1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

quy định của pháp luật tố tụng hình sự về địa vị pháp lý của người làm chứng

56 954 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 56
Dung lượng 343 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trần Đình Nhã – Phó chủ nhiệm Ủy ban Quốc phòng và An ninh của Quốc Hội http://luathinhsu.wordpress.com/2010 thien-co-so-phap-ly-ve-bao-ve-nguoi-to-giac-nguoi-lam-chung-nguoi-bi-hai- /08

Trang 1

LỜI MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Đi đôi với quá trình hội nhập phát triển kinh tế là yêu cầu xây dựng một

xã hội có những thiết chế pháp luật chặt chẽ và cụ thể, trong đó quyền con ngườiphải được tôn trọng và bảo vệ Chế định người làm chứng được quy định trongBLTTHS năm 2003 là cơ sở pháp lý quan trọng để bảo vệ người làm chứng -chủ thể góp phần làm rõ sự thật khách quan của vụ án Cùng với quá trình hộinhập kinh tế thế giới, sự hoàn thiện chế định pháp luật người làm chứng và sựbảo đảm của nhà nước về địa vị pháp lý của người làm chứng sẽ có ý nghĩa thiếtthực trong việc bảo vệ quyền lợi của con người, quyền lợi của toàn xã hội nóichung cũng như quyền lợi của người làm chứng nói riêng; góp phần củng cốniềm tin của nhân dân vào sự công minh của pháp luật, của Nhà nước và đồngthời góp phần quan trọng xây dựng Nhà nước pháp quyền Xã hội chủ nghĩavững mạnh Pháp luật của nhiều nước trên thế giới cũng đã quy định tích cựctheo hướng nhân đạo hóa và ngày càng hoàn thiện hơn chế định này

Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 quy định theo hướng ngày càng hoànthiện các chế định về người làm chứng, mở rộng quyền của họ và những biệnpháp bảo đảm tố tụng cho các quyền đó Tuy nhiên, việc quy định về địa vị pháp

lý của người làm chứng trong BLTTHS năm 2003 vẫn chưa tạo cơ sở pháp lýphù hợp để khuyến khích người làm chứng tích cực thực hiện nghĩa vụ công dâncủa mình, chưa thực sự bảo đảm các quyền, lợi ích chính đáng của người làmchứng Trong khi đó, hoạt động của tội phạm ngày càng nguy hiểm và táo tợn

hơn trong việc trả thù, đe dọa, hành hung người làm chứng Quy định pháp

luật hiện hành về địa vị pháp lý người làm chứng còn nhiều những bất cập

trong nội dung cũng như cơ chế giải quyết Việc nghiên cứu chế định người làmchứng trong tố tụng hình sự để có cái nhìn sâu hơn, đầy đủ hơn và có những giảipháp hoàn thiện quy định của pháp luật về người làm chứng là hoàn toàn cầnthiết

Trang 2

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

Có nhiều tác giả nghiên cứu trong các công trình khoa học có cấp độ khácnhau quy định của pháp luật về địa vị pháp lý của người làm chứng Trong đó có

một số bài viết như: “Hoàn thiện quy định của Bộ luật tố tụng hình sự nhằm

bảo vệ người làm chứng khi tham gia tố tụng” của Th.s Nguyễn Hải Ninh

(Trường Đại học Luật Hà Nội), Tham luận tại Hội thảo quyền con người tổ chức

tháng 12 năm 2010; “Bảo vệ quyền con người trong tố tụng hình sự” của Th.s

Đinh Thế Hưng – Viện Nhà nước và Pháp luật, Tham luận tại Hội thảo: Cácđiều kiện đảm bảo quyền con người ở Việt Nam do Đoàn Thanh Niên Cộng Sản

Hồ Chí Minh, Viện Nhà nước và Pháp luật tổ chức ngày 27/8/2010; Đề tài khoa

học cấp trường năm 2010 “Cơ sở pháp lý bảo vệ người làm chứng” của tác giả Phạm Chung (Đại học Đà Lạt); “Bảo vệ người làm chứng và miễn trừ quyền

làm chứng trong tố tụng hình sự” của PGS TS Nguyễn Thái Phúc – Đại học

Luật TP Hồ Chí Minh (Tạp chí Kiểm sát số 18 & 20 năm 2008); “Hoàn thiện

cơ sở pháp lý về bảo vệ người tố giác, người làm chứng, người bị hại trong vụ

án hình sự” - PGS,TS Trần Đình Nhã – Phó chủ nhiệm Ủy ban Quốc phòng và

An ninh của Quốc Hội (http://luathinhsu.wordpress.com/2010 thien-co-so-phap-ly-ve-bao-ve-nguoi-to-giac-nguoi-lam-chung-nguoi-bi-hai-

/08/26/hoan-trong-vu-an-hinh-su/); “Một số vấn đề cần chú ý về tâm lý xã hội của người làm

chứng” của tác giả Đinh Tuấn Anh (Học viện Cảnh sát nhân dân) đăng trên tạp

chí Kiểm sát số 7 (04/2008); “Một số vấn đề trong việc bảo vệ người tố giác tội

phạm, người làm chứng, người bị hại trong các vụ án hình sự” của Thạc sỹ

Trần Đại Thắng (Viện khoa học kiểm sát VKSNDTC) đăng trên tạp chí kiểm sát

số 24 (2005); “Cần quy định rõ, đầy đủ tư cách pháp lý quyền và nghĩa vụ của

người tham gia tố tụng hình sự” của tác giả Đinh Văn Lý đăng trên tạp chí

Kiểm sát số 17/2009; “Bảo đảm quyền của người làm chứng trong BLTTHS”

của Luật sư, TS Phan Thị Hương Thúy đăng trênhttp://luathinhsu.wordpress.com/2010/10/07/bao-dam-quyen-cua-nguoi-lam-chung-trong-bltths/

Trang 3

Các bài viết này đã đề cập đến một số khía cạnh xung quanh người làmchứng, giúp người đọc thấy được vai trò quan trọng của người làm chứng, cácđặc điểm về tâm lý xã hội khi tham gia làm chứng, đồng thời cũng chỉ ra đượcnhững bất cập cần phải giải quyết và đưa ra một số kiến nghị hoàn thiện quyđịnh pháp luật.

3 Mục đích, nhiệm vụ và phạm vi nghiên cứu của khóa luận

Khóa luận làm rõ một số vấn đề lý luận và thực tiễn của việc quy định vềđịa vị pháp lý người làm chứng, đánh giá những ưu điểm và hạn chế trong cácquy định pháp luật về vấn đề này, từ đó tìm ra những nguyên nhân và giải pháphoàn thiện quy định pháp luật về chế định người làm chứng trong TTHS

Để đạt được mục đích trên khóa luận đặt ra những nhiệm vụ cụ thể sau:

- Phân tích quy định về địa vị pháp lý của người làm chứng trên cơ sở làm

rõ yếu tố tâm lý người làm chứng, vai trò của họ trong giải quyết vụ án hình sự

- Nghiên cứu thực trạng áp dụng các quy định của pháp luật trong việcbảo đảm thực hiện quyền và nghĩa vụ của người làm chứng

- Tìm ra những nguyên nhân của thực trạng và đưa ra một số kiến nghị vềhoàn thiện pháp luật và các giải pháp khác đảm bảo thực hiện quyền và nghĩa vụcủa người làm chứng

Về phạm vi nghiên cứu: khóa luận tập trung phân tích quy định củaBLTTHS năm 2003 về quyền và nghĩa vụ người làm chứng trên cơ sở lý luận vàthực tế thực hiện những quy định về quyền và nghĩa vụ, trách nhiệm của các cơquan tiến hành tố tụng trong việc đảm bảo quyền của người làm chứng

4 Phương pháp nghiên cứu

Trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh,những quan điểm của Đảng và Nhà nước về quyền con người, đề tài đượcnghiên cứu chủ yếu bằng phương pháp luận duy vật biện chứng, phương phápduy vật lịch sử; kết hợp với các phương pháp nghiên cứu khoa học truyền thốngkhác như: phương pháp phân tích, tổng hợp, so sánh, thống kê, khảo sát thựctiễn và một số phương pháp luận khác

Trang 4

5 Bố cục của khóa luận

Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, khóa luậngồm ba chương:

Chương I Một số vấn đề chung về người làm chứng và địa vị pháp lý của

người làm chứng trong tố tụng hình sự

Chương II Quy định của pháp luật tố tụng hình sự về địa vị pháp lý của người

làm chứng

Chương III Thực trạng thực hiện những quy định của pháp luật hiện hành về

quyền và nghĩa vụ của người làm chứng và các giải pháp nâng cao hiệu quả

Trang 5

CHƯƠNG I MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ NGƯỜI LÀM CHỨNG

VÀ ĐỊA VỊ PHÁP LÝ CỦA NGƯỜI LÀM CHỨNG TRONG

TỐ TỤNG HÌNH SỰ

1.1 Người làm chứng trong tố tụng hình sự

1.1.1 Khái niệm người làm chứng trong tố tụng hình sự Việt Nam

Trong lịch sử lập pháp Việt Nam, Bộ Luật Hồng Đức là Bộ luật đầu tiênquy định về người làm chứng "Những người làm chứng trong việc kiện tụng nếuxét ra ngày thường đôi bên kiện tụng là người thân tình hay có thù oán, thìkhông cho phép ra làm chứng Nếu những người ấy giấu giếm ra làm chứng, thìkhép vào tội không nói đúng sự thực Hình quan, ngục quan biết mà dung túngviệc đó đều bị tội" (Điều 714)1

Trong Bộ luật hình sự tố tụng áp dụng tại Bắc kỳ dưới thời Pháp thuộc,người làm chứng được quy định tại các điều 20 - 30 Điều 20 Bộ luật quy định:

"Phàm người chứng đã liệt danh trong đơn khống và các người mà quan thẩmphán liệu nghĩ đến chất vấn trong khi thẩm cứu, thì đều phải bị đòi gọi đến Tòa

án để chất vấn"2 Ngoài việc quy định chủ thể nào là người làm chứng, Bộ luậtcòn quy định về nghĩa vụ của người làm chứng tại Điều 22: "Phàm người chứng

đã bị chiếu lệ đòi gọi, không có cớ gì hợp lẽ mà tự ý không đến hầu trước Tòa sơcấp nghĩ xử việc vi cảnh, hoặc trước Tòa án tỉnh, hoặc trước Tòa đệ tam cấphoăc trước quan thẩm cứu, thì có thể bị ép bắt phải đến hầu, và vì cớ không đếnhầu phải bị xử phạt bạc từ 1 đồng đến 5 đồng, và phạt giam từ 1 ngày đến 5ngày, hoặc hai thứ chỉ phải chịu một”3

Trước khi Bộ luật Tố tụng hình sự năm 1988 ra đời, trong pháp luật tốtụng hình sự Việt Nam đã có những văn bản hướng dẫn của Tòa án nhân dân tốicao như công văn số 98-NCPL ngày 02/03/1974 của Tòa án nhân dân tối cao gửi

1 Xem: Quốc triều hình luật, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, tr 242.

2 Xem: Các bộ luật An Nam , Nxb Đông Dương, Hà Nội, 1922, tr 461.

3 Xem: Các bộ luật An Nam , Nxb Đông Dương, Hà Nội, 1922, tr 469.

Trang 6

cho các Tòa án địa phương đề cập việc thu thập, kiểm tra, đánh giá chứng cứ từlời khai của người làm chứng Công văn đã nêu lên sự cần thiết phải xác minh,kiểm tra, đánh giá chứng cứ từ lời khai của người làm chứng: Lời khai của nhânchứng trực tiếp hay gián tiếp đều phải được xác minh có đúng sự thật không, vìnhững lý do:

a) Người làm chứng tuy khách quan nhưng vì trí nhớ hoặc mắt có thể không tốt,nên thuật lại có thể không hoàn toàn đúng diễn biến của sự việc

b) Việc xảy ra đã lâu nên không nhớ chi tiết, thuật lại có thiếu sót

c) Ngại phiền phức hoặc thù oán mà không khai hết sự việc mà mình đã biết d) Vì cảm tình hoặc có mâu thuẫn với một bên trong vụ án mà khai thêm hoặcbớt, thiếu chính xác

đ) Có nhân chứng, vì nhớ không kỹ mà khai thêm, bớt, suy diễn theo chủ quancủa mình

e) Vì bị đe dọa hoặc bị mua chuộc mà khai sai sự thật

g) Đã khai không đúng, nhưng sau vẫn khai như trước, vì sợ khai khác thì bịđánh giá là người không trung thực

Thông thường lời khai của những người đúng đắn, ngay thẳng, không cóthân thuộc, bạn bè, không có mâu thuẫn gì với bị cáo, với người bị hại hoặckhông có quyền lợi gì liên quan đến vụ án thì có nhiều khả năng chính xác Tuynhiên, không thể khẳng định trước là lời khai của nhân chứng nào là đáng tinhơn nhân chứng nào, dù là nhân chứng trực tiếp, nếu lời khai ấy chưa được xácminh, thẩm tra lại

Trong Công văn này, Tòa án nhân dân tối cao còn rút ra một vấn đề cầnchú ý khi kiểm tra, đánh giá chứng cứ từ lời khai của người làm chứng:

1 Xem nhân chứng thuộc loại trực tiếp hay gián tiếp

2 Sự việc họ khai có rõ ràng hay chỉ là phỏng đoán, suy diễn

3 Trạng thái về tinh thần, tuổi của người làm chứng

4 Cương vị, điều kiện công tác, nơi ở của họ có thể cho phép họ biết rõ sự việcnhư họ đã khai không?

Trang 7

5 Họ có quan hệ thân thuộc, bạn bè hoặc có mâu thuẫn gì với bị cáo, với người

bị hại không? Quyền lợi của họ có liên quan đến vụ án không?4

Như vậy, vấn đề người làm chứng, cũng như việc quy định về quyền,nghĩa vụ của họ được đề cập từ rất sớm trong lịch sử lập pháp Việt Nam Phápluật hầu hết các quốc gia đều có những quy định về người làm chứng vì lời khaicủa người làm chứng có ý nghĩa rất quan trọng trong việc giải quyết vụ án mộtcách chính xác, khách quan, không làm oan người vô tội, không bỏ lọt tội phạm,tăng niềm tin của nhân dân vào pháp luật Với những ý nghĩa trên BLTTHS năm

2003 đã ghi nhận người làm chứng là người tham gia tố tụng hình sự tại Điều

55, có sự bổ sung, kế thừa các quy định của BLTTHS năm 1988

Điều 55 BLTTHS năm 2003 quy định: “Người nào biết được các tình tiếtliên quan đến vụ án đều có thể được triệu tập đến làm chứng; 2 Những ngườisau đây không được làm chứng: a) người bào chữa của bị can, bị cáo; b) người

do có nhược điểm về tâm thần hoặc thể chất mà không có khả năng nhận thứcđược những tình tiết của vụ án hoặc không có khả năng khai báo đúng đắn ”.Như vậy theo quy định của pháp luật có thể hiểu như sau về người làm chứng:

+ Người làm chứng là người biết được các tình tiết liên quan đến vụ án.Nhận thức của người làm chứng về các tình tiết của vụ án có thể trực tiếp hoặcgián tiếp (trực tiếp nhìn thấy, nghe thấy hay được người khác kể lại) Những tìnhtiết mà người làm chứng biết được có thể liên quan đến đối tượng chứng minhđược quy định tại Điều 63 BLTTHS năm 2003 hoặc các tình tiết khác có ý nghĩatrong việc giải quyết vụ án (có ý nghĩa chứng minh) Việc họ biết được các tìnhtiết của vụ án là một thực tế khách quan, và vì vậy họ có thể được triệu tập đến

để khai báo về thực tế khách quan đó với tư cách người làm chứng cung cấpchứng cứ cho người có trách nhiệm chứng minh Việc một người biết về các tìnhtiết liên quan đến vụ án hình sự là một thực tế khách quan, không phụ thuộc vào

ý chí chủ quan của cơ quan hay người tiến hành tố tụng

4 Xem Trần Quang Tiệp “Về lời khai người làm chứng trong vụ án hình sự” TS Tổng cục an ninh, Bộ Công An

(http://www.luatvadoanhnhan.com/law_club.php?&id=53)

Trang 8

+ Người tham gia tố tụng với tư cách người làm chứng khi họ không phảingười bào chữa của bị can, bị cáo Theo quy định tại Điều 56 BLTTHS năm

2003 thì người bào chữa có thể là luật sư; người đại diện hợp pháp của người bịtạm giữ, bị can, bị cáo; bào chữa viên nhân dân Người bào chữa của bị can, bịcáo có thể biết được các tình tiết của vụ án từ nhiều nguồn và trong nhữngkhoảng thời gian khác nhau: có thể biết trước khi tham gia tố tụng với tư cáchngười bào chữa từ những thông tin không phải do bị can, bị cáo cung cấp, có thểbiết được các tình tiết đó do có mặt ở nơi xảy ra tội phạm, do quen biết bị can, bịcáo hoặc do được người khác kể lại Cũng có thể người đó biết được các tìnhtiết vụ án trong quá trình thực hiện nhiệm vụ bào chữa do được đọc hồ sơ vụ án,

do tiếp xúc với bị can, bị cáo Người bào chữa tham gia tố tụng để thực hiệnchức năng gỡ tội nên chỉ đưa ra các chứng cứ có lợi cho bị can, bị cáo Họkhông thể làm chứng vì nghĩa vụ của người làm chứng là khai báo trung thựcnhững gì họ biết về vụ án, nghĩa vụ này mâu thuẫn với nghĩa vụ của người bàochữa Vì vậy, điểm b khoản 2 Điều 56 BLTTHS năm 2003 cũng đã quy định nếumột người nào đó đã tham gia tố tụng với tư cách người bào chữa thì khôngđược làm chứng trong vụ án đó

+ Người đó phải có khả năng nhận thức được các tình tiết của vụ án và cókhả năng khai báo đúng đắn Điểm b khoản 2 Điều 55 BLTTHS năm 2003 quyđịnh những người do có nhược điểm về tâm thần hoặc thể chất mà không có khảnăng nhận thức được những tình tiết liên quan đến vụ án hoặc không có khảnăng khai báo đúng đắn thì không được làm chứng Theo quy định của pháp luậtthì người làm chứng là người biết được các tình tiết liên quan tới vụ án, nhữngngười có nhược điểm về thể chất biết được các tình tiết theo cách riêng của họ.Người điếc không nghe thấy được nhưng có thể nhìn thấy, người mù không thểnhìn thấy được nhưng có thể nghe thấy Vì vậy, nếu vào thời điểm nhận thứchoặc khai báo sự việc mà do có nhược điểm về thể chất hoặc tâm thần mà không

có khả năng nhận thức hoặc khai báo đúng đắn thì không được làm chứng Nếu

Trang 9

các nhược điểm về thể chất hoặc tâm thần không làm ảnh hưởng đến khả năngnhận thức và khai báo thì có thể tham gia tố tụng với tư cách người làm chứng

+ Người biết được các tình tiết liên quan đến vụ án chỉ có thể trở thànhngười làm chứng khi được các cơ quan tiến hành tố tụng triệu tập Trong thựctiễn điều tra có nhiều người biết tình tiết của vụ án đang điều tra nhưng khôngtrở thành người làm chứng bởi luật quy định những trường hợp này không đượclàm chứng (người bào chữa của bị can, bị cáo; người có nhược điểm tâm thần,thể chất mà không có khả năng nhận thức và khai báo đúng đắn – khoản 2 Điều

55 BLTTHS năm 2003), hoặc do cơ quan có thẩm quyền xét thấy không cầnthiết phải triệu tập họ để lấy lời khai với tư cách người làm chứng trong vụ án.Trường hợp có nhiều người biết các thông tin liên quan đến vụ án, các cơ quantiến hành tố tụng phải có sự lựa chọn Những người biết được nhiều tin tức quantrọng, biết được các tình tiết một cách sâu sắc, chính xác, đầy đủ; những người

có khả năng mô tả lại một cách tốt nhất những hiểu biết của họ mà cơ quan điềutra đang cần; những người có thiện chí, có trách nhiệm thực hiện nghĩa vụ ngườilàm chứng thường được các cơ quan tiến hành tố tụng lựa chọn Việc lựa chọntriệu tập ai là người làm chứng sẽ làm giảm được khối lượng công việc, tránhtình trạng lan man trong thu thập chứng cứ

Từ những phân tích trên có thể hiểu về người làm chứng như sau: Ngườilàm chứng là người biết được tình tiết của vụ án đang được điều tra, được cơquan có thẩm quyền tiến hành tố tụng triệu tập để khai báo về những sự việc cầnxác minh trong vụ án

1.1.2 Đặc điểm về nhận thức và tâm lý của người làm chứng trong tố tụng hình sự

Trong thực tiến điều tra, truy tố, xét xử các vụ án hình sự có thể nhận thấyđại đa số quần chúng nhân dân luôn sẵn sàng cộng tác với các cơ quan tiến hành

tố tụng, cung cấp những thông tin có ích cho việc giải quyết vụ án Nhưng bêncạnh đó vẫn còn nhiều người lẩn tránh việc ra làm chứng hoặc làm chứng vớithái độ miễn cưỡng, khai báo không đầy đủ thậm chí khai báo gian dối gây khó

Trang 10

khăn cho việc giải quyết vụ án, nguyên nhân của tình trạng này chủ yếu đều xuấtphát từ tâm lý xã hội của người làm chứng Những đặc điểm về nhận thức vàtâm lý khác biệt của người làm chứng trong tố tụng hình sự có thể lý giải phầnnào tình trạng người làm chứng không tích cực hợp tác với các cơ quan tiếnhành tố tụng.

- Nhiều người làm chứng chưa nhận thức đầy đủ về nghĩa vụ pháp lý củamình

Theo quy định của pháp luật việc một người ra làm chứng không chỉ giúpcác cơ quan tiến hành tố tụng giải quyết vụ án được nhanh chóng, chính xác màcòn là việc thực hiện nghĩa vụ công dân đã được pháp luật quy định ( Điều 79Hiến pháp năm 1992; Điều 4 BLHS năm 1999; Điều 25, Điều 55 BLTTHS năm2003) Thậm chí việc từ chối khai báo hoặc khai báo gian dối còn có thể bị truycứu trách nhiệm hình sự (Điều 55 BLTTHS năm 2003 )

Do trình độ hiểu biết pháp luật của đại đa số người dân còn hạn chế nênkhông phải ai cũng nhận thức được nghĩa vụ của mình trước pháp luật Nhiềungười cho rằng trách nhiệm điều tra làm rõ tội phạm là trách nhiệm của các cơquan bảo vệ pháp luật, không phải trách nhiệm của họ Không vi phạm phápluật, và thực hiện các nghĩa vụ với Nhà nước (nộp thuế, các khoản phí, lệ phí)đối với một số người đã là thực hiện đầy đủ nghĩa vụ của công dân Còn tráchnhiệm điều tra tội phạm là công việc của các cơ quan tiến hành tố tụng bởi Nhànước đã giao cho các cơ quan đó làm nhiệm vụ này Họ còn nghĩ mình khôngphải là người duy nhất biết được các tình tiết liên quan tới vụ án, ngoài họ ra cònnhiều người khác biết Vì vậy, nếu họ không ra làm chứng thì sẽ có người kháclàm chứng thay Từ đó dẫn đến thái độ thờ ơ, thiếu trách nhiệm trong việc cungcấp thông tin mà họ biết với các cơ quan tiến hành tố tụng

- Người làm chứng có tâm lý sợ phiền hà, không muốn mất thời gian ảnhhưởng tới công việc và sinh hoạt của mình, tốn kém tiền của hoặc bị phía đốitượng trong vụ án mua chuộc Ra làm chứng cũng có nghĩa là tham gia vào hoạtđộng tố tụng cho nên người làm chứng có nghĩa vụ pháp lý trong suốt thời gian

Trang 11

điều tra, truy tố, xét xử vụ án hình sự Người làm chứng có thể được cơ quantiến hành tố tụng triệu tập để lấy lời khai, nhận diện, đối chất vào bất kỳ thờiđiểm nào trong quá trình giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật Điều đóảnh hưởng đến thời gian làm việc, học tập, sinh hoạt, ảnh hưởng đến thu nhậpkinh tế thậm chí phải mất chi phí cho việc làm chứng (chi phí đi lại, ăn ở) Theoquy định của pháp luật người làm chứng được thanh toán các khoản chi phí trênnhưng thực tế các khoản tiền được thanh toán đó thường không theo kịp giá cảthị trường Hơn nữa nhiều người làm chứng có hoàn cảnh khó khăn về kinh tếnên thường viện lý do thoái thác để không đến làm chứng hoặc làm chứngkhông đúng hẹn hay chỉ khai báo qua loa cho xong việc, tâm lý không muốn “ăncơm nhà vác tù và hàng tổng” vẫn còn tồn tại Nhiều trường hợp người làmchứng bị mua chuộc từ phía đối tượng hoặc người nhà của họ nên đã khai báotheo hướng có lợi cho bị can, bị cáo.

- Người làm chứng sợ bị xử lý trước pháp luật do bản thân họ có liên quantới sự việc tội phạm ở mức độ nhất định hoặc sợ bị phát hiện những hành vi xấu

xa của mình, họ sợ bị liên đới chịu trách nhiệm với kẻ phạm tội Trường hợpngười làm chứng không có hành vi liên quan tới sự việc phạm tội nhưng tình cờđược chứng kiến hành vi phạm tội trong khi bản thân họ đang làm nhữngchuyện xấu xa, vô đạo đức do đó họ chỉ muốn tránh xa các cơ quan bảo vệ phápluật để không bị lâm vào tình cảnh rắc rối Đó còn chưa kể tới những người đã

và đang có hành vi vi phạm pháp luật, phạm tội nhưng chưa bị phát hiện, họ rất

sợ phải tiếp xúc với cơ quan bảo vệ pháp luật vì theo tâm lý “có tật giật mình”.Trong thâm tâm họ luôn sợ rằng “cái sảy nảy cái ung” nên tốt nhất không nên ralàm chứng để bảo vệ an toàn cho bản thân mình

- Người làm chứng sợ ảnh hưởng không tốt đến uy tín, danh dự của bảnthân hoặc đến mối quan hệ với các đối tượng trong vụ án Quan niệm “dĩ hòa viquý”, coi trọng tình cảm của người Phương Đông khiến cho nhiều người khôngmuốn làm mất lòng ai, không muốn người khác xì xào, bàn tán không có lợi chomình nhất là những người có địa vị nhất định trong xã hội Khi ra làm chứng

Trang 12

trước pháp luật họ sợ bị mọi người xung quanh hiểu lầm mình có dính líu gì đóđến vụ án nên mới bị cơ quan tiến hành tố tụng triệu tập Mặt khác trong xã hộivẫn còn nhiều người thành kiến với việc kiện tụng, coi việc tố cáo nhau là xấu

dù họ biết việc bị tố cáo là việc xấu, thậm chí là tội phạm Họ muốn tội phạm bịtrừng trị nghiêm minh nhưng nhiều người vẫn cảm thấy “áy náy” vì cho rằng vìmình đứng ra làm chứng mà người khác vào tù Việc làm chứng với họ rất khókhăn nên thường thiếu nhiệt tình Tìm thêm đồng minh là những người làmchứng khác để chứng tỏ rằng không chỉ có mình họ khai báo, tố giác tội phạm

mà còn có thêm những người khác nữa, giải tỏa được tâm lý họ không phải làngười duy nhất bị mọi người soi mói, không thấy áy náy nhiều bởi họ không làngười duy nhất “đưa” người khác vào tù, cảm giác xấu hổ, áy náy đó sẽ đượcsan sẻ Nếu giữa người làm chứng và bị can, bị cáo có mối quan hệ thân quen thì

họ còn có thêm tâm lý sợ bị đưa lên bàn cân của dư luận, bị mất lòng tin với giađình, bạn bè, đồng nghiệp, họ sợ bị tẩy chay Do vậy, trừ trường hợp kẻ phạmtội là kẻ dã man, đối xử tàn ác với gia đình người thân khiến ai cũng căm ghétcòn hầu hết những người làm chứng có quan hệ gia đình, bạn bè với các đốitượng của vụ án đều tỏ ra thiếu trung thực, khai báo có lợi cho đối tượng

- Người làm chứng có tâm lý sợ bị trả thù, thiếu niềm tin với các cơ quantiến hành tố tụng Thực tế trong những vụ án ma túy, buôn bán phụ nữ trẻ em,liên quan tới các băng nhóm tội phạm nhiều người làm chứng và người thân của

họ đã bị đối tượng, đồng bọn hay gia đình đối tượng mua chuộc, dọa dẫm buộc

họ phải im lặng hay khai báo có lợi cho đối tượng, nhiều người làm chứng đã bịtrả thù Vì vậy, nhiều người biết rõ sự việc phạm tội nhưng không dám tố giáctội phạm, khi được cơ quan tiến hành tố tụng triệu tập họ tìm cách thoái thác,thất hẹn hoặc khai báo theo những gì đã bàn bạc, thỏa thuận với đối tượng.Những nguyên nhân trên đều xuất phát từ tính toán về lợi ích cá nhân của ngườilàm chứng.5

5 Xem Giáo trình Khoa học điều tra hình sự - Trường đại học Luật Hà Nội 2008

Trang 13

- Ngoài những nguyên nhân trên còn phải kể đến một nguyên nhân nữa đó

là sự đối xử không thiện chí, không khách quan từ phía những người tiến hành

tố tụng với người làm chứng Vụ án Nguyễn Minh Hùng (tỉnh Tây Ninh) là một

ví dụ, nhiều nhân chứng trong vụ án này đã phải rơi nước mắt bởi sự đối xửthậm tệ của những người tiến hành tố tụng khi họ tham gia tố tụng với tư cáchngười làm chứng, báo chí đã phải dùng từ “hành hạ nhân chứng” khi nói về vấn

đề này.6

1.1.3 Vai trò của người làm chứng trong tố tụng hình sự

Người làm chứng là người biết được tình tiết của vụ án, được cơ quan tiếnhành tố tụng triệu tập đến làm chứng, có nghĩa vụ khai báo những tình tiết về vụ

án với cơ quan tiến hành tố tụng Người làm chứng là người không thể thay thếtrong tố tụng bởi lẽ họ tham gia tố tụng không phụ thuộc vào ý chí của họ hay ýchí của những người tiến hành tố tụng mà do chính họ biết được những tình tiếtcủa vụ án bằng việc nhìn thấy, nghe thấy được Lời khai người làm chứng cungcấp các chứng cứ từ những con người cụ thể có đặc điểm tâm lý riêng biệt như

đã phân tích Những thông tin về vụ án được phản ánh và tái hiện lại qua lờikhai của những con người cụ thể hoàn toàn khác nhau về tâm lý, về kinh nghiệm

xã hội, về tính cách và nhân cách Qua việc khai báo người làm chứng sẽ cungcấp các tình tiết mà họ biết về vụ án, có thể cung cấp những tài liệu, những tìnhtiết mới, từ đó cơ quan có thẩm quyền sẽ cùng với các nguồn chứng cứ khácdùng làm căn cứ để xác định có hay không có hành vi phạm tội, người thực hiệnhành vi phạm tội cũng như những tình tiết khác cần thiết cho việc giải quyếtđúng đắn vụ án Hoạt động tố tụng càng có tính tranh tụng cao bao nhiêu, sựbình đẳng về quyền của các bên trong hoạt động chứng minh càng được thừanhận đầy đủ bao nhiêu thì vai trò người làm chứng càng được khẳng định Sựphát triển của khoa học kỹ thuật chỉ có thể mở rộng khả năng, làm thuận tiệnhơn, dễ dàng hơn quá trình thu thập, lưu trữ, truyền tải các nguồn chứng cứ chứkhông thể thay thế được những gì mà người làm chứng đã thấy được, biết được

6 Xem Nguyễn Thái Phúc, Bảo vệ người làm chứng và quyền miễn trừ làm chứng trong tố tụng hình sự, Tạp chí

Khoa học pháp lý, Đại học luật TP Hồ Chí Minh, số 3 năm 2007

Trang 14

trong vụ án Những tình tiết mà người làm chứng biết được vẫn là một trongnhững chứng cứ không thể thiếu được trong quá trình làm sáng tỏ sự thật kháchquan của vụ án, giúp cho việc giải quyết vụ án được nhanh chóng, chính xác,không bỏ lọt tội phạm, không làm oan người vô tội, tăng niềm tin của nhân dânvào pháp luật, công lý.

1.2 Khái niệm địa vị pháp lý của người làm chứng trong tố tụng hình

sự Việt Nam

Theo Từ điển Tiếng Việt địa vị là “vị trí, chỗ xứng đáng với vai trò tácdụng có được”7, pháp lý là “căn cứ, cơ sở của pháp luật”8 Địa vị của một cánhân là vị trí của cá nhân đó trong những vai trò xã hội của mình, thể hiện nănglực trình độ, vai trò của cá nhân đó trong mối tương quan với các cá nhân kháctrong xã hội Địa vị này có thể do cá nhân đó tạo lập nên hoặc do thừa hưởng từ

cá nhân khác Điều này hoàn toàn khác so với địa vị pháp lý của một chủ thểtrong quan hệ pháp luật Địa vị pháp lý của một cá nhân không thể do cá nhân

đó tự xác lập mà phải dựa trên những quy định của pháp luật; khi ở trong cáctình trạng pháp lý khác nhau các chủ thể trong quan hệ pháp luật có địa vị pháp

lý khác nhau

Trong khoa học pháp lý, “địa vị pháp lý là vị trí của chủ thể pháp luậttrong mối liên hệ với những chủ thể khác trên cơ sở quy định của pháp luật”9thể hiện thành một tổng thể các quyền và nghĩa vụ pháp lý của chủ thể; qua đóxác lập cũng như giới hạn khả năng của chủ thể đối với các hoạt động của mìnhtrong phạm vi các quyền và nghĩa vụ đó Địa vị pháp lý của một chủ thể giúpphân biệt được chủ thể pháp luật này với chủ thể pháp luật khác, đồng thời cũng

có thể xem xét vị trí và tầm quan trọng của chủ thể đó trong các mối quan hệpháp luật Chính vì vậy nắm vững địa vị pháp lý của một chủ thể trong quan hệpháp luật là một điều rất cần thiết không chỉ đối với chính chủ thể đó mà còn có

7 Xem Đại từ điển Tiếng Việt, NXB Văn hóa thông tin 1999

8 Xem Đại từ điển Tiếng Việt, NXB Văn hóa thông tin 1999

9 Xem Từ điển giải thích thuật ngữ luật học, NXB Công an nhân dân 1999

Trang 15

ý nghĩa với các chủ thể khác Có như vậy các chủ thể trong quan hệ pháp luậtmới không xâm phạm đến quyền lợi và thực hiện chồng lấn nghĩa vụ của nhau.

Theo quy định tại khoản 1 Điều 55 BLTTHS năm 2003 thì: Người làmchứng là người biết được tình tiết liên quan tới vụ án (trực tiếp hoặc gián tiếpbiết); người đó phải được các cơ quan tiến hành tố tụng triệu tập với tư cáchngười làm chứng Khi được triệu với tư cách người làm chứng họ trở thànhngười tham gia tố tụng trong vụ án Họ có địa vị pháp lý của mình, địa vị pháp

lý này là độc lập, riêng biệt với địa vị pháp lý của bị can, bị cáo cũng như cácchủ thể có tư cách tố tụng khác trong vụ án hình sự Người làm chứng cũngkhông phải là người có quyền và lợi ích liên quan tới vụ án, sự có mặt của họ chỉnhằm mục đích là làm sáng tỏ vụ án hay nói cách khác họ là những người cộngtác với Nhà nước mà cụ thể là các cơ quan tiến hành tố tụng

Qua nghiên cứu ở các phần trên ta có thể đưa ra khái niệm địa vị pháp lýngười làm chứng: Địa vị pháp lý của người làm chứng là tổng thể các quyền vànghĩa vụ của người làm chứng mà pháp luật quy định cho họ khi tham gia tốtụng hình sự

Trang 16

KẾT LUẬN CHƯƠNG I

Chế định người làm chứng là một trong những chế định cổ xưa nhất tronglịch sử tố tụng hình sự, được ghi nhận như chế định quan trọng vì vai trò khôngthể thay thế được của người làm chứng trong việc xác định sự thật khách quan.Người làm chứng có các đặc điểm về tâm lý và nhận thức riêng của mình nênthường ảnh hưởng tới nghĩa vụ khai báo Người làm chứng tham gia tố tụng khiđược cơ quan tiến hành tố tụng triệu tập, họ có các quyền và nghĩa vụ pháp lýcủa mình, các quyền và nghĩa vụ này do luật định nhằm đảm bảo quyền conngười của người làm chứng được tốt nhất cũng như để giúp cho việc xác định sựthật khách quan của vụ án

Trang 17

CHƯƠNG II QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ

VỀ ĐỊA VỊ PHÁP LÝ CỦA NGƯỜI LÀM CHỨNG

Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 được Quốc Hội nước Cộng hòa xã hộichủ nghĩa Việt nam thông qua ngày 26/11/2003 và có hiệu lực kể từ ngày01/07/2004 thay thế cho Bộ luật tố tụng hình sự năm 1988 Bộ luật tố tụng năm

2003 xây dựng dựa trên sự phát huy những giá trị truyền thống trong pháp luật

tố tụng nước ta và sự kết hợp có chọn lọc từ pháp luật các nước khác trên thếgiới với hoàn cảnh kinh tế xã hội hiện nay để có sự bổ sung hợp lý nhất Về địa

vị pháp lý của người làm chứng, nếu Bộ luật tố tụng hình sự 1988 chỉ quy địnhnghĩa vụ cho họ thì Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 đã bổ sung thêm quy định

về quyền của người làm chứng nhằm bảo vệ họ khi tham gia quá trình giải quyết

vụ án theo yêu cầu của Cơ quan tiến hành tố tụng

Quyền và nghĩa vụ của người làm chứng được quy định tại khoản 3,khoản 4 Điều 55 BLTTHS năm 2003

2.1 Quy định của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 về quyền của người làm chứng

Người làm chứng là chủ thể thực hiện chức năng hỗ trợ tư pháp - chứcnăng không cơ bản trong TTHS Chức năng này hiện chưa được đề cập nhiềutrong khoa học TTHS ở nước ta Sự hạn chế về lý luận khoa học này chính lànguyên nhân chậm thay đổi trong tư duy lập pháp khi sửa đổi BLTTHS năm

2003 và thái độ đối xử thiếu quan tâm đối với người làm chứng trong thực tiễn

tố tụng BLTTHS năm 2003 lần đầu quy định các quyền cho người làm chứng

2.1.1 Quyền yêu cầu cơ quan triệu tập họ bảo vệ tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, tài sản và các quyền, lợi ích hợp pháp khác của mình khi tham gia tố tụng (điểm a khoản 3 Điều 55 BLTTHS năm 2003)

Người làm chứng có thể gặp nguy hiểm hoặc chịu những hậu quả bất lợi

do việc họ tham gia tố tụng và khai báo về những tình tiết của vụ án Sự nguyhiểm về tính mạng hoặc những hậu quả bất lợi đó có thể do bị can, bị cáo, người

Trang 18

bị hại trong vụ án hoặc những người khác đem lại, cũng có thể những hậu quảbất lợi đó do cơ quan tiến hành tố tụng gây ra (có thể trong khi lấy lời khai một

số người tiến hành tố tụng có hành vi làm ảnh hưởng tới nhân phẩm, tài sản hoặcsức khỏe của người làm chứng) Vì vậy, người làm chứng có quyền yêu cầu cơquan triệu tập họ bảo vệ tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, tài sản vàcác quyền, lợi ích hợp pháp khác khi tham gia tố tụng Các cơ quan tiến hành tốtụng phải áp dụng các biện pháp cần thiết để đảm bảo sự an toàn và các quyềnlợi hợp pháp của người làm chứng và không được có hành vi làm ảnh hưởng đếntính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm của họ

Điểm a khoản 3 Điều 55 BLTTHS năm 2003 là sự cụ thể hóa một sốquyền cơ bản của công dân được Hiến pháp năm 1992 ghi nhận như: Quyềnđược pháp luật bảo hộ về tính mạng, quyền được pháp luật bảo hộ về sức khỏe,quyền được pháp luật bảo hộ về danh dự, quyền được pháp luật bảo hộ về nhânphẩm (quy định tại Điều 71); Quyền được pháp luật bảo hộ về quyền sở hữu đốivới tài sản, thu nhập hợp pháp (Điều 58) Điểm a khoản 3 Điều 55 BLTTHS còn

là sự cụ thể hóa một trong những nguyên tắc cơ bản của hoạt động tố tụng hình

sự - nguyên tắc bảo hộ tính mạng sức khỏe danh dự nhân phẩm tài sản của côngdân, được quy định tại Điều 7 “Người bị hại, người làm chứng và người thamgia tố tụng khác cũng như người thân thích của họ mà bị đe dọa đến tính mạng,sức khỏe, bị xâm phạm danh dự, nhân phẩm, tài sản thì cơ quan có thẩm quyềntiến hành tố tụng phải áp dụng những biện pháp cần thiết để bảo vệ theo quyđịnh của pháp luật” Việc BLTTHS năm 2003 xác định rõ quyền của người làmchứng được yêu cầu cơ quan triệu tập bảo vệ tính mạng sức khỏe danh dự nhânphẩm tài sản và các quyền, lợi ích hợp pháp khác của mình khi tham gia tố tụng

và cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng có trách nhiệm phải áp dụng nhữngbiện pháp cần thiết để bảo vệ theo quy định của pháp luật là một đòi hỏi kháchquan, thể hiện thái độ trách nhiệm của Nhà nước đối với nhân dân để nhân dân

có thể tin tưởng và an tâm tham gia đấu tranh phòng, chống tội phạm Đây là sựđánh dấu lần đầu tiên trong hoạt động tố tụng hình sự vấn đề bảo vệ người làm

Trang 19

chứng được quy định trong luật, là dấu hiệu thể hiện pháp luật tố tụng hình sựViệt Nam đang xích gần với thông lệ quốc tế trong lĩnh vực này Có thể tìm thấytrong các văn kiện Quốc tế ghi nhận những nội dung liên quan đến quyền conngười trong tố tụng hình sự như Tuyên ngôn nhân quyền thế giới năm 1948;Công ước quốc tế về các quyền dân sự, chính trị năm 1966 (ICCPR) Một trongnhững bước ngoặt lớn trong phát triển của pháp luật quốc tế liên quan đến bảo

vệ người làm chứng là Tuyên ngôn về những nguyên tắc cơ bản của hoạt độngxét xử đối với nạn nhân của tội phạm và nạn nhân của sự lạm dụng quyền lực doLiên hiệp quốc ban hành ngày 29/11/1985 Các văn bản này đưa đến một khẳngđịnh quyền con người trong tố tụng hình sự là sự cụ thể quyền được sống, quyềnđược tự do trong lĩnh vực tố tụng hình sự Đây được coi là tiêu chuẩn về nhânquyền trong tố tụng hình sự Cho đến nay, Việt Nam đã tham gia phần lớn vàcam kết thực hiện ở cả hai phương diện lập pháp và cam kết thực hiện thực tiễncác văn kiện về quyền con người

Do đó khi tham gia vào hoạt động TTHS, nếu người làm chứng nhận thấy

có người đe dọa hoặc có khả năng bị đe dọa đến tính mạng, sức khỏe, danh dự,nhân phẩm, tài sản thì có thể yêu cầu cơ quan tiến hành tố tụng đã triệu tập mìnhbằng các biện pháp cần thiết bảo vệ tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm,tài sản và các quyền lợi ích hợp pháp khác của mình, như yêu cầu cơ quan tiếnhành tố tụng cử người bảo vệ hoặc giao các tài sản của cá nhân cho cơ quan tiếnhành tố tụng tạm thời bảo quản

Quyền được bảo vệ tính mạng, sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm, tài sản vàcác quyền, lợi ích hợp pháp khác là quyền chính đáng của một công dân khitham gia vào hoạt động TTHS, bảo vệ quyền con người của người làm chứng lànghĩa vụ của nhà nước và các cơ quan THTT nhằm đảm bảo cho quá trình pháthiện xử lý tội phạm được chính xác và toàn diện

2.1.2 Khiếu nại quyết định, hành vi tố tụng của cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng (điểm b khoản 3 Điều 55 BLTTHS năm 2003)

Đây là sự cụ thể hóa một trong những quyền hiến định cơ bản của công

Trang 20

dân thuộc nhóm quyền về chính trị quy định tại Điều 74 Hiến pháp năm 1992

“Công dân có quyền khiếu nại với cơ quan nhà nước có thẩm quyền về nhữngviệc làm trái pháp luật của cơ quan nhà nước, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội,đơn vị vũ trang nhân dân hoặc bất cứ cá nhân nào” Theo quy định của BLTTHSthì người làm chứng cũng là một chủ thể tham gia tố tụng Việc quy định ngườilàm chứng có quyền khiếu nại các quyết định hay hành vi tố tụng của cơ quan,người tiến hành tố tụng thể hiện sự bình đẳng cho tất cả chủ thể tham gia tốtụng, phù hợp với nguyên tắc bảo đảm quyền bình đẳng của mọi công dân trướcpháp luật được quy định tại Điều 5 BLTTHS năm 2003 Đồng thời cũng thể hiệnbản chất dân chủ của pháp luật TTHS nước ta, nó có ý nghĩa không những đảmbảo các quyền và lợi ích hợp pháp của công dân mà còn góp phần vào việc khắcphục sai lầm của cơ quan THTT và người THTT trong quá trình giải quyết vụ

án Hơn nữa quy định như vậy cũng nhằm làm cho người làm chứng quan tâmhơn tới các quyết định và hành vi của cơ quan, người tiến hành tố tụng liên quantới quyền lợi hợp pháp của mình để họ có thể bảo vệ quyền lợi cho mình khitham gia TTHS

Quyền được khiếu nại này được ghi nhận là một nguyên tắc của TTHS.Điều 31 BLTTHS năm 2003 quy định: “Công dân, cơ quan, tổ chức có quyềnkhiếu nại, công dân có quyền tố cáo những việc làm trái pháp luật trong hoạtđộng tố tụng hình sự của các cơ quan và người có thẩm quyền tiến hành tố tụnghình sự hoặc của bất cứ cá nhân nào thuộc các cơ quan đó” BLTTHS năm 2003

đã dành hẳn một chương quy định về khiếu nại, tố cáo (chương XXXV), thểhiện rõ mục tiêu và trách nhiệm bảo đảm thực hiện dân chủ trong hoạt đông tốtụng hình sự, bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của công dân Những quyđịnh về khiếu nại, tố cáo được hướng dẫn thi hành tại Thông tư liên tịch số02/2005/ TTLT – VKSNDTC – TANDTC – BCA – BTP ngày 10/8/2005

Theo đó, nếu người làm chứng nhận thấy các quyết định, hành vi của cơquan, người tiến hành tố tụng là sai trái, xâm phạm đến tính mạng, sức khỏe,danh dự, nhân phẩm, tài sản của bản thân thì có quyền khiếu nại đến cơ quan có

Trang 21

thẩm quyền để bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của mình Có quyền khiếunại điều tra viên không đọc và giải thích cho họ về quyền và nghĩa vụ tố tụngcủa họ, khiếu nại điều tra viên không khách quan trong việc thực hiện đối chất,

có quyền đề nghị được biết những tình tiết cần làm rõ

2.1.3 Được cơ quan triệu tập thanh toán chi phí đi lại và những chi phí khác theo quy định của pháp luật (Điểm c khoản 3 Điều 55 BLTTHS năm 2003)

Người làm chứng tham gia tố tụng vì lợi ích chung của cộng đồng và xãhội, không phải vì tính chất công việc như những chủ thể của chức năng hỗ trợ

tư pháp khác Quy định đây là một quyền của người làm chứng có thể coi là đặcthù mà những chủ thể hỗ trợ cho hoạt động tố tụng hình sự khác như người giámđịnh, người phiên dịch không có được Việc thanh toán chi phí đi lại và nhữngnhững chi phí khác tạo điều kiện thuận lợi về kinh phí vật chất cho người làmchứng thực hiện nghĩa vụ công dân của mình, loại bỏ tâm lý “ăn cơm nhà vác tù

và hàng tổng” Thúc đẩy người làm chứng tích cực thực hiện nghĩa vụ của mình

Theo quy định trên, người làm chứng có thể liệt kê các chi phí liên quanđến việc đi lại, ăn ở (trong trường hợp người làm chứng ở xa) và các chi phíkhác, yêu cầu cơ quan tiến hành tố tụng thanh toán các chi phí đó

Quy định người làm chứng được quyền thanh toán các chi phí theo quyđịnh của khoản 3 Điều 55 BLTTHS năm 2003 là hợp lý nhưng chưa đầy đủ và

cụ thể để có thể thực hiện thống nhất trên thực tế Thông thường các cơ quantiến hành tố tụng thanh toán chi phí đi lại cho người làm chứng theo hóa đơnhoặc giấy xác nhận Giả sử để kịp thời gian ghi trong giấy triệu tập, người làmchứng phải mua vé máy bay với giá cao hơn thì có được thanh toán không hay làchỉ theo mức quy định của pháp luật? Hiện nay, chưa có văn bản nào quy định

cụ thể những loại chi phí khác được thanh toán trong quá trình người làm chứngthực hiện nghĩa vụ tố tụng Do vậy, các quy định của luật vẫn chưa thực sự đảmbảo được quyền lợi cho người làm chứng, khuyến khích họ thực hiện nghĩa vụcủa mình

Trang 22

Đối với người làm chứng dưới 16 tuổi khi lấy lời khai phải có mặt củacha, mẹ hoặc người đại diện hợp pháp hoặc thầy, cô giáo của người đó tham dự(Khoản 5 Điều 135 BLTTHS năm 2003) Nhưng luật tố tụng hình sự hiện naykhông quy định những chủ thể này cũng được cơ quan triệu tập thanh toán.Thiếu sót này trong quy định của pháp luật cũng phần nào làm ảnh hưởng đếnquá trình giải quyết vụ án hình sự.

2.2 Quy định của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 về nghĩa vụ của người làm chứng

Trong tố tụng hình sự người làm chứng là người tham gia tố tụng để thựchiện nghĩa vụ công dân Do biết được các tình tiết liên quan tới vụ án nên ngườilàm chứng phải thực hiện nghĩa vụ công dân của mình trong đấu tranh chống tộiphạm Vì vậy, tư cách tố tụng của người làm chứng được thể hiện qua các nghĩa

vụ tố tụng sau:

2.2.1 Có mặt theo giấy triệu tập của cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án; trong trường hợp cố ý không đến mà không có lý do chính đáng và việc vắng mặt của họ gây trở ngại cho việc điều tra, truy tố, xét xử thì có thể

bị dẫn giải (điểm a khoản 4 Điều 55 BLTTHS năm 2003)

Khoản 1 Điều 25 BLTTHS năm 2003 quy định “Các tổ chức, công dân

có quyền và nghĩa vụ phát hiện, tố giác hành vi phạm tội; tham gia đấu tranhphòng ngừa và chống tội phạm, góp phần bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền vàlợi ích hợp pháp khác của công dân, tổ chức” Như vậy, trách nhiệm phòng,chống tội phạm là nghĩa vụ của mọi công dân với Nhà nước Người làm chứngkhi nhận được giấy triệu tập của cơ quan tiến hành tố tụng yêu cầu họ thực hiệnnghĩa vụ công dân của mình để giải quyết một vụ án cụ thể phải có mặt theogiấy triệu tập đó Sự có mặt của người làm chứng đúng thời gian, địa điểm ghitrong giấy triệu tập là cần thiết có ý nghĩa quan trọng trong giải quyết án Quahoạt động lấy lời khai, đối chất, nhận dạng, tình tiết của vụ án sẽ được làm rõ.Tại phiên tòa, sự có mặt của người làm chứng là điều cần thiết Qua xét hỏi lờikhai trước đó của người làm chứng với cơ quan điều tra sẽ được thẩm tra lại và

Trang 23

làm rõ tại phiên tòa, chúng sẽ được sử dụng làm căn cứ xác định tội phạm,quyền được bào chữa của bị cáo cũng được đảm bảo Nếu người làm chứngvắng mặt không có lý do chính đáng và việc vắng mặt của họ gây khó khăn, trởngại cho việc điều tra, truy tố, xét xử thì có thể bị dẫn giải Quy định là mộtnghĩa vụ nhằm bảo đảm sự có mặt của người làm chứng khi được triệu tập, hạnchế việc họ lẩn tránh, thoái thác trách nhiệm không chịu hợp tác Ngoài ra quyđịnh này còn góp phần bảo đảm vấn đề liên quan tới kinh phí giải quyết vụ án.Điều này ta có thể nhận thấy rõ nhất trong trường hợp các phiên tòa mà ngườilàm chứng quan trọng vắng mặt thì Hội đồng xét xử có thể sẽ phải quyết địnhhoãn phiên tòa (Điều 192 BLTTHS năm 2003) Tại Anh trong năm 2002-2003,

có 2.845 vụ án ở Tòa án Hoàng gia và 13.328 vụ án ở tòa án sơ thẩm đã bị hoãn

vì nhân chứng vắng mặt, chiếm 22% và 26% số vụ án bị hoãn Cơ quan kiểmtoán quốc gia Anh ước tính mỗi năm các phiên tòa bị hoãn đã gây thiệt hại 41triệu bảng (hơn 1.000 tỷ đồng)10 BLTTHS Đức có quy định: Nếu người làmchứng vắng mặt không có lý do chính đáng, họ sẽ chịu trách nhiệm trước phápluật Điều 51 Bộ luật tố tụng hình sự đồng thời cũng quy định hậu quả của việcngười làm chứng vắng mặt Họ sẽ phải chịu trách nhiệm đối với chi phí do việcvắng mặt gây ra, đồng thời phải chịu một khoản tiền phạt bắt buộc Tuỳ từngtrường hợp mà họ có thể bị tạm giam hoặc cưỡng chế ra làm chứng lần thứ haitrước Toà11

Việc vắng mặt của người làm chứng còn ảnh hưởng tới công việc củanhững người tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng và những người tham giaphiên tòa như cảnh sát hỗ trợ tư pháp vì công việc tại Tòa án không phải làcông việc thường xuyên mang tính chất nghề nghiệp của họ Bên cạnh thiệt hại

về kinh tế là thiệt hại về công lý Nếu người làm chứng không có mặt tại phiêntòa Hội đồng xét xử sẽ không thể thẩm tra lại chứng cứ mà người làm chứng đã

10 Xem Nguyễn Thái Phúc , Đại học luật TP Hồ Chí Minh “Bảo vệ người làm chứng và quyền miễn trừ làm chứng trong tố tụng hình sự”, Tạp chí Khoa học pháp lý, số 3 năm 2007

11 Xem Nguyễn Thu Quỳ, Viện khoa học kiểm sát VKSNDTC “Về người tham gia tố tụng trong pháp luật tố tụng hình sự Đức”( http://www.vksndtc.gov.vn/theloai/khoahocks/7.aspx)

Trang 24

cung cấp tại cơ quan điều tra Từ đó quyền bào chữa của bị cáo sẽ khó được bảođảm, hoạt động xét xử có thể gặp những khó khăn và thậm chí đi đến bế tắc.Hậu quả xấu nhất có thể xảy ra là kẻ phạm tội đích thực không bị truy cứu tráchnhiệm hình sự, tiếp tục nhởn nhơ ngoài vòng pháp luật Việc không xác địnhđược sự thật vụ án để xác định trách nhiệm hình sự còn gây hoang mang trong

dư luận, tạo cơ hội cho các phần tử phản động lợi dụng chống phá Đảng vàChính quyền Nhà nước

Khoản 2 Điều 133 quy định về triệu tập người làm chứng như sau “Các cơquan, tổ chức đó có trách nhiệm tạo điều kiện cho ngươời làm chứng thực hiệnnghĩa vụ” Nhưng quy định này dường như không thực hiện được trên thực tế vìtrong các luật chuyên ngành không quy định về quyền của người lao động đượcnghỉ công việc tham gia làm chứng trong một vụ án hình sự Trong Bộ luật laođộng sửa đổi bổ sung năm 2002, 2003, 2007 chỉ quy định thời gian nghỉ hưởngnguyên lương là nghỉ hàng năm (Điều 74), nghỉ về việc riêng (Điều 78), nghỉnhững ngày lễ (Điều 73) Luật Cán bộ công chức năm 2008 cũng không có quyđịnh nào về việc cán bộ, công chức được phép nghỉ làm tại cơ quan để thực hiệnnghĩa vụ làm chứng của mình Việc người làm chứng phải nghỉ công việc cóđược tính vào thời gian làm việc theo quy định của pháp luật lao động không?Như vậy có thể nói người lao động bị “kẹt” giữa BLTTHS và các quy phạm luậtđiều chỉnh quan hệ lao động của họ

2.2.2 Khai trung thực tất cả những tình tiết mà mình biết về vụ án (Điểm b khoản 4 Điều 55 BLTTHS năm 2003)

Người làm chứng từ chối hoặc trốn tránh việc khai báo mà không có lý dochính đáng thì phải chịu trách nhiệm hình sự theo điều 308 của Bộ luật hình sự;khai báo gian dối thì phải chịu trách nhiệm hình sự theo điều 307 của Bộ luậthình sự (Điểm b khoản 4 Điều 55 Bộ luật TTHS)

Người làm chứng tham gia tố tụng với chức năng hỗ trợ Cơ quan tiếnhành tố tụng làm sáng tỏ vụ án Lời khai gian dối của người làm chứng có thểlàm tăng nặng hoặc giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị can, bị cáo Tội phạm

Trang 25

cần phải được trừng trị nghiêm minh, do vậy khai trung thực tất cả những tìnhtiết mà mình biết về vụ án là một trong những nghĩa vụ quan trọng của mộtngười công dân nhất là đối với người làm chứng - một chủ thể tham gia tố tụng

vì lợi ích chung của cộng đồng, của xã hội Pháp luật tố tụng hình sự một sốquốc gia trên thế giới còn buộc người làm chứng phải tuyên thệ cam đoan lờikhai của mình là đúng sự thật Bộ luật Tố tụng hình sự Hàn Quốc quy định vềlời thề của người làm chứng tại Điều 156 và Điều 157 Điều 156 quy định: "Mộtnhân chứng sẽ bắt buộc phải thề trước khi bị thẩm vấn, trừ khi Luật quy địnhkhác"12 Điều 157 Bộ luật quy định mẫu lời thề tuyên thệ: Văn bản tuyên thệ sẽghi "Tôi thề rằng tôi sẽ nói sự thật, toàn bộ sự thật và không phải là cái gì khácngoài sự thật mà tôi được biết, nếu có điều gì sai trái trong lời nói của tôi, tôi sẽ

bị xử phạt"13 Bộ luật Tố tụng hình sự Cộng hòa Pháp, ngoài việc quy địnhngười làm chứng phải tuyên thệ và khai tại Điều 437, Điều 438 còn quy định cụthể về trách nhiệm của người làm chứng: "Nếu người làm chứng vắng mặt tạiphiên tòa hoặc không chịu tuyên thệ, không chịu khai, thì Viện Công tố có thểyêu cầu Tòa tiểu hình xử phạt người này theo quy định tại Điều 109".14 Như vậy,pháp luật hầu hết các nước đều quy định chế tài xử phạt với hành vi gian dối,gây trở ngại cho việc giải quyết vụ án Pháp luật Việt Nam quy định nếu ngườilàm chứng từ chối hoặc trốn tránh việc khai báo mà không có lý do chính đángthì phải chịu trách nhiệm hình sự theo điều 308 của Bộ luật hình sự; khai báogian dối thì phải chịu trách nhiệm hình sự theo điều 307 của Bộ luật hình sự15.Việc người làm chứng cam đoan không khai gian dối quy định tại khoản 1 Điều

204 BLTTHS năm 2003, là một biện pháp giúp người làm chứng thấy được rõhơn trách nhiệm và nghĩa vụ của mình tại tòa Người làm chứng là người chưathành niên không phải cam đoan

12 Xem: Luật tố tụng hình sự Hàn Quốc, Viện Kiểm sát nhân dân tối cao, Hà Nội, 1998, tr 33

13 Xem: Luật tố tụng hình sự Hàn Quốc, Viện Kiểm sát nhân dân tối cao, Hà Nội, 1998, tr 33

14 Xem: Bộ lụât tố tụng hình sự Cộng hòa Pháp, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 1998, tr 197.

15 Xem Bộ luật hình sự 1999.

Trang 26

BLTTHS năm 2003 mặc dù được sửa đổi, bổ sung sau BLHS năm 1999nhưng chưa tiếp thu được tư tưởng nhân đạo thể hiện trong BLHS Cụ thể, Điều

22 BLHS năm 1999 đã quy định hành vi không tố giác tội phạm của nhữngngười là ông, bà, cha, mẹ, con, cháu, anh chị em ruột, vợ hoặc chồng của kẻphạm tội không phải là tội phạm (trừ trường hợp không tố giác tội phạm xâmphạm an ninh quốc gia hoặc các tội đặc biệt nghiêm trọng) Quy định này thểhiện sự quan tâm của Nhà nước đối với khía cạnh đạo đức trong quá trình giảiquyết mối quan hệ giữa nhà nước và công dân Nhà nước đã đặt lợi ích của mình

- lợi ích về đấu tranh chống tội phạm trong mối quan hệ với lợi ích cá nhân đểphù hợp với truyền thống đạo đức của dân tộc Tuy nhiên BLTTHS năm 2003khi quy định về nghĩa vụ của người làm chứng đã không tiếp thu và phát triểnđược tư tưởng nhân văn này ngay trong khoa học pháp lý của nước ta chưa nóiđến trào lưu nhân đạo hóa, mở rộng bảo đảm quyền con người trong TTHS củanhiều nước trên thế giới16

Vấn đề nữa đặt ra là khi người làm chứng khai ra một số tình tiết mà lờikhai đó lại “bắt tội” lại chính họ thì trong trường hợp này pháp luật sẽ xử lý rasao? Trường hợp của Nguyễn Việt Tiến trong vụ PMU 18 là một ví dụ Ngày6/3/2006 vụ án đưa nhận hối lộ và cố ý làm trái tại PMU 18 được khởi tố BùiTiến Dũng - Tổng giám đốc PMU 18 và Phạm Tiến Dũng - Chánh văn phòng đã

bị bắt, bị khởi tố bị can Tại thời điểm đó ông Nguyễn Việt Tiến là Thứ trưởng

Bộ giao thông vận tải Ngày 20/3/2006 ông Tiến được cơ quan điều tra triệu tậpvới tư cách người làm chứng Sau nhiều lần trình diện theo triệu tập của cơ quanđiều tra, ngày 04/04/2006 ông Tiến đã bị khởi tố bị can về tội cố ý làm trái vàthiếu trách nhiệm và bị tạm giam Khi tham gia tố tụng với tư cách người làmchứng ông Tiến phải có nghĩa vụ trình diện, khai báo và khai báo trung thựcnhững gì ông biết về sai phạm của Bùi Tiến Dũng nếu không sẽ bị dẫn giải, bịtruy cứu trách nhiệm hình sự theo Điều 307 và Điều 308 BLHS Trong bối cảnhnày Nguyễn Việt Tiến không còn lựa chọn nào khác là phải trình bày trung thực,

16 Xem Nguyễn Thái Phúc, Đại học luật TP Hồ Chí Minh “Bảo vệ người làm chứng và quyền miễn trừ làm chứng trong tố tụng hình sự”, Tạp chí Khoa học pháp lý, , số 3 năm 2007

Trang 27

trả lời trung thực những câu hỏi của cơ quan điều tra, kể cả những câu hỏi vềtrách nhiệm của ông với tư cách là cấp trên của bị cáo Bùi Tiến Dũng Nhữnglời khai này của ông sau đó đã trở thành một trong những căn cứ để chống lạichính ông - căn cứ khởi tố bị can đối với ông Thực hiện nghĩa vụ tố tụng vì lợiích chung nhưng việc này có thể dẫn đến hệ quả là bản thân người làm chứng,người thân của họ có thể phải đối mặt với những bất lợi trong tương lai: Có thể

bị truy cứu trách nhiệm hình sự trên cơ sở những lời khai mà họ có nghĩa vụphải khai không được từ chối Pháp luật một số quốc gia trên thế giới đã cóhướng dẫn về vấn đề này Pháp luật tố tụng hình sự Nhật Bản quy định ngườilàm chứng được từ chối trả lời bất kỳ câu hỏi nào buộc tội những người thânthích của họ Điều 147 Bộ luật tố tụng hình sự Nhật Bản quy định: "Một ngườilàm chứng có thể từ chối trả lời bất kỳ câu hỏi nào mà có thể nghiêng về hướngbuộc tội những người sau đây:

- Vợ chồng, người thân ruột thịt trong phạm vi ba đời hoặc người bà congần gũi trong phạm vi hai đời của người làm chứng hoặc người đã có mối quan

do họ có có nhược điểm, khiếm khuyết về trí tuệ, tâm thần (Điều 60 - 67BLTTHS Đức)18 Những trường hợp vụ việc dính tới người thân thiết hoặc lời

17 Xem Trần Quang Tiệp TS Tổng cục An ninh, Bộ Công an “Về lời khai của người làm chứng trong vụ án hình sụ” Tạp chí Khoa học pháp lý tháng 04/2005).

18 Xem Nguyễn Thu Quỳ, Viện khoa học kiểm sát VKSNDTC “Về người tham gia tố tụng trong pháp luật tố tụng hình sự Đức” (http://www.vksndtc.gov.vn/theloai/khoahocks/7.aspx ).

Trang 28

tường thuật có thể làm hại chính mình tức là nói lên cái gì đó bắt tội chính mìnhthì có thể có ngoại lệ Người làm chứng có quyền từ chối làm chứng trong một

số trường hợp sau:

- Người thân hoặc họ hàng của bị cáo có thể từ chối đưa ra chứng cứ nếuthấy rằng việc đó có thể dẫn đến xung đột, ảnh hưởng tới việc thực hiện bổnphận đạo đức của họ Đó là vợ chồng (kể cả khi hôn nhân không còn tồn tại), vợchồng chưa cưới và những người trong quan hệ trực hệ hoặc quan hệ theo hônnhân, quan hệ hàng bệ ở hàng thứ ba (như cha mẹ, con cái, ông bà, cụ kị, cháuchắt, anh chị em ruột và con cái của họ) hoặc có quan hệ theo hôn nhân ở hàngthứ hai với bị can, bị cáo Những mối quan hệ từ hôn nhân như thông gia cũng

có đặc quyền này nhưng hạn chế hơn (Điều 52)

- Những người làm ở một số nghề nghiệp luật định được quyền từ chốiđưa ra chứng cứ vì lý do bí mật nghề nghiệp Quy định này được áp dụng đốivới linh mục, luật sư, bác sỹ và các cộng sự của họ (Điều 53) Nhà báo và nhữngngười có liên quan đến việc sản xuất hoặc phát hành báo chí, ấn phẩm xuất bảnđịnh kỳ khác, những người thi hành một số nhiệm vụ công như thành viên củacác cơ quan lập pháp (thành viên của Quốc hội liên bang, Quốc hội bang hoặc

cơ quan lập pháp cấp hai liên quan đến những người nắm giữ thông tin vì chứcnăng của họ) cũng có thể được hưởng quyền này Những người này có quyềngiữ im lặng đối với những vấn đề cụ thể liên quan đến chuyên môn hay thẩmquyền của họ

- Viên chức nhà nước, gồm các Thẩm phán và những người làm việc tạicác nhiệm sở, có quyền từ chối đưa ra chứng cứ về những vấn đề bí mật liênquan đến công việc của họ (Điều 54) Tuy nhiên, nếu được cấp trên cho phép thì

họ cũng có thể trả lời về những vấn đề này

- Các nhân chứng không nhất thiết phải khai báo nếu câu trả lời câu hỏi

cụ thể nào đó có thể làm cho họ hoặc một trong số những người họ hàng của họ

có nguy cơ bị truy tố hình sự hoặc kết tội (Điều 55) Luật TTHS CHLB Đức cònquy định: các nhân chứng phải được thông báo về quyền không phải khai báo

Ngày đăng: 11/08/2014, 10:06

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w