LỜI MỞ ĐẦU Quy luật về quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất là quy luật vô cùng quan trọng, có sức ảnh hưởng to lớn đến nền kinh tếcủa một quốc gia.. N
Trang 1BỘ TÀI CHÍNH TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÀI CHÍNH - MARKETING
KHOA TÀI CHÍNH – NGÂN HÀNG
BÀI TIỂU LUẬN
TP.Hồ Chí Minh, tháng 11, năm 2011
Trang 2ĐỀ TÀI : QUY LUẬT QUAN HỆ SẢN XUẤT PHÙ HỢP VỚI TRÌNH ĐỘ PHÁT TRIỂN
CỦA LỰC LƯỢNG SẢN XUẤT
Trang 3ĐÁNH GIÁ CỦA GIÁO VIÊN
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
Trang 4MỤC LỤC Trang Lời mở đầu ……… 5
I Đặt vấn đề ……… 6
II Giải quyết vấn đề
1 Khái niệm lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất
1.1 Lực lượng sản xuất……… 7 1.2 Quan hệ sản xuất……… 11
2 Quy luật về quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ
phát triển của lực lượng sản xuất
2.1 Tính chất và trình độ của lực lượng sản xuất… 13
2.2 Quy luật về quan hệ sản xuất phù hợp với trình
độ phát triển của lực lượng sản xuất……… 14 III Sự vận dụng quy luật vào sự nghiệp xây dựng chủ
nghĩa xã hội ở Việt Nam
1 Thực trạng……… 19
2 Giải pháp……… 25
IV Kết luận……… 29 Danh sách các tài liệu tham khảo
Trang 5LỜI MỞ ĐẦU
Quy luật về quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng
sản xuất là quy luật vô cùng quan trọng, có sức ảnh hưởng to lớn đến nền kinh tếcủa một quốc gia Quy luật này là quy luật trọng tâm chi phối lịch sử phát triển của
xã hội Nó góp phần tạo nên sự vững chắc của nền kinh tế, làm tiền đề để xây dựngmột nền kinh tế vững mạnh
Ta biết rằng vấn đề kinh tế là vấn đề tiên quyết làm thay đổi các vấn đề khác
do vậy Đảng ta chỉ ra rằng sự phù hợp giữa lực lượng sản xuất với quan hệ sảnxuất là một vấn đề cực kì quan trọng trong giai đoạn hiện nay: giai đoạn đi lên Chủnghĩa xã hội Chính vì thế, để đáp ứng nhu cầu của Đảng thì sinh viên chúng ta,đặc biệt là sinh viên các khối nghành kinh tế cần tìm hiểu sâu hơn về quy luật này
Có kiến thức về quy luật này chúng ta sẽ biết được quy luật vận động của nền kinh
tế quốc gia nói chung và nền kinh tế thế giới nói riêng Từ đó có thể đóng góp mộtphần nhỏ bẻ của mình vào kinh tế nước nhà
Sau đây chúng em xin được trình bày sâu hơn về nội dung của quy luật Tuy nhiên,
sự hiểu biết của chúng em còn hạn chế, rất mong quý thầy có ý kiến đóng góp,nhận xét để bài làm được hoàn thiện hơn
Trang 6I.Đặt vấn đề
Loài người đã trải qua năm phương thức sản xuất đó là: Nguyên thuỷ, chiếm hữu
nô lệ, xã hội phong kiến, tư bản chủ nghĩa xã hội chủ nghĩa Tư duy phát triển, nhận thức của con người không dừng lại ở một chỗ Từ khi sản xuất chủ yếu bằng hái lượm săn bắt, trình độ khoa học kỹ thuật lạc hậu thì ngày nay trình độ khoa họcđạt tới mức tột đỉnh Không ít các nhà khoa học, các nhà nghiên cứu đổ sức bỏ công cho các vấn đề này cụ thể là nhận thức con người, trong đó có triết học Với
ba trường phái trong lịch sử phát triển của mình chủ nghĩa duy vật, chủ nghĩa duy tâm và trường phái nhị nguyên luận Nhưng họ đều thống nhất rằng thực chất của triết học đó là sự thống nhất biện chứng giữa quan hệ sản xuất với lực lượng sản xuất như thống nhất giữa hai mặt đối lập tạo nên chỉnh thể của nền sản xuất xã hội.Tác động qua lại biện chứng giữa lực lượng sản xuất với quan hệ sản xuất được Mác và Ănghen khái quát thành qui luật về sự phù hợp giữa quan hệ sản xuất với lực lượng sản xuất Từ những lý luận trên đưa Mác - Ănghen vươn lên đỉnh cao trí tuệ của nhân loại Không chỉ trên phương diện triết học mà cả chính trị kinh tế học
và chủ nghĩa cộng sản khoa học Dưới những hình thức và mức độ khác nhau, dù con người có ý thức và mức độ khác nhau, dù con người có ý thức được hay khôngthì nhận thức của hai ông về qui luật vẫn xuyên suốt lịch sử phát triển
Để hiểu thêm về quy luật và những thực trạng của xã hội chúng ta, chúng em xin vào vấn đề trọng tâm
Trang 7II Giải quyết vấn đề
1 Khái niệm lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất
1.1 Lực lượng sản xuất:
Lực lượng sản xuất là mối quan hệ giữa con người với tự nhiên đượchình thành trong quá trình sản xuất Lực lượng sản xuất gồm có tư liệu sản xuất vàngười lao động Có thể nói lực lượng sản xuất là tất cả các nhân tố vật chất, kĩthuật cần thiết để tiến hành một quá trình sản xuất nào đó trong đó người lao độnggiữ vai trò nhân tố cơ bản và quyết định
Tư liệu sản xuất lại được cấu thành từ hai bộ phận: đối tượng lao động và
tư liệu lao động
Đối tượng lao động: có thể là giới tự nhiên hoặc những sản phẩmkhông có sẵn trong tự nhiên mà do con người bằng lao động của mình
đã tạo raVd: - Đối tượng lao động có sắn trong tự nhiên: rừng, biển, ruộng, đất
Trang 8
- Đối tượng lao động không có trong tự nhiên mà do con người tạo
ra, ví dụ như các vật liệu nhân tạo của các ngành công ngiệp chếbiến
Tư liệu lao động gồm hai yếu tố
- Công cụ sản xuất:dẫn truyền sự tác động của con người vào đốitượng lao động Vd: cuốc, xẻn, dao, rựa,…
- Phương tiện lao động: là những vật hay phức hợp các vật thể nốicon người với đối tượng lao động vd: nhà kho, sân phơi, đườnggiao thông
Trong hai tư liệu lao động thì công cụ sản xuất được coi là yếu tố động nhất, cáchmạng nhất của lực lượng sản xuất
Bất kỳ một thời đại lịch sử nào, công cụ sản xuất bao giờ cũng là sảnphẩm tổng hợp, đa dạng của toàn bộ những phức hợp kỹ thuật được hình thành gắnliền với quá trình sản xuất và phát triển của khoa học kỹ thuật Nó là kết quả củarất nhiều yếu tố, trong đó quan trọng và trực tiếp nhất là trí tuệ của con người đượcnhân lên trên cơ sở kế thừa nền văn minh vật chất trước đó
Trình độ phát triển của tư liệu lao động mà trong đóđặc biệt là công cụsản xuất là thước đo trình độ chinh phục tự nhiên của con người, đồng thời đó cũng
là cơ sở xác định trình độ của sản xuất và là tiêu chuẩn đánh giá sự khác nhau giữacác thời đại kinh tế , các chếđộ chính trị xã hội ví dụ, trong thời đại phong kiến thì
Trang 9đếm tiền bằng bàn tính, còn trong thời đại hiện nay thì có máy tình tiền hiện đại,chứng tỏ tư liệu lao động phát triển
Song nhân tố quyết định của lực lượng sản xuất phải nói tới nhân tốngười lao động Lênin đã nói: “Lực lượng sản xuất hàng đầu của toàn thể nhân loại
là công nhân, là người lao động” [V.I Lenin Toàn tập, tập 38_ nhà xuất bản Tiếnbộ_ Matxcơva_ năm 1977_ trang 430] Dù tư liệu sản xuất cóđối tượng lao độngphong phú, giàu cóđến mức nào, có tư liệu lao động tinh xảo và hiện đại đến đâuchăng nữa nhưng nếu tách khỏi người lao động thì cũng không phát huy được tácdụng tích cực của nó Ví dụ máy vi tính có hiện đại tinh xảo đến đâu mà con ngườikhông có biết sử dụng thì máy tính trở nên vô dụng Trong lịch sửđã và sẽ khôngtồn tại một hình thức sản xuất vật chất nào mà lại không có nhân tố con người.C.Mac và Ph.Ăng-ghen đã viết: “Bản thân con người bắt đầu được phân biệt vớisúc vật ngay khi con người bắt đầu sản xuất ra những tư liệu sinh hoạt ” [C.Mac
và Ph.Ăng-ghen tuyển tập, tập 1_ Nhà xuất bản Sự thật_ Hà Nội_ năm 1980_ trang268] Con người là nhân tố trung tâm và là mục đích của nền sản xuất xã hội Sảnxuất suy đến cùng làđể tiêu dùng, không có tiêu dùng thì cũng không có sản xuấtnhất là trong điều kiện ngày nay, khi công cuộc cách mạng khoa học – công nghệphát triển mạnh mẽ thì vị trí trung tâm của con người ngày càng được nhấn mạnh.Người lao động với tư cách là một bộ phận của lực lượng sản xuất xã hội phải là
Trang 10người có sức lực (sức khoẻ), kĩ năng lao động , tri thức khoa học , tri thức côngnghệ và cả tính nhân văn ( bao hàm cả các giá trị đạo đức).
1.2 Quan hệ sản xuất:
Nếu như lực lượng sản xuất biểu hiện mối quan hệ giữa người với tự nhiên,phản ánh mặt kĩ thuật của sản xuất, thì quan hệ sản xuất biểu hiện mối quan hệkinh tế giữa người với người trong quá trình sản xuất, phản ánh mặt xã hội của sảnxuất Để tiến hành quá trình sản xuất nhất định con người phải có mối quan hệ vớinhau Tổng thể các mối quan hệ đó được gọi là mối quan hệ sản xuất Quan hệ sảnxuất là toàn bộ những quan hệ giữa người với người trong quá trình sản xuất và táisản xuất vật chất của xã hội: sản xuất – phân phối – trao đổi – tiêu dùng Tổng thểcác quan hệ xã hội này được chia thành 3 nhóm cơ bản:
Thứ nhất quan hệ sở hữu đối với tư liệu sản xuất tức là mối quan hệgiữa người với tư liệu sản xuất Tính chất của quan hệ sản xuất trướchết được quy định bởi quan hệ sở hữu đối với tư liệu sản xuất –biểuhiện thành chế độ sở hữu Trong các hình thái kinh tế xã hội mà loàingười đã từng trải qua, lịch sử đã được chứng kiến sự tồn tại của 2 loạihình sở hữu cơ bản đối với tư liệu sản xuất: sở hữu tư nhân và sở hữucông cộng
- Sở hữu công cộng: là loại hình mà trong đó tư liệu sản xuất thuộc
về mọi thành viên của cộng đồng Do tư liệu sản xuất là tài sảnchung của cả cộng đồng nên các quan hệ xã hội trong sản xuất vàtrong đời sống xã hội nói chung trở thành quan hệ hợp tác giúp đỡlẫn nhau Vd: tất cả những gì thuộc về biển đều thuộc sở hữu củacộng đồng, ai cũng có thể ra khơi đánh bắt trong quy phạm luậtpháp
Trang 11- Sở hữu tư nhân: là loại hình sở hữu mà trong đó tư liệu sản xuất tậptrung trong tay một số người, còn đại đa số là có rất ít hoặc không
có tư liệu sản xuất, vì thế các quan hệ trở nên bất bình đẳng vd:thời phong kiến, đất đai đa số thuộc về địa chủ phong kiến, còn lạingười nông dân có ít hoặc có người không có phải đi làm nô lệ chođịa chủ
Thứ hai, quan hệ trong tổ chức và quản lí sản xuất, kinh doanh, tức làquan hệ giữa người với người trong sản xuất và trao đổi của cải vậtchất ví dụ như phân công chuyên môn hóa và hợp tác hóa lao động,quan hệ giữa người quản lí với công nhân Trong thực tế, thích ứngvới một kiểu sở hữu là một chế độ tổ chức và quản lí nhất định Mặc
dù phụ thuộc vào quan hệ sở hữu nhưng tổ chức và quản lí sản xuất cótác dụng rất lớn đối với quá trình sản xuất và với các mặt quan hệkhác của quan hệ sản xuất Chính quan hệ tổ chức và quản lí sản xuất
là nhân tố tham gia quyết địnhu trực tiếp đến quy mô, tốc độ và hiệuquả của nền kinh tế
Thứ ba là quan hệ phân phối sản phẩm lao động Tuy quan hệ này phụthuộc vào quan hệ sở hữu và trình độ tổ chức quản lí sản xuất nhưng
nó có ý nghĩa hết sức to lớn đối với sự vận động của toàn bộ nền kinh
tế, thúc đẩy tốc độ và nhịp điệu của sản xuất nhưng ngược lại có thểkiềm hãm sản xuất và sự phát triển của xã hội
Ba mặt quan hệ nói trên là một thể thống nhất hữu cơ, quan hệ chặt chẽ vớinhau và cùng một mục tiêu chung là sử dụng hợp lí và có hiệu quả tư liệu sản xuất
để làm cho chúng không ngừng được phát triển, tăng trưởng, thúc đẩy tái sản xuất
mở rộng, nâng cao phúc lợi cho người lao động Vì vậy không nên tuyệt đối hóabất kì một quan hệ nào mà phải chú ý đến tính đồng bộ của cả ba mặt quan hệtrong quan hệ sản xuất ví dụ trong một công ty, không nên quá coi trọng nhiều
Trang 12vào khâu quản lí tài chính, tổ chức lực lượng lao động mà còn cần phải điều chỉnhphân phối, kết hợp các sản phẩm đầu vào và đầu ra của công ty để tối đa hóa lợinhuận của công ty.
Như vậy tính vật chất của quan hệ sản xuất thể hiện ở chỗ nó tồn tại kháchquan độc lập hoàn toàn với ý thức của con người Mác đã chỉ ra rằng trong sự sảnxuất xã hội ra đời sống của mình, con người có những quan hệ nhất định, tất yếukhông phụ thuộc vào ý muốn của họ Tức là những quan hệ sản xuất này phù hợpvới trình độ phát triển nhất định của các lực lượng sản xuất vật chất của họ Vì vậycon người không thể tuỳ tiện lựa chọn quan hệ sản xuất riêng cho mình, bởi vìchúng luôn luôn là kết quả phát triển tất yếu khách quan của một lực lượng sảnxuất hiện có tương ứng với nó
2 Quy luật về quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất:
2.1 Tính chất và trình độ của lực lượng sản xuất
có thể sử dụng nhiều công cụ lao động để sản xuất ra một hay nhiều sản phẩm Khitrình độ sản xuất đạt tới trình độ cơ khí hoá, lực lượng sản xuất đòi hỏi phải đượcvận động cho sự hợp tác xã hội rộng rãi trên cơ sở chuyên môn hoá Tính chất tựcấp tự túc cô lập của nền sản xuất nhỏ lúc đó phải được thay thế bởi tính chất xãhội hoá
Trang 132.1.2 trình độ của lực lượng sản xuất
Lực lượng sản xuất là yếu tố có tác dụng quyết định đối với sự phát triển củaphương thức sản xuất: trình độ của lực lượng sản xuất trong từng giai đoạn của lịch
sử loài người thể hiện trình độ chinh phục tự nhiên của loài người trong giai đoạn
đó Khái niệm trình độ của lực lượng sản xuất nói lên khả năng của con ngườithông qua việc sử dụng công cụ lao động thực hiện quá trình cải biến tự nhiênnhằm đảm bảo cho sự sinh tồn và phát triển của mình
Trình độ lực lượng sản xuất là sản phẩm của sự kết hợp của các nhân tố
Trình độ của công cụ lao động
Trình độ tổ chức lao dộng xã hội
Trình độ ứng dụng khoa học vào sản xuất
Trình độ kinh nghiệm và kĩ năng lao động của con người
Trình độ phân công lao động
Trên thực tế tính chất và trình độ của lực lượng sản xuất không tách biệtnhau
2.2 Quy luật về quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất:
Mối quan hệ giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất là mốiquan hệ thống nhất biện chứng, trong đó lực lượng sản xuất quyết địnhquan hệ sản xuất và quan hệ sản xuất tác động trở lại lực lượng sản xuất
* Lực lượng sản xuất quyết định quan hệ sản xuất:
Để nâng cao hiệu quả trong sản xuất và giảm bớt lao động nặng nhọc, con ngườikhông ngừng cải tiến, hoàn thiện và chế tạo ra những công cụ sản xuất mới ngàycàng tinh xảo và hiện đại Đồng thời với sự tiến bộ của công cụ, tri thức khoa học,trình độ chuyên môn kỹ thuật và mọi kỹ năng kỹ xảo của người lao động cũngngày càng phát triển Cùng với sự phát triển của lực lượng sản xuất âý, quan hệ sản
Trang 14xuất cũng hình thành và biến đổi cho phù hợp với tính chất và trình độ phát triểncủa lực lượng sản xuất, sự phù hợp đó là động lực làm cho lực lượng sản xuất pháttriển mạnh mẽ Lực lượng sản xuất là nội dung, là phương thức còn quan hệ sảnxuất là hình thức xã hội của nó Trong mối quan hệ giữa nội dung và hình thức thìnội dung quyết định hình thức, hình thức phụ thuộc vào nội dung, nội dung thayđổi trước sau đó hình thức thay đổi theo Vì thế mối quan hệ thống nhất giữa lựclượng sản xuất và quan hệ sản xuất phải tuân theo nguyên tác khách quan: quan hệsản xuất phải phụ thuộc vào thực trạng phát triển lực lượng sản xuất trong mỗi giaiđoạn lịch sử Từ những đặc điểm trên có thể khẳng định lực lượng sản xuất quyếtđịnh sự hình thành, phát triển và biến đổi của quan hệ sản xuất
* Quan hệ sản xuất tác động trở lại đối với lực lượng sản xuất:
Như trên ta thấy lực lượng sản xuất là nhân tố thường xuyên biến đổi, pháttriển không ngừng trong khi đó quan hệ sản xuất mà đặc biệt là nhân tố sở hữu về
tư liệu sản xuất lại có tính ổn định lâu dài Quan hệ sản xuất khi đãđược xác lập thì
nó độc lập tương đối với lực lượng sản xuất, trở thành những cơ sở và những thểchế xã hội và nó không thể biến đổi đồng thời đối với lực lượng sản xuất màthường có xu hướng lạc hậu hơn so với lực lượng sản xuất Khi đó nó tác động trởlại đối với lực lượng sản xuất, có thể thúc đẩy hoặc kìm hãm sự phát triển của lựclượng sản xuất Nếu quan hệ sản xuất phù hợp với tính chất và trình độ phát triểncủa lực lượng sản xuất, nó sẽ trở thành động lực thúc đẩy, định hướng và tạo điềukiện cho lực lượng sản xuất phát triển Ngược lại, nếu lạc hậu hơn so với tính chất
và trình độ phát triển của lực lượng sản xuất, quan hệ sản xuất sẽ là xiềng xích kìmhãm sự phát triển của lực lượng sản xuất Ngay cả trong trường hợp quan hệ sảnxuất đi quá xa so với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất thì nó cũng kìmhãm sự phát triển của lực lượng sản xuất Khi đó bắt đầu thời đại một cuộc cáchmạng xã hội , chính nhờ cách mạng xã hội mà các quan hệ sản xuất cũ của xã hội
Trang 15dần được thay thế bằng một quan hệ sản xuất mới phù hợp với nhu cầu phát triểncủa lực lượng sản xuất.
Sở dĩ quan hệ sản xuất có thể tác động mạnh mẽ trở lại đối với lực lượngsản xuất (thúc đầy hoặc kìm hãm ), vì nó quy định mục đích của sản xuất, quy định
hệ thống tổ chức quản lý sản xuất và quản lý xã hội, quy định phương thức phânphối và phần của cải ít hay nhiều mà người lao động được hưởng Do đó nóảnhhưởng đến thái độ quảng đại quần chúng lao động - lực lượng sản xuất chủ yếu của
xã hội, nótạo ra những điều kiện kích thích hoặc hạn chế việc cải tiến công cụ laođộng, áp dụng những thành tựu khoa khọc và kỹ thuật vào sản xuất, hợp tác vàphân phối lao động
Tuy nhiên, không được hiểu một cách đơn giản tính tích cực của quan hệ sảnxuất chỉ là vai trò của những hình thức sở hữu, mỗi kiểu quan hệ sản xuất là một hệthống một chỉnh thể hữu cơ gồm ba mặt: quan hệ sở hữu, quan hệ quản lý và quan
hệ phân phối Chỉ trong chỉnh thể đó, quan hệ sản xuất mới trở thành động lực thúcđẩy con người hành động nhằm phát triển sản xuất
* Sự phù hợp của quan hệ sản xuất với tính chất và trình độ phát triển của lựclượng sản xuất:
hình thành quy luật quy luật sản xuất phải phù hợp với tính chất và trình độ pháttriển của lực lượng sản xuất Các đặc điểm phù hợp:
Thứ nhất,cả ba mặt của quan hệ sản xuất phải thích ứng với tính chất,trình độ phát triển của lực lượng sản xuất
Thứ hai, quan hệ sản xuất phải tạo được điều kiện sử dụng và kết hợptối ưu giữa tư liệu sản xuất và sức lao động, bảo đảm thực hiện tái sảnxuất mở rộng
Thứ ba, mở ra những điều kiện thích hợp cho việc kích thích vật chất,tinh thần đối với người lao động
Trang 16Một ví dụ dễ thấy phản ánh đúng quy luật nêu trên là lịch sử xã hội loài người: Thời kì đầu trong lịch sử là xã hội cộng sản nguyên thuỷ với lực lượng sản xuấtthấp kém, đời sống của họ chủ yếu phụ thuộc vào săn bắt hái lượm, quan hệ sảnxuất thơì kì này là quan hệ sản xuất cộng đồng nguyên thuỷ, con người cùng chungsống, cùng lao động và cùng hưởng thụ thành quả lao động chung một cách bìnhđẳng Xã hội không có người giàu, người nghèo, không có người sở hữu, không có
kẻ làm thuê Trong quá trình sinh sống họ đã không ngừng cải tiến và thay đổicông cụ (lực lượng sản xuất) đến sau một thời kỳ lực lượng sản xuất phát triển, củacải từ chỗ chỉ đủ đáp ứng nhu cầu cần thiết đã tăng lên đến chỗ dư thừa tất yếu dẫnđến sự tích luỹ, xã hội bắt đầu có sự phân chia kẻ giàu người nghèo, quan hệ cộngđồng bị phá vỡ dần dần xuất hiện hệ tư nhân thay thế cho nó Đó là xã hội chiếmhữu nô lệ
Xã hội nô lệ với quan hệ sản xuất chiếm hữu nô lệ ra đời bằng những hình thứclao động tập trung, khổ sai, thích ứng với trình độ của lực lượng sản xuất lúc ấy,chế độ chiếm hữu nô lệ đã đạt được những kỳ tích to lớn trong lịch sử văn minhnhân loại
Kế tiếp đó quan hệ sản xuất phong kiến ra đời, người nô lệ lao động khổ sai trong
xã hội nô lệ được thay thế bằng người nông nô Sức lao động của nô lệ được giảiphóng khỏi xiềng xích của trật tự xã hội nô lệ, lực lượng sản xuất có những bướctiến đáng kể Sau đó bản thân quan hệ sản xuất phong kiến cũng không thích ứngđược với lực lượng sản xuất hiện có, nó trở thành xiềng xích trói buộc lực lượngsản xuất xã hội, đặc biệt là với phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa hình thành
tự phát trong lòng xã hội phong kiến Xung đột này dẫn đến sự ra đời của quan hệsản xuất tư bản chủ nghĩa thay thế quan hệ sản xuất phong kiến