là hiện tượng xảy ra khi vì

lý do nào đó mà M trong lưu thông giảm xuống kéo theo P giảm Trong đó có khả năng gây nên tình trạng phá sản các doanh nghiệp, thất nghiệp tràn lan, nhu cầu tiêu dùng giảm xuống Còn theo J.M.Kernes thì giảm phát là hiện tượng khi nhà nước bơm thêm tiền vào lưu thông mà giá cả hàng hóa không tăng lên

* Biểu hiện của giảm phát:

+ Giá các mặt hàng liên tục giảm, GDP tăng trưởng âm

+ Ngân hàng thương mại khó khăn trong cho vay, lãi suất huy động tiết kiệm thấp khiến người dân không muốn gửi tiền ngân hàng, các nhà đầu tư thì cân nhắc kĩ khi vay tiền ngân hàng vì lãi suất thực tế cao hơn nhiều lãi suất danh nghĩa khiến dòng tiền trong lưu thông bị tắt nghẽn, ứ đọng lượng cung tiền trong ngân hàng

+ Lạm phát thấp khiến tiền công của công nhân cao hơn, họ sẽ giảm cung sản xuất và dùng nhiều thời gian để nghỉ ngơi hơn, do giá của nhiều mặt hàng xuống thấp

Ngày đăng: 12/08/2014, 10:47

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

1.1. Đồ thị lạm phát theo số lượng tiền tệ - Đề án Lạm phát và các vấn đề liên quan
1.1. Đồ thị lạm phát theo số lượng tiền tệ (Trang 11)
1.4  Đồ thị mối quan hệ lạm phát và thất nghiệp - Đề án Lạm phát và các vấn đề liên quan
1.4 Đồ thị mối quan hệ lạm phát và thất nghiệp (Trang 18)
2.1. Đồ thị diễn biến giá cả tiêu dùng (CPI) từ 2005 đến nay - Đề án Lạm phát và các vấn đề liên quan
2.1. Đồ thị diễn biến giá cả tiêu dùng (CPI) từ 2005 đến nay (Trang 29)
2.3  Bảng chỉ số giá tháng 12 năm 2009 - Đề án Lạm phát và các vấn đề liên quan
2.3 Bảng chỉ số giá tháng 12 năm 2009 (Trang 34)
2.4  Đồ thị chỉ số giá tiêu dùng 9 tháng đầu năm 2010 - Đề án Lạm phát và các vấn đề liên quan
2.4 Đồ thị chỉ số giá tiêu dùng 9 tháng đầu năm 2010 (Trang 35)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w