1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

vấn đề về kinh tế docx

51 303 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Phát triển nhanh và bền vững trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của Việt Nam
Trường học Đại học Kinh tế Quốc dân
Chuyên ngành Kinh tế và Phát triển Bền vững
Thể loại Báo cáo nghiên cứu hoặc bài viết
Năm xuất bản 2010
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 51
Dung lượng 399 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Thực hiện có hiệu quả phát triển kinh tế - xã hội nhanh và bền vững đòi hỏi phải tạo được sự chuyển biến có tính cách mạng, thấu suốt về nhận thức, đổi mới mạnh mẽ về tư duy, quán triệt

Trang 1

Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng phát biểu tại hội nghị cấp cao ASEAN 16 (tháng 4/2010) Hội nghị đã thông qua hai tuyên bố quan trọng là Tuyên bố về Phục hồi và Phát triển bền vững, và Tuyên bố về Hợp tác đối phó với biến đổi khí hậu - Ảnh Chinhphu.vn.

Toàn văn bài viết của Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Tấn Dũng về phát triển nhanh và bền vững

Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Tấn Dũng vừa có bài viết nhan đề "Phát triển nhanh và bền vững

là quan điểm xuyên suốt trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của đất nước ta"

VnEconomy xin trân trọng giới thiệu với độc giả bài viết này.

Quan niệm phát triển bền vững xuất hiện từ những năm đầu thập kỷ 80 thế kỷ 20, được phổ biến rộng rãi vào năm 1987, với hàm ý tổng quát là sự phát triển đáp ứng được những yêu cầu của hiện tại nhưng không gây trở ngại cho việc đáp ứng nhu cầu của các thế hệ mai sau Đây là quá trình phải bảo đảm có sự kết hợp chặt chẽ, hợp lý, hài hòa giữa ba mặt của sự phát triển: phát triển kinh tế, phát triển xã hội và bảo vệ môi trường.

Trong hai thập kỷ qua, trên bình diện quốc tế, vấn đề phát triển bền vững ngày càng được đặc biệt quan tâm, trở thành yêu cầu phát triển của toàn cầu Đã có không ít hội nghị thượng đỉnh thảo luận về chủ đề này và đưa ra nhiều văn kiện, quyết sách quan trọng

Ở nước ta, quan điểm phát triển nhanh và bền vững đã được nhận thức rất sớm và thể hiện trong nhiều chủ trương, nghị quyết của Đảng Ngay từ Đại hội III năm 1960 và Đại hội IV năm

1976, Đảng ta đã đặt mục tiêu “tiến nhanh, tiến mạnh, tiến vững chắc lên chủ nghĩa xã hội” Đại hội VII thông qua Chiến lược Phát triển kinh tế - xã hội 1991 – 2000, nhấn mạnh “Tăng trưởng kinh tế phải gắn liền với tiến bộ và công bằng xã hội, phát triển văn hoá, bảo vệ môi trường” Đại hội VIII nêu bài học “Tăng trưởng kinh tế gắn liền với tiến bộ và công bằng xã hội, giữ gìn và phát huy bản sắc dân tộc, bảo vệ môi trường sinh thái”

Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2001 - 2010 thông qua tại Đại hội IX khẳng định “Phát triển nhanh, hiệu quả và bền vững, tăng trưởng kinh tế đi đôi với thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội

và bảo vệ môi trường” Đại hội X nêu bài học về phát triển nhanh và bền vững, trong đó ngoài các nội dung phát triển kinh tế, xã hội, môi trường còn bổ sung yêu cầu phát triển toàn diện con người, thực hiện dân chủ và xác định mục tiêu tổng quát của Kế hoạch 5 năm 2006 - 2010 là

“Phấn đấu tăng trưởng kinh tế với nhịp độ nhanh, chất lượng cao và bền vững hơn, gắn với phát triển con người”.

Như vậy, quan điểm phát triển nhanh và bền vững đã sớm được Đảng và Nhà nước ta đặt ra với nội dung ngày càng hoàn thiện và đã trở thành một chủ trương nhất quán trong lãnh đạo, quản lý, điều hành tiến trình phát triển của đất nước trong nhiều thập kỷ qua Nhà nước ta cũng

an toàn Đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân được cải thiện tốt hơn Thu nhập thực tế bình quân đầu người 10 năm qua tăng khoảng 2,3 lần Công cuộc xóa đói giảm nghèo đạt nhiều

Trang 2

thành tựu nổi bật, được quốc tế đánh giá cao.

Chênh lệch thu nhập giữa thành thị và nông thôn giảm từ 2,3 lần năm 1999 xuống còn 2 lần năm 2008 Trẻ em được quan tâm bảo vệ, chăm sóc; tỷ lệ trẻ dưới 5 tuổi suy dinh dưỡng giảm

từ 33,8% xuống còn dưới 18% Tuổi thọ bình quân tăng từ 67 lên 72 tuổi Cả nước đã hoàn thành phổ cập giáo dục trung học cơ sở Chỉ số phát triển con người (HDI) không ngừng tăng lên, năm 2008 là 0,733, thuộc nhóm nước trung bình cao trên thế giới Mức hưởng thụ văn hoá, điều kiện tiếp cận thông tin của người dân được nâng lên rõ rệt Hệ thống phúc lợi và an sinh xã hội được coi trọng và từng bước mở rộng Cùng với những kết quả to lớn trong việc xã hội hoá phát triển các lĩnh vực xã hội, ngân sách nhà nước chi cho các lĩnh vực này không ngừng tăng lên; bảo hiểm y tế được mở rộng từ 13,4% dân số năm 2000 lên khoảng 62% năm 2010 Bình đẳng giới có nhiều tiến bộ, tỷ lệ phụ nữ tham gia Quốc hội và giữ các trọng trách trong hệ thống chính trị ngày càng cao Năm 2008, nước ta đã hoàn thành hầu hết các Mục tiêu Thiên niên kỷ đặt ra cho năm 2015

Công tác bảo vệ môi trường được quan tâm và có mặt được cải thiện Dân chủ trong xã hội tiếp tục được mở rộng, xã hội cởi mở và đồng thuận hơn Quốc phòng, an ninh được giữ vững Chính trị - xã hội ổn định Diện mạo của đất nước có nhiều thay đổi; thế và lực của nước ta vững mạnh thêm nhiều; vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế được nâng cao; tạo ra những tiền đề quan trọng để phát triển nhanh, bền vững và nâng cao chất lượng cuộc sống của nhân dân.

Bên cạnh những kết quả nêu trên, trong sự phát triển cũng còn nhiều yếu kém, bất cập Những thành tựu đạt được chưa tương xứng với tiềm năng Chất lượng, năng suất, hiệu quả, sức cạnh tranh của nền kinh tế còn thấp Tăng trưởng kinh tế còn dựa nhiều vào các yếu tố phát triển theo chiều rộng, chậm chuyển sang phát triển theo chiều sâu Huy động và hiệu quả sử dụng các nguồn lực còn hạn chế; lãng phí, thất thoát còn nhiều; hiệu quả đầu tư thấp Tiêu hao nguyên liệu, năng lượng còn rất lớn Việc khai thác và sử dụng tài nguyên chưa thật hợp lý và tiết kiệm Các cân đối kinh tế vĩ mô chưa thật vững chắc, bội chi ngân sách, thâm hụt cán cân thương mại còn lớn, lạm phát còn cao Môi trường sinh thái nhiều nơi bị ô nhiễm nặng.

Các lĩnh vực văn hoá, xã hội còn nhiều bất cập, một số mặt vẫn còn bức xúc; tệ nạn xã hội có chiều hướng gia tăng; ùn tắc và tai nạn giao thông còn nghiêm trọng; tham nhũng chưa bị đẩy lùi; chất lượng giáo dục và đào tạo, nhất là đào tạo đại học và dạy nghề còn yếu kém và chậm được cải thiện; các bệnh viện bị quá tải, chất lượng dịch vụ y tế còn thấp.

Những hạn chế, yếu kém trên đây có phần do nguyên nhân khách quan, nhưng nguyên nhân chủ quan vẫn là chủ yếu, nổi lên là: Quan điểm phát triển bền vững chưa được nhận thức sâu sắc và thể hiện một cách cụ thể, nhất quán trong hệ thống chính sách, quy hoạch, kế hoạch và các công cụ điều tiết Trong quản lý, điều hành còn thiên về tốc độ tăng trưởng mà chưa coi trọng đúng mức đến chất lượng tăng trưởng và tính bền vững của sự phát triển; chưa tạo được chuyển biến mạnh trong việc giải quyết những vấn đề xã hội bức xúc Quá trình lập quy hoạch,

kế hoạch, dự án phát triển kinh tế - xã hội và xây dựng, thực hiện chính sách bảo vệ môi trường chưa có sự kết hợp chặt chẽ, lồng ghép hợp lý Cơ chế quản lý và giám sát sự phát triển bền vững chưa được thiết lập rõ ràng và có hiệu quả Quyền làm chủ của nhân dân, nhất là dân chủ trực tiếp chưa được phát huy đầy đủ.

Từ thực tiễn nêu trên, dự thảo chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2011 - 2020 nêu bài học

“Đặc biệt coi trọng chất lượng, hiệu quả và tính bền vững của sự phát triển… giải quyết hài hòa mối quan hệ giữa tốc độ và chất lượng tăng trưởng” và xác định “Phát triển nhanh gắn liền với phát triển bền vững, phát triển bền vững là yêu cầu xuyên suốt trong chiến lược”, với các nội

Trang 3

dung chủ yếu là “Phải phát triển bền vững về kinh tế, giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô, bảo đảm

an ninh kinh tế Đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu kinh tế, chuyển đổi mô hình tăng trưởng, coi chất lượng, năng suất, hiệu quả, sức cạnh tranh là ưu tiên hàng đầu, chú trọng phát triển theo chiều sâu, phát triển kinh tế tri thức Tăng trưởng kinh tế phải kết hợp hài hoà với thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội; nâng cao không ngừng chất lượng cuộc sống của nhân dân Phát triển kinh

tế - xã hội phải luôn đi cùng với bảo vệ và cải thiện môi trường.

Nước ta có điều kiện phát triển nhanh và yêu cầu phát triển nhanh cũng đang đặt ra hết sức cấp thiết; phát triển bền vững là cơ sở để phát triển nhanh, phát triển nhanh để tạo nguồn lực cho phát triển bền vững Phát triển nhanh và bền vững phải luôn gắn chặt với nhau trong quy hoạch, kế hoạch và chính sách phát triển kinh tế - xã hội Phải đặc biệt quan tâm giữ vững ổn định chính trị - xã hội, tăng cường quốc phòng, an ninh, bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ để bảo đảm cho đất nước phát triển nhanh và bền vững.”

Để hiện thực hoá quan điểm phát triển nhanh và bền vững, phải thực hiện đồng bộ các định hướng phát triển đã nêu trong dự thảo chiến lược, trong đó cần tập trung thực hiện có hiệu quả các nhiệm vụ, giải pháp sau:

Một là, bằng các giải pháp và sức mạnh tổng hợp, kiên quyết giữ vững độc lập, chủ quyền và

toàn vẹn lãnh thổ quốc gia, bảo đảm an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội, chủ động và tích cực hội nhập quốc tế, tạo môi trường hoà bình và điều kiện thuận lợi cho sự phát triển đất nước Đây là điều kiện tiên quyết nhất cho sự phát triển nhanh và bền vững và cũng là một lợi thế của đất nước ta

Hai là, bảo đảm ổn định kinh tế vĩ mô và các cân đối lớn của nền kinh tế; giữ vững an ninh

lương thực, an ninh năng lượng và sự hoạt động an toàn, hiệu quả của các định chế tài chính Thế hệ chúng ta đã từng chứng kiến những cuộc khủng hoảng lương thực, khủng hoảng năng lượng, mới đây là cuộc khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế toàn cầu xẩy ra trong các năm 2007 - 2009 và cuộc khủng hoảng nợ công ở một số nước hiện nay Những cuộc khủng hoảng này là hậu quả của sự phát triển không bền vững, gây mất ổn định toàn cầu và tác động đến tăng trưởng của hầu hết các quốc gia, kinh tế thế giới suy giảm, thất nghiệp gia tăng, xung đột xã hội lan rộng

Ở nước ta, cùng với những bất cập, yếu kém trong quản lý vĩ mô, cuộc khủng hoảng tài chính

và suy thoái kinh tế toàn cầu đã tác động tiêu cực đến sự phát triển của đất nước, lạm phát tăng cao, tốc độ tăng trưởng suy giảm, đời sống nhân dân gặp khó khăn Kinh nghiệm quốc tế cũng như của nước ta những năm qua cho thấy giữ vững an ninh lương thực, an ninh năng lượng,

an ninh tài chính, kiểm soát được lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, bảo đảm các cân đối lớn vừa

là tiền đề để tăng trưởng nhanh vừa là nội dung của tăng trưởng bền vững, trở thành nhiệm vụ quan trọng nhất trong quản lý kinh tế của bất cứ quốc gia nào.

Ba là, huy động và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực để bảo đảm đạt tốc độ tăng trưởng cao

đồng thời nâng cao chất lượng tăng trưởng.

Bảo đảm tốc độ tăng trưởng cao, ổn định và không ngừng nâng cao chất lượng tăng trưởng là yếu tố quyết định nhất để phát triển nhanh và bền vững Có đạt được tốc độ tăng trưởng cao, đất nước mới phát triển nhanh, rút ngắn khoảng cách với các nước, mới tạo được nguồn lực để phát triển các lĩnh vực xã hội, phát triển con người, đầu tư phát triển những khu vực khó khăn, thu hẹp khoảng cách phát triển giữa các vùng trong nước, mở rộng hệ thống phúc lợi và an sinh xã hội, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội

Trang 4

Với ưu thế về nguồn lực con người, chính trị xã hội ổn định, vị trí địa - kinh tế thuận lợi, lại là nước đi sau, chúng ta có điều kiện để phát triển nhanh Mặt khác, có nâng cao chất lượng tăng trưởng mới tăng được hiệu suất sử dụng vốn và sức cạnh tranh của nền kinh tế, mới mở rộng được thị trường tiêu thụ trong điều kiện cạnh tranh ngày càng gay gắt Trên cơ sở đó, tạo ra giá trị gia tăng lớn cho đất nước, tăng khả năng tích luỹ từ nội bộ nền kinh tế, bảo đảm nguồn lực cho tăng trưởng cao và ổn định trong dài hạn.

Để tăng trưởng cao, đạt tốc độ bình quân 7 - 8%/năm, phải tháo gỡ mọi cản trở về thể chế và thủ tục hành chính, giải phóng và phát triển mạnh lực lượng sản xuất gắn với nâng cao trình độ khoa học, công nghệ Phải tạo mọi điều kiện phát triển kinh tế tư nhân - thành phần có tốc độ tăng trưởng cao nhất và tạo nhiều việc làm nhất Mặt khác, phải đổi mới, cơ cấu lại và nâng cao hiệu quả của doanh nghiệp nhà nước, để doanh nghiệp nhà nước trở thành công cụ quan trọng trong việc thực hiện chính sách cơ cấu và định hướng tổ chức thị trường Phải thực hiện đa sở hữu, công khai minh bạch, nâng cao chất lượng quản trị doanh nghiệp và quan trọng hơn là đặt doanh nghiệp nhà nước vào môi trường cạnh tranh bình đẳng với các thành phần kinh tế khác trong cơ chế thị trường Chỉ có như vậy mới nâng cao được hiệu quả của doanh nghiệp nhà nước và sự phát triển của doanh nghiệp nhà nước mới không chèn lấn các nguồn lực để phát triển khu vực tư nhân - một động lực chủ yếu của tăng trưởng.

Nâng cao hiệu quả đầu tư công là một yếu tố quan trọng bảo đảm chất lượng tăng trưởng Trong mười năm tới, cần tập trung hơn nữa đầu tư phát triến hệ thống kết cấu hạ tầng kinh tế,

xã hội đồng bộ, từng bước hiện đại, tạo điều kiện cho kinh tế tăng trưởng nhanh, bền vững Hoàn thiện cơ chế giám sát và tăng cường công tác giám sát đầu tư Kiên quyết và có biện pháp mạnh mẽ chống tham nhũng, thất thoát, lãng phí trong đầu tư.

Yêu cầu cấp bách trong thời kỳ chiến lược tới là thực hiện tái cấu trúc nền kinh tế trên cả ba nội dung chính: (1) tái cấu trúc các ngành sản xuất, dịch vụ gắn với các vùng kinh tế, phát triển công nghiệp hỗ trợ Phải chuyển đổi mô hình tăng trưởng từ chủ yếu theo chiều rộng, dựa vào

sự gia tăng vốn đầu tư và nguồn nhân lực chất lượng thấp hiện nay sang kết hợp hợp lý giữa tăng trưởng theo chiều rộng với tăng trưởng theo chiều sâu trên cơ sở áp dụng các tiến bộ về khoa học, công nghệ, chất lượng nguồn nhân lực và kỹ năng quản lý hiện đại Trong mười năm tới, nhất là trong những năm đầu của thời kỳ chiến lược, chúng ta chưa thể từ bỏ hoàn toàn mô hình tăng trưởng theo chiều rộng Vì, để tăng trưởng theo chiều sâu phải sử dụng công nghệ hiện đại và phải có nguồn nhân lực chất lượng cao Đây là quá trình tích luỹ vốn và phát triển nguồn nhân lực trong từng doanh nghiệp và cả nền kinh tế Hơn nữa, phát triển bền vững phải gắn với yêu cầu giải quyết việc làm và toàn dụng lao động trong khi nguồn lao động thiếu việc làm còn nhiều, nhất là ở khu vực nông thôn

Tuy nhiên, phải hành động khẩn trương, kiên quyết tạo lập đồng bộ các tiền đề để chuyển mạnh sang tăng trưởng theo chiều sâu ngay trong những năm đầu của thời kỳ chiến lược, trước hết là

ở những lĩnh vực khoa học, công nghệ phát triển nhanh và nước ta có điều kiện Đây là con đường cơ bản nhằm nâng cao chất lượng tăng trưởng; (2) tái cấu trúc các doanh nghiệp, xây dựng lực lượng doanh nghiệp trong nước với nhiều thương hiệu mạnh, hiệu quả và có sức cạnh tranh cao; (3) điều chỉnh chiến lược thị trường, coi trọng hơn thị trường trong nước đi đôi với việc tiếp tục đa dạng hoá, mở rộng thị trường nước ngoài

Thực hiện tốt các nội dung trên đây, chẳng những nâng cao được chất lượng tăng trưởng, khả năng độc lập tự chủ của nền kinh tế, hạn chế được các tác động tiêu cực trước những biến động từ bên ngoài, bảo đảm cho đất nước phát triển bền vững mà còn tham gia có hiệu quả vào mạng sản xuất và chuỗi giá trị toàn cầu, một xu thế phát triển trong nền kinh tế toàn cầu hoá và

Trang 5

hội nhập quốc tế.

Cùng với việc hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường, cải cách hành chính, cần phát huy có hiệu quả chức năng kiến tạo phát triển của nhà nước, nhất là trong thời kỳ đầu đẩy mạnh công nghiệp hoá, thể hiện trong việc đề ra chính sách cơ cấu và định hướng phát triển vùng đúng đắn.

Bốn là, phát triển các lĩnh vực văn hoá, xã hội hài hoà với phát triển kinh tế, không ngừng nâng

cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân, thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội trong từng bước và từng chính sách phát triển.

Văn hoá là nền tảng tinh thần của xã hội, yếu tố làm nên giá trị ổn định, lâu bền của một quốc gia, hình thành bản sắc riêng có của một dân tộc Văn hoá làm nên nguồn lực xã hội to lớn, thấm sâu vào quá trình phát triển Sự phát triển của một thời đại ở bất kỳ quốc gia nào đều có dấu ấn khai sáng của văn hoá Trên nền tảng văn hoá, con người không chỉ giải quyết mối quan

hệ với đồng loại, ứng xử với môi trường thiên nhiên trong đời sống hiện tại mà còn giải quyết mối quan hệ với các thế hệ tương lai trong quá trình phát triển Với ý nghĩa này, văn hoá không chỉ là kết quả của phát triển nhanh, bền vững mà còn là yếu tố tạo nên sự phát triển nhanh, bền vững Phải đặt yêu cầu phát triển văn hóa ngang tầm và hài hòa với phát triển kinh tế Tập trung xây dựng đời sống, lối sống và môi trường văn hóa lành mạnh Phát triển toàn diện, đồng bộ các lĩnh vực văn hóa, vừa phát huy những giá trị tốt đẹp của dân tộc, vừa tiếp thu những tinh hoa văn hoá nhân loại để văn hoá thực sự là nền tảng tinh thần của xã hội, là một động lực phát triển.

Thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội là nội dung rất quan trọng của phát triển bền vững Đây còn là tiêu chí thể hiện bản chất của chế độ ta Sự bất bình đẳng và phân hoá giàu nghèo ở mức cao tạo nên xung đột xã hội ở không ít các quốc gia trên thế giới, làm suy giảm tăng trưởng Vì vậy, Đảng ta chủ trương phải thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội ngay trong từng bước và từng chính sách phát triển Chúng ta sẽ tập trung hơn cho công cuộc xóa đói giảm nghèo, đa dạng hóa các nguồn lực và phương thức để thực hiện giảm nghèo bền vững Khuyến khích làm giàu theo pháp luật, đồng thời hạn chế phân hoá giàu nghèo, chủ yếu thông qua chính sách điều tiết thu nhập, phát triển hệ thống phúc lợi xã hội và an sinh xã hội đa dạng, ngày càng mở rộng và hiệu quả Tiếp tục hoàn thiện cơ chế phân phối trong các doanh nghiệp, chính sách tiền lương, bảo đảm công bằng lợi ích, tạo động lực thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội.

Tập trung sức phát triển giáo dục và đào tạo, nhất là đào tạo đại học và dạy nghề để có nguồn nhân lực chất lượng cao, cơ cấu hợp lý nhằm đẩy nhanh quá trình tái cấu trúc nền kinh tế và chuyển đổi mô hình tăng trưởng Phát triển mạnh sự nghiệp y tế, nâng cao chất lượng công tác chăm sóc sức khoẻ nhân dân.

Tập trung chỉ đạo kiên quyết, đồng bộ và huy động sức mạnh của cả hệ thống chính trị để bảo đảm đạt được những chuyển biến rõ rệt, vững chắc trong công tác phòng chống tham nhũng, tệ nạn xã hội và tai nạn giao thông

Năm là, phát huy quyền làm chủ của nhân dân, thực hành dân chủ rộng rãi, nhất là dân chủ

trực tiếp, xây dựng xã hội đồng thuận, cởi mở.

Thực hiện dân chủ là một thành tố của phát triển bền vững, được Đảng ta nêu rõ tại Đại hội Đảng lần thứ X, nhằm hoàn thiện, làm phong phú thêm nội dung phát triển bền vững Điều này xuất phát từ luận điểm rất quan trọng: con người vừa là mục tiêu vừa là chủ thể của phát triển

Trang 6

Nguồn lực con người là lợi thế cạnh tranh dài hạn, là yếu tố quyết định sự phát triển của một quốc gia Thực hành dân chủ rộng rãi sẽ phát huy khả năng sáng tạo của mỗi cá nhân, đóng góp vào sự phát triển nhanh và bền vững của đất nước Dân chủ càng cao thì đồng thuận xã hội càng sâu, sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc càng được củng cố vững chắc.

Để phát huy dân chủ, làm cho dân chủ trở thành nguồn lực phát triển, phải bảo đảm hai điều kiện: (1) tạo cơ hội cho mọi người được học tập, xây dựng xã hội học tập nhằm nâng cao dân trí; (2) thực hiện quyền làm chủ của nhân dân thông qua các thiết chế bảo đảm dân chủ trong mọi mặt của đời sống xã hội, mở rộng dân chủ trực tiếp Dân chủ phải gắn với kỷ luật, kỷ cương.

Có thể nói nhà nước pháp quyền, kinh tế thị trường đi liền với bảo đảm phúc lợi - an sinh xã hội

và dân chủ xã hội chủ nghĩa là 3 trụ cột chính trong tiến trình phát triển của đất nước ta dưới sự lãnh đạo của Đảng Trong đó, dân chủ vừa là mục tiêu vừa là động lực Cả 3 trụ cột này phải mạnh và có sự phát triển tương thích, đồng bộ Một trụ cột yếu sẽ cản trở sự vận động của các trụ cột khác và ảnh hưởng đến sự phát triển chung.

Sáu là, tăng trưởng kinh tế phải gắn chặt với bảo vệ và cải thiện môi trường.

Bảo vệ và cải thiện môi trường là một nội dung quan trọng của phát triển bền vững Môi trường

bị ô nhiễm, tài nguyên bị cạn kiệt, rừng bị tàn phá, đất bị xói mòn và tình trạng sa mạc hoá, biến đổi khí hậu, nguy cơ nước biển dâng… làm thu hẹp không gian sinh tồn của con người chẳng những tác động tiêu cực đến cuộc sống hiện tại mà còn đe dọa sự phát triển của các thế hệ tương lai.

Đối với nước ta, tình trạng ô nhiễm môi trường và những nguy cơ do biến đổi khí hậu và nước biển dâng là những thách thức to lớn Vì vậy, phát triển kinh tế phải gắn chặt với bảo vệ và cải thiện môi trường; chủ động đối phó với hiểm họa nước biển dâng; sử dụng công nghệ tiết kiệm nguyên liệu, năng lượng, phát triển kinh tế xanh là nội dung có tác động mạnh nhất đến phát triển bền vững, phải được thể hiện trong toàn bộ kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội của cả nước cũng như trong từng lĩnh vực, ở từng địa phương, đơn vị.

Thực hiện có hiệu quả phát triển kinh tế - xã hội nhanh và bền vững đòi hỏi phải tạo được sự chuyển biến có tính cách mạng, thấu suốt về nhận thức, đổi mới mạnh mẽ về tư duy, quán triệt trong mọi chính sách, quy hoạch, kế hoạch, dự án và chương trình hành động; tổ chức thực hiện quyết liệt ở tất cả các ngành, các cấp với sự đồng thuận tham gia của cả hệ thống chính trị, của cộng đồng doanh nghiệp và mọi người dân trong cả nước.

Chúng ta tin tưởng vững chắc rằng, dưới sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng, phát huy sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc với sự điều hành có hiệu quả của Nhà nước, sự phấn đấu nỗ lực của toàn dân, toàn quân, nhất định đất nước ta sẽ bước vào một thời kỳ mới phát triển nhanh và bền vững.

* Đầu đề bài viết do tòa soạn đặt.

Công bố Báo cáo thường niên kinh tế Việt Nam 2010: Ổn định vĩ mô để tăng trưởng bền vững

Trang 7

NDĐT – Trường Đại học Kinh tế (ĐH Quốc gia Hà Nội) sáng 8- 4 tổ chức Hội thảo công bố Báocáo thường niên kinh tế Việt Nam 2010: “Ổn định vĩ mô để tăng trưởng bền vững”.

Tham dự hội thảo có đại diện lãnh đạo và các nhà khoa học đến từ các cơ quan chính phủ, cơ quan hoạch định chính sách, cơ quan lý luận và nghiên cứu, các doanh nghiệp và đông đảo cán

bộ, giảng viên, sinh viên Trường Đại học Kinh tế

Báo cáo thường niên kinh tế Việt Nam 2010 với chủ đề “Ổn định vĩ mô để tăng trưởng bền vững

là một trong những đơn đặt hàng của Hội đồng Lý luận Trung ương

Báo cáo thường niên kinh tế Việt Nam 2010 gồm 8 chương và hai phụ lục, được cập nhật thông tin và số liệu đến hết tháng 12 năm 2009, một số vấn đề thời sự được cập nhật đến hết tháng 3-

2010

Trong Chương mở đầu “Kinh tế thế giới năm 2009: Qua đáy và phục hồi”, TS Lê Hồng Giang tóm lược những biến động kinh tế trên toàn cầu trong năm 2009, cung cấp một cái nhìn tổng thể với một hệ thống các số liệu thống kê và nhận định cơ bản về khuynh hướng của nền kinh tế thế giới

Tiếp theo, trong Chương 2 về “Kinh tế Việt Nam năm 2009”, TS Phạm Văn Hà đưa ra đánh giá toàn cảnh về về kinh tế Việt Nam trong năm qua, các khuynh hướng chính trên các khía cạnh lớn như kinh tế vĩ mô, cấu trúc kinh tế, ngân sách chính phủ, cán cân thanh toán…

Chương 3 “Đánh giá chính sách hỗ trợ lãi suất năm 2009”, các tác giả phát triển các mô hình lý thuyết để đánh giá chính sách hỗ trợ lãi suất trong năm 2009, sử dụng các phương pháp định lượng để xác định ảnh hưởng đến nền kinh tế, ở cả cấp độ vi mô và vĩ mô

Chương 4, TS Nguyễn Thu Hằng và nhóm tác giả tập trung nghiên cứu diễn biến của tỷ giá đồng Việt Nam trong thời gian qua, xác định vị trí của tỷ giá thực và thảo luận về những diễn biến có thể, đồng thời đưa ra những khuyến nghị về chính sách tỷ giá trong thời gian tới

Trong Chương 5, với nhan đề "Vai trò của cấu trúc kinh tế trong tăng trưởng", TS Nguyễn Thị Minh thực hiện các phân tích thống kê, so sánh với thế giới về động trình của cấu trúc kinh tế, sau đó sử dụng các mô hình kinh tế lượng đánh giá tác động của dịch chuyển cơ cấu lên tăng trưởng kinh tế trong giai đoạn gần đây

TS Từ Thúy Anh và TS Tô Minh Thu trong Chương 6 "Thương mại Việt Nam trong tiến trình hội nhập Đông Á" nghiên cứu ảnh hưởng của quá trình hội nhập lên phúc lợi kinh tế và vị thế cạnh tranh của Việt Nam, từ đó đưa ra những gợi ý chính sách trong lĩnh vực thương mại của Việt Nam trong thời gian tới

Chương 7 "Đánh giá vai trò của Khu công nghiệp trong sự phát triển kinh tế của Việt Nam", các tác giả Đinh Tuấn Minh và Jago Penrose đánh giá về những đóng góp của các Khu công nghiệp Việt Nam, đặc biệt là khả năng đáp ứng các mục tiêu của chính sách công nghiệp

Chương 8 "Viễn cảnh kinh tế Việt Nam 2010 và khuyến nghị chính sách", các tác giả đưa ra đánhgiá chung về nền kinh tế năm 2009, hiệu quả của các công cụ chính sách kinh tế thực hiện trong năm đồng thời dự báo về diễn biến kinh tế chính của Việt Nam trong năm 2010

Trang 8

Nhận xét về Báo cáo, TS Lê Đăng Doanh- Chuyên gia kinh tế cao cấp, TS Vũ Viết Ngoạn- Phó Chủ nhiệm Ủy ban Kinh tế của Quốc hội, TS Võ Trí Thành- Phó Viện trưởng Viện Nghiên cứu

và Quản lý kinh tế Trung ương đều thống nhất cho rằng, các chuỗi báo cáo trong tám chủ đề lớn được viết tốt, số liệu, thông tin phong phú, cập nhật Đặc biệt, các chuyên gia đánh giá cao phương pháp tiếp cận của các tác giả và nhận định, Báo cáo có nhiều nhận xét giá trị, dám đề cập đến những vấn đề gai góc…

Tuy nhiên, Báo cáo kinh tế Việt Nam 2010 có một số điểm chưa được hoàn thiện như: không có một chủ đề nào về các vấn đề xã hội; giữa các chuyên đề lớn cần có sự tương hợp, gắn kết, thống nhất; phạm vi đề cập hơi rộng về mặt thời gian, cần gọn hơn, tập trung vào năm 2010; nhiều nhậnxét, kiến nghị có phần võ đoán Và các chuyên gia lưu ý các tác giả cần chuyển tải các nhận xét, khuyến nghị bằng một thứ ngôn ngữ dễ hiểu, gần gũi với đời sống hơn

Ngọc Trác

Cac chinh sach thue

Lúng túng cách tính thuế GTGT đối với kinh doanh v ng, b à ạc, đá quý

THỜI NAY-NDĐT- Từ một vụ kiện dân sự liên quan quyết định xử phạt và truy thu thuế của Chicục Thuế quận 1 (TP Hồ Chí Minh), nhiều vấn đề liên quan cách tính thuế giá trị gia tăng

(GTGT) đối với hoạt động sản xuất, gia công các sản phẩm bằng vàng, bạc, đá quý đã bộc lộ

Khởi kiện

Sau khi tiến hành kiểm tra thuế năm 2008 tại Công ty TNHH Kim cương Ki Ta, ngày 1-9-2009, Chi cục Thuế quận 1 (TP Hồ Chí Minh) lập biên bản và ra Quyết định xử phạt số 3381/QĐ-CCT-KT2 ngày 3-9-2009, phạt Công ty Ki Ta 367 triệu đồng (làm tròn số), trong đó phạt 10% thuế GTGT khai sai là 31,4 triệu đồng, phạt chậm nộp thuế GTGT là 21 triệu đồng, truy thu thuế GTGT năm 2008 là 314,6 triệu đồng

Theo quyết định này, Công ty Ki Ta là doanh nghiệp thuộc đối tượng áp dụng thuế GTGT theo phương pháp khấu trừ đối với toàn bộ hoạt động kinh doanh, bao gồm cả chế tác vàng Công ty

Ki Ta kê khai tính thuế hoạt động chế tác nữ trang theo phương pháp trực tiếp là vi phạm Điều 9, Luật Thuế GTGT và khoản 3, Điều 8 của Nghị định số 98/2007/NĐ-CP ngày 7-6-2007 của Chínhphủ Sau đó Chi cục Thuế quận 1 lại tiếp tục ra Quyết định số 3902/QĐ-CCT-KT2 ngày 16-10-

2009 điều chỉnh Quyết định 3381/QĐ-CCT-KT2 ngày 3-9-2009 về thay đổi điều khoản vi phạm làm căn cứ xử phạt nhưng vẫn giữ nguyên nhận định và mức phạt

Không đồng ý với quyết định này, Công ty Ki Ta đã liên tục khiếu nại nhưng không kết quả Cuối cùng, Công ty Ki Ta đã đưa vụ việc ra TAND quận 1 nhờ phân xử

Đơn khởi kiện của Công ty Ki Ta cho rằng Chi cục Thuế quận 1 đã vận dụng pháp luật không chính xác, gây ảnh hưởng uy tín của doanh nghiệp Công ty này viện dẫn: Khoản 1, Điều 2, Nghị định số 174/1999/NĐ-CP quy định rõ: Hoạt động kinh doanh vàng là “hoạt động sản xuất, gia

Trang 9

công các sản phẩm bằng vàng; mua bán; xuất nhập khẩu vàng theo quy định” Điểm 4.1, Mục II, Phần B Thông tư số 60/2007/TT-BTC ngày 14-6-2007 của Bộ Tài chính hướng dẫn thi hành một

số điều của Luật Quản lý thuế và hướng dẫn thi hành Nghị định số 85/2007/NĐ-CP ngày

25-5-2007 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Quản lý thuế đã quy định về việc khai thuế GTGT tính theo phương pháp trực tiếp trên GTGT là: “Hộ gia đình, cá nhân kinh doanh và người nộp thuế kinh doanh vàng, bạc, đá quý, ngoại tệ lưu giữ được đầy đủ hóa đơn mua vào, hóa đơn bán ra để xác định được giá trị gia tăng thì áp dụng khai thuế giá trị gia tăng tính theo phương pháp trực tiếp trên giá trị gia tăng” Như vậy, hoạt động chế tác, mua bán vàng, bạc, đá quý của Công ty Ki Ta là thuộc trường hợp áp dụng khai thuế GTGT tính theo phương pháp trực tiếp trên GTGT

Ngày 12-7-2010, TAND quận 1 đã đưa vụ án ra xét xử Căn cứ vào các văn bản pháp luật về thuế, TAND quận 1 đã chấp nhận yêu cầu của Công ty Ki Ta về việc hủy bỏ Quyết định xử phạt

vi phạm pháp luật về thuế số 3381/QĐ-CCT-KT2 ngày 3-9-2009 và Quyết định số CCT-KT2 ngày 16-10-2009 của Chi cục Thuế quận 1

3902-QĐ-Rối rắm phương pháp khấu trừ

Ngày 20-5-2010, Công ty Vàng Bạc đá quý Sài Gòn - SJC có Công văn số 213/CV-CTY gửi CụcThuế TP Hồ Chí Minh đề nghị giải đáp thắc mắc, hướng dẫn về thuế Công ty này thắc mắc, Thông tư số 129/2008/TT-BTC của Bộ Tài chính hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Thuế GTGT và hướng dẫn thi hành Nghị định số 123/NĐ-CP ngày 8-12-2008 của Chính phủ quy định rất khó hiểu tại tiết c, điểm 2.1 Mục III, Phần B về hoạt động kinh doanh mua bán, vàng, bạc, đá quý, ngoại tệ: “Trường hợp cơ sở kinh doanh thuộc đối tượng nộp thuế theo phương pháp khấu trừ thuế có hoạt động kinh doanh mua, bán vàng, bạc, đá quý và hoạt động chế tác sản phẩm vàng, bạc, đá quý thì phải hạch toán riêng được hoạt động kinh doanh mua, bán vàng, bạc, đá quý

để được áp dụng theo phương pháp tính trực tiếp trên GTGT” Cách nói như vậy rõ ràng là tách việc chế tác ra khỏi hoạt động kinh doanh vàng, bạc như Nghị định số 174/1999/NĐ-CP đã quy định và trái với Luật Quản lý thuế là luật chuyên về khai thuế

Thắc mắc của SJC là đương nhiên Theo Thông tư 129/2008/TT-BTC, hoạt động chế tác nêu nhưtrên được hiểu như thế nào? Là chế tác cho khách hàng khi có yêu cầu công ty gia công sản phẩmvàng, bạc, đá quý hay là tự chế tác trong nội bộ công ty để có sản phẩm hoàn thiện hơn phục vụ mục đích kinh doanh Nếu chế tác nội bộ thì tính theo phương pháp khấu trừ hay trực tiếp trên GTGT, vì phần lớn hoạt động của công ty là sản xuất, chế tác ra vàng thỏi, vàng miếng, vàng nữ trang, bạc, đá quý các loại Doanh thu của SJC năm 2009 là 48.962 tỷ đồng, chỉ cần 40 nghìn tỷ đồng là doanh thu từ hoạt động chế tác được tính thuế GTGT theo phương pháp khấu trừ thì số thuế GTGT phải nộp lên đến 4.000 tỷ đồng Trong biên bản kiểm tra thuế năm 2009 tại SJC của Cục Thuế TP Hồ Chí Minh (thực hiện theo Quyết định 595/QĐ-CT ngày 10-5-2010), hàng hóa, dịch vụ bán ra trong năm 2009 là 44.121 tỷ đồng, thuế GTGT phải nộp là 21,56 tỷ đồng, chiếm 0,049% trên doanh thu Trong đó, doanh thu chịu thuế GTGT theo phương pháp tính trực tiếp là 44.039 tỷ đồng, số thuế GTGT phải nộp là 13,38 tỷ đồng Doanh thu chịu thuế GTGT theo phương pháp khấu trừ chỉ có 82 tỷ đồng, số thuế GTGT phải nộp là 8,18 tỷ đồng Như vậy, Cục Thuế TP Hồ Chí Minh đã mặc nhiên công nhận hoạt động sản xuất, chế tác vàng, bạc bằng nguyên liệu của SJC được áp dụng theo phương pháp trực tiếp chiếm 99,81% doanh thu, chỉ tính thuế GTGT theo phương pháp khấu trừ đối với hoạt động nhận gia công vàng bên ngoài cho khách hàng và một số hoạt động kinh doanh hàng hoá, dịch vụ chịu thuế GTGT khác

Trang 10

Vì vậy, cần xem xét tính khả thi của việc khai thuế GTGT theo phương pháp khấu trừ đối với hoạt động chế tác vàng, bạc, đá quý.

GIANG PHÚC

Kinh tế VN: ‘Càng tăng trưởng càng nghèo

Ông Trần Xuân Giá, cựu Bộ trưởng Kế Hoạch Đầu tư tỏ ý quan ngại về cách điều hành kinh tế tại Việt Nam

Trên bài phỏng vấn đăng trên Thời báo Kinh tế Việt Nam, cựu quan chức chính phủ, từng điều hành một trong những bộ quan trọng nhất nước, nhận định: “Cả tư duy và mô hình tăng trưởng hiện nay đã không còn phù hợp."

“Chúng ta không thể tiếp tục tư duy tăng trưởng theo lượng, khuếch đại, sùng bái con số và che đậy các khuyết điểm của nền kinh tế được nữa,” ông Trần Xuân Giá nói

“Nếu không, càng tăng trưởng, có thể chúng ta sẽ càng nghèo đi.”

Một số trí thức trong nước đã từng quan tâm đến chủ đề này Ông Nguyễn Trần Bạt, Giám đốc Công ty Tư vấn Đầu tư InvestConsult cho hay nhiều năm trước ông đã quan ngại đến cách làm kinh tế tại Việt Nam

"Tôi đã nói điều này cách đây 10 năm Trong một số bài báo, tôi cảnh báo tâm lý tăng trưởng bằng mọi giá Tôi viết từ rất sớm Hiện nay nó đẻ ra một cái thực tế mà (cựu) bộ trưởng phải lên tiếng Chúng tôi, với tư cách là người trí thức bình thường, đã từng lên tiếng trước đó, cảnh báo trước đó, không chỉ cho Việt Nam Mà cho tất cả các quốc gia kiểu Việt Nam.”

Trong bài phỏng vấn đăng trên tuần báo kinh tế có uy tín từ Hà Nội, ông Trần Xuân Giá tự xếp mình vào nhóm những người bi quan về kinh tế Việt Nam

Bi quan

Chúng ta không thể tiếp tục tư duy tăng trưởng theo lượng, khuếch đại, sùng bái con số và che đậy các khuyết điểm của nền kinh tế được nữa

Trần Xuân Giá - Cựu Bộ trưởng KH và ĐT

Bên cạnh thừa nhận một số thành tích như, “năm 2009 không rơi vào suy thoái, ngăn chặn được nguy cơ phá sản ở nhiều doanh nghiệp, kiểm soát được lạm phát ở mức 6,88%,” vân vân, cựu quan chức chính phủ nói đến một số lĩnh vực Việt Nam đang phải trả giá

Trang 11

Đó là “sự phục hồi của kinh tế Việt Nam diễn ra không đồng đều, chưa vững chắc, tạo nên bức tranh sáng tối lẫn lộn.”

Các khó khăn đang tiềm ẩn trong kinh tế Việt Nam, theo ông Trần Xuân Giá, là tỷ giá hối đoái,

và lạm phát; chi tiêu công gia tăng; nhập siêu sẽ tăng do giá nguyên liệu trên thế giới tăng, môi trường bị phá hoại nặng nề

Trước một số ý kiến nhắc đến cuộc khủng hoảng tài chính thế giới như là nguyên nhân khiến cho kinh tế Việt Nam chao đảo trong năm 2008, ông Trần Xuân Giá chỉ ra, ngay cả trước thời kỳ khủng hoảng (2007 cho đến trước quý 3/2008) Việt Nam đã bộc lộ nhiều khó khăn

“Nguyên nhân suy giảm của kinh tế Việt Nam không chỉ đến từ bên ngoài Quan trọng nhất là những nguyên nhân nội tại Nền kinh tế Việt Nam khi ấy gặp không ít khó khăn

“Lạm phát cao, nhập siêu lớn Những yếu kém cơ bản đó nằm ngay trong cả cơ cấu lẫn cơ chế kinh tế của Việt Nam.”

Cựu bộ trưởng, hiện tham gia điều hành hội đồng quản trị của ngân hàng ACB, sau đó liệt kê những thiếu sót cơ bản của kinh tế trong nước

“GDP tăng chủ yếu dựa vào vốn đầu tư nhưng hiệu quả đầu tư ngày càng kém, năng suất lao động thấp, chi phí sản xuất, tiêu hao năng lượng trên một đơn vị sản phẩm tăng cao,

"Công nghệ chậm đổi mới, cơ cấu kinh tế, cơ cấu xuất khẩu chưa thoát khỏi lạc hậu, thị trường trong nước kém phát triển, kinh tế vĩ mô còn nhiều yếu tố bấp bênh, tiềm ẩn nguy cơ lạm phát cao, môi trường cạnh tranh chưa bình đẳng, lành mạnh.”

Ông Nguyễn Trần Bạt từ công ty InvestConsult lo ngại lối tăng trưởng kiểu “sùng bái con số’’ sẽ đưa Việt Nam đến một kết cục không hay

“Ăn kẹo mãi thì sẽ bội thực đường Giấy kẹo nó rơi xuống chân mình nó cao đến mức nó làm tắc thở cái người ngồi, hoặc đứng ăn kẹo

“Cho nên là tăng trưởng theo kiểu như thế này chính là một trong những biện pháp giết chết một cách chắn chắn nhất tương lai, không chỉ tương lai kinh tế, mà nhiều tương lai khác của Việt Nam.”

http:bbc.co.uk

(eFinance) - (Tạp chí Tài chính Điện tử số 79 ngày 15/1/2010) - Đầu năm tặng nhau cuốn lịch, mọi người đều vui mừng đón nhận, thân thiện, trân trọng bởi mình có bạn, mình được

Trang 12

quan tâm Trong số vài cuốn lịch có được, ai cũng muốn treo lịch đẹp, có nội dung hàm ý hay, hợp với cách nghĩ và mong đợi của mình

Người già thường thích cuốn lịch “Ba ông Phúc Lộc Thọ”, người bán hàng mặt phố thích treo cuốn lịch của Cục Quản lý thị trường tại điểm kinh doanh, nhiều người làm kinh tế thích treo cuốn lịch của Kho bạc Nhà nước trong nhà (cuốn này thường in trên đó rất nhiều loại tiền, lại chứa hàm ý có tiền về nhà, kinh tế ắt sẽ khá giả) Những năm trước đây nhiều người không thích treo lịch của ngành Thuế, hỏi ra mới biết họ có suy nghĩ rằng không ai mong đợi việc mất tiền Tuy nhiên 2 năm gần đây có rất nhiều người thích cuốn lịch Thuế bởi trên các trang đều in nhữngcông trình lớn của đất nước, quảng bá các công việc được thực hiện bằng nguồn tiền thuế của dân

và có lẽ họ hiểu về thuế hơn Năm nay có rất nhiều người mong muốn có lịch của ngành Thuế, rấtnhiều bạn đọc của chuyên mục muốn được biết những thông tin về thuế trong năm tới thế nào, cóđiểm gì cần chú ý! Đáp ứng yêu cầu của bạn đọc, trong số này chúng tôi sẽ cung cấp một số thông tin dự báo về công tác chính sách thuế trong năm 2010

Mọi người thường nói 2010 là năm bản lề bởi đây là năm cuối triển khai thực hiện Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 10 năm 2001-2010 và Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2006-

2010 Đây cũng là năm tiếp tục triển khai thực hiện các nội dung lớn của Chương trình cải cách

hệ thống thuế giai đoạn 2001 - 2010 Trong bối cảnh nền kinh tế có xu hướng phục hồi, nhưng vẫn tiềm ẩn nhiều nhân tố bất lợi từ những yếu kém vốn có của nền kinh tế chậm được khắc phục, diễn biến phức tạp,… công tác chính sách thuế năm tới sẽ bao gồm việc triển khai xây dựng các dự án Luật, Pháp lệnh thuế thuộc chương trình cải cách trung và dài hạn, đồng thời có

cả các đề án cụ thể phục vụ công tác điều hành kinh tế vĩ mô của Chính phủ và của Bộ Tài chính

Để bạn đọc tiện theo dõi, Bài viết này sẽ lần lượt đề cập đến nội dung công tác chính sách năm

2010 đối với từng loại thuế

1- Thuế môn bài: Đây là loại thuế mang tính chất kiểm kê, kiểm sóat đối tượng kinh doanh, số

thu rất nhỏ, không phụ thuộc vào kết quả kinh doanh lãi ít hay nhiều, tuy nhiên quy mô kinh doanh lớn sẽ nộp mức cao hơn kinh doanh nhỏ Chủ trương và chỉ đạo của Bộ Tài chính là năm nay ổn định môn bài, giữ nguyên mức của năm trước, cần thông báo sớm để bà con kinh doanh yên tâm, phấn khởi hòan thành ngay trong tháng 01/2010, trước Tết nguyên đán Canh Dần

2- Thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu (XNK): Là một loại thuế liên quan trực tiếp đến công tác

điều hành của Chính phủ đối với hoạt động XNK, năm nay do được triển khai bài bản hơn nên các mức thuế được công bố sớm hơn (Thông tư số 216/TT-BTC ngày 12/11/2009 Quy định mức thuế suất của Biểu thuế xuất khẩu, Biểu thuế nhập khẩu ưu đãi theo danh mục mặt hàng chịu thuế) Một số điểm đáng lưu ý là:

- Kể từ ngày 01/01/2010, các tờ khai hải quan đối với hàng xuất khẩu được áp dụng các mức thuếtheo phụ lục I (danh mục mức thuế suất của Biểu thuế xuất khẩu), tờ khai hàng nhập khẩu được

áp dụng các mức thuế theo phụ lục II (danh mục mức thuế suất theo mặt hàng của Biểu thuế nhậpkhẩu ưu đãi) Đối với hàng hóa nhập khẩu có xuất xứ từ các nước ASEAN, Nhật Bản, Hàn Quốc,

Úc và Niu-di-lân thì áp dụng Biểu thuế ưu đãi đặc biệt theo các Hiệp định (Bộ Tài chính đã công

bố các Biểu này trên website)

Trang 13

- Các mặt hàng xăng dầu tiếp tục thực hiện cơ chế áp mức thuế suất thuế nhập khẩu quy định tại Thông tư hướng dẫn riêng trong từng thời gian cụ thể, tùy thuộc vào tình hình thị trường xăng dầu quốc tế theo cơ chế điều hành của Chính phủ về giá xăng dầu.

- Thuế nhập khẩu đối với mặt hàng ô tô đã qua sử dụng được chia thành 3 loại và thực hiện như sau:

+ Loại xe ô tô chở người từ 15 chỗ ngồi trở xuống (kể cả lái xe) thuộc nhóm 8702 và 8703 áp dụng mức thuế nhập khẩu tuyệt đối quy định tại Quyết định số 69/2006/QĐ-TTg ngày 28/3/2006 của Thủ tướng Chính phủ về việc ban hành mức thuế tuyệt đối thuế nhập khẩu xe ô tô đã qua sử dụng nhập khẩu và các văn bản hướng dẫn của Bộ Tài chính

+ Loại xe ô tô chở người từ 16 chỗ ngồi trở lên (kể cả lái xe) thuộc nhóm 8702 và xe vận tải hànghoá có tổng trọng lượng có tải không quá 5 tấn thuộc nhóm 8704 áp dụng mức thuế suất thuế nhập khẩu ưu đãi 150%

+ Các loại xe ô tô khác thuộc các nhóm 87.02, 87.03, 87.04 áp dụng mức thuế suất thuế nhập khẩu ưu đãi cao hơn 50% (bằng 1,5 lần) so với mức thuế suất thuế nhập khẩu ưu đãi của xe ô tô cùng chủng loại quy định tại danh mục mức thuế suất của Biểu thuế nhập khẩu ưu đãi theo danh mục mặt hàng chịu thuế ban hành kèm theo Thông tư này

- Đối với mặt hàng bộ linh kiện CKD của ô tô thuộc các nhóm 87.02, 87.03 và 87.04 (những dòng thuế có ký hiệu bằng dấu ** tại cột thuế suất trong Biểu thuế nhập khẩu ưu đãi): Tiếp tục thực hiện tính thuế theo từng loại linh kiện, phụ tùng (không quy định thuế suất thuế nhập khẩu

ưu đãi cho bộ linh kiện CKD)

3- Đối với thuế giá trị gia tăng (GTGT) và thu nhập doanh nghiệp (TNDN): Cùng với thuế thu

nhập cá nhân (TNCN), các Luật thuế GTGT, TNDN (2008) được triển khai thực hiện thống nhất

kể từ ngày 01/01/2009 Tuy nhiên, trước những khó khăn của nền kinh tế nước ta do ảnh hưởng tác động nghiêm trọng của khủng hoảng tài chính và suy giảm kinh tế toàn cầu, cũng như các khókhăn mới phát sinh do thiên tai, bão lụt, dịch bệnh liên tiếp xảy ra, Chính phủ đã có các giải pháp ngắn hạn về xử lý miễn, giảm, giãn thuế trong năm 2009 nhằm ngăn chặn suy giảm kinh tế, duy trì tăng trưởng kinh tế, bảo đảm an sinh xã hội (giảm 50% mức thuế GTGT đối với 24 nhóm hànghóa, dịch vụ; giảm 30% thuế TNDN cho DN nhỏ và vừa; giãn thuế TNDN với thời hạn 9 tháng đối với DN nhỏ và vừa, DN thuộc các ngành dệt may, da giầy, trình Quốc hội cho miễn thuế TNCN 6 tháng đầu năm với thu nhập từ kinh doanh và thu nhập tiền lương, tiền công; miễn thuế đối với cá nhân có thu nhập cả năm 2009 từ đầu tư vốn, chuyển nhượng vốn, )

Triển khai thực hiện Nghị quyết của Quốc hội về kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội và dự toán ngân sách Nhà nước năm 2010, Bộ Tài chính có ban hành văn bản hướng dẫn từ 1/1/2010 thực hiện việc kê khai, nộp thuế GTGT đối với các loại hàng hóa, dịch vụ theo quy định tại Luật thuế GTGT số 13/2008/QH12 và các văn bản hướng dẫn thi hành luật; thực hiện kê khai, nộp thuế TNDN theo quy định tại Luật thuế TNDN số 14/2008/QH12 và các văn bản hướng dẫn

Năm 2010 sẽ dừng thực hiện các chính sách miễn, giảm thuế đã áp dụng trong năm 2009 Thay vào đó, để giúp các doanh nghiệp bớt khó khăn, thực hiện giãn thời hạn nộp thuế với thời hạn 01 quý đối với số thuế TNDN của các doanh nghiệp nhỏ và vừa, doanh nghiệp sản xuất, gia công dệt

Trang 14

may, da, giầy Tuy nhiên, tiêu chí xác định doanh nghiệp nhỏ và vừa theo quy định tại Nghị định

số 56/2009/NĐ-CP ngày 30/6/2009 của Chính phủ là rất rộng, vì vậy sẽ chỉ dừng ở phạm vi áp dụng đối với những lĩnh vực sản xuất kinh doanh (không áp dụng đối với lĩnh vực ngân hàng, tài chính, bảo hiểm, kinh doanh nhà hàng, khách sạn, kinh doanh mặt hàng thuộc diện chịu thuế tiêu thụ đặc biệt)

Ngoài ra, trong quá trình chỉ đạo, điều hành nền kinh tế của Chính phủ và của Bộ Tài chính, dự

báo sẽ phát sinh nhiều mô hình kinh tế mới, nhiều hoạt động đặc thù, nhất là hoạt động trong các lĩnh vực khuyến khích xã hội hóa Do đó, công tác chính sách thuế cần hết sức chủ động bổ sung vào chương trình nghiên cứu, xây dựng các văn bản hướng dẫn về thuế đối với những lĩnh vực, hoạt động có liên quan Thí dụ, hướng dẫn về thuế đối với những hoạt động đặc thù của mô hình tập đòan kinh tế, về vấn đề chênh lệch tỷ giá ngoại tệ, vấn đề chi phí trích trước, chi phí khấu hao, quy định về thuế và ưu đãi thuế đối với hoạt động thuộc các mô hình BOT, mô hình PPP,

4- Đối với thuế tiêu thụ đặc biệt (TTĐB): Luật thuế TTĐB được Quốc hội thông qua tại kỳ họp

tháng 11/2009, các văn bản hướng dẫn của Chính phủ và hướng dẫn của Bộ Tài chính (Nghị định

số 26/2009/NĐ-CP ngày 16/3/2009, Thông tư số 64/2009/TT-BTC ngày 27/3/2009) đã có hiệu lực pháp luật và đi vào cuộc sống từ ngày 01/4/2009

Tuy nhiên, theo lộ trình cam kết thực hiện Hiệp định gia nhập WTO thì các quy định mới về áp thuế các mặt hàng rượu, bia sẽ có hiệu lực kể từ ngày 01/01/2010 trở đi Do đó, để tạo thuận lợi cho doanh nghiệp chấp hành tốt nghĩa vụ thuế, cần thiết có văn bản hướng dẫn hoặc văn bản thông báo cho cộng đồng doanh nghiệp, các hiệp hội ngành hàng, các địa phương để cùng thực hiện thống nhất các quy định mới của Luật thuế TTĐB Theo đó, mức thuế suất áp dụng trong giai đoạn 2010 - 2012 đối với mặt hàng rượu chỉ còn 02 mức là 45% đối với loại trên 20 độ và 25% đối với rượu dưới 20 độ; đối với bia chỉ còn 01 mức thuế 45% áp dụng đối với tất cả các chủng loại bia, không phân biệt bao bì, không được trừ giá trị vỏ chai, vỏ hộp khi tính thuế TTĐB

5- Đối với thuế TNCN: Tiếp tục hướng dẫn thực hiện Luật thuế TNCN với những điểm đáng chú

ý là:

- Hướng dẫn cụ thể hơn việc thu thuế TNCN đối với hoạt động của cá nhân kinh doanh trên các sàn giao dịch như: giao dịch chứng khoán, bất động sản; nghiên cứu đề xuất với Chính phủ về biện pháp quản lý thu thuế đối với giao dịch trên sàn vàng nhằm góp phần quản lý tốt hoạt động này, bảo đảm giảm thiểu rủi ro cho xã hội

- Hướng dẫn cụ thể về điều kiện, cách thu thuế đối với chuyển nhượng bất động sản theo đúng quy định của Luật thuế TNCN, Nghị định số 100/2008/NĐ-CP của Chính phủ (nộp thuế 25% trênthực lãi hoặc 2% trên giá trị chuyển nhượng) để bảo đảm phù hợp với thực tiễn, bảo đảm tính thống nhất với các lĩnh vực pháp luật, chính sách khác có liên quan như pháp luật về ưu đãi người

có công, pháp luật về dân sự, pháp luật về giao dịch bất động sản

6- Lệ phí trước bạ: Tại phiên họp thường kỳ tháng 10/2009, Chính phủ đã có chỉ đạo dừng việc

ưu đãi thuế đối với mặt hàng ô tô kể từ ngày 01/01/2010 Vì vậy, ngay trong quý 4/2009 đã ban

Trang 15

hành văn bản thông báo và hướng dẫn việc áp dụng mức thuế GTGT là 10% và đưa mức lệ phí trước bạ quay trở về mức cũ đã áp dụng trước đây (các tỉnh 10%, riêng Hà Nội là 12%).

7- Thuế Tài nguyên: Luật thuế tài nguyên vừa mới được Quốc hội Khóa XII thông qua tại kỳ

họp thứ 6 với nhiều nội dung mới trong quy định về thuế suất và giá tính thuế Để đưa luật thuế này vào cuộc sống, cần tiếp tục hòan thiện công tác xây dựng trình ban hành các văn bản pháp luật, pháp quy, đó là:

- Trong khuôn khổ Biểu khung thuế suất thuế tài nguyên, cần xây dựng, trình ban hành Nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội (UBTVQH) quy định về mức thuế suất cụ thể, chi tiết đốivới từng loại tài nguyên

- Nghị định của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số Điều của Luật thuế tài nguyên, quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Nghị quyết của UBTVQH về thuế suất thuế tài nguyên

- Thông tư của Bộ Tài chính hướng dẫn thi hành Luật, Nghị quyết của UBTVQH và Nghị định của Chính phủ Ngoài ra, có thể cần xây dựng, ban hành một số Thông tư liên tịch hoặc một Thông tư của Bộ Tài chính hướng dẫn cụ thể về việc xác định giá tính thuế, sản lượng tính thuế đối với một số loại tài nguyên cụ thể

8- Về dự án Luật thuế nhà đất: Luật Thuế nhà đất là một trong những đạo luật thuế phức tạp do

có phạm vi điều chỉnh rộng lớn, liên quan trực tiếp đến hàng chục triệu người dân thuộc nhiều tầng lớp khác nhau Ngay từ những bước soạn thảo ban đầu, dự án này cũng đã được đánh giá là một trong những dự án luật khó khăn nhất từ trước đến nay mặc dù chúng ta không kỳ vọng số thu lớn từ loại thuế này Theo chương trình, dự án Luật thuế nhà đất đã được trình xin ý kiến Quốc hội tại kỳ họp thứ 6 vừa qua và được trình Quốc hội thông qua vào kỳ họp thứ 7 (tháng 5-6 năm 2010)

Hiện tại, qua theo dõi thông tin trên các phương tiện thông tin cho thấy dự án Luật được các tầng lớp nhân dân và rất nhiều tổ chức xã hội dành sự quan tâm đặc biệt với rất nhiều loại ý kiến đa dạng Trong đó có không ít ít kiến trái ngược nhau do được nhìn nhận từ những góc độ khác nhau, do vị trí, yêu cầu quản lý khác nhau, cũng như do hòan cảnh, điều kiện cụ thể rất khác nhaugiữa những người nêu ý kiến Nhiệm vụ cụ thể được đặt ra đối với dự án Luật này là thu thập đầy

đủ ý kiến của nhân dân, tập trung sức nghiên cứu để tìm các phương án giải trình, tiếp thu, trên

cơ sở đó hòan thiện nội dung dự án Luật

Trong quá trình thu thập ý kiến, xây dựng phương án giải trình, tiếp thu rất cần đẩy mạnh công tác thông tin, tuyên truyền trong tòan ngành để đưa được đầy đủ thông tin xác thực, dễ hiểu ra xã hội Các phương án quản lý, các tình huống cụ thể cần được thảo luận kỹ lưỡng giữa cơ quan xâydựng chính sách với cơ quan quản lý thu thuế trên cơ sở tổng kết đánh giá thực tiễn công tác quản

lý thu thuế nhà đất các năm qua cũng như kết quả khảo sát hoạt động thực tế của các thiết chế, bộmáy chính quyền cấp cơ sở Vấn đề này không chỉ liên quan đến nội dung giải trình, thuyết minh,trình ban hành Luật thuế nhà đất mà đây chính là một trong những khâu công việc cần thiết trong quá trình chuẩn bị và tổ chức triển khai thực hiện để bảo đảm tính khả thi của Luật

Trang 16

9- Về dự án Luật thuế bảo vệ môi trường: Theo chương trình, dự án Luật thuế bảo vệ môi

trường sẽ được trình Quốc hội ban hành trong năm 2010, trong đó trình xin ý kiến Quốc hội tại

kỳ họp từ 7 và trình thông qua vào kỳ họp thứ 8 Dự án Luật thuế bảo vệ môi trường có điểm thuận lợi hơn so với dự án Luật thuế nhà đất trong bối cảnh hiện nay, khi người dân và các tổ chức xã hội đang dành sự quan tâm nhiều hơn đến vấn đề môi trường Tuy nhiên đây cũng là một

dự án Luật thuế gặp phải không ít khó khăn, cụ thể là:

- Kinh nghiệm quốc tế đối với loại thuế này không nhiều, qua nghiên cứu cho thấy hầu hết các nước trên thế giới không có một luật thuế với tên gọi Luật thuế bảo vệ môi trường Vì vậy, chúng

ta không học tập được nhiều từ các quốc gia đi trước, cũng như chưa có thông lệ quốc tế để tham khảo và xử lý đối với những trường hợp liên quan đến đối tác nước ngoài

- Hai là, thuế bảo vệ môi trường dự kiến có tác động nhiều đến sản xuất kinh doanh, đến hoạt động của doanh nghiệp vì đối tượng áp dụng có liên quan đến cả đầu vào, đầu ra của hầu hết các lĩnh vực sản xuất kinh doanh Khi đó, mục tiêu thay đổi hành vi đối với môi trường thông qua việc đánh thuế còn rất xa với, chưa thể đạt được ngay, tuy nhiên tác động tiêu cực đối với sức cạnh tranh của doanh nghiệp Việt Nam cũng là điều khó tránh khỏi

Lường trước các vấn đề nêu trên, quá trình soạn thảo dự án Luật trong năm qua và trong thời giantới cần dành sự ưu tiên nhiều hơn cho việc nghiên cứu, tham khảo thực tiễn, chủ động xây dựng các phương án tính tóan dựa trên kết quả khảo sát thực tiễn hoạt động của những ngành, lĩnh vực,doanh nghiệp có liên quan trực tiếp đến đối tượng điều chỉnh của Luật Đồng thời không thể xem nhẹ công tác thông tin, tuyên truyền, quảng bá về dự luật nhằm đạt được sự ủng hộ cao của các tầng lớp trong xã hội, trong đó các cơ quan báo chí của ngành Tài chính cần hoạt động tích cực hơn, chủ động hơn trong việc đưa tin, bình luận, phân tích, hướng dẫn…Tạp chí Tài chính điện tửcủa chúng ta nhất định sẽ cùng với các đồng nghiệp tích cực tham gia, đóng góp với Bộ và toàn ngành về công việc này

(ThS Nguyễn Văn Phụng, Phó Vụ trưởng, Vụ Chính sách Thuế, Bộ Tài chính

Kích thích phát triển bằng chính sách thuế

Phó Tổng cục trưởng Tổng cục Thuế, kiêm Cục trưởng Cục Thuế TP Hà Nội Vũ Thị

Mai khẳng định: Năm 2010 ngành thuế sẽ tập trung vào những chính sách hỗ trợ, tháo gỡ khó khăn giúp doanh nghiệp (DN) phát triển

- Thưa bà, thời gian qua Chính phủ và ngành Thuế đã có nhiều chính sách ưu đãi nhằm tháo gỡ khó khăn cho DN Bà có thể điểm lại một số nội dung của các chính sách ưu đãi này ?

Năm 2009, làn sóng suy thoái kinh tế thế giới đã tác động tiêu cực đến nền kinh tế nước ta, ảnh hưởng trực tiếp đến mọi mặt của đời sống xã hội Trước thực trạng đó, Chính phủ đã có nhiều giải pháp cấp bách nhằm ngăn chặn suy giảm kinh tế, duy trì tăng trưởng, bảo đảm an sinh xã hộitheo tinh thần Nghị quyết số 30/2008/NQ-CP Bộ Tài chính, Tổng cục Thuế đã ban hành nhiều thông tư, văn bản hướng dẫn từng sắc thuế

Đối với thuế giá trị gia tăng (GTGT) đã có Thông tư số 04/2009/TT-BTC ngày 13/1/2009 hướng dẫn tạm hoàn thuế GTGT đầu vào đối với hàng hoá thực xuất khẩu chưa có chứng từ thanh toán

Trang 17

qua ngân hàng; Thông tư số 13/2009/TT-BTC ngày 22/1/2009 hướng dẫn thực hiện giảm thuế GTGT đối với một số hàng hoá, dịch vụ DN kinh doanh gặp khó khăn; Thông tư số 18/2009/TT-BTC ngày 30/1/2009 hướng dẫn thực hiện giảm 50% mức thuế suất thuế GTGT Theo đó các hàng hoá, dịch vụ thuộc diện được giảm 50% thuế suất thuế GTGT thực hiện đến hết 31/12/2009,

từ 1/1/2010 thực hiện mức thuế suất thuế GTGT 10%

Đối với thuế thu nhập doanh nghiệp (TNDN): Các DN nhỏ và vừa đáp ứng điều kiện hướng dẫn tại Thông tư số 03/2009/TT-BTC ngày 13/1/2009 của Bộ Tài chính được giảm 30% số thuế TNDN phải nộp trong quý IV/2008 và số thuế TNDN phải nộp của năm 2009

Các DN kinh doanh một số ngành nghề thuộc đối tượng gia hạn nộp thuế TNDN năm 2009 theo quy định tại Thông tư số 12/2009/TT-BTC ngày 22/1/2009 của Bộ Tài chính được gia hạn nộp thuế TNDN phải nộp phát sinh năm 2009 trong thời gian 9 tháng kể từ ngày hết hạn nộp thuế theo quy định của Luật Quản lý thuế

Đối với thuế thu nhập cá nhân (TNCN) có Thông tư số 27/2009/TT-BTC ngày 6/2/2009 hướng dẫn giãn thời gian nộp thuế TNCN; Thông tư số 160/2009/TT-BTC ngày 12/8/2009 hướng dẫn miễn thuế thu nhập cá nhân năm 2009:

- Miễn thuế TNCN đối với thu nhập từ đầu tư vốn; từ chuyển nhượng vốn (bao gồm cả chuyển nhượng chứng khoán); từ bản quyền; từ nhượng quyền thương mại

- Miễn thuế TNCN đối với thu nhập từ tiền công, tiền lương 6 tháng đầu năm 2009

- Miễn thuế TNCN cho cá nhân có thu nhập từ hoạt động kinh doanh 6 tháng đầu năm 2009.Đối với Lệ phí trước bạ: Giảm 50% mức thu lệ phí trước bạ đối với xe ôtô chở người dưới 10 chỗngồi (kể cả lái xe), áp dụng đối với hồ sơ kê khai lệ phí trước bạ nộp cho cơ quan thuế địa

phương kể từ ngày 1 tháng 5 năm 2009 đến hết ngày 31 tháng 12 năm 2009, không phân biệt đăng ký lần đầu hay lần thứ 2 trở đi

- Nhưng ngành thuế đánh giá thế nào dưới góc độ đi vào cuộc sống của các chính sách này, thưa bà?

Việc ban hành kịp thời các chính sách miễn, giảm, gia hạn nộp thuế đã giúp cho DN bớt khó khăn về tài chính, tăng tích luỹ, bổ sung nguồn vốn để phát triển sản xuất kinh doanh Mặt khác việc miễn thuế TNCN, giảm thuế GTGT, giảm tỷ lệ thu lệ phí trước bạ đã kích cầu tiêu dùng mạnh mẽ, đồng thời cũng kích thích phát triển sản xuất kinh doanh của các DN Việc thực hiện chính sách của Nhà nước miễn, giảm, gia hạn nộp thuế cùng với những gói kích cầu của Chính phủ đã có kết quả rõ rệt trên địa bàn thành phố nói riêng, cả nước nói chung: sản xuất kinh doanh (SXKD) dần ổn định và đã có chiều hướng phát triển, thị trường chứng khoán, bất động sản, ngânhàng dần hồi phục và phát triển, đã hỗ trợ các ngành SXKD khác phát triển theo, an sinh xã hội được đảm bảo, cụ thể: GDP quý I/2009 tăng 3,1%, quý II tăng 4,1%, quý III tăng 5,7%, cả năm tăng 5,2% Riêng Hà Nội, quý I tăng 3,1%, quý II tăng 5,1%, quý III tăng 8,3% và cả năm tăng 6,7%

Trang 18

Tuy nhiên, việc thực hiện các chính sách ưu đãi miễn, giảm, gia hạn nộp thuế đã làm giảm thu của Hà Nội khoảng 3.900 tỷ đồng, cả nước khoảng 20.000 tỷ đồng

- Để tiếp tục hỗ trợ các DN vượt qua khó khăn, trong thời gian tới, đặc biệt là năm 2010, ngành Thuế nói chung và Cục Thuế TP Hà Nội sẽ có những giải pháp hỗ trợ DN như thế nào?

Ngành thuế tiếp tục triển khai chương trình cải cách hiện đại hoá công tác thuế theo Quyết định

số 201/2004/QĐ-TTg ngày 6/12/2009 đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt với nội dung cơ bản là cải cách thể chế và cải cách quản lý hành chính thuế nhằm mục tiêu nâng cao trình độ quản

lý thuế của Việt Nam ngang tầm với các nước trong khu vực theo hướng hiện đại hoá toàn diện công tác quản lý thuế Trên cơ sở đó Cục Thuế Hà Nội tiếp tục thực hiện Đề án 30 về đơn giản hoá các thủ tục hành chính thuế, đảm bảo thời hạn và chất lượng theo chỉ đạo của Chính phủ và

Bộ Tài chính: Tổ chức đối thoại với DN để tập hợp các kiến nghị của DN về đơn giản và cắt giảm thủ tục về thuế; Rà soát lại những thủ tục hành chính thuế còn gây nhiều phiền hà cho ngườinộp thuế (NNT) để kiến nghị sửa đổi, bổ sung, bãi bỏ, thay thế, đảm bảo mục tiêu cắt giảm 30% thủ tục hành chính thuế hiện hành

Đặc biệt, sang năm 2010 Cục Thuế Hà Nội mở rộng các đề án hiện đại hóa đã triển khai trong năm 2009, các Đề án này với mục tiêu đơn giản hoá và giảm thời gian làm thủ tục về thuế cho người nộp thuế (NNT)

Phối hợp với Sở Kế hoạch - Đầu tư, Công an thành phố giải quyết các thủ tục về cấp đăng ký kinh doanh, cấp mã số thuế, con dấu tại bộ phận 1 cửa liên thông theo Nghị quyết số 59/NQ-CP của Chính phủ và Thông tư liên tịch số 05/TTLT/2008/BKH-BTC-BCA Đề xuất sửa đổi Thông

tư 05 cho phù hợp với thực tiễn và triển khai mở rộng trên phạm vi toàn thành phố trên cơ sở kết nối thông tin giữa Sở Kế hoạch - Đầu tư và Cục Thuế để giảm thời gian làm thủ tục cấp Đăng ký kinh doanh – Đăng ký thuế - Con dấu từ 10 ngày xuống còn 5 ngày

Triển khai mở rộng Kê khai thuế qua mạng Internet trên cơ sở đánh giá kết quả thực hiện thí điểm đối với 215 DN đã thực hiện kê khai điện tử năm 2009 với mục tiêu năm 2010 ít nhất 3.000

DN và khoảng 70% số thuế được kê khai qua mạng để giảm thời gian làm thủ tục kê khai thuế.Triển khai Dự án hiện đại hoá thu ngân sách Nhà nước qua việc ứng dụng và kết nối thông tin giữa cơ quan Thuế, Hải quan, Kho bạc và Tài chính: thực hiện mở rộng triển khai dự án trên phạm vi toàn thành phố và hoàn thành 18 quận huyện còn lại trong 6 tháng đầu năm 2010 Theo

đó 100% giao dịch thu nộp thuế thực hiện trao đổi thông tin qua mạng giữa các cơ quan trong ngành Tài chính Đồng thời với triển khai dự án “Nộp thuế qua ngân hàng” để giảm thời gian làmthủ tục nộp thuế của NNT

Xây dựng cổng thông tin điện tử để cung cấp dịch vụ hỗ trợ NNT; phục vụ và cung cấp các dịch

vụ cho NNT ngày càng đầy đủ hơn

Triển khai ứng dụng CNTT đáp ứng yêu cầu quản lý thuế TNCN: từ đăng ký thuế, xử lý tờ khai,

kế toán thuế, quản lý nợ thuế đảm bảo kịp thời đáp ứng cho quyết toán thuế TNCN năm 2009

Trang 19

Mặc dù còn rất nhiều khó khăn trong việc tổ chức thực hiện nhiệm vụ công tác thuế được giao nhưng tập thể cán bộ công chức ngành Thuế Hà Nội quyết tâm biến khó khăn, thách thức thành

cơ hội phát triển Phát huy cao độ những thành tích đã đạt được, nêu cao tinh thần trách nhiệm, tăng cường kỷ cương, kỷ kuật, đoàn kết nhất trí, chủ động, sáng tạo, phấn đấu quyết liệt để hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ công tác thuế được Bộ Tài chính, Tổng cục Thuế, HĐND, UBND thành phố Hà Nội giao, thiết thực lập thành tích chào mừng kỷ niệm những ngày lễ trọng đại của đất nước

- Xin cảm ơn bà!

(Theo Diễn Đàn Doanh Nghiệp)(http:taichinh dientu.vn

Chính sách thuế môn bài

Thứ năm, 02 Tháng mười 2008, 17:30 GMT+7

Trả lời công văn số 27/CV- CTVH ngày 10/9/2008 của Công ty TNHH Việt Hà về việc đốitượng thực hiện chính sách thuế môn bài, và kê khai thuế thuế môn bài đối với cơ sở kinh doanhtạm ngừng hoạt động

Về việc này :

Đối tượng nộp thuế môn bài: Theo quy định tại điểm 1 Thông tư số 42/2003/TT-BTC ngày7/5/2003 của Bộ Tài chính, hướng dẫn bổ sung sửa đổi Thông tư số 96/2002/TT-BTC ngày24/10/2002 của Bộ Tài chính hướng dẫn thực hiện Nghị định 75/2002/NĐ-CP ngày 30/08/2002của Chính phủ thì đối tượng nộp thuế môn bài là: Các tổ chức kinh tế bao gồm: Các Doanhnghiệp Nhà nước, Công ty cổ phần, Công ty trách nhiệm hữu hạn, Doanh nghiệp tư nhân, Doanhnghiệp hoạt động theo Luật đầu tư nước ngoài tại Việt nam, tổ chức và cá nhân nước ngoài kinhdoanh tại Việt Nam không theo luật đầu tư nước ngoài tại Việt nam, các tổ chức kinh tế của tổchức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp, đơn vị vũtrang nhân dân, các tổ chức đơn vị sự nghiệp khác và tổ chức kinh doanh hoạch toán kinh tế độclập khác

Kê khai thuế môn bài đối với cơ sở kinh doanh tạm ngừng hoạt động: Tại khoản 1 Điều 15Chương VIII Luật Doanh Nghiệp năm 2005 quy định: “Doanh nghiệp có quyền tạm ngưng kinhdoanh nhưng phải công báo bằng văn bản về thời điểm và thời hạn tạm ngừng hoặc tiếp tục kinhdoanh cho cơ quan đăng ký kinh doanh và cơ quan thuế chậm nhất mười lăm ngày trước ngàytạm ngừng hoặc tiếp tục kinh doanh.”

Theo hướng dẫn tại điểm 1, mục II Thông tư số 96/2002/TT-BTC ngày 4/10/2002 nêu trên: thờigian nộp thuế Môn bài: Cơ sở kinh doanh đang kinh doanh hoặc mới thành lập, được cấp đăng kýthuế và mã số thuế trong thời gian của 6 tháng đầu năm thì nộp mức Môn bài cả năm Nếu thànhlập, được cấp đăng ký thuế và mã số thuế trong thời gian 6 tháng cuối năm thì nộp 50% mức môn

Trang 20

bài cả năm Cơ sở đang sản xuất kinh doanh nộp thuế Môn bài ngay tháng đầu của năm dươnglịch; cơ sở mới ra kinh doanh nộp thuế Môn bài ngay trong tháng được cấp đăng ký thuế và cấp

mã số thuế

Mai Vân http:vietbao.vn

Chính sách thuế Việt Nam - Một năm nhìn lại

Năm 2009 là một năm đầy sự kiện thuế đối với cả cơ quan thuế và đối tượng nộp thuế với những thay đổi về chính sách thuế ngay từ ngày 1/1/2009 như Luật Thuế giá trị gia tăng (GTGT), Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp (TNDN), Thuế Thu nhập cá nhân (TNCN), cùng nhiều chính sách thuế khác được ban hành như một phần của gói kích cầu của Chính phủ Việt Nam nhằm ngăn chặn suy thoái kinh tế

> Tăng giá áp thuế ô tô nhập khẩu

Bài viết này chia sẻ quan điểm cá nhân trong việc xem xét một số thay đổi quan trọngcủa chính sách thuế mới có hiệu lực trong năm 2009 và đưa ra nhận định mang tính dựđoán về những thách thức cho nhà hoạch định chính sách thuế trong năm 2010

Thuế thu nhập cá nhân

Luật Thuế TNCN lần đầu tiên mở rộng phạm vi áp dụng đối với các khoản thu nhập chịuthuế và đối tượng nộp thuế đã ảnh hưởng lớn đến những cá nhân có thu nhập tại ViệtNam Kể từ năm 2009, thu nhập chịu thuế không chỉ gói gọn trong thu nhập từ tiềnlương, tiền công, mà còn bao gồm thu nhập từ đầu tư chứng khoán, đầu tư vốn, chuyểnnhượng vốn, thừa kế, quà tặng, chuyển nhượng quyền sử dụng đất, tiền bản quyền tácgiả… Những thay đổi này không chỉ giúp thuế TNCN của Việt Nam phù hợp với thông lệquốc tế, mà còn góp phần bù đắp phần nào sự giảm về số thu ngân sách nhà nước từthuế gián thu, chẳng hạn như thuế nhập khẩu do thực hiện các cam kết quốc tế sau khigia nhập WTO

Các quy định mới về thuế TNCN khi mới được ban hành đã gây nhiều băn khoăn và longại cho người lao động và người sử dụng lao động về việc đánh thuế đối với các lợiích khác trả cho người lao động, vốn trước đây không chịu thuế TNCN theo các quyđịnh cũ, như học phí cho con cái của người nước ngoài hoặc các khoản phí thành viên.Tuy nhiên, sau này cơ quan thuế đã ban hành các thông tư và công văn hướng dẫn,giải quyết những thắc mắc

Cho đến tận bây giờ, các NĐT cá nhân vẫn còn lo ngại về việc đánh thuế đối với thunhập cổ tức Theo quy định, các cá nhân có thu nhập là cổ tức sẽ phải chịu thuế ở mức5% Điều này được coi là chưa công bằng nếu so sánh với sự miễn thuế thu nhập từ cổtức cho các công ty trong nước theo Luật Thuế TNDN Phần lớn NĐT bất động sản đều

Trang 21

lưỡng lự giữa 2 lựa chọn thuế, một là đóng thuế 25% trên thu nhập ròng hoặc đóngthuế 2% trên tổng số tiền thu được từ giao dịch.

Hiện nay, các khoản thu nhập của nhân viên dưới dạng cổ phiếu công ty còn không mới

lạ với cơ quan thuế Việt Nam Do vậy, trong năm 2009 cũng đã có chính sách thuếhướng dẫn áp dụng riêng cho việc tính thuế đối với các khoản thu nhập bằng cổ phiếu(Công văn số 14169 ngày 7/10/2009 của Bộ Tài chính) Tuy vậy, đối tượng sử dụng laođộng có thể vẫn gặp khó khăn trong việc kê khai nộp thuế TNCN đối với những trườnghợp bán cổ phiếu ưu đãi hoặc thưởng bằng cổ phiếu sau khi thôi việc hoặc không tiếptục làm việc ở Việt Nam

Thuế thu nhập doanh nghiệp

Sự thay đổi quan quan trọng và nhìn chung có lợi cho DN trong chính sách thuế TNDN

là việc giảm thuế suất thuế TNDN từ 28% xuống 25% Các DN và NĐT coi việc giảmthuế suất là hết sức tích cực, khuyến khích DN quyết định đầu tư và mở rộng sản xuất -kinh doanh hơn Thêm vào đó, việc bãi bỏ thuế lũy tiến trên lợi nhuận từ các giao dịchchuyển nhượng bất động sản được coi là một trong những yếu tố góp phần làm "nóng"thị trường này Mặc dù vậy, một số ngành nghề kinh doanh khác như khai thác mỏ vàdầu khí lại có nhiều lý do để lo ngại do thuế suất tối thiểu tăng từ 28% lên 32%

Từ ngày 1/1/2009, đối tượng nộp thuế TNDN được phép giữ lại tối đa 10% thu nhậpchịu thuế hàng năm để lập quỹ phát triển và nghiên cứu (R&D) Mặc dù chính sách thuếnày được coi là một bước tiến mới của Luật Thuế TNDN, nhưng các DN cho rằng, quỹnày sẽ có ích và thực tế cho DN hơn nếu không bị bó hẹp ở các hoạt động nghiên cứu

và phát triển khoa học kỹ thuật ở Việt Nam

Trước đây, các NĐT nhìn nhận chính sách miễn giảm thuế của Việt Nam nhìn chung làphức tạp và khó thực hiện một cách thống nhất Mặc dù Luật Thuế TNDN kể từ năm

2009 thu hẹp những ưu đãi về thuế TNDN, nhưng lại được xem là tích cực theo hướngđơn giản hóa các ưu đãi thuế nhằm thực hiện dễ dàng hơn Một điều hết sức thú vị khithuế được đánh giá là một trong những biện pháp của Chính phủ Việt Nam trong côngtác bảo vệ mội trường khi đưa ra chính sách thuế ưu đãi vào tháng 12/2009 cho các dự

án đầu tư liên quan đến bảo vệ môi trường

Một trong những lo ngại lớn nhất của các DN là việc khấu trừ chi phí quảng cáo khuyếnmại Việc cho phép tăng mức khống chế chi phí này từ 10% lên 15% trong một số nămđầu cho DN mới thành lập tuy được hoan nghênh, nhưng nhìn chung không đáp ứngđược kỳ vọng của cộng đồng DN Phòng Thương mại châu Âu cho rằng, nếu Việt Namthiếu những bước tiến quan trọng trong việc xóa bỏ hẳn mức khống chế chi phí quảngcáo khuyến mại, thì sức hấp dẫn của Việt Nam như một điểm đến đối với những thươnghiệu quốc tế lớn sẽ sụt giảm

Một thay đổi nữa trong các quy định về Thuế TNDN là việc yêu cầu các cơ sở sản xuấthạch toán phụ thuộc của DN hoạt động tại địa bàn tỉnh, thành phố khác đóng thuếTNDN tại địa phương đó theo tỷ lệ chi phí của chi nhánh phụ thuộc trên tổng chi phí của

DN

Trang 22

Hiện các DN Việt Nam ngày càng trở nên quan trọng đối với công cuộc phát triển kinh

tế quốc gia, trong đó nhiều DN đã và đang có kế hoạch mở rộng kinh doanh ra thịtrường quốc tế và có thu nhập từ cổ tức Các quy định về thuế TNDN đã hướng dẫn rõràng hơn về việc đánh thuế các khoản thu nhập tại nước ngoài và thủ tục khấu trừ sốthuế đã nộp tại nước ngoài Tuy nhiên, chính sách thuế TNDN lại không quy định cụ thểvấn đề miễn thuế TNDN đối với thu nhập là cổ tức của DN trong nước từ việc đầu tư ranước ngoài Do đó, nếu không quy định việc miễn thuế đối với khoản thu nhập như vậy

sẽ không khuyến khích các DN trong nước đầu tư ra nước ngoài Bởi lẽ, nếu họ đầu tưtrong nước thì các khoản cổ tức nhận được từ các hoạt động đầu tư trong nước sẽđược miễn thuế TNDN

Thuế giá trị gia tăng

Luật Thuế GTGT mới bãi bỏ một số chính sách miễn thuế GTGT đối với máy móc thiết

bị nhập khẩu, ngay cả trong trường hợp các loại máy móc thiết bị này hiện chưa sảnxuất được trong nước Việc này gây khó khăn về mặt lưu chuyển tiền tệ cho DN, vìthông thường, giá trị các mặt hàng nhập khẩu này rất lớn Tuy nhiên, sau này, Thông tư205/2009/TT-BTC ngày 26/10/2009 đã góp phần giảm bớt gánh nặng này cho các DNnhập khẩu thông qua việc đơn giản hóa thủ tục hoàn thuế GTGT

Một thay đổi tích cực khác trong chính sách thuế GTGT là việc áp dụng thuế suất thuếGTGT 0% đối với các dịch vụ xuất khẩu, mà không cần thiết là phải có điều kiện tiêu thụngoài Việt Nam như trước đây Mặc dù không phải tất cả dịch vụ cung cấp cho các công

ty nước ngoài đều được áp dụng mức thuế suất 0% (như dịch vụ tái bảo hiểm với cáccông ty bảo hiểm nước ngoài, các dịch vụ tài chính phái sinh), nhưng sự thay đổi này sẽlàm cho các nhà xuất khẩu dịch vụ của Việt Nam có lợi thế cạnh tranh hơn trên thịtrường quốc tế

Liên quan đến kê khai khấu trừ thuế GTGT đầu vào, các khoản chi trả trên 20 triệu đồngphải được thanh toán qua ngân hàng Lý do của sự thay đổi này là nhằm ngăn ngừagian lận liên quan đến khấu trừ và hoàn thuế GTGT đầu vào và từng bước đưa ViệtNam thành một xã hội không dùng tiền mặt

Thuế nhà thầu nước ngoài

Thuế nhà thầu nước ngoài (NTNN) được điều chỉnh theo Thông tư 134/2008/TT-BTC,ban hành vào tháng 12/2008, áp dụng từ ngày 1/1/2009 Một trong những thay đổi quantrọng là Thông tư 134 đã bãi bỏ phương pháp nộp thuế NTNN hỗn hợp, do vậy làm tăngchi phí và gánh nặng về mặt hành chính cho các NTNN muốn được khấu trừ thuếGTGT đầu vào đối với việc mua hàng hóa và dịch vụ trong nước Tuy nhiên, đến tháng10/2009, Thông tư 197/2009/TT-BTC cho phép áp dụng lại phương pháp nộp thuế hỗnhợp này

Trang 23

Trong năm 2009 cũng đánh dấu sự ra đời của chính sách thuế NTNN đối với nhữngdịch vụ tài chính phái sinh Sau khi tham khảo ý kiến của các DN, Bộ Tài chính đã banhành Công văn số 13637/BTC-CST vào tháng 9/2009, quy định mức thuế suất thuếNTNN 2% đối với khoản thanh toán ròng cho các giao dịch hoán đổi lãi suất Công vănnày chưa đáp ứng được kỳ vọng của cộng đồng DN, đặc biệt các ngân hàng, là đượcmiễn thuế NTNN nhằm góp phần phát triển thị trường tài chính trong nước và khuyếnkhích DN trong nước tăng cường sử dụng các công cụ tài chính phái sinh như là mộtcông cụ mới trong việc quản lý rủi ro tín dụng Mặc dù vậy, Công văn đã làm rõ chínhsách thuế áp dụng giúp cho ngân hàng và DN hoạch định chính sách giá sản phẩm vàgiúp họ tuân thủ quy định về thuế.

Quản lý thuế

Là một phần của gói dự án hiện đại hóa ngành thuế đang được thực hiện bởi các cơquan thuế địa phương, Bộ Tài chính đã cho phép các đối tượng nộp thuế tại một số khuvực như ở Hà Nội, TP HCM nộp thuế điện tử theo Quyết định 1830/QD-BTC ban hànhngày 29/7/2009 Người nộp thuế nhìn nhận việc nộp và lưu trữ thuế điện tử là một bướcphát triển tích cực, không chỉ trong việc hiện đại hóa hệ thống thuế ở Việt Nam, mà còntrong việc cải thiện các dịch vụ của cơ quan thuế địa phương cho người nộp thuế tạiViệt Nam

Chính sách thuế cho mục đích ngăn chặn suy thoái kinh tế

Khi Nghị quyết số 30/2008/NQ-CP của Chính phủ được ban hành ngày 11/12/2008, cơquan thuế đã ban hành các văn bản hướng dẫn ưu đãi về thuế như là một biện pháp đểngăn chặn suy thoái kinh tế ở Việt Nam Cụ thể là ban hành nhiều văn bản hướng dẫnhoãn thuế TNCN và sau đó là miễn thuế TNCN, giảm 30% thuế TNDN và hoãn nộp thuếTNDN 9 tháng đối với các DN vừa và nhỏ hoặc cho các đối tượng khác như dệt may,giày dép… giảm 50% thuế GTGT đối với 19 nhóm mặt hàng bị ảnh hưởng (ví dụ: một

số sản phẩm bê tông; một số sản phẩm cơ khí được sử dụng cho sản xuất, vận chuyểntrong nước, khách sạn và dịch vụ du lịch), gia hạn nộp thuế GTGT cho một số hàng hoánhập khẩu, đơn giản hóa thủ tục hoàn thuế GTGT cho các DN xuất khẩu…

Một điểm khá thú vị là các chi nhánh ngân hàng nước ngoài tại Việt Nam đã áp dụnggiảm 30% thuế TNDN và giãn nộp thuế trên tinh thần của Thông tư 03 do đáp ứng đượcđiều kiện quy định tại văn bản này Tuy nhiên, đối tượng nộp thuế này sau đó thất vọng

và không hiểu khi Bộ Tài chính đưa ra hướng dẫn ngày 22/7/2009 nêu rõ rằng, Thông

tư 03 không áp dụng cho các chi nhánh ngân hàng nước ngoài Ngoài ra, hầu hết cácđối tượng nộp thuế đều băn khoăn không hiểu có được giãn nộp thuế TNDN cả năm

2009 khi quyết toán thuế cuối năm hay vẫn được giãn nộp, do các hướng dẫn chỉ quyđịnh việc giãn nộp thuế chỉ áp dụng đối với số thuế TNDN hàng quý năm 2009

Tóm lại, ngành thuế Việt Nam đã thực hiện khá thành công công tác thuế trong năm

2009 Theo cuộc họp nội bộ ngành thuế hàng năm được tổ chức tại Thành phố VũngTàu vào tháng 12/2009, ngành thuế đã vượt chỉ tiêu thu ngân sách năm 2009 cho Nhà

Trang 24

nước, thực hiện tốt các chính sách của Chính phủ về miễn thuế, giảm, hoàn thuế…Cuộc họp này cũng thống nhất nhiều công tác thuế cần thực hiện trong năm 2010, trong

đó có việc cải thiện và đơn giản hóa các thủ tục hành chính về thuế Nếu như ngànhthuế thực hiện cắt giảm thủ tục hành chính về thuế thêm 40% theo kế hoạch thì chắcchắn công tác thuế này sẽ mang lại những lợi ích hết sực thiết thực cho các đối tượngnộp thuế

Theo ông Nguyễn Văn Phụng, Vụ phó Vụ Chính sách thuế, Bộ Tài chính, một số nhiệm vụ trướcmắt trong năm 2010 bao gồm hướng dẫn thực hiện Luật Thuế tài nguyên, dự thảo Luật Thuế nhàđất, Luật Thuế về môi trường, hướng dẫn áp dụng thống nhất những thay đổi của Luật Thuế tiêuthụ đặc biệt

Theo Nguyễn Trung Thành/ĐTCK

Goi kich cau

Gói kích cầu 6 tỷ USD: Lấy đầu tư làm đòn bẩy Thứ bảy, 20/12/2008, 21:01 GMT+7

Chiến lược, mục tiêu của gói kích cầu kinh tế đã có, song thành công hay không phụ thuộc lớn vào quá trình triển khai thực hiện

Thường trực Chính phủ đã dành trọn ngày 16/12 để làm việc với các tập đoàn, tổng công ty nhà nước (khối DN đóng góp 40% GDP) về nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội năm 2009 Chuyển từ mục tiêu chống lạm phát sang chống suy giảm kinh tế, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng nhấn mạnh, điều hành chính sách của Chính phủ trong thời gian tới

sẽ nhanh nhạy, linh hoạt, bám sát thị trường, song bản thân DN cần tăng cường tính chủ động, liên kết chặt chẽ với nhau hơn để vượt khó

Liên quan đến chính sách tiền tệ, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng cho biết, Chính phủ sẽ tiếp tục chỉ đạo theo hướng giảm mạnh lãi suất hơn nữa, nhưng phù hợp và theo nguyên tắc thị trường, đồng thời đề nghị các ngân hàng phải chia sẻ với xã hội, coi đây là hỗ trợ quan trọng, đặc biệt là với DN nhỏ và vừa Thủ tướng đề nghị các ngân hàng thương mại nhà nước nghiên cứu phương án cho các đối tượng vay với lãi suất ưu đãi khoảng 5 - 6%/năm, không phân biệt thành phần kinh tế, chú trọng những lĩnh vực được đánh giá nhiều tiềm năng như điện, cảng, giao thông, nhà ở xã hội…

Thông tin quan trọng về gói giải pháp tổng thể hơn 100.000 tỷ đồng (khoảng 6 tỷ USD - bao gồm cả gói 1 tỷ USD công bố trước đó) cho việc kích thích nền kinh tế được Phó thủ tướng Thường trực Nguyễn Sinh Hùng chia sẻ Cụ thể, Chính phủ sẽ không thu về khoản 20.000 tỷ đồng tạm ứng của các DNNN năm ngoái; phát hành thêm khoảng 20.000 tỷ đồng trái phiếu chính phủ; để lại thuế thu nhập DN, hoãn, giãn, miễn giảm thuế chưa thu khoảng 20.000 tỷ đồng; khoản 30.000 tỷ đồng vốn đầu tư ngân sách năm ngoái chưa giải ngân hết sẽ tiếp tục được sử dụng trong nửa đầu năm 2009 Bên cạnh đó, Chính phủ sẽ nới bảo lãnh cho DN tiếp cận vốn quốc tế, ước khoảng 1,2 - 2 tỷ USD phục vụ cho đầu tư, mua sắm thiết bị có lợi cho quốc kế dân sinh (tận dụng cơ hội mặt bằng giá trên thế giới đang thấp) Năm 2009, tăng trưởng tín dụng được định lượng ở mức 20 - 25% so với năm 2008, đồng nghĩa với việc hệ thống ngân hàng bơm khoảng 300.000 tỷ đồng ra thị trường Ngoài việc giảm lãi suất, các ngân hàng sẽ cải tiến thủ tục để đồng vốn đến với DN dễ dàng hơn

Về gói kích cầu 1 tỷ USD, theo Bộ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư Võ Hồng Phúc, khoản kích cầu này sẽ có trọng tâm, trước mắt là các cơ sở hạ tầng cấp bách mang lại sự phát triển cho từng vùng, ngành cụ thể như tiêu thụ sắt thép, chương trình nhà ở xã hội, nhà ở cho sinh viên, nhà ở các khu công nghiệp, DN nhỏ và vừa… Về cách sử dụng gói 1

tỷ USD sao cho hiệu quả, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng gợi mở, nên dùng để bù lãi suất, sao cho nền kinh tế có lãi

Trang 25

suất thấp hơn, việc bù lãi suất đó sẽ được thực hiện không phân biệt thành phần kinh tế, tập trung hỗ trợ bằng cách cho vay ưu đãi

Chiến lược, mục tiêu của gói kích cầu kinh tế đã có, song theo lãnh đạo các tổng công ty, tập đoàn, thành công hay không phụ thuộc vào quá trình triển khai thực hiện Chủ tịch HĐQT Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Trần Bắc Hà cho rằng, việc sử dụng 1 tỷ USD "mồi" kích cầu nên có ưu tiên, bố trí cho khoảng 15 - 20 dự án cụ thể, trong đó vốn

tự có của chủ đầu tư khoảng 10 - 15%, vốn từ gói kích cầu 25 - 30%, còn lại là sự vào cuộc của ngân hàng

Còn theo ông Lê Quốc Ân, Chủ tịch HĐQT Tập đoàn Dệt may, không nên rót tiền thẳng vào dự án, mà rót để bù lãi suất, như vậy sẽ đến được nhiều DN hơn, nhất là các DN nhỏ và vừa Ông Ân đơn cử: "Hiện nay, chúng tôi có hai dự

án tại Hải Phòng và Nam Định đang đình đốn vì lãi suất cao, nếu được bù khoảng một nửa lãi suất thì hai dự án này

sẽ sản xuất được ngay Mà đây là hai dự án rất tốt, giải quyết việc làm cho nhiều lao động"

Trước định hướng ưu tiên cho đầu tư trong năm 2009, nhiều ý kiến cho rằng, cần giải quyết nút thắt trong các văn bản pháp luật có liên quan đến đấu thầu Chủ tịch HĐQT Tập đoàn Dầu khí Đinh La Thăng đề nghị tăng quyền chỉ định thầu cho các DN, vì hiện nay quy định phải đấu thầu gây mất thời gian và nhiều khi không thật sự hiệu quả.

"Việc dự kiến cho phép cấp quyết định đầu tư được chỉ định thầu các dự án có mức vốn tối đa không quá 5 tỷ đồng/dự án chắc chỉ có tác dụng ở địa bàn miền núi, vùng sâu, còn đối với các dự án khác đều có số vốn lớn hơn nhiều", ông Thăng nói

Còn theo Tổng giám đốc Tổng công ty Lắp máy (Lilama) Phạm Hùng, việc áp dụng quy định đấu thầu như hiện nay khiến nhiều dự án lớn như Nhà máy nhiệt điện Uông Bí 2, Đạm Cà Mau đều rơi vào nhà thầu Trung Quốc Ông Hùng giải thích, khi trúng thầu thì phía Trung Quốc mang sang Việt Nam từ vật liệu cho tới lao động phổ thông, mà tổng giá trị các gói thầu họ trúng thời gian qua lên tới 7 - 8 tỷ USD Nếu các DN của chúng ta được một phần ở đây thì đỡ biết bao nhiêu Tổng giám đốc Tổng công ty Thép Việt Nam Đậu Văn Hùng còn lo lắng rằng, nếu không có giải pháp đúng đắn thì kích cầu lại nhằm vào tiêu thụ hàng ngoại, lợi bất cập hại Lãnh đạo các tập đoàn, tổng công

ty cũng mong Chính phủ sớm điều chỉnh lãi suất để hỗ trợ DN Ông Lê Quốc Ân đề nghị Ngân hàng Nhà nước đưa lãi suất cơ bản xuống 8%.

Nhấn mạnh mối quan tâm lớn nhất của Chính phủ hiện nay là chống suy giảm kinh tế, đảm bảo an sinh xã hội, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng nêu rõ: "Trong năm nhóm giải pháp cấp bách, về mặt vĩ mô Chính phủ tập trung làm ba việc: thứ nhất là nới lỏng chính sách tiền tệ một cách hợp lý, hiệu quả, cụ thể là hạ lãi suất; thứ hai là khuyến khích đầu tư và tiêu dùng, chú ý đến thị trường trong nước; thứ ba là rà soát thể chế, cơ chế, chính sách để tạo thuận lợi cho

DN Những dự án DN xét thấy hiệu quả cần đẩy nhanh tiến độ thực hiện, áp dụng cơ chế chỉ định thầu, các tập đoàn, tổng công ty có thể lập danh sách trình Thủ tướng ủy quyền cho lãnh đạo thực hiện".(Nguồn: ĐTCK, 20/12)

http:atpvietnam.com

Nên thêm tiền cho kích cầu kinh tế

Thứ Tư, 10/12/2008, 09:08 (GM0(bao;tuoitre online)

TT - Dự kiến trong tuần n y H à ội đồng tư vấn chính sách tiền tệ quốc gia sẽ họp

để tư vấn cho Chính phủ những giải pháp kích thích kinh tế Xung quanh vấn

đề n y, Tu à ổi Trẻ trao đổi cùng PGS.TS Trần Ho ng Ngân à - phó hiệu trưởng đại học Kinh tế TP.HCM, th nh viên c à ủa hội đồng Ông Ngân nói:

Mặc dù Chính phủ đã công bố các gói giải pháp nhằm kích thích kinh tế nhưng thị trường vẫn trong tình trạng ảm đạm, người kinh doanh còn tâm lý chờ đợi Vẫn chưa có chi tiết cụ thể về chủ trương giảm thuế, gói kích thích kinh tế trị giá 1 tỉ USD Theo tôi, có thể sau cuộc họp n y à Chính phủ v các b à ộ ng nh liên à

Ngày đăng: 10/08/2014, 20:20

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w