1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Lý luận chung về hành vi pháp luật

258 1,1K 4

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 258
Dung lượng 1,17 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bên cạnh đó, đề tài cũng tập trung giải quyết các vấn đề liên quan đến mối liên hệ giữa hành vi pháp luật và các phạm trù khác của lý luận về nhà nước và pháp luật như hành vi trong cơ c

Trang 1

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Trong điều kiện hiện nay, việc hoàn thiện hệ thống những khái niệm

và phạm trù của khoa học pháp lý nói chung và khoa học lý luận về nhà nước

và pháp luật nói riêng có một ý nghĩa rất lớn đối với việc tạo ra cơ sở khoa học cho việc hoàn thiện hệ thống pháp luật Nghiên cứu những vấn đề lý luận

và thực tiễn về hành vi pháp luật xuất là vấn đề cấp thiết xuất phát từ một số

lý do cơ bản sau đây:

Thứ nhất, hành vi pháp luật là một phạm trù cơ bản của khoa học pháp

lý đã được nghiên cứu ở các cấp độ và các khía cạnh khác nhau Tuy nhiên,

do quan niệm về hành vi pháp luật chưa có sự thống nhất nên khi giải quyết những vấn đề cụ thể của các khoa học pháp lý cũng như việc tìm kiếm các giải pháp để đáp ứng những đòi hỏi của thực tiễn còn gặp nhiều khó khăn

Thứ hai, trong quá trình đổi mới nội dung, chương trình và phương

pháp đào tạo đại học luật, việc nghiên cứu và làm sáng tỏ vấn đề hành vi pháp luật sẽ có ý nghĩa rất quan trọng trong việc hoàn thiện giáo trình cũng như nội dung chương trình giảng dạy môn học Lý luận về nhà nước và pháp luật trong chương trình đào tạo đại học tại Trường Đại học Luật Hà Nội

Thứ ba, trong điều kiện hiện nay, việc nâng cao hiệu quả pháp luật đòi

hỏi cần phải có những giải pháp đồng bộ Trong đó, việc đánh giá thực trạng

về hành vi pháp luật trong thực tiễn và trên cơ sở đó đề xuất các giải pháp cho công tác giáo dục pháp luật, đấu tranh phòng và chống vi phạm pháp luật có ý nghĩa rất quan trọng

Vì vậy, xuất phát từ những lý do đó, chúng tôi cho rằng việc nghiên cứu về hành vi pháp luật sẽ góp phần quan trọng đối với việc giải quyết những đòi hỏi của lý luận và thực tiễn pháp luật hiện nay ở nước ta

Trang 2

2 Tình hình nghiên cứu

Hiện nay, trong khoa học pháp lý, đã có một số công trình khoa học nghiên cứu về hành vi pháp luật Các công trình nghiên cứu về hành vi pháp luật đáng chú ý có thể kể đến:

- Chương "Hành vi pháp luật" trong cuốn Những vấn đề lý luận cơ

bản về nhà nước và pháp luật của Viện Nhà nước và pháp luật (1995)

- Hành vi thương mại của tác giả Ngô Huy Cương - Tạp chí nghiên

cứu lập pháp số 1/2002

- Động cơ hóa hành vi pháp luật của tác giả Lê Vương Long - Tạp chí

Luật học số 1/2000

- Vi phạm pháp luật - một số vấn đề lý luận và thực tiễn ở Việt Nam

của tác giả Bùi Xuân Phái (2002) - Luận văn thạc sĩ luật học

- Hành vi phạm tội nhìn từ góc độ tâm lý học của tác giả Đặng Thanh

Nga - Tạp chí Luật học, 4/1998

- Hành vi pháp luật - những vấn đề lý luận và thực tiễn của tác giả Lê

Minh Tiến - Luận văn thạc sĩ luật học

- Ngoài ra, trong các giáo trình Lý luận về Nhà nước và Pháp luật ở một số cơ sở đào tạo luật cũng đề cập ở mức độ nhất định về hành vi pháp luật

Ở nước ngoài, cũng đã có những công trình đề cập đến vấn đề này Trong các giáo trình Lý luận về nhà nước và pháp luật của Liên Xô trước đây cũng đã đề cập ở mức độ nhất định Bên cạnh đó, các công trình của các tác giả khác cũng đã đề cập đến vấn đề này Có thể kể đến một số công trình sau:

- The concept of a legal system, Claredon press - Oxford - 1980

- Von Wright, G H Norm and Action, Routledge & Kegan Paul, New York,

- Hans Kelsen, General Theory of Law and State Publisher New York: Russell and Russell, 1961

Trang 3

- Michael S Moore, MORE ON ACT AND CRIME, University of Pennsylvania Law Review.Vol 142 - 1994

Nhìn chung, các công trình đó đã giải quyết được một số khía cạnh nhất định về hành vi pháp luật từ các góc độ khác nhau Tuy nhiên, các công trình

đó còn có những hạn chế nhất định đòi hỏi cần phải được làm sáng tỏ thêm:

Thứ nhất, các quan điểm cũng như cách tiếp cận vấn đề chưa có sự

thống nhất, thậm chí có những quan điểm trái ngược nhau về hành vi pháp luật Vì thế, khi vận dụng những quan điểm đó vào việc giải quyết những vấn

đề cụ thể của khoa học pháp lý chuyên ngành hoặc thực tiễn pháp luật chưa đảm bảo tính thống nhất

Thứ hai, ở khía cạnh lý luận, những vấn đề liên quan đến mối quan hệ

giữa hành vi pháp luật và các phạm trù pháp lý khác của lý luận về nhà nước

và pháp luật chưa được giải quyết một cách thấu đáo

Thứ ba, việc đánh giá thực trạng về hành vi pháp luật còn ở mức độ

hạn chế, chưa thực sự gắn với đời sống thực tiễn và hoàn cảnh hiện nay Vì vậy, khi đề ra các giải pháp thực tiễn còn mang tính chất chung chung, thiếu

cụ thể

3 Phương pháp nghiên cứu

Đề tài được thực hiện trên cơ sở phương pháp luận khoa học của Chủ nghĩa Mác - Lênin về nhà nước và pháp luật Trong đó, các phương pháp nghiên cứu chủ yếu là phương pháp duy vật biện chứng và phương pháp duy vật lịch sử Bên cạnh đó, để làm rõ những vấn đề cụ thể, đề tài còn sử dụng các phương pháp khác như phân tích, tổng hợp, so sánh, thống kê, điều tra xã hội học…

4 Mục đích nghiên cứu của đề tài

Việc nghiên cứu những vấn đề lý luận cơ bản về hành vi pháp luật nhằm:

- Góp phần hoàn thiện lý luận về hành vi pháp luật - một phạm trù rất

cơ bản của khoa học lý luận về nhà nước và pháp luật

Trang 4

- Đánh giá thực trạng hành vi pháp luật ở nước ta hiện nay, trên cơ sở

đó đề xuất các giải pháp cho các hoạt động thực tiễn trong công tác đấu tranh phòng và chống vi phạm pháp luật

- Phục vụ cho công tác giảng dạy môn học lý luận về nhà nước và pháp luật trong chương trình đào tạo đại học

5 Phạm vi nghiên cứu của đề tài

Hành vi pháp luật là một phạm trù pháp lý rất phức tạp mà mỗi khoa học có thể tiếp cận nó ở các góc độ riêng của mình Trong phạm vi đề tài này, nhóm nghiên cứu sẽ tập trung làm sáng tỏ những vấn đề lý luận cơ bản nhất

về hành vi pháp luật từ góc độ lý luận về nhà nước và pháp luật và đặt nó trong lý luận của các khoa học pháp lý chuyên ngành; đánh giá thực trạng hành vi pháp luật ở nước ta hiện nay; đề xuất các giải pháp cho việc đấu tranh phòng và chống vi phạm pháp luật ở nước ta hiện nay

6 Nội dung nghiên cứu

Đề tài tập trung nghiên cứu những vấn đề cơ bản sau:

- Lý luận cơ bản nhất về hành vi pháp luật bao gồm khái niệm, đặc điểm, cấu thành và phân loại hành vi pháp luật Bên cạnh đó, đề tài cũng tập trung giải quyết các vấn đề liên quan đến mối liên hệ giữa hành vi pháp luật

và các phạm trù khác của lý luận về nhà nước và pháp luật như hành vi trong

cơ chế điều chỉnh pháp luật;

- Hành vi pháp luật trong một số lĩnh vực pháp luật chuyên ngành;

- Đánh giá thực trạng về hành vi pháp luật, những yếu tố ảnh hưởng đến hành vi pháp luật, các trạng thái của hành vi trong thực tiễn đời sống xã hội;

- Trên cơ sở thực trạng đã đánh giá, đề tài sẽ đề xuất những giải pháp cho các hoạt động thực tiễn đặc biệt là trong công tác đấu tranh phòng chống

vi phạm pháp luật và việc giáo dục, nâng cao ý thức pháp luật nằm phát triển, nhân rộng các hành vi hợp pháp trong đời sống xã hội

Trang 5

PHẦN I

BÁO CÁO TỔNG HỢP KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

Trang 6

I MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ HÀNH VI PHÁP LUẬT

1.1 Khái niệm hành vi pháp luật

1.1.1 Hành vi

Hành vi là phạm trù được tiếp cận từ góc độ của nhiều ngành khoa

học khác nhau Trong tâm lí học có ba trường phái tiêu biểu đề cập đến hành

vi là thuyết hành vi cổ điển; thuyết hành vi mới và tâm lý học mácxít về hành

vi Thuyết hành vi cổ điển (hay học thuyết Watson)1 cho rằng, hành vi của con người chỉ bao gồm các cử động (hoạt động) có thể quan sát được ở cơ thể người thích ứng với môi trường khách quan xung quanh Nói cách khác, hành

vi chính là kết quả của qui trình: kích thích (Stimulant) - phản ứng (Reaction) Các nhà tâm lý học theo Thuyết hành vi mới không phủ nhận kết quả nghiên

cứu của Watson và cho rằng, các yếu tố S-R là những yếu tố tiền đề không thể thiếu của hành vi Tuy nhiên, họ cho rằng cần phải làm kín khoảng trống giữa kích thích và phản ứng bằng cách đưa lý trí vào giữa hai yếu tố này Các nhà

tâm lý học mác-xít về hành vi coi ý thức là vấn đề trung tâm của tâm lý hành

vi, ý thức chính là yếu tố không thể thiếu trong cấu trúc của hành vi Hành vi của con người là hoạt động khách quan, xét về nội dung và hình thức, hoạt động đó hàm chứa các nhân tố tâm lý, ý thức, kinh nghiệm lịch sử- xã hội, giá trị xã hội, hay nó là quá trình tác hợp các yếu tố chủ quan bên trong và yếu tố bên ngoài dưới những điều kiện nhất định Tính đúng đắn của tâm lý học mác-xít khi tiếp cận hoạt động là coi kích thích cũng là đối tượng của nhận thức, phản xạ là nội dung trả lời của tâm lý được hình thành trên cơ sở ý thức

1 Watson (1878-1958) nhà tâm lý học người Mỹ Ông đã đưa ra cương lĩnh đầu tiên của thuyết hành vi với công thức nổi tiếng S-R, tạo nên thuyết hành vi cổ điển (còn gọi là thuyết Watson).

Trang 7

Các nhà triết học mácxít khẳng định ý thức là thuộc tính của vật chất

nhưng không phải của mọi dạng vật chất mà chỉ là thuộc tính của một dạng vật chất có tổ chức cao là bộ não người Xét về cấu trúc vật chất và nội dung của hành vi xã hội không thể thiếu quá trình tâm lý như kích thích, phản ứng nghĩa là nó hàm chứa cả những thuộc tính bản năng và được hình thành trên nền tảng ý thức, nhận thức của con người Hành vi xã hội mang tính lịch sử

xã hội, hàm chứa các giá trị xã hội và nó được phổ biến, nhân rộng trong đời sống xã hội của con người bằng chính nền tảng của ý thức Sự phát triển của

xã hội không nằm ngoài quá trình lao động, sáng tạo của chính con người Các hoạt động đó có ý thức, tương tác với nhau và từng bước tạo nên những thang bậc giá trị xã hội Vì lẽ đó, hành vi của con người xét về mặt tổng thể là hành vi xã hội? Hành vi của con người hàm chứa hai mặt, đó là những hoạt động vật chất hình thành trên cơ sở ý thức của chủ thể và giá trị xã hội, phương thức ứng xử chung với nghĩa là nguyên lý để tồn tại của xã hội con người

Theo các nhà xã hội học, hành vi xã hội là một chỉnh thể thống nhất gồm cả các yếu tố bên trong (tâm lý, ý thức) và các yếu tố bên ngoài (nhu cầu,

tác nhân, điều kiện, tình huống, giá trị, chuẩn mực xã hội…) Vì thế, "hành vi

cần được phân tích như một chỉnh thể linh hoạt, không một bộ phận nào của chỉnh thể được phân tích hoặc có thể được phân tích một cách độc lập"2 Do

đó, cần phải phân biệt hành vi xã hội với các hành động vật lý, bản năng vô thức

Như vậy, hành vi là một đối tượng hiện vẫn có sự khác biệt về nhận thức

giữa các ngành khoa học Điều này là do các ngành khoa học khác nhau có đối tượng nghiên cứu, phạm vi và mục đích nghiên cứu khác nhau Mặc dù có sự

khác nhau nhất định về cách tiếp cận nhưng nhìn chung theo chúng tôi, hành

vi là hoạt động được hình thành trên cơ sở nhận thức; có phương thức biểu đạt trên thực tế bằng hành động hoặc không hành động; có mục đích, định hướng cụ thể Với cách nhìn nhận như vậy, hành vi xã hội cần phải được phân

biệt với các thao tác bản năng Những thao tác này xét về nội dung và hình thức không được hình thành trên cơ sở nhận thức và không mang tính xã hội

2 Vũ Quang Hà, Xã hội học đại cương, Nxb Thống kê, 2002, trang132.

Trang 8

Như vậy, hành vi là là xử sự có ý thức của con người trong những

điều kiện hoàn cảnh cụ thể, chứa đựng nội dung thực tế và hướng tới mục đích nhất định.

Trên cơ sở đó, hành vi có những đặc điểm cơ bản sau:

Thứ nhất, hành vi là dạng hoạt động được hình thành trên cơ sở ý

thức của con người

Thứ hai, hành vi có phương thức biểu đạt trên thực tế dưới dạng

hành động và không hành động

Thứ ba, hành vi chứa đựng động cơ, mục đích và định hướng cụ thể Thứ tư, hành vi mang tính lịch sử - xã hội

Thứ năm, hành vi luôn gắn liền với quá trình điều chỉnh xã hội, được

đánh giá bởi các chuẩn mực xã hội

Thứ sáu, hành vi có mối liên hệ hữu cơ với trách nhiệm xã hội

Hành vi có nhiều loại và do nhiều chủ thể tiến hành trong những điều kiện cụ thể khác nhau Mặc dù có tính đa dạng cả về nội dung và tính chất nhưng hành vi cũng có những nét tương đồng trong sự hình thành, tồn tại và phát huy giá trị trên thực tế Chính vì lẽ đó, việc phân loại hành vi là có thể thực hiện dựa trên những tiêu chí khác nhau

+ Dựa vào dạng thức tồn tại thực tế (tức hình thức biểu đạt khách quan trên thực tế), hành vi phân thành hai dạng thức là hành động và không hành động Hành động là dạng thức hành vi thể hiện thái độ chủ động của chủ thể trong việc bộc lộ những thao tác ra bên ngoài thế giới khách quan Hành động có thể được thể hiện dưới những thao tác vật chất như dùng sức mạnh hoặc sử dụng ngôn ngữ nói Không hành động là dạng thức hành vi thể hiện thái độ chủ động của chủ thể trước một yêu cầu nào đó và đã không bộ lộ những thao tác cụ thể ra ngoài thế giới khách quan nhưng gắn với một kết quả thực tế

Trang 9

+ Dựa vào các phương tiện điều chỉnh xã hội, hành vi được nhận diện theo các chuẩn mực như hành vi đạo đức, hành vi pháp luật, hành vi tôn giáo, hành vi chính trị

- Hành vi đạo đức là những hành vi được điều chỉnh bởi đạo đức, hay

đó là những hành vi được đánh giá bởi các chuẩn mực đạo đức tốt hoặc xấu

- Hành vi tôn giáo là những hành vi được điều chỉnh bởi các qui phạm, quan niệm tôn giáo Do tôn giáo có nhiều giáo phái nên các qui phạm, quan niệm của các giáo phái có sự khác nhau nhất định

- Hành vi pháp luật là những hành vi chịu sự điều chỉnh của pháp luật

- Hành vi chính trị là hành vi thể hiện quan điểm, khuynh hướng, đường lối chính trị trong đời sống xã hội có giai cấp, chịu sự điều chỉnh của các quan điểm, qui phạm chính trị

+ Dựa vào đặc điểm về chủ thể, hành vi có thể phân thành hành vi của

cá nhân, hành vi của tổ chức (tập thể)

+ Dựa vào ý chí, hành vi có thể chia làm hai dạng là hành vi chủ động

và hành vi bị động

+ Dựa vào cơ sở của sự tồn tại hành vi có thể phân thành hành vi có

sự thỏa thuận (hay có giao ước, hợp đồng) và hành vi không có thỏa thuận hay ngoài giao ước, hợp đồng

Tóm lại, hành vi là phương thức tồn tại của con người Nếu xã hội của con người là quá trình vận động và phát triển không có điểm dừng thì hành vi cũng sẽ là bất tận Con người với tư cách là chủ thể của sự sáng tạo thì hành

vi luôn chứa đựng sự mới mẻ về nội dung, tính chất và vẫn là một vấn đề phức tạp trong nhận thức luận Việc kiến giải một cách khoa học về hành vi sẽ

là cơ sở lý luận quan trọng cho quá trình nghiên cứu một cách toàn diện về con người Đó là một quá trình đòi hỏi phải được tiếp cận đa chiều dưới lăng kính liên ngành của nhiều bộ môn khoa học, bởi đó là những nội dung không

dễ có được sự thống nhất trong nghiên cứu

Trang 10

1.1.2 Khái niệm hành vi pháp luật

Trong khoa học pháp lý hiện nay, còn có nhiều ý kiến khác nhau về hành vi pháp luật cũng như về các đặc trưng cơ bản của nó Các quan điểm này đã luận giải ở những mức độ nhất định về hành vi pháp luật Tuy nhiên, vẫn còn có những điểm về hành vi pháp luật chưa được luận giải Xuất phát

từ quan niệm hành vi được phân tích ở trên, hành vi pháp luật có những dấu hiệu cơ bản sau đây:

Thứ nhất, hành vi pháp luật là xử sự thực tế của con người Hành

vi là cách xử sự của con người trong một hoàn cảnh cụ thể có thể được biểu

hiện ra bên ngoài bằng lời nói, cử chỉ nhất định3 (xử sự dưới dạng hành

động) và cũng có thể được thể hiện bằng việc thiếu vắng những cử chỉ, lời nói

hay những thao tác nhất định (xử sự dưới dạng không hành động) Khi những

nhận thức, suy nghĩ của con người chưa được biểu hiện ra bên ngoài thành những xử sự cụ thể (hành động hoặc không hành động) trong một tình huống hay hoàn cảnh cụ thể nào đó được pháp luật quy định thì cũng có nghĩa là chưa thể có hành vi pháp luật Do đó, hành vi pháp luật trước hết phải là những xử sự thực tế cụ thể được thể hiện dưới những hình thức nhất định Điều này có nghĩa là hành vi pháp luật phải ở mức độ hành vi thực tế4

Thứ hai, hành vi pháp luật là những xử sự hợp pháp hoặc bất hợp pháp Khác với các hành vi xã hội khác, một hành vi thực tế nào đó của con

người chỉ được coi là hành vi pháp luật khi đó là những xử sự hợp pháp hoặc bất hợp pháp Đây là đặc điểm thể hiện khía cạnh pháp lý của hành vi pháp luật.5 Không phải tất cả các hành vi hay xử sự thực tế của con người đều là hành vi pháp luật mà chỉ những xử sự thực tế của con người theo quy định của pháp luật là hành vi hợp pháp hoặc trái pháp luật thì mới có thể là hành vi pháp luật

3 Đặng Thanh Nga, Từ khái niệm hành vi đến khái niệm hành vi phạm tội, Tạp chí Nhà nước và Pháp luật, số 6 (218)/2006, trang 77.

4 Đào Trí Úc, Những vấn đề lý luận cơ bản về pháp luật, NXB Khoa học xã hội, Hà Nội, 1993, trang 98.

5 Đào Trí Úc, Sđd, trang 98.

Trang 11

Thứ ba, chủ thể của hành vi pháp luật phải có năng lực hành vi pháp luật Những hành vi thực hiện quyền và nghĩa vụ trên thực tế do chủ thể

không có năng lực hành vi thực hiện sẽ không thể là hành vi pháp luật bởi vì

họ chưa được pháp luật thừa nhận khả năng xác lập và thực hiện các quyền và nghĩa vụ của mình Những hành vi do chủ thể không có năng lực hành vi thực hiện nếu đó là hành vi hợp pháp hoặc bất hợp pháp thì đó chỉ là những hành

vi mang tính chất pháp lý Những hành vi này có thể là sự kiện pháp lý làm phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt quan hệ pháp luật

Như vậy, hành vi pháp luật là xử sự hợp pháp hoặc bất hợp pháp

của chủ thể có năng lực hành vi pháp luật.

Quan niệm như vậy về hành vi pháp luật thể hiện được nội dung của vấn đề toàn diện hơn và nhờ đó, nó tạo điều kiện cho việc nghiên cứu và làm sáng tỏ về hành vi pháp luật trong các ngành khoa học pháp lý khác cũng như nghiên cứu về hành vi pháp luật trong mối quan hệ với các phạm trù khác của khoa học lý luận về nhà nước và pháp luật như quy phạm pháp luật, quan hệ pháp

luật, cơ chế điều chỉnh pháp luật, vi phạm pháp luật và trách nhiệm pháp lý

Để hiểu rõ hơn về hành vi pháp luật, có lẽ cũng cần phải đặt nó trong mối quan hệ với các hành vi của con người được điều chỉnh bằng những phương tiện khác như phong tục tập quán, tín điều tôn giáo… đặc biệt là đạo đức

Giữa hành vi pháp luật và hành vi đạo đức có những điểm giống nhau

cơ bản:

Một là, hành vi pháp luật và hành vi đạo đức là những hành vi phổ

biến nhất trong đời sống xã hội Trong các hành vi xã hội của con người thì hành vi đạo đức và hành vi pháp luật chiếm tỉ trọng lớn nhất

Hai là, hành vi pháp luật và hành vi đạo đức đều mang tính chất lịch

sử xã hội Qua mỗi thời kì lịch sử, do điều kiện kinh tế, chính trị, văn hóa xã hội khác nhau, con người có những hành vi khác nhau, cách thức thực hiện khác nhau, công cụ, phương tiện hỗ trợ khác nhau…

Trang 12

Ba là, với tính cách là hành vi con người, hành vi pháp luật và hành vi

đạo đức đều chịu sự chi phối của những điều kiện khách quan, chủ quan Đó

là những yếu tố như điều kiện kinh tế xã hội; môi trường sống như gia đình, khu dân cư, nhà trường, nơi công tác Ý thức cá nhân, bao gồm trình độ văn hóa, hiểu biết pháp luật, đạo đức, quan điểm quan niệm sống… cũng là yếu tố

có sự chi phối rất mạnh mẽ tới hành vi của con người

Bốn là, hành vi pháp luật và hành vi đạo đức đều bị chi phối bởi ý

thức hệ hay các quan điểm, quan niệm của lực lượng cầm quyền

Bên cạnh những điểm giống nhau, hành vi pháp luật và hành vi đạo đức cũng có những điểm khác biệt Sự khác nhau giữa hành vi pháp luật và hành vi đạo đức được thể hiện ở các khía cạnh sau:

Thứ nhất, nhân tố điều chỉnh hành vi: Hành vi pháp luật chịu sự tác

động trực tiếp của qui phạm pháp luật, nói một cách cụ thể, chỉ khi có qui phạm pháp luật (qui tắc xử sự), các thành viên trong xã hội mới biết một cách chính xác mình được làm gì, phải làm gì, làm như thế nào hay không được làm gì? Trong khi đó, có thể nói, hành vi đạo đức trực tiếp chịu sự chi phối của các quan điểm, quan niệm, tư tưởng đạo đức Nắm được các quan niệm,

tư tưởng đạo đức là xác định được mình phải làm gì, làm như thế nào trong điều kiện hoàn cảnh nào, bởi của các quan niệm, quan điểm đạo đức chính là những yêu cầu, đòi hỏi của xã hội đối với hành vi của mỗi người

Trang 13

Thứ hai, chủ thể của hành vi: Chủ thể của hành vi pháp luật là những

người có năng lực hành vi pháp luật Tức là họ phải có khả năng nhận thức và điều khiển hành vi của mình Họ không chỉ nhận thức được mặt thực tế của hành vi mà quan trọng là phải nhận thức được ý nghĩa xã hội của hành vi của

họ, tức là phải nhận thức được hành vi đó là phù hợp hay không phù hợp với yêu cầu đòi hỏi của xã hội, hành vi đó được xã hội khuyến khích hay bị xã hội lên án Đồng thời, họ phải điều khiển được hành vi của họ trên cơ sở của sự nhận thức đó, nếu hành vi phù hợp với yêu cầu đòi hỏi của xã hội, họ phải có

sự tự giác, tích cực để thực hiện chúng, nếu hành vi không phù hợp với đòi hỏi của xã hội, bị xã hội lên án…, họ phải có khả năng kiềm chế để không thực hiện nó…Trong khi đó, chủ thể của hành vi đạo đức có phạm vi rộng hơn rất nhiều Chủ thể của hành vi đạo đức cũng phải là người có năng lực hành vi đạo đức Năng lực hành vi đạo đức xuất hiện rất sớm, nó xuất hiện ngay từ khi con người thực hiện những hành vi có ý thức đầu tiên Mỗi người, ngay từ khi còn nhỏ, lúc mới bắt đầu nhận thức đã được giáo dục luân lí, đạo đức trong gia đình Đến tuổi tới trường, những kiến thức đầu tiên nhà trường cung cấp cho trẻ cũng là những quan niệm, chuẩn mực luân lí, đạo đức

Trang 14

Thứ ba, biện pháp tác động đến hành vi: Các biện pháp tác động đến

hành vi pháp luật và hành vi đạo đức cũng có sự khác nhau Hành vi pháp luật chịu sự tác động bởi các biện pháp mang tính nhà nước Tùy điều kiện, hoàn cảnh cụ thể, nhà nước có thể sử dụng một hoặc kết hợp các biện pháp khác nhau, từ tuyên truyền, giáo dục, thuyết phục, đến khen thưởng, xử phạt Trong

khi đó, để tác động đến hành vi đạo đức, chủ yếu và "trước hết nhờ vào

những yếu tố kích thích nội tâm của con người - sức mạnh từ bên trong, từ lương tâm, từ những thói quen xử sự và từ sức mạnh bên ngoài - dư luận xã hội"6 Hơn nữa, các biện pháp tác động đến hành vi pháp luật chỉ được thực hiện trong hiện tại và sự hiệu lực của các biện pháp đó chỉ trong một thời gian nhất định Ngược lại, sự phán xét của "toà án lương tâm" đối với hành vi con nhấti không chỉ diễn ra trong một thời hạn nhất định Sự ân hận, cắn rứt, giày

vò trong lương tâm không có thời hiệu, nó diễn ra một cách "triền miên, day

dứt, thậm chí suốt cả cuộc đời người vi phạm" 7

Ngoài ra, hành vi pháp luật và hành vi đạo đức còn được phân biệt ở ranh giới giữa chúng và cơ chế tâm lý của hành vi

1.14 Phân loại hành vi pháp luật

Phân loại hành vi pháp luật là một vấn đề rất phức tạp Thông thường, giới luật học thường phân chia hành vi pháp luật thành hành vi hợp pháp và hành vi bất hợp pháp dựa vào mối quan hệ giữa hành vi với những đòi hỏi của pháp luật Đây là cách phân loại phổ biến và thông dụng nhất Hành vi pháp luật cũng có thể được phân loại theo nhóm gắn với các lĩnh vực pháp luật cụ thể như hành vi pháp luật dân sự, hành vi pháp luật hành chính Dựa vào hình thức biểu hiện khách quan của hành vi, hành vi pháp luật được phân chia thành hai loại là hành động và không hành động

6 Hoàng Thị Kim Quế, "Một số suy nghĩ về mối quan hệ giữa pháp luật và đạo đức trong hệ thống điều chỉnh xã hội", Nhà nước và Pháp luật, (7/1999), trang 17.

7 Hoàng Thị Kim Quế, Sđd, trang 17.

Trang 15

Loại hành vi được thể hiện dưới hình thức hành động đều được đa số các học giả thừa nhận đó là dạng hành vi được thực hiện bằng những cử chỉ, lời nói, động tác của chủ thể Hành vi pháp luật thuộc loại này dễ dàng được nhận diện trong đời sống xã hội Ví dụ, hành vi làm lộ bí mật công tác, hành

vi ký kết hợp đồng

Loại hành vi được thể hiện dưới hình thức không hành động là một vấn đề phức tạp, hiện nay còn có những ý kiến khác nhau Hành động xét về mặt khách quan nó bao hàm một hoặc một chuỗi những thao tác, cử chỉ, lời nói Vì thế không hành động được hiểu là sự thiếu vắng một hoặc một chuỗi những thao tác cử chỉ nào đó Một người không thực hiện hành động (H) ở thời điểm (T) chỉ trong trường hợp ở thời điểm đó người đó có cơ hội để thực hiện hành động này8 Trong trường hợp này, việc thiếu vắng hành động được pháp luật quy định nên được xem là không hành động Ví dụ, một người thấy người khác trong tình trạng nguy hiểm đến tính mạng, tuy có điều kiện cứu giúp mà không cứu giúp thì rõ ràng là không hành động trong điều kiện có thể hành động Ở đây cũng cần lưu ý rằng, "không hành động" là xét ở khía cạnh quy định của pháp luật còn bản thân người thực hiện hành vi bằng không hành động ở thời điểm đó, họ có thể thực hiện những hành động khác nhưng lại không thực hiện hành động được pháp luật quy định Vì thế việc xem xét cái gọi là hành động hoặc không hành động cần phải xuất phát từ các quy định của pháp luật Trong mối quan hệ với các qui định của pháp luật, sự thiếu vắng một hành động nào đó có thể là hợp pháp hoặc không hợp pháp

8 Joseph Raz, The Concept of a Legal system - An Introduction to the Theory of Legal system., Clarendon Press - Oxford 1980, trang 51.

Trang 16

Ở khía cạnh ngôn ngữ, cái gọi là "hành động" hoặc "không hành động" chỉ mang tính chất tương đối Ví dụ, sự đối lập giữa làm việc và nghỉ ngơi, giữa làm việc và đình công trong lĩnh vực Luật lao động Theo đó, "làm việc" hiểu theo nghĩa thông thường đó là hoạt động nhằm đạt được một kết quả nào đó 9; "Đình công" là "cùng nhau nghỉ, không làm việc"10 hoặc "là sự ngừng việc tập thể "11 Trong những trường hợp này, việc giải thích một hành vi là hành động hay không hành động chỉ có ý nghĩa tương đối Ở đây, việc thiếu vắng hành động này được biểu hiện bằng cách sử dụng một thuật ngữ chỉ một hành động khác chứ không hoàn toàn là việc sử dụng cách nói phủ định để mô tả hành vi được thể hiện bằng không hành động Trong những trường hợp này, việc mô tả không hành động lại được thực hiện bởi việc xác định một hành động khác và ngược lại

1.2 Cấu thành hành vi pháp luật

Cấu thành của hành vi pháp luật bao gồm bốn yếu tố là mặt khách quan, mặt chủ quan, chủ thể và khách thể

1.2.1 Mặt khách quan của hành vi pháp luật

Mặt khách quan của hành vi pháp luật bao gồm các yếu tố như: xử sự thực tế của chủ thể, hệ quả tác động của xử sự đó đối với xã hội, quan hệ nhân quả giữa xử sự đó với hệ quả tác động của nó, thời gian, địa điểm xảy ra xử

sự và phương tiện giúp chủ thể thực hiện xử sự đó

9 Nguyễn Như Ý (chủ biên), Đại từ điển tiếng Việt, NXB Văn hoá Thông tin, Hà Nội - 1998, trang 967.

10 Nguyễn Như Ý, Sđd, trang 640.

11 Trường ĐH Luật Hà Nội, Giáo trình Luật lao động Việt Nam, NXB Công an nhân dân, Hà Nội - 2004, trang 263.

Trang 17

Trước hết, hành vi pháp luật là xử sự thực tế của con người, xử sự đó

có thể là hợp pháp song cũng có thể là trái pháp luật Xử sự hợp pháp của các chủ thể được thể hiện dưới nhiều hình thức khác nhau tùy theo yêu cầu của pháp luật Đó có thể là tuân theo pháp luật, thi hành pháp luật, sử dụng pháp luật hoặc áp dụng pháp luật Tuy nhiên, cách thức tuân theo, thi hành, sử dụng hoặc áp dụng pháp luật của các chủ thể rất khác nhau tùy theo từng loại quan

hệ xã hội và từng tình huống cụ thể

Xử sự trái pháp luật cũng được thể hiện dưới nhiều hình thức khác nhau Đó có thể là việc chủ thể không thực hiện, thực hiện không đúng hoặc không đầy đủ nghĩa vụ mà pháp luật bắt buộc phải thực hiện Loại xử sự bất hợp pháp khác là là chủ thể thực hiện những hành vi bị pháp luật cấm Xử sự trái pháp luật bao gồm hai loại là hành vi trái pháp luật do nguyên nhân khách quan và vi phạm pháp luật Hành vi trái pháp luật do nguyên nhân khách quan

là hành vi trái pháp luật nhưng không có lỗi của chủ thể và trong lĩnh vực pháp lý nó thường được gọi là trường hợp bất khả kháng Còn vi phạm pháp luật là hành vi trái pháp luật và có lỗi do chủ thể có năng lực trách nhiệm pháp lý thực hiện, xâm hại đến các quan hệ xã hội được pháp luật bảo vệ

Thứ hai, sự tác động của xử sự đó tới xã hội được thể hiện qua hệ quả

mà nó gây ra cho xã hội Đó có thể là tác động tích cực song cũng có thể là tác động tiêu cực Những xử sự hợp pháp sẽ có tác động tích cực theo hướng làm cho các quan hệ xã hội được điều chỉnh theo mục đích của nhà nước hay phát triển theo chiều hướng mà nhà nước mong muốn, giúp cho trật tự pháp luật được thiết lập trong những lĩnh vực được điều chỉnh bởi pháp luật, mang lại những lợi ích vật chất tinh thần cho các chủ thể hoặc cho xã hội

Phần lớn các xử sự trái pháp luật là có tác động tiêu cực theo hướng làm cho các quan hệ xã hội không phát triển theo chiều hướng nhà nước mong muốn, làm rối loạn trật tự xã hội hoặc làm cho trật tự pháp luật không được thiết lập trong một lĩnh vực nào đó; gây ra những thiệt hại nhất định cho

xã hội

Trang 18

Thứ ba, quan hệ nhân quả giữa xử sự thực tế và hệ quả mà nó gây ra

cho xã hội, tức là giữa chúng có mối quan hệ tất yếu với nhau, hành vi đã chứa đựng mầm mống sẽ gây ra hệ quả hoặc là nguyên nhân trực tiếp của hệ quả, nó phải xảy ra trước hệ quả về mặt thời gian, còn hệ quả phải là kết quả tất yếu của chính xử sự ấy mà không phải của một xử sự khác Ví dụ, hành vi đăng ký xe máy, nộp thuế trước bạ của một cá nhân đã hứa hẹn và là nguyên nhân trực tiếp đưa đến việc cá nhân đó được nhận đăng ký xe máy; hành vi vi phạm luật giao thông đã chứa đựng mầm mống gây ra tai nạn giao thông hoặc ngay lập tức gây ra tai nạn giao thông

Thứ tư, các yếu tố khác như thời gian, địa điểm, phương tiện để thực

hiện xử sự Thời gian là giờ, ngày, tháng, năm xảy ra xử sự thực tế của chủ thể Địa điểm là nơi mà chủ thể thực hiện hành vi và phương tiện là công cụ

mà chủ thể sử dụng để thực hiện hành vi

Trong các yếu tố trên của mặt khách quan của hành vi pháp luật thì xử

sự thực tế của chủ thể là yếu tố quan trọng nhất và giữ vai trò quyết định vì nếu không có nó thì cũng không có các yếu tố khác

1.2.2 Mặt chủ quan của hành vi pháp luật

Mặt chủ quan của hành vi pháp luật là trạng thái tâm lý bên trong của chủ thể khi thực hiện hành vi hay khi thực hiện một xử sự nhất định Nó thể hiện khả năng nhận thức, khả năng xác định mục đích, lựa chọn phương thức thực hiện hành vi và điều khiển hành vi của chủ thể; nó phản ánh động cơ thực hiện hành vi, thái độ của chủ thể đối với hành vi của mình và đối với hệ quả của hành vi đó

Mục đích của hành vi là cái đích trong tâm lý mà chủ thể mong muốn đạt được khi thực hiện hành vi của mình

Trang 19

Động cơ của hành vi là động lực trong tâm lý thúc đẩy chủ thể thực hiện hành vi Xử sự thực tế của các chủ thể có thể do sự thúc đẩy của một động cơ nào đó Động cơ thực hiện một xử sự thực tế của các chủ thể có thể

là trong sáng, lành mạnh, song cũng có thể là không trong sáng, không lành mạnh hoặc thậm chí đen tối, thấp hèn

Ngoài những yếu tố trên, đối với trường hợp vi phạm pháp luật, yếu tố quan trọng trong nhất mặt chủ quan của vi phạm pháp luật là "lỗi", vì nếu chủ thể không có lỗi trong hành vi của mình thì không bị coi là vi phạm pháp luật

Do vậy, lỗi chính là yếu tố căn bản để phân biệt giữa hành vi trái pháp luật do nguyên nhân khách quan với vi phạm pháp luật Lỗi là thái độ hay trạng thái tâm lý của chủ thể đối với hành vi trái pháp luật của mình và đối với hậu quả của hành vi đó gây ra cho xã hội được thể hiện dưới hai hình thức cố ý hoặc

vô ý Lỗi cố ý gồm có cố ý trực tiếp và cố ý gián tiếp Lỗi vô ý cũng gồm hai loại: vô ý vì cẩu thả và vô ý vì quá tự tin Chủ thể sẽ bị coi là có lỗi khi thực hiện hành vi trái pháp luật nếu đó là kết quả của sự lựa chọn và thực hiện của chính chủ thể trong khi có đủ điều kiện để lựa chọn và thực hiện một xử sự khác phù hợp với các qui định của pháp luật họ có thể nhận thức được hành vi của mình và hậu quả của hành vi đó gây ra cho xã hội đồng thời điều khiển được hành vi của mình

1.2.3 Chủ thể của hành vi pháp luật

Trang 20

Chủ thể của hành vi pháp luật là cá nhân hoặc tổ chức có năng lực hành vi pháp luật, tức là phải có khả năng nhận thức và điều khiển hành vi của mình Họ không chỉ nhận thức được mặt thực tế của hành vi mà quan trọng là phải nhận thức được ý nghĩa xã hội của hành vi của họ, tức là phải nhận thức được hành vi đó là phù hợp hay không phù hợp với yêu cầu đòi hỏi của xã hội, hành vi đó được xã hội khuyến khích hay bị xã hội lên án Đồng thời, họ phải điều khiển được hành vi của họ trên cơ sở của sự nhận thức đó, nếu hành vi phù hợp với yêu cầu đòi hỏi của xã hội, họ phải có sự tự giác, tích cực để thực hiện chúng, nếu hành vi không phù hợp với đòi hỏi của xã hội, bị

xã hội lên án…, họ phải có khả năng kiềm chế để không thực hiện nó

Đối với chủ thể là cá nhân thì năng lực hành vi pháp luật của họ không thể phát sinh ngay từ khi họ sinh ra mà sẽ hình thành dần dần và cá nhân sẽ được coi là có năng lực hành vi pháp luật đầy đủ khi họ đạt đến một độ tuổi nhất định và trí tuệ phát triển bình thường Đó là độ tuổi mà sự phát triển về trí lực và thể lực đã cho phép chủ thể có đủ khả năng tự mình xác lập và thực hiện các quyền và nghĩa vụ pháp lý của mình Độ tuổi đó là khác nhau trong các quan hệ pháp luật khác nhau tùy theo quy định của pháp luật Đối với chủ thể là tổ chức thì nó sẽ được coi là có năng lực hành vi đầy đủ khi nó được các cơ quan nhà nước có thẩm quyền thành lập, cho phép thành lập, đăng ký hoặc công nhận; tức là khi nó được thành lập hoặc được tồn tại và hoạt động một cách hợp pháp Năng lực hành vi pháp luật của tổ chức sẽ chấm dứt khi

nó bị giải thể hoặc sát nhập

Trang 21

Năng lực trách nhiệm pháp lý là dấu hiệu gắn với chủ thể của vi phạm pháp luật Đó là khả năng mà pháp luật quy định cho chủ thể phải chịu trách nhiệm về những hành vi của mình Chủ thể là tổ chức sẽ có năng lực trách nhiệm pháp lý khi nó có năng lực hành vi pháp luật, song nó chỉ có năng lực trách nhiệm pháp lý trong những lĩnh vực nhất định theo quy định của pháp luật Chủ thể là cá nhân sẽ có năng lực trách nhiệm pháp lý khi họ đạt đến độ tuổi nhất định và trí tuệ phát triển bình thường Độ tuổi đó được pháp luật quy định cụ thể tùy thuộc vào từng loại trách nhiệm pháp lý, nhưng đó phải là độ tuổi mà sự phát triển về trí lực và thể lực đã cho phép chủ thể đủ khả năng nhận thức được hành vi của mình và hệ quả của hành vi đó gây ra cho xã hội nên phải tự chịu trách nhiệm về hành vi của mình

1.2.4 Khách thể của hành vi pháp luật

Khách thể của hành vi pháp luật là các quan hệ xã hội được pháp luật điều chỉnh hoặc bảo vệ Đối với hành vi hợp pháp thì khách thể của nó là những quan hệ xã hội được pháp luật điều chỉnh Pháp luật tác động lên quan

hệ xã hội bằng cách quy định quyền và nghĩa vụ pháp lý cho các chủ thể tham gia vào quan hệ đó nhằm làm cho quan hệ được hình thành hoặc được củng

cố và phát triển Ngược lại, pháp luật cũng có thể ngăn cản, kìm hãm sự phát triển và từng bước loại trừ những quan hệ xã hội trái với lợi ích của nhà nước, của nhân dân, trái với quy luật phát triển của xã hội Khác với hành vi hợp pháp, khách thể của hành vi trái pháp luật là những quan hệ xã hội được pháp luật bảo vệ nhưng bị vi phạm pháp luật xâm phạm tới Pháp luật bảo vệ quan

hệ xã hội bằng cách quy định các biện pháp trừng phạt đối với các chủ thể xâm hại đến quan hệ xã hội đó Xâm phạm đến các quan hệ xã hội tức là làm biến dạng đi cách xử sự là nội dung của các quan hệ xã hội đó

1.3 Hành vi pháp luật trong cơ chế điều chỉnh pháp luật

1.3.1 Hành vi pháp luật trong các giai đoạn của quá trình điều chỉnh pháp luật

Trang 22

Quá trình điều chỉnh pháp luật được chia thành ba giai đoạn cơ bản là giai đoạn thiết lập các khuôn mẫu cho hành vi của chủ thể các quan hệ xã hội (giai đoạn mô hình hóa hành vi của chủ thể); Giai đoạn xuất hiện quyền và nghĩa vụ pháp lý của chủ thể (giai đoạn cá biệt hóa các khuôn mẫu của hành

vi thành cách xử sự cụ thể) và giai đoạn các chủ thể thực hiện các quyền và nghĩa vụ pháp lý (giai đoạn hiện thực hóa mô hình hành vi của chủ thể)12 Trong mỗi giai đoạn đó, hành vi pháp luật có những vai trò nhất định

Trong giai đoạn thứ nhất – giai đoạn mô hình hóa hành vi pháp luật của các chủ thể pháp luật, những dấu hiệu pháp lý của một hành vi pháp luật được xác định Xét ở khía cạnh hình thức, giai đoạn này chủ yếu được thể hiện ở việc tạo ra các quy phạm pháp luật và nó được tiến hành theo trình tự, thủ tục do pháp luật quy định và được thực hiện bởi những chủ thể nhất định

Vì vậy, việc tạo ra các quy pháp luật cũng là hành vi pháp luật Xét về mặt nội dung, thiết lập các khuôn mẫu cho xử sự của các chủ thể pháp luật thực chất

là làm hình thành những dấu hiệu pháp lý của hành vi pháp luật Trong đó, các điều kiện, hoàn cảnh cho xử sự của chủ thể sẽ được xác định và quan trọng hơn là cách xử sự của chủ thể trong những điều kiện và hoàn cảnh cụ thể đó cũng được xác định Vì thế, giai đoạn này đã tạo ra những căn cứ, những tiêu chuẩn pháp lý của hành vi pháp luật

12 Nguyễn Quốc Hoàn – Cơ chế điều chỉnh pháp luật Việt Nam - Luận án tiến sĩ luật học - Trường ĐH Luật Hà Nội, 2002, trang 26, 27, 28.

Trang 23

Trong giai đoạn thứ hai của quá trình điều chỉnh pháp luật, việc cá biệt hóa các quyền và nghĩa vụ pháp lý của các chủ thể cũng là một hành vi pháp luật Hành vi trong trường hợp này là hành vi chủ thể xác lập quyền và nghĩa vụ của mình trên cơ sở quy phạm pháp luật thông qua việc tham gia vào các quan

hệ pháp luật cụ thể Các hành vi của các chủ thể trong trường hợp này đóng vai trò là sự kiện pháp lý làm phát sinh, thay đổi quan hệ pháp luật mà nội dung của

nó là các quyền và nghĩa vụ cụ thể của chủ thể Mặt khác, nếu quyền và nghĩa vụ của chủ thể được xác định trên cơ sở một quyết định cá biệt của cơ quan có thẩm quyền thì hoạt động của cơ quan có thẩm quyền ra quyết định áp dụng pháp luật cũng là được thể hiện bằng các hành vi pháp luật cụ thể Bản thân việc ra một quyết định áp dụng pháp luật đã là một hành vi pháp luật vì chủ thể ra quyết định

áp dụng pháp luật phải tuân thủ các quy định của pháp luật về thẩm quyền, trình

tự và thủ tục áp dụng pháp luật Xét ở khía cạnh khác, trong giai đoạn cá biệt hóa các quyền và nghĩa vụ của chủ thể, hành vi pháp luật của chủ thể giữ một vai trò làm cụ thể hơn những dấu hiệu pháp lý của hành vi pháp luật gắn với từng điều kiện và hoàn cảnh đã xảy ra trên thực tế Những dấu hiệu pháp lý của hành vi pháp luật được xác định trong trường hợp này không còn chung chung, khái quát như trong mô hình hành vi được tạo ra ở giai đoạn trước

Trang 24

Trong giai đoạn thứ ba của quá trình điều chỉnh pháp luật, hành vi pháp luật của chủ thể đã được thể hiện trên thực tế Dấu hiệu thực tế được thể hiện ở việc chủ thể thực hiện các quyền và nghĩa vụ của mình đã được xác định trong giai đoạn thứ nhất và thứ hai Xét về mặt nội dung, giai đoạn thứ nhất và giai đoạn thứ hai của quá trình điều chỉnh pháp luật, hành vi pháp luật mới chỉ được xác định về mặt pháp lý nhưng chưa thể hiện thành những hành động, cử chỉ, lời nói hay những thao tác trên thực tế thì giai đoạn thứ ba sẽ là giai đoạn mà ở đó, hành vi pháp luật xuất hiện trên thực tế Hành vi pháp luật trong giai đoạn thứ ba

là một hành vi pháp luật thực tế chứ không phải là những dấu hiệu được pháp luật xác định Nếu chủ thể thực hiện đúng các quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định của pháp luật (thể hiện ở hành vi phù hợp với pháp luật) thì cơ chế điều chỉnh pháp luật đã được hoàn thành Ngược lại, nếu xuất hiện vi phạm pháp luật, tức là xuất hiện hành vi thực tế vi phạm pháp luật, quá trình điều chỉnh pháp luật

sẽ xuất hiện giai đoạn đặc biệt - giai đoạn truy cứu trách nhiệm pháp lý

1.3.2 Mối quan hệ giữa hành vi pháp luật và các thành tố khác của

cơ chế điều chỉnh pháp luật

Các thành tố của cơ chế điều chỉnh pháp luật có mối quan hệ mật thiết tác động qua lại lẫn nhau rất phức tạp, sự tác động đó xảy ra ở tất cả các giai đoạn của quá trình điều chỉnh pháp luật Trong đó, hành vi pháp luật có sự tác động qua lại với các thành tố khác trong cơ chế điều chỉnh pháp luật

Hành vi pháp luật và quy phạm pháp luật

Trước hết, quy phạm pháp luật là căn cứ pháp lý để xác định một hành

vi thực tế nào đó của chủ thể có phải là hành vi pháp luật hay không Các quy phạm pháp luật là quy tắc xử sự của con người do nhà nước đặt ra vì vậy, để xác định một hành vi thực tế của con người có phải là hành vi pháp luật hay không cần phải dựa vào các quy định của pháp luật mà cụ thể là phải dựa vào nội dung của các quy phạm pháp luật Nếu một xử sự nào đó của con người xảy ra trên thực tế mà không được các quy phạm pháp luật xác định thì hành

vi đó không phải là hành vi pháp luật

Trang 25

Mặt khác, nội dung của các quy phạm pháp luật là những khuôn mẫu hành vi của chủ thể gắn với những điều kiện và hoàn cảnh nhất định Phần không thể thiếu trong các quy phạm pháp luật là xử sự của chủ thể Cách thức xác định các xử sự trong mỗi quy phạm pháp luật là không giống nhau, điều này hoàn toàn phụ thuộc vào tính chất của loại hành vi được nhà nước quy định, ý chí của nhà làm luật và cả kỹ thuật lập pháp Vì thế những dấu hiệu pháp lý của hành vi pháp luật được xác định trong quy phạm pháp luật rất đa dạng Đó có thể là việc mô tả hành vi, xác định cách thức thực hiện hành vi hoặc xác định kết quả thực tế của hành vi.

Như vậy, hành vi pháp luật là nội dung chủ yếu của quy phạm pháp luật Các dấu hiệu pháp lý cơ bản của một hành vi pháp luật được xác định trong quy phạm pháp luật dưới các hình thức khác nhau

Hành vi pháp luật và quan hệ pháp luật

Trong mối quan hệ với hành vi thực hiện pháp luật của chủ thể, quan

hệ pháp luật với nội dung là quyền và nghĩa vụ pháp lý của các chủ thể là căn

cứ để chủ thể thực hiện hành vi của mình trên thực tế Vì thế, hành vi thực hiện pháp luật chính là sự hiện thực hóa quyền và nghĩa vụ của chủ thể trong quan hệ pháp luật mà suy cho cùng đó là sự hiện thực hóa các khuôn mẫu hành vi của chủ thể - quy phạm pháp luật Ngược lại, đối với quan hệ pháp luật, hành vi thực hiện pháp luật lại là một trong những sự kiện pháp lý làm phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt quan hệ pháp luật

Trang 26

Nội dung của quan hệ pháp luật là sự cụ thể hóa những dấu hiệu pháp

lý của hành vi pháp luật được xác định trong các quy phạm pháp luật Quan

hệ pháp luật là khâu trung gian, là cầu nối giữa quy phạm pháp luật và hành vi thực tế của chủ thể Mặt khác, bản thân hành vi pháp luật cũng có thể trở thành sự kiện pháp lý và đóng vai trò như một trong những căn cứ làm phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt quan hệ pháp luật Như chúng biết, để quan hệ pháp luật phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt trên thực tế, một trong những điều kiện cần thiết là sự kiện pháp lý Trong đó, hành vi pháp luật cũng có thể

là một sự kiện pháp lý làm phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt quan hệ pháp luật

Hành vi pháp luật và quyết định áp dụng pháp luật

Mối quan hệ giữa hành vi pháp luật và quyết định áp dụng pháp luật cũng rất khác nhau trong những trường hợp khác nhau

Trang 27

Trong trường hợp văn bản áp dụng pháp luật xác định quyền và nghĩa

vụ cụ thể của chủ thể gắn liền với những điều kiện và hoàn cảnh nhất định đã được các quy phạm pháp luật xác định, những dấu hiệu pháp lý của hành vi pháp luật được quy phạm pháp luật xác định được cụ thể hóa trong quyết định

áp dụng pháp luật của cơ quan có thẩm quyền Khi văn bản áp dụng pháp luật xác nhận sự tồn tại hay không tồn tại một sự kiện thực tế nào đó là căn cứ làm phát sinh, thay đổi hay chấm dứt quan hệ pháp luật thì hành vi pháp luật trong trường hợp lại được ghi nhận như là một sự kiện pháp lý trong trường hợp cụ thể Đối với các văn áp dụng pháp luật xác định địa vị pháp lý của chủ thể trong trường hợp cụ thể Nội dung của các văn bản áp dụng pháp luật trong trường hợp này thực chất là xác định quyền và nghĩa vụ pháp lý của các chủ thể pháp luật vì thế, chúng sẽ là cơ sở pháp lý để các chủ thể thực hiện các hành vi pháp luật nhất định Trong văn bản áp dụng pháp luật có nội dung xác định các biện pháp chế tài cụ thể đối với chủ thể vi phạm pháp luật, hành vi vi phạm pháp luật có thể là căn cứ thực tế để cơ quan có thẩm quyền dựa vào các quy định của pháp luật cá biệt hóa các chế tài pháp luật đối với chủ thể vi phạm pháp luật; hoặc hành vi thực hiện các biện pháp chế tài đã được xác định trong nội dung của văn bản áp dụng pháp luật Tuy nhiên, dù các hành vi pháp luật đóng vai trò khác nhau đối với từng loại văn bản nhưng bản thân việc ra một quyết định áp dụng pháp luật trong bất kỳ trường hợp nào cũng đều là hành vi pháp luật

Trang 28

II HÀNH VI PHÁP LUẬT TRONG MỘT SỐ LĨNH VỰC

Trong từng lĩnh vực pháp luật cụ thể, hành vi pháp luật có những đặc trưng riêng của nó Điều này phụ thuộc vào tính chất, đặc điểm của từng lĩnh vực pháp luật và đặc điểm của các quan hệ xã hội được các quy phạm pháp luật thuộc các lĩnh vực đó điều chỉnh Để có thể nhận thức được sâu sắc hơn hành vi pháp luật, phần này sẽ đề cập đến hành vi pháp luật trong một số lĩnh vực pháp luật cụ thể Tuy nhiên, cần lưu ý rằng, một hành vi nào đó của con người có thể là hành vi thuộc nhiều lĩnh vực pháp luật khác nhau Nghiên cứu các hành vi trong các lĩnh vực cụ thể để chúng ta dễ dàng phân biệt sự khác nhau về phạm vi và mức độ của các hành vi ở các lĩnh vực đó

2.1 Hành vi pháp luật hành chính

Trong lĩnh vực pháp luật hành chính, hành vi pháp luật vô cùng đa dạng, phức tạp, bao gồm các hành vi phù hợp với các qui định của pháp luật hành chính, những hành vi vi phạm pháp luật hành chính và những hành vi khác trái pháp luật hành chính Chủ thể của hành vi pháp luật hành chính cũng hết sức đa dạng và phức tạp bao gồm các cá nhân, tổ chức trong và ngoài nước, đặc biệt là các cơ quan, nhân viên nhà nước Trong phạm vi hạn hẹp của đề tài, chúng tôi chỉ tập trung phân tích hành vi pháp luật (trong lĩnh vực pháp luật hành chính) của các cơ quan, nhân viên nhà nước mà theo qui định của pháp luật Việt Nam, ở đây gọi là hành vi hành chính

Hành vi hành chính suy rộng ra là hành vi của cơ quan nhà nước, của người có thẩm quyền trong cơ quan nhà nước khi thực hiện nhiệm vụ, công

vụ theo quy định của pháp luật Hành vi hành chính có các đặc điểm cơ bản sau:

Trang 29

* Hành vi hành chính được thực hiện bởi những chủ thể có thẩm quyền

trong bộ máy nhà nước và những cơ sở trực thuộc nó Ở đây, hành vi hành chính được xem xét cả hai góc độ: hành vi hành chính liên quan đến việc thực hiện chức trách và hành vi hành chính liên quan đến việc thi hành nhiệm vụ, công vụ Hành vi hành chính liên quan đến việc thực hiện chức trách là hành

vi hành chính của những chủ thể có thẩm quyền trong quản lý nhà nước, đặc biệt phổ biến nhất là trong quản lí hành chính nhà nước Hành vi hành chính liên quan đến việc thi hành nhiệm vụ, công vụ là hành vi hành chính có thể được thực hiện bởi những chủ thể được trao quyền quản lí, phổ biến nhất là trong quản lí hành chính nhà nước, là những hành vi hành chính mà chúng ta thường gặp nhất trong đời sống xã hội, bởi ở đây sự biểu hiện rõ ràng nhất của ý chí của hành vi hành chính khi họ thực hiện nhiệm vụ, công vụ nhà nước Hành vi hành chính cũng có thể được hiện bởi những cán bộ, công chức

có "bổn phận" giúp việc cho các nhà chức trách

* Hành vi hành chính phải là hành vi gắn với quyền lực nhà nước vì

có như vậy hành vi hành chính mới thể hiện rõ nét ý chí quyền lực nhà nước

mà không phải ý chí chủ quan của tổ chức hay cá nhân nào Hơn nữa, hành vi hành chính được thực hiện trên cơ sở pháp luật để giải quyết những vấn đề đặt

ra trong thực tiễn quản lí hành chính nhà nước, xuất phát từ những quan hệ pháp luật cụ thể Thông qua việc thực hiện quyền lực nhà nước mà những cán

bộ, công chức có thẩm quyền đã chuyển mối quan hệ giữa Nhà nước và công dân từ chỗ không giới hạn thành mối quan hệ quyền lực – phục tùng Hành vi hành chính gắn với việc thực hiện quyền lực nhà nước tạo thành hành vi quyền lực nhà nước

Trang 30

* Hành vi hành chính phải dựa trên cơ sở pháp luật để gắn với quyền

lực nhà nước thì mới tỏ rõ tính pháp lí Tính pháp lí của hành vi hành chính

thể hiện rõ nét ở hình thức pháp lí và hệ quả pháp lí của hành vi Pháp luật hiện hành quy định trình tự, phạm vi thực hiện hành vi hành chính và cả những chủ thể khi thực thi công vụ, nhiệm vụ Đó là những yêu cầu pháp lí đối với cán bộ, công chức trong việc thực thi nhiệm vụ, quyền hạn hành chính của mình Đồng thời, pháp luật cũng xác định những yêu cầu đối với một hành vi hành chính Vì vậy, hành vi hành chính được coi như là sự kiện pháp

lí hành chính có thể làm phát sinh, thay đổi hay chấm dứt những quyền và nghĩa vụ của chủ thể cụ thể

* Hành vi hành chính do đó bao giờ cũng gắn với công vụ Công vụ là

một chế định pháp luật hành chính, thể hiện hoạt động mang tính Nhà nước, nhằm thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước vì lợi ích toàn xã hội,

vì quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân Hoạt động công vụ là hoạt động có tổ chức, được tiến hành liên tục, thường xuyên theo trật tự mà pháp luật đã quy định Hoạt động công vụ được tiến hành trên cơ sở sử dụng quyền lực nhà nước, sự vận dụng quy luật khách quan và được bảo đảm bằng quyền lực nhà nước

2.2 Hành vi tội phạm

Trang 31

Trong luật hình sự, hành vi khách quan của tội phạm là vấn đề phức tạp và đóng vai trò quan trọng trong việc đánh giá những vấn đề khác có liên quan Không thể nói đến hậu quả của tội phạm (cũng như những dấu hiệu khác của mặt khách quan của tội phạm như: công cụ, phương tiện, thủ đoạn, thời gian, hoàn cảnh phạm tội…) nếu như không có hành vi khách quan của tội phạm Những nội dung biểu hiện cụ thể của mặt chủ quan của tội phạm như lỗi, động cơ, mục đích phạm tội cũng luôn gắn với hành vi khách quan của tội phạm Hành vi khách quan không thể tách rời chủ thể của tội phạm, đồng thời, nó còn là nguyên nhân gây thiệt hại cho khách thể của tội phạm

Có thể nói, hành vi khách quan là đầu mối quan trọng trong việc đánh giá những vấn đề khác có liên quan đến tội phạm như hậu quả của tội phạm, mặt chủ quan của tội phạm, chủ thể của tội phạm và khách thể của tội phạm Không

có hành vi khách quan thì không có tội phạm Với đặc tính như trên, hành vi khách quan đã được phản ánh là dấu hiệu định tội với tất cả các tội phạm

Hành vi khách quan của tội phạm là những "biểu hiện" của con người

ra bên ngoài thế giới khách quan dưới những hình thức cụ thể nhằm đạt những mục đích có chủ định và mong muốn

Hành vi khách quan chỉ bao gồm những "biểu hiện" của con người ra bên ngoài thế giới khách quan mà thực tế những "biểu hiện" đó được ý thức kiểm soát, ý chí điều khiển Điều đó có nghĩa là những "biểu hiện" của con người ra bên ngoài thế giới khách quan nhưng không được ý thức kiểm soát, ý chí điều khiển hoặc tuy được ý thức kiểm soát nhưng không phải là kết quả của hoạt động ý chí (ví dụ, biểu hiện của rối loạn ý thức do mắc bệnh tâm thần) thì không được coi là hành vi khách quan của tội phạm

Hành vi khách quan của tội phạm có các đặc điểm sau:

+ Hành vi khách quan của tội phạm phải có tính nguy hiểm cho xã hội

Trang 32

Đây là đặc điểm quan trọng nhất của hành vi khách quan của tội phạm

và là cơ sở để phân biệt hành vi này với các vi phạm pháp luật khác Tính nguy hiểm cho xã hội của hành vi khách quan của tội phạm thể hiện ở chỗ hành vi đó gây ra hoặc đe dọa gây ra thiệt hại cho các quan hệ xã hội được luật hình sự bảo vệ Để đánh giá tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi khách quan thì phải căn cứ vào tính chất của quan hệ xã hội bị xâm hại hay bị đe dọa xâm hại cũng như tính chất, mức độ thiệt hại đã gây ra hoặc đe dọa gây ra cho quan hệ xã hội đó

+ Hành vi khách quan của tội phạm phải là hoạt động có ý thức và có

ý chí

Hành vi khách quan của tội phạm phải là những "biểu hiện" được ý thức kiểm soát, ý chí điều khiển Một "biểu hiện" nào đó tuy có gây thiệt hại cho xã hội nhưng nếu không được ý thức kiểm soát, ý chí điều khiển thì vẫn không thể được coi là hành vi khách quan của tội phạm

+ Hành vi khách quan của tội phải là hành vi trái pháp luật hình sựMột hành vi được coi là hành vi khách quan của tội phạm không chỉ là nguy hiểm cho xã hội, có ý thức và có ý chí mà nó còn phải được qui định trong luật hình sự Hành vi này phải thỏa mãn đầy đủ các dấu hiệu của một tội phạm cụ thể được qui định trong luật hình sự

a Hình thức thể hiện của hành vi khách quan

Hành vi khách quan của tội phạm được thể hiện dưới hai hình thức hành động phạm tội và không hành động phạm tội Hành động phạm tội và không hành động phạm tội đều là những "biểu hiện" được ý thức kiểm soát, ý chí điều khiển

Hành động phạm tội là hình thức của hành vi khách quan làm biến đổi tình trạng bình thường của đối tượng tác động của tội phạm, gây thiệt hại cho khách thể của tội phạm qua việc người phạm tội đã làm một việc bị pháp luật cấm.

Trang 33

Không hành động phạm tội là hình thức của hành vi khách quan làm biến đổi tình trạng bình thường của đối tượng tác động của tội phạm, gây thiệt hại cho khách thể của tội phạm qua việc người phạm tội đã không làm một việc mà pháp luật yêu cầu phải làm mặc dù có đủ điều kiện để làm việc đó

Chỉ những trường hợp không hành động thỏa mãn hai điều kiện sau mới được coi là không hành động phạm tội

Điều kiện thức nhất: Họ phải có nghĩa vụ hành động – nghĩa vụ pháp

lí của chủ thể Nghĩa vụ này có thể phát sinh do luật định; nghĩa vụ phát sinh

do quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền; nghĩa vụ phát sinh do hợp đồng; nghĩa vụ phát sinh do nghề nghiệp; nghĩa vụ phát sinh do xử sự trước đó của chủ thể

Điều kiện thứ hai: Tuy có đủ điều kiện để thực hiện nghĩa vụ pháp lí

của mình nhưng chủ thể đã không thực hiện nghĩa vụ đó nên đã gây ra hậu quả nguy hiểm cho xã hội

b Hành vi phạm tội trong quan hệ biện chứng với hậu quả của tội phạm

Bất cứ hành vi phạm tội nào cũng đều có thể gây ra những hậu quả nguy hiểm cho xã hội nhất định Hậu quả của tội phạm là những thiệt hại gây

ra cho những quan hệ xã hội được luật hình sự bảo vệ (về hình thức, hậu quả này được thể hiện thông qua việc làm biến đổi tình trạng bình thường của đối tượng tác động của tội phạm) Một hành vi được coi là có quan hệ biện chứng (quan hệ nhân quả) với hậu quả nguy hiểm đã xảy ra nếu nó thỏa mãn các căn

cứ sau:

+ Hành vi nguy hiểm cho xã hội phải xảy ra trước hậu quả nguy hiểm

về mặt thời gian bởi vì hành vi nguy hiểm phải vận động trong quá trình nhất định, gặp những điều kiện nhất định mới có thể phát sinh hậu quả

+ Hành vi nguy hiểm cho xã hội độc lập hoặc trong mối tổng hợp với một hoặc nhiều hiện tượng khác phải chứa đựng khả năng thực tế làm phát sinh hậu quả nguy hiểm cho xã hội

Trang 34

+ Hậu quả nguy hiểm đã xảy ra phải là sự hiện thực hóa khả năng thực

tế làm phát sinh hậu quả nguy hiểm cho xã hội của hành vi đã thực hiện Trong trường hợp cụ thể, hậu quả đã xảy ra nhưng không phải là kết quả tất yếu của hành vi nguy hiểm đã thực hiện thì trường hợp này giữa hành vi nguy hiểm đã thực hiện và hậu quả đó không có mối quan hệ nhân quả và do vậy, không thể buộc người đã thực hiện hành vi nguy hiểm phải chịu trách nhiệm

+ Căn cứ vào cấu trúc của hành vi thì có thể chia hành vi khách quan thành hành vi đơn và hành vi kép Hành vi kép được hiểu trường hợp là hành

vi khách quan được mô tả trong luật bao gồm nhiều hành vi riêng biệt khác nhau (từ hai hành vi trở lên) Hành vi đơn được hiểu là trường hợp hành vi khách quan được mô tả trong luật chỉ bao gồm một hành vi riêng biệt

Ngoài cách phân loại hành vi như trên, xét về cấu trúc, có thể nói đến hai loại hành vi có cấu trúc đặc biệt là hành vi kéo dài (ví dụ tội tàng trữ vũ khí trái phép) và hành vi liên tục (ví dụ tội đầu cơ) Trong hai loại cấu trúc đặc biệt này, chỉ có loại hành vi có cấu trúc đặc biệt thứ hai mới có ý nghĩa trong việc qui định hành vi với tính chất là dấu hiệu định tội

Trang 35

+ Căn cứ vào hình thức của hành vi khách quan thì có thể chia hành vi thành hành động phạm tội và không hành động phạm tội Thông qua cách mô

tả hành vi khách quan trong cấu thành tội phạm cơ bản có thể thấy rõ một hành vi được thực hiện dưới hình thức nào Đối với những tội được thực hiện dưới hình thức không hành động, nhà làm luật không chỉ mô tả rõ hành vi được thực hiện dưới dạng không hành động mà còn phải mô tả rõ nghĩa vụ phải thực hiện của chủ thể thông qua đặc điểm riêng biệt của chủ thể đó

 Quản lý gia súc, gia cầm bị thất lạc của người khác;

 Thực hiện quyền sở hữu: Thực hiện quyền chiếm hữu, quyền sử dụng, quyền định đoạt tài sản (định đoạt thông qua các giao dịch dân sự, tuyên bố từ bỏ quyền sở hữu tài sản, đầu tư tài sản vào sản xuất kinh doanh…

 Hành vi sử dụng hạn chế bất động sản liền kề;

 Hành vi nhằm tạo ra một quyền dân sự ở chủ thể khác, trên căn

cứ thực hiện quyền dân sự của mình nhưng không có đền bù tương đương, ngang giá: Lập di chúc định đoạt tài sản của mình cho người thừa kế, sau khi người lập di chúc qua đời, tặng cho người khác tài sản, thực hiện một việc vì lợi ích của người khác nhưng không nhận tiền thù lao…; hành vi nhận di sản thừa

kế theo di chúc; nhận di sản thừa kế theo pháp luật; hành vi từ chối nhận di sản thừa kế

cho người khác hoặc nghiên cứu khoa học; quyền hiến xác, hiến bộ phận cơ thể của mình sau khi chết vì mục đích chữa bệnh cho người khác hoặc nghiên cứu khoa học; nhận bộ phận cơ thể của người khác để chữa bệnh cho mình…

Trang 36

 Hành vi xác lập giao dịch dân sự nhằm vào những lợi ích vật chất hay tinh thần nhất định Hành vi được tiến hành nhằm mang lại cho chủ thể có hành vi đó hoặc cho người thứ ba những lợi ích: Giao kết hợp đồng mua bán tài sản, thực hiện hợp đồng vì lợi ích của người thứ ba, hợp đồng có điều kiện, hợp đồng cho thuê, đổi tài sản, cho vay tài sản, hợp đồng ủy quyền, hợp đồng bảo hiểm; xác lập các biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự như cầm cố, thế chấp, bảo lãnh, đặt cọc, ký quĩ, ký cược…

 Hành vi trái pháp luật gây thiệt hại cho người khác về tài sản, sức khỏe, tính mạng Hành vi xâm phạm đến danh dự, nhân phẩm, bí mật đời

tư của người khác…

 Hành vi chiếm hữu, sử dụng tài sản, được hưởng lợi về tài sản không có căn cứ pháp luật;

 Hành vi thực hiện công việc không có sự ủy quyền;

 Hành vi sáng tạo ra các sản phẩm trí tuệ và sử dụng các sản phẩm trí tuệ;

 Hành vi thực hiện quyền kề cận quyền tác giả;

phẩm và quyền chuyển giao các đối tượng sở hữu công nghiệp

hành vi thực hiện quyền khởi kiện dân sự

Những hành vi trên đều là những hành vi dân sự được pháp luật điều chỉnh, đó là những hành vi hợp pháp Bên cạnh những hành vi dân sự hợp pháp, còn là những hành vi dân sự bất hợp pháp Những hành vi dân sự bất hợp pháp là những hành vi xâm phạm đến các quyền tài sản và quyền nhân thân hợp pháp của người khác Hành vi vi phạm hợp đồng, hành vi gây thiệt hại ngoài hợp đồng, hành vi chiếm hữu, sử dụng tài sản của người khác không

có căn cứ pháp luật, hành vi lạm quyền dân sự …

Trang 37

2.3.2 Hành vi dân sự đặt trong mối quan hệ với chủ thể trong quan

hệ pháp luật dân sự

Điều 17 Bộ luật dân sự quy định: "Năng lực hành vi dân sự của cá

nhân là khả năng của cá nhân bằng hành vi của mình xác lập, thực hiện quyền, nghĩa vụ dân sự" Theo qui định trên, hành vi của chủ thể phụ thuộc

vào khả năng của chủ thể bằng hành vi của chính mình xác lập, thực hiện quyền, nghĩa vụ dân sự Bộ luật dân sự căn cứ vào độ tuổi và sự phát triển bình thường về trí tuệ, nhận thức của cá nhân để qui định mức độ năng lực hành vi dân sự của cá nhân gồm: Năng lực hành vi dân sự của người thành niên là người từ đủ mười tám tuổi trở lên và không tâm thần (Điều 19), năng lực hành vi dân sự của người chưa thành niên từ đủ sáu tuổi đến chưa đủ mười tám tuổi (Điều 20), người không có năng lực hành vi dân sự (Điều 21), người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự (Điều 23) và người bị mất năng lực hành vi dân sự (Điều 22) Dựa vào những qui định về mức độ năng lực hành vi dân sự của cá nhân trong Bộ luật dân sự, chúng ta có thể xác định được mối liên hệ giữa mức độ năng lực hành vi dân sự của cá nhân với hành vi pháp lý của cá nhân

Trang 38

Hành vi pháp luật trong giao dịch dân sự: Tại Điều 21 và tại khoản 2

Điều 22 Bộ luật dân sự có qui định: "Người chưa đủ sáu tuổi không có năng

lực hành vi dân sự Giao dịch dân sự của người chưa đủ sáu tuổi phải do người đại diện theo pháp luật xác lập, thực hiện" "Giao dịch dân sự của người mất năng lực hành vi dân sự phải do người đại diện theo pháp luật xác lập, thực hiện" Theo những qui định này, trong quan hệ giao dịch dân sự thì

hành vi của người dưới sáu tuổi, người mất năng lực hành vi dân sự không được pháp luật thừa nhận Trong trường hợp người mất năng lực hành vi dân

sự, người không có năng lực hành vi dân sự tham gia giao dịch, thì giao dịch

đó không được thừa nhận, theo đó giao dịch không có giá trị pháp lý Giao dịch dân sự của người chưa đủ sáu tuổi, của người mất năng lực hành vi dân sự phải

do người đại diện theo pháp luật xác lập, thực hiện (Điều 21, và khoản 2 Điều 22 BLDS) Vì thế, hành vi của người dưới sáu tuổi và hành vi của người mất năng lực hành vi dân sự không được xem là hành vi pháp luật trong giao dịch dân sự

Trang 39

Hành vi pháp luật và trách nhiệm dân sự: Giữa hành vi pháp luật và

trách nhiệm dân sự có mối liên hệ mật thiết với nhau Hành vi pháp luật có thể làm phát sinh hậu quả pháp lý Tuy nhiên, hậu quả pháp lý do một hành vi nào đó tạo ra được pháp luật điều chỉnh nhằm để xác định trách nhiệm pháp

lý của chủ thể trong một quan hệ pháp luật dân sự Hành vi của một người có thể làm xuất hiện trách nhiệm pháp lý, nhưng người đó không chịu trách nhiệm pháp lý hoặc trách nhiệm pháp lý do người khác phải thực hiện, thì hành vi của người đó vẫn là sự kiện pháp lý vì nó đã làm phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt quan hệ pháp luật dân sự Theo quy định của pháp luật, những người từ đủ mười lăm tuổi đến chưa đủ mười tám tuổi, những người dưới mười lăm tuổi, người mất năng lực hành vi dân sự gây thiệt hại cho người khác đều làm phát sinh trách nhiệm dân sự, bồi thường thiệt hại Như vậy, những người dưới mười lăm tuổi, người mất năng lực hành vi dân sự gây thiệt hại cho người khác, hành vi của họ là sự kiện pháp lý vì nó làm xuất hiện trách nhiệm pháp lý Hậu quả pháp lý là những thiệt hại do hành vi của họ gây

ra, còn trách nhiệm bồi thường thiệt hại thuộc về ai, không làm triệt tiêu bản chất của hành vi này với tư cách là sự kiện pháp lý Tuy nhiên, những hành vi

đó thiếu những dấu hiệu cần thiết của một hành vi pháp luật mặc dù nó được pháp luật gắn với việc làm xuất hiện trách nhiệm pháp lý

Tóm lại, trong lĩnh vực pháp luật dân sự, việc xác định hành vi pháp luật dân sự rất phức tạp Việc xác định hành vi pháp luật trong lĩnh vực pháp luật dân sự phải xuất phát từ chính các quy định và đặt nó trong từng trường hợp cụ thể Vì vậy, có những hành vi làm phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt quan hệ pháp luật là những hành vi pháp luật nhưng cũng có những hành vi như vậy chỉ có giá trị như chứ không phải là hành vi pháp luật vì chủ thể của hành vi này không có năng lực hành vi

2.4 Hành vi pháp luật kinh doanh

2.4.1 Khái niệm hành vi pháp luật kinh doanh

Trang 40

Theo nghĩa hẹp, hành vi pháp luật trong hoạt động kinh doanh có thể hiểu là những hoạt động ý chí do chủ thể kinh doanh (thương nhân) thực hiện một cách tự nguyện, có chủ đích trong khi tiến hành các công việc kinh doanh của mình nhằm mục tiêu thu lợi nhuận tối đa

Trong hoạt động kinh doanh, các hành vi pháp luật diễn ra khá đa dạng

và phức tạp Tất cả những hành vi này đều hàm chứa những điểm đặc trưng của hoạt động thương mại khiến chúng ta không có lý do gì để nhầm lẫn với những hành vi pháp luật trong các lĩnh vực khác như hoạt động lập pháp hay hoạt động hành pháp và tư pháp

Thứ nhất, về phương diện chủ thể, các hành vi pháp luật kinh doanh

trước hết là hoạt động ý chí của thương nhân, do chính các thương nhân thực hiện nhằm mục đích rõ ràng là thu lợi nhuận

Thứ hai, về phương diện khách thể, các hành vi pháp luật kinh doanh,

bất luận nó thuộc loại nào và do ai thực hiện, đều hướng tới một lợi ích giống nhau, đó là lợi nhuận

Thứ ba, về tính chất, mọi hành vi pháp luật kinh doanh – hành vi

thương mại đều được các chủ thể kinh doanh thực hiện một cách thường xuyên, liên tục và mang tính chất chuyên nghiệp

Thứ tư, về cách thức và mức độ can thiệp của Nhà nước đối với hành

vi pháp luật kinh doanh – tức hành vi kinh doanh hay hành vi thương mại được pháp luật điều chỉnh Do các hành vi pháp luật đặc thù này có những ảnh hưởng đặc biệt đến lợi ích chung của cộng đồng cũng như lợi ích của Nhà nước (kết quả của việc thực hiện các hành vi pháp luật kinh doanh là tạo ra của cải vật chất cho xã hội nhiều hay ít) nên chính quyền luôn mong muốn áp dụng một chế độ pháp lý riêng biệt cho các nhà kinh doanh

2.4.2 Các loại hành vi pháp luật kinh doanh chủ yếu và điển hình

Ngày đăng: 11/08/2014, 15:24

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Sơ đồ lý thuyết hành vi Wacson - Lý luận chung về hành vi pháp luật
Sơ đồ l ý thuyết hành vi Wacson (Trang 78)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w