- Triết học thời Phục hưng và Cận đại được gọi là siêu hình học với nghĩa lànền tảng thế giới quan của con người.- Triết học Mác-Lênin là khoa học nghiên cứu những quy luật chung nhất về
Trang 1Đề cương chi tiết môn Triết học – TS Nguyễn Thái Sơn
Người Hy Lạp cổ đại gọi triết học là philosophia, ghép từ hai từ
philos- tình yêu và sophia- sự thông thái Như vậy, theo nghĩa đen, triết học là tình yêu sự thông thái Nhà triết học là nhà thông thái bởi
nó có khả năng làm sáng tỏ bản chất của sự vật, hiện tượng bằng hệ thống khái niệm, phạm trù và quy luật.
I CHƯƠNG TRÌNH MÔN TRIẾT HỌC Dùng cho học viên cao học và nghiên cứu sinh không thuộc chuyên ngành
triết học
Ban hành theo Quyết định số 33/2004/QĐ-BGD&ĐT ngày 28/9/2004
của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo
Chươn
g
I Triết học và vai trò của triết học
trong đời sống xã hội
V Chủ nghĩa duy vật biện chứng-
cơ sở lý luận của thế giới quan
VII Nguyên tắc thống nhất giữa lý
luận với thực tiễn của triết học
Mác-Lênin
6
VIII Lý luận Hình thái kinh tế - xã hội
và con đường đi lên chủ nghĩa xã
hội ở Việt Nam
12
IX Giai cấp, dân tộc, nhân loại trong
thời đại hiện nay và vận dụng
vào sự nghiệp xây dựng chủ
nghĩa xã hội ở Việt Nam
6
Trang 2X Lý luận về nhà nước và nhà nước
pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở ViệtNam
7
XI Quan điểm của triết học Mác -
Lênin về con người và vấn đề
xây dựng con người Việt Nam
hiện nay
7
Chương trình gồm 11 chương, 6 đvht (90 tiết)
Trang 3II ĐỀ CƯƠNG CHI TIẾT MÔN TRIẾT HỌC
(Biên soạn theo Giáo trình Triết học dùng cho học viên cao học và nghiên cứu sinh
không thuộc chuyên ngành triết học của Bộ Giáo dục và Đào tạo
do Nxb, Lý luận Chính trị, Hà Nội, ấn hành năm 2006)
CHƯƠNG I TRIẾT HỌC VÀ VAI TRÒ CỦA TRIẾT HỌC TRONG ĐỜI
SỐNG XÃ HỘI
PGS.TS Đoàn Quang Thọ,Trường Đại học Kinh tế Quốc dân Hà Nội
-Người trình bày: Tiến sỹ Nguyễn Thái Sơn, Đại học Quốc gia Hà Nội Điện thoại 0913541171.
Đối tượng: Học viên cao học ngành Kinh tế.
Thời lượng: 0 tiết trên lớp, 2 tiết tự học.
Thời gian: 17g30 ngày 11/12/06.
Địa điểm: Hội trường 8, Nhà B4, Trường Đại học Ngoại ngữ.
-I KHÁI NIỆM TRIẾT HỌC VÀ ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU CỦA TRIẾT HỌC
1 Khái niệm triết học
- Khái niệm triết học
+ Người Hy Lạp cổ đại gọi triết học là philosophia, ghép từ hai từ tình yêu và sophia- sự thông thái Như vậy, theo nghĩa đen, triết học là tình yêu sựthông thái Nhà triết học là nhà thông thái bởi nó có khả năng làm sáng tỏ bản chấtcủa sự vật, hiện tượng bằng hệ thống khái niệm, phạm trù và quy luật
philos-+ Triết học xuất hiện cả ở phương Đông và phương Tây vào khoảng từ thế
kỷ VIII - VI trước Công nguyên (tr.c.n) tại một số nền văn minh cổ đại như TrungQuốc, Ấn Độ, Ai Cập, trung Đông v.v, nhưng triết học kinh điển chỉ phát triển ở
Hy Lạp cổ đại
- Định nghĩa triết học Triết học là hệ thống tri thức lý luận chung nhất củacon người về thế giới; về vị trí, vai trò của con người trong thế giới ấy
2 Đối tượng nghiên cứu của triết học
- Triết học thời cổ đại được gọi là khoa học của mọi khoa học Triết học tựnhiên là hình thức đầu tiên của triết học
- Triết học thời Trung cổ được gọi là triết học Kinh viện với nhiệm vụ lý giải
và chứng minh cho sự đúng đắn của các giáo điều Kinh Thánh
Trang 4- Triết học thời Phục hưng và Cận đại được gọi là siêu hình học với nghĩa lànền tảng thế giới quan của con người.
- Triết học Mác-Lênin là khoa học nghiên cứu những quy luật chung nhất về
sự vận động, phát triển của các sự vật, hiện tượng trong tự nhiên, xã hội và tư duy;đồng thời tiếp tục làm rõ vấn đề về mối quan hệ giữa tư duy với tồn tại
II TÍNH QUY LUẬT VỀ SỰ HÌNH THÀNH, PHÁT TRIỂN CỦA TRIẾT HỌC
Sự hình thành, phát triển của triết học gắn với tiền đề kinh tế - xã hội vàtiền đề nhận thức
1 Tiền đề kinh tế - xã hội Triết học ra đời khi xã hội đã có sự phân công
lao động thành lao động trí óc và lao động chân tay; gắn liền với cuộc đấu tranhgiai cấp
2 Tiền đề nhận thức Triết học ra đời khi tư duy con người đã đạt đến trình
độ khái quát nhất định để đáp ứng nhu cầu nhận thức tổng thể về thế giới và conngười; khi các thành tựu của khoa học chuyên ngành đã có vai trò nhất định đốivới nội dung các tư tưởng và học thuyết triết học Có thể khẳng định rằng, triết học
ra đời từ thực tiễn, do nhu cầu của thực tiễn quy định
III VAI TRÒ CỦA TRIẾT HỌC TRONG ĐỜI SỐNG XÃ HỘI
1 Vai trò thế giới quan và phương pháp luận của triết học
- Vai trò thế giới quan của triết học
+ Định nghĩa Thế giới quan là quan niệm của con người về thế giới và về vịtrí, vai trò của con người trong thế giới đó
+ Triết học là hạt nhân lý luận của thế giới quan, bởi triết học mô tả nhữngvấn đề của thế giới quan bằng hệ thống các khái niệm và phạm trù, quy luật Hơnnữa, triết học không chỉ nêu ra các quan điểm của mình mà còn chứng minh chocác quan điểm đó bằng lý tính Thông qua thế giới quan triết học, thế giới quan sẽđược thể hiện qua các quan điểm về kinh tế, chính trị, đạo đức, pháp luật, tôn giáov v
+ Các cấp độ thế giới quan
Thế giới quan có nhiều cấp độ khác nhau như thế giới quan huyền thoại; thếgiới quan tôn giáo; thế giới quan triết học (thế giới quan duy vật và thế giới quanduy tâm); thế giới quan khoa học và thế giới quan không khoa học v.v Việc xácđịnh cấp độ, nội dung thế giới quan phụ thuộc vào vấn đề, liệu lợi ích giai cấp cóphù hợp khách quan đối với xu hướng của sự phát triển lịch sử, với khoa học vàvới thực tiễn xã hội hay không
+ Vai trò của thế giới quan triết học đối với nhận thức và thực tiễn
Bản chất của thế giới quan là sự thống nhất biện chứng giữa nhận thức đánh giá với thực tiễn - cải tạo; đưa lại cho con người khả năng tạo ra các mụcđích xác định, đưa ra kế hoạch, lý tưởng chung của cuộc sống, làm cho thế giớiquan có sức mạnh hiện thực
Vai trò phương pháp luận của triết học
Trang 5+ Định nghĩa Phương pháp luận là hệ thống các quan điểm, nguyên tắcxuất phát chỉ đạo chủ thể trong việc xác định phương pháp cũng như xác địnhphạm vi, khả năng áp dụng phương pháp hợp lý, có hiệu quả tối đa.
+ Các cấp độ phương pháp luận
Phương pháp luận có nhiều cấp độ khác nhau như phương pháp luận ngành
là phương pháp luận của các ngành khoa học cụ thể; phương pháp luận chung làcác quan điểm, nguyên tắc chung hơn cấp độ ngành, dùng để xác định phươngpháp hay phương pháp luận của nhóm ngành có đối tượng nghiên cứu chung nàođó; phương pháp luận chung nhất (phương pháp luận triết học) khái quát các quanđiểm, nguyên tắc chung nhất làm cơ sở cho việc xác định các phương pháp luậnngành, chung và các phương pháp hoạt động cụ thể của nhận thức và thực tiễn + Vai trò của phương pháp luận triết học đối với nhận thức và thực tiễn thểhiện ở chỗ nó chỉ đạo sự tìm kiếm, xây dựng; lựa chọn và vận dụng các phươngpháp để thực hiện hoạt động nhận thức và thực tiễn; đóng vai trò định hướng trongquá trình tìm tòi, lựa chọn và vận dụng phương pháp
2 Vai trò của triết học đối với các khoa học chuyên ngành và tư duy lý luận
- Vai trò của triết học đối với các khoa học chuyên ngành
Sự hình thành, phát triển của triết học gắn với sự khái quát những thành tựuphát triển của khoa học chuyên ngành Ngược lại, triết học đóng vai trò là thế giớiquan và phương pháp luận cho khoa học chuyên ngành; là cơ sở lý luận cho việcđánh giá các thành tựu mà khoa học chuyên ngành đạt được; vạch ra phươnghướng, chỉ ra phương pháp cho việc nghiên cứu của các khoa học đó
- Triết học có vai trò to lớn đối với việc rèn luyện năng lực tư duy lý luậncủa con người, bởi “một dân tộc muốn đứng vững trên đỉnh cao của khoa học thìkhông thể không có tư duy lý luận”./
Trang 6CHƯƠNG II KHÁI LƯỢC LỊCH SỬ TRIẾT HỌC PHƯƠNG ĐÔNG
PGS.TS Trần Văn Thuỵ, Trường Đại học Y Hà Nội,
TS Phạm Văn Sinh, Trường Đại học Kinh tế Quốc dân Hà Nội
-Người trình bày: Tiến sỹ Trần Đăng Sinh, Chủ nhiệm Bộ môn Triết học, Khoa Giáo dục Chính trị, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội Điện thoại 0912206853.
Đối tượng: Học viên cao học ngành Kinh tế, Sư phạm v.v.
Thời lượng: 8 tiết trên lớp, 2 tiết tự học (Giảng viên nêu những vấn đề
-I TRIẾT HỌC ẤN ĐỘ CỔ, TRUNG ĐẠI
1 Điều kiện ra đời, phát triển và đặc thù của triết học Ấn Độ cổ, trung đại
a Điều kiện ra đời của triết học Ấn Độ cổ, trung đại
- Điều kiện tự nhiên
Ấn Độ là bán đảo lớn ở nam Á, có điều kiện tự nhiên và khí hậu rất phức
tạp, địa hình có nhiều núi (Hymalaya ở phía Bắc quanh năm tuyết phủ), nhiều sông(sông Hằng chảy về phía Đông, sông Ấn chảy về phía Tây) với những đồng bằngtrù phú; có vùng khí hậu nóng ẩm, mưa nhiều, có vùng sa mạc khô cằn, nóng nực.Tính khắc nghiệt của điều kiện tự nhiên và khí hậu là những thế lực đè nặng lên
cuộc sống và ghi dấu ấn đậm nét lên tâm trí người Ấn Độ cổ, trung đại.
- Điều kiện kinh tế - xã hội và văn hoá Xã hội Ấn Độ cổ đại là xã hội mangtính chất công xã nông nghiệp với sự phân chia đẳng cấp hết sức nghiệt ngã Nềnvăn hoá Ấn Độ cổ, trung đại thường được chia thành ba giai đoạn chính
b Quá trình hình thành, phát triển của triết học tôn giáo Ấn Độ cổ, trung đại
- Giai đoạn từ thế kỷ XV - VIII tr.c.n gọi là nền văn minh sông Ấn hay còngọi là nền văn minh Vệđà (Véda)
+ Đây là nền văn minh đồ đồng mang tính chất đô thị của một xã hội đã vượtqua trình độ nguyên thuỷ, đang tiến vào giai đoạn đầu của chế độ chiếm hữu nô lệ,trong đó nông nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và thương nghiệp đã đạt tới một trình
độ nhất định Kinh tế bao gồm nông nghiệp, thương nghiệp; nghề dệt bông len, đúcđồng, điêu khắc, gốm sứ tráng men, làm đồ nữ trang phát triển Thành phố đượcxây bằng gạch nung Xã hội đã phân chia giàu, nghèo; xuất hiện chữ viết; thờ Thần
Trang 7Shiva Đầu thiên niên kỷ II tr.c.n, nền văn minh này lụi tàn nhưng chưa rõ nguyênnhân.
+ Đây là thời kỳ hình thành các quốc gia chiếm hữu nô lệ đầu tiên củangười Arya ở phía Bắc và cũng là thời kỳ rực rỡ nhất của nền văn minh Ấn Độ cổđại Bộ lạc Arya tràn xuống châu thổ sông Hằng Hình thành nhiều tôn giáo có ảnhhưởng lớn đến cuộc sống của xã hội Ấn Độ cổ đại Xuất hiện chế độ đẳng cấp dựatrên sự phân biệt về chủng tộc, màu da, dòng dõi, nghề nghiệp, tôn giáo, quan hệgiao tiếp, tập tục hôn nhân v.v Tiêu biểu về mặt tư tưởng cho sự phân chia đẳngcấp xã hội là đạo Bàlamôn, quy định cơ cấu xã hội và có ảnh hưởng lớn đến hìnhthái tư tưởng Ấn Độ cổ đại Việc phân chia xã hội thành những đẳng cấp vớinhững tính chất khắt khe, nghiệt ngã đã ảnh hưởng lớn đến đời sống của nông dân,thương nhân, thợ thủ công thành thị, ngăn cản sự phát triển của sản xuất xã hội;dẫn xã hội đến sự bất bình đẳng, tự do gây nên cuộc đấu tranh của các tôn giáochống lại sự thống trị của Đạo Bàlamôn và Kinh Vệđà
- Giai đoạn từ thế kỷ VI tr.c.n - VI, là thời kỳ cổ điển, hay còn gọi là thời kỳBàlamôn - Phật giáo Đây là thời kỳ hình thành các trào lưu triết học tôn giáo lớncủa Ấn Độ, gồm hai trường phái lớn đối lập nhau Trường phái triết học chínhthống (thừa nhận uy quyền tuyệt đối của kinh Véda) gồm 6 phái là Sámkhuya,Mimànsa, Vedànta, Yoga, Nyanya và Vaisésika Trường phái triết học không chínhthống (không thừa nhận uy quyền của kinh Véda) gồm 3 trường phái là Jaina giáo,đạo Phật và Lokayàta
Sự phát triển của các tư tưởng triết học Ấn Độ cổ đại không chỉ gắn liền vớiviệc giải quyết những vấn đề do đời sống xã hội đặt ra mà còn luôn gắn liền vớinhững tiến bộ của khoa học Ngay từ thời Vệđà khoa học tự nhiên bắt đầu xuấthiện như Thiên văn học (tạo ra lịch pháp, phỏng đoán trái Đất hình cầu và tự quayquanh trục của nó); cuối thế kỷ V tr.c.n đã giải thích được hiện tượng nhật, nguyệtthực; phát minh ra chữ số thập phân; tính được số p; biết được những định luật cơbản về quan hệ giữa cạnh với đường huyền của tam giác vuông, giải được phươngtrình bậc 2, 3; y học phát triển (trong kinh Vệđà người ta thấy tên và cách sử dụngnhiều cây thuốc để chữa bệnh); nghệ thuật kiến trúc Ấn Độ để lại phong cách độcđáo, đặc biệt là lối xây dựng Chùa, tháp Phật vừa có ý nghĩa triết học, tôn giáo vừabiểu hiện ý chí, vương quyền Những năm đầu công nguyên, văn hoá Ấn Độ đãphát triển lên một bước mới do sự giao lưu với Hy Lạp - La Mã và với các nướckhác trên thế giới
- Giai đoạn từ thế kỷ VII - XVIII, là thời kỳ sau cổ điển hay còn gọi là thời
kỳ xâm nhập của Hồi giáo
+ Từ thế kỷ VII, Đạo Hồi xâm nhập vào Ấn Độ, tạo nên cuộc cạnh tranhảnh hưởng quyết liệt giữa đạo Phật, đạo Bàlamôn và đạo Hồi
+ Đạo Phật suy yếu dần, còn đạo Bàlamôn chuyển thành đạo Hinđu vào thế
kỷ XII
Trang 82 Một số nội dung triết học Ấn Độ cổ, trung đại
a Tư tưởng bản thể luận
- Bản thể luận thần thoại, tôn giáo
+ Người Ấn Độ cổ đại tạo nên các vị thần có tính tự nhiên Có những vịtượng trưng cho sức mạnh của lực lượng tự nhiên; có những vị dùng các vị thần để
lý giải các hiện tượng xã hội, luân lý, đạo đức Trong vũ trụ tồn tại thiên giới, trầnthế và địa ngục, giữa chúng có mối liên hệ với nhau Các thần khác nhau là sự thểhiện khác nhau của một Thượng Đế toàn năng duy nhất Người Ấn Độ cổ đại cúngthần không chỉ vì mê tín, mà còn vì lòng tin; qua biểu tượng các vị thần họ phântích, lý giải các hiện tượng tự nhiên, sự thay đổi của vũ trụ theo nguyên lý thíchhợp (rita) do các thần chi phối
+ Về sau, quan niệm về các vị thần có tính chất tự nhiên được thay thế bằngThần sáng tạo tối cao (Brahman) và Tinh thần tối cao (Bahman) Brahman đối lậpvới thần huỷ diệt Shiva Shiva đối lập với thần bảo vệ Vishnu Sáng tạo, huỷ diệt
và bảo tồn là ba mặt thống nhất trong quá trình biến hoá của vũ trụ Như vậy, quátrình hình thành, phát triển tư tưởng triết học tôn giáo đi từ sự giải thích các sự vật,hiện tượng tự nhiên thông qua các vị thần cụ thể tới cái chung, cái bản chất là Thầnsáng tạo tối cao hay Tinh thần tối cao và đó là bước chuyển thế giới quan, từ thầnthoại tôn giáo sang triết học
- Tư duy triết học về bản thể luận
+ Nội dung cơ bản của kinh Upanisad (có tài liệu viết Upanishad có nghĩa làngồi nghiêm trang để cùng giảng giải lý thuyết cao siêu, huyền bí với thầy) là cơ sởtriết lý cho đa số các hệ thống triết học tôn giáo Ấn Độ Theo đó, Brahman là thựctại đầu tiên, tối cao nhất; là bản nguyên, căn nguyên, là linh hồn, là nguồn sống, làbản chất nội tại của mọi cái Sự vật, hiện tượng dù đa dạng, phong phú đến mấy, kể
cả con người, đều là các dạng của Brahman Linh hồn con người (Atman) cũng làmột bộ phận của Brahman, còn cơ thể (nhục thể) con người là vỏ bọc của linh hồn,nhưng do con người lầm tưởng linh hồn là cái khác với Linh hồn tối cao nên hammuốn dục vọng và hành động để thoả mãn dục vọng đó, gây ra hậu quả, gieo đâukhổ cho kiếp này và kiếp sau (gọi là nghiệp báo) Do vậy, linh hồn cứ bị giam hãmhết trong thể xác này rồi trong thể xác kia, luân hồi mãi mà không trở về với mình
là Brahman được Muốn linh hồn được giải thoát khỏi nghiệp báo, luân hồi; thoátkhỏi đời sống nhục dục để quay về với mình là Brahman, con người phải toàn tâm,toàn ý tu luyện hành động và tu luyện tri thức để siêu thoát
+ Kinh Upanisad chia nhận thức Bản thể tuyệt đối tối cao của vũ trụ thànhtrình độ nhận thức hạ trí gồm các tri thức khoa học thực nghiệm, ngữ pháp, luậthọc, bốn tập kinh Vệđà dùng để phản ánh sự vật, hiện tượng hữu hình, hữu hạn;trình độ nhận thức này là phương tiện để đạt tới trình độ nhận thức thượng trí.Trình độ nhận thức thượng trí có thể nhận biết được Brahman và khi đã nhận biết
Trang 9được Brahman, nhận thức được chân tướng của các sự vật, hiện tượng và chân tínhcủa mình thì con người đạt đến giác ngộ, giải thoát
b Tư tưởng giải thoát của triết học tôn giáo Ấn Độ
Vấn đề cơ bản nhất trong triết học Ấn Độ cổ, trung đại là bản chất, ý nghĩa
cuộc sống; là nguồn gốc nỗi khổ của con người và con đường, cách thức giải thoátcon người khỏi bể khổ Giải thoát là giải thoát trạng thái tinh thần, tâm lý, đạo đứccủa con người thoát khỏi sự ràng buộc của thế giới trần tục và nỗi khổ của cuộcđời; giải thoát khỏi luân hồi- nghiệp chướng của con người
- Cội nguồn của tư tưởng giải thoát là do điều kiện tự nhiên, hoàn cảnh kinh
tế - xã hội quy định; do tính hướng nội, đi sâu khái quát đời sống tâm linh của con
người của các nhà tư tưởng Ấn Độ cổ, trung đại.
- Trong các trường phái triết học khác nhau, phương tiện, con đường, cáchthức có thể khác nhau, nhưng đều có mục đích chung là giải thoát con người khỏiluân hồi- nghiệp chướng
+ Tư tưởng giải thoát manh nha từ thời Rig Vệđà (1500 - 1000 tr.c.n) đếnBrahman (1000 - 800 tr.c.n) và phát triển trong kinh Upanisad (800 - 500 tr.c.n) vàđược các trường phái triết học thời kỳ Bàlamôn - Phật giáo (VI tr.c.n - VI) khaithác Nội dung triết lý, khuynh hướng giáo lý và quan điểm đạo đức nhân sinhkhác nhau, nhưng dường như tất cả các trường phái đều tìm kiếm, phát hiện và trở
về với bản chất và lương tâm của chính mình khi con người lãng quên chúng bởicòn vô minh, tham dục
+ Cách thức và con đường giải thoát của các trường phái triết học khácnhau; Kinh Vệđà tôn thờ và cầu xin sự phù hộ của thần linh; kinh Upanisad đồngnhất giữa linh hồn con người (Atman) với vũ trụ (Brahman); Mimànsa giải thoátbằng nghi thức tế tự và chấp hành nghĩa vụ xã hội, tôn giáo; Yôga giải thoát bằng
tu luyện về thể xác; Jaina giải thoát bằng tu luyện đạo đức (không sát sinh, không
ăn cắp, không nói dối, không dâm dục, không tham lam); Lokayàta giải thoát bằngcách phủ nhận quan điểm linh hồn bất tử, nghiệp chướng luân hồi, chấp nhận cuộcsống có hạnh phúc và có đau khổ; đạo Phật giải thoát bằng tu luyện trí tuệ, thiềnđịnh và tu luyện đạo đức theo giới luật để diệt trừ tham dục, tâm hồn thanh tịnh,hoà nhập vào niết bàn
Như vậy, tư tưởng giải thoát trong triết học Ấn Độ cổ, trung đại thể hiện tính
nhân văn sâu sắc Tuy mới chỉ giải thoát về mặt tư tưỏng nhưng tư tưởng giải thoát
đó đã phản ánh những yêu cầu của đời sống xã hội Ấn Độ đương thời.
3 Đặc điểm cơ bản của triết học Ấn Độ cổ, trung đại
- Triết học Ấn Độ cổ, trung đại đã lý giải căn nguyên của vũ trụ; các họcthuyết kế thừa tư tưởng của nhau, tạo nên những khái niệm, phạm trù triết học - tôngiáo cơ bản, mang tính truyền thống, chịu sự chi phối mạnh mẽ của kinh Vệđà vàcác tôn giáo lớn của Ấn Độ cổ, trung đại
Trang 10- Triết học Ấn Độ cổ, trung đại có nội dung tư tưởng và hình thức đa dạng,phản ánh đời sống xã hội Ấn Độ đương thời; hầu hết các trường phái triết học Ấn
Độ cổ, trung đại đều tập trung lý giải bản chất đời sống tâm linh; tìm căn nguyênnỗi khổ của cuộc đời, chỉ ra cách thức, con đường để giải thoát khỏi những nỗi khổđó
- Triết học Ấn Độ cổ, trung đại được nhân dân Ấn Độ vận dụng và đượctruyền bá rộng rãi tới nhiều quốc gia trên thế giới
II TRIẾT HỌC TRUNG QUỐC CỔ, TRUNG ĐẠI
1 Điều kiện ra đời và phát triển của triết học Trung Quốc cổ, trung đại
Trung Quốc là một trong những chiếc nôi văn minh của nhân loại, là trung
tâm văn hoá và triết học rực rỡ, phong phú của phương Đông Sự hình thành vàphát triển của các tư tưởng triết học Trung Quốc cổ, trung đại gắn liền với quátrình biến đổi của điều kiện kinh tế - xã hội, văn hoá và sự phát triển của nhữngmầm mống khoa học tự nhiên trong xã hội Trung Quốc qua từng thời kỳ
a Điều kiện ra đời của triết học Trung Quốc cổ, trung đại
- Điều kiện tự nhiên Trung Quốc cổ, trung đại là một quốc gia rộng lớn,
phía Bắc xa biển, khí hậu khắc nghiệt, đất đai khô cằn; phía Nam có sông Hoàng
Hà, Dương Tử, khí hậu thuận lợi; phía Đông là biển với địa hình phức tạp; phíaTây là các dãy núi cao
- Điều kiện kinh tế - xã hội và văn hoá
+ Thời Xuân thu (770 - 475 tr.c.n), công cụ lao động và sự phân công laođộng đã phát triển khá mạnh; có lưỡi cày bằng sắt và đã dùng bò kéo, thuỷ nônggóp phần nâng cao năng suất lao động, chăn nuôi đã tách khỏi tách khỏi trồng trọt;thủ công nghiệp và thương nghiệp phát triển, xuất hiện các nghề mới như luyệnkim, đúc, rèn sắt, nhôm, đồ gốm; nông dân vỡ hoang tạo ra nhiều số lượng ruộng
tư, quý tộc phong kiến chiếm đoạt đất công tạo ra chế độ sở hữu tư nhân về ruộngđất Trung Quốc cổ, trung đại bị chia ra thành các nước Tề, Tấn, Tần, Sở, Tống và
về sau thêm Ngô, Việt Người dân càng đói khổ hơn vì các cuộc chiến tranh đó + Thời Chiến quốc (475 - 221 tr.c.n), công cụ và sự phân công lao độngphát triển mạnh hơn Nghề luyện sắt hưng thịnh; buôn bán phát triển tạo nên những
đô thị và các làng xóm bên các bờ sông; các nghề thủ công như đồ gốm, chạm bạc,ươm tơ, dệt lụa và đúc tiền ra đời; các công trình thuỷ lợi được xây dựng nhiều tạicác lưu vực sông Hoàng Hà đến Dương Tử Chế độ tự do mua, bán ruộng đất tạo rahình thức bóc lột phát canh, thu tô, quan hệ sản xuất nông nô xuất hiện và dầnchiếm ưu thế trong đời sống xã hội Trong giai đoạn đầy biến động đó của lịch sửTrung Quốc cổ, trung đại, xuất hiện một loạt những vấn đề đặt ra cho các nhà tưtưởng lớn
b Quá trình hình thành và phát triển của triết học Trung Quốc cổ, trung đại
Trang 11- Mầm mống tư tưởng triết học Trung Quốc Triết học Trung Quốc cổ đại
ra đời từ cuối thiên niên kỷ II đầu thiên niên kỷ I tr.c.n khi xã hội đánh dấu sự tan
rã của chế độ nô lệ và bắt đầu hình thành các quan hệ xã hội phong kiến phức tạp.Tính chất phức tạp đó của xã hội được phản ánh trong tính phức tạp của triết họcTrung Quốc
+ Vào thời Tam đại (Hạ, Thương, Chu, từ thiên niên kỷ II - I tr.c.n), nhữngbiểu tượng tôn giáo - triết học xuất hiện với những biểu tượng về Đế, Thượng Đế,Thiên mệnh, Quỷ thần v.v
+ Đầu thiên niên kỷ I xuất hiện thêm những biểu tượng về Âm dương - Ngũhành Cuộc đấu tranh giữa các quan điểm của các trường phái diễn ra xung quanhcác biểu tượng đó và diễn ra quanh vấn đề khởi nguyên của thế giới[1]; vấn đề conngười và số phận con người; vấn đề đạo đức, tri thức v.v
- Vào thời Đông Chu (Xuân Thu - Chiến Quốc, 770 - 221 tr.c.n), tư tưởngtriết học có hệ thống được hình thành và là những mầm mống ban đầu của các loạithế giới quan và phương pháp luận của văn hoá Trung Quốc cổ, trung đại Đây làthời kỳ xuất hiện nhiều học thuyết chính trị - xã hội, triết học, có đến 6 trường pháitriết học chủ yếu là Nho gia, Đạo gia, Mặc gia, Pháp gia, Danh gia và Âm Dương
gia (Kinh học của Khổng tử; Huyền học củaLão tử; Âm Dương gia của Trâu Diễn
và những người khác; Phật học rồi về sau là Lý học, Thực học v.v) và chúng khôngngừng đấu tranh với nhau
2 Một số nội dung triết học Trung Quốc cổ, trung đại
a Tư tưởng bản thể luận
Tuy không rõ ràng như các nền triết học khác trong thế giới nhưng tư tưởng
về bản thể luận trong triết học Trung Quốc cổ, trung đại cũng có những đặc điểmcủa mình
- Trong Nho gia, Trời, Đạo Trời và Mệnh Trời được Khổng Tử làm chỗdựa khi luận bàn đến các vấn đề thuộc chính trị, đạo đức và xã hội Những quanniệm đó được các nhà triết học hậu thế bổ sung khác nhau Mạnh Tử coi mệnh Trờisinh ra con người và thế giới, Trời quy định số phận con người; Tuân Tử cho rằngTrời Đất hợp lại thì sinh ra vạn vật, âm dương giao tiếp với nhau thì sinh ra biếnhoá; Vương Sung, Trương Tải đều coi nguyên khí là yếu tố đầu tiên, là nguồn gốccủa thế giới
- Trong Đạo gia, Đạo là bản nguyên của thế giới theo trình tự đạo sinh một,một sinh hai, hai sinh ba, ba sinh ra vạn vật Trong Âm Dương gia, âm dương làhai khí, hai nguyên lý tác động qua lại với nhau làm sản sinh ra vạn vật Kinh Dịch
bổ sung thêm Thái cực, theo đó tiến hoá trong vũ trụ theo lịch trình Thái cự sinhLưỡng nghi, Lưỡng nghi sinh Tư tượng; Tư tượng sinh Bát quái, Bát quái sinh vạnvật (384 sự vật, hiện tượng)
b Tư tưởng về mối quan hệ giữa vật chất với ý thức
Trang 12Tư tưởng về mối quan hệ giữa vật chất với ý thức được thể hiện trong cáccặp Thần - Hình, Tâm - Vật, Lý - Khí.
- Thần - Hình xuất hiện thời Hán với quan điểm Thần là bản nguyên củaHình, Hình là phái sinh từ Thần của Đổng Trọng Thư Ngược lại, Vương Sung phêphán quan điểm trên của Đổng Trọng Thư và khẳng định rằng không thể tồn tạitinh thần vô hình; Trọng Thường Thông coi thần học, mê tín là do những kẻ thốngtrị đề xướng
- Tâm - Vật xuất hiện thời Tuỳ - Đường, khi Đạo Phật làm chủ nền triết họcTrung Quốc Đạo Phật coi Tâm là bản nguyên của thế giới, nghĩa là mọi sự vật,hiện tượng trong thế giới đều do thanh tịnh tâm tuỳ duyên mà sinh ra Ngược lại,một số nhà tư tưởng khác cho rằng có Vật thì mới có Tâm, Tâm có dựa vào Vật thìmới tồn tại được; thậm chí Trương Tải lại coi Tâm của Đạo Phật chỉ là sự chủquan, bịa đặt
- Lý - Khí xuất hiện thời Tống Lý học là hình thái ý thức giữ vai trò chủđạo trong xã hội phong kiến thời Tống Theo Trình Hạo và Trình Di, Lý là cái cótrước, sinh ra tất cả Ngược lại Vương Phu Chi phủ định Lý học và chỉ rõ mối quan
hệ giữa đạo và khí là quy luật chung của sự vật, hiện tượng vật chất
c Tư tưởng biện chứng
Triết lý duy vật biện chứng của triết học Trung Quốc cổ, trung đại đã cónhững ảnh hưởng sâu sắc đến thế giới quan triết học không những của người TrungQuốc, mà còn của những người chịu ảnh hưởng của triết học Trung Quốc
Biến dịch là quan niệm chung của triết học Trung Quốc cổ, trung đại, theo
đó, Trời Đất, vạn vật luôn vận động và biến đổi với nguyên nhân là giữa Trời Đấtvới vạn vật vừa đồng nhất, vừa mâu thuẫn với nhau Lão Tử cho rằng vũ trụ vậnđộng, biến đổi theo luật bình quân và luật phản phục, trong đó luật bình quân giữcho vạn vật được thăng bằng theo lẽ tự nhiên; luật phản phục dùng để chỉ sự quaytrở lại phương hướng cũ sau khi sự vật, hiện tượng đã phát triển đến cực điểm.Trong Kinh Dịch, sự biến hoá của vạn vật tuân theo quy trình từ không rõ ràng ->
rõ ràng -> sâu sắc -> kịch liệt -> cao điểm -> mặt trái Vương An Thạch cho rằngmâu thuẫn nội, ngoại của Ngũ hành là nguyên nhân cơ bản và vô cùng của sự biếnhoá của vạn vật Vương Đình Tương cho rằng động lực của vận động, biến hoá củavạn vật là do khí ân dương không đồng đều nhau v.v
Trang 13đặt Tên Huệ Thi coi Thực to đến mức không có cái bên ngoài gọi là đại nhất, nhỏđến mức không có cái bên trong gọi là tiểu nhất Ngược lại, Công Tôn Long bắtđầu từ Danh, nhấn mạnh sự khác nhau giữa từ và khái niệm.
đ Tư tưởng về con người và xây dựng con người
- Tư tưởng về con người
+ Vấn đề nguồn gốc con người, Khổng Tử và Mặc Tử đều coi con người doTrời sinh ra và bị quy định bởi Mệnh Trời “Nhân giã kỹ thiên địa chi đức, âmdương chi giao, quỷ thần chi hội, ngũ hành chi trí khí giã- Con người là cái đức củaTrời Đất, sự giao hợp của âm dương, sự tụ hội của quỷ thần, cái khí tinh tú của ngũhành” Lão Tử Đạo sinh ra Trời, Đất, Người, Vạn vật Trang Tử cho rằng ở mỗi vậtđều có cái đức tự sinh, tự hoá ở bên trong
+ Vấn đề xác định vị trí và vai trò của con người trong mối liên hệ với Trời,Đất, Người, Vạn vật trong vũ trụ, Lão Tử cho rằng trong vũ trụ có bốn cái lớn làĐạo lớn, Trời lớn, Đất lớn, Người cũng lớn Khổng Tử và Mặc Tử đều coi con ng-ười do Trời sinh ra nhưng sau đó cùng với Trời và Đất tạo nên ba ngôi tiêu biểucho mọi sự vật, hiện tượng vật chất và tinh thần
+ Vấn đề quan hệ giữa Trời với Người được thể hiện trong các quan điểm1) quan điểm cho rằng Mệnh Trời chi phối cuộc sống của con người và xã hội loàingười, Trời an bài địa vị xã hội của con người 2) Thuyết Thiên Nhân cảm ứng chorằng Trời là chủ tể của việc người Ngược lại, quan điểm Thiên Nhân hợp nhất lạicho rằng Trời với Người là một, trong đó con người phải theo Trời, lấy phép tắccủa Trời làm mẫu mực, coi Thiên Đạo là Nhân Đạo, người đời phải ăn ở phù hợpvới Đạo Trời 3) Lão Tử cho rằng con người phải sống và hành động theo lẽ tựnhiên, không can thiệp và không làm trái với bản tính tự nhiên Kinh Dịch đưa raquan niệm Trời, Đất, Muôn Vật là nhất thể để có thể từ bản thân mà suy ra tìm hiểuđược Trời, Đất và Muôn Vật 4) Đối lập với các quan điểm trên là quan điểm ThiênNhân bất tương quan của Tuân Tử, ông cho rằng Đạo Trời không quan hệ gì vớiĐạo Người; trị, loạn không phải tại Trời, Đất, nếu biết chăm lo sản xuất, chi dùngđiều độ thì Trời không thể làm hại Người
+ Vấn đề bản tính con người cũng được chú trọng Khổng Tử coi tínhngười là gần nhau, do tập tành và thói quen nên mới xa nhau Mạnh Tử coi bảntính người là thiện (thuyết tính thiện), sự khác nhau giữa con người với cầm thú là
ở chỗ trong mỗi con người đều có phần cao quý và phần thấp hèn, phần cao quýlàm nên sự khác biệt giữa người với cầm thú Tuân Tử lại cho rằng ác (thuyết tínhác), con người sinh ra vốn ham lợi, dẫn đến tranh giành lẫn nhau, sinh ra đố kỵ,không có lòng trung tín thành dâm loạn, không có lễ nghĩa Cáo Tử lại coi là khôngthiện, không ác Vương Sung còn cho rằng thiện có thể biến thành ác và ác có thểbiến thành thiện Về sau, thuyết tính ác bị Hàn Phi cực đoan hoá, Lý Tư đã thựchành triệt để chính sách pháp trị, chuyên chế cực độ để giúp Tần Thuỷ Hoàngthống nhất Trung Quốc
Trang 14- Tư tưởng về xây dựng con người coi trọng sự nỗ lực của cá nhân, sự quantâm của giai đình và xã hội trong việc xây dựng con người.
+ Mục tiêu xây dựng con người của Nho gia hết sức thiết thực, giúp conngười xây dựng mình thông qua năm mối quan hệ cơ bản (Vua - tôi, cha - con, anh
- em, chồng - vợ, bạn hữu) và làm tròn trách nhiệm của mình trong năm mối quan
hệ ấy (Vua nhân, tôi trung, cha từ, con hiếu, anh lành, em đễ, chồng có nghĩa, vợvâng lời, bạn hữu phải có tín) Muốn vậy, phải tu thân, tề gia, trị quốc, bình thiên
hạ, trong đó tu dưỡng bản thân là hàng đầu Tu thân trước hết thể hiện trong mốiquan hệ của mình với gia đình, tiếp đó là trách nhiệm với nước, trung với Vua vàmục tiêu cuối cùng của tu thân là bình thiên hạ Phải thường xuyên trau dồi nămđức Nhân, Nghĩa, Lễ, Trí, Tín Sáu đức Hiếu, Đễ, Trung, Tín, Lễ, Nghĩa dành chocác đệ tử của Nho gia Ba đức Nhân, Trí, Dũng dành cho những người có trọngtrách, vị trí trong xã hội Trong tất cả những đức đó, nổi bật và quan trọng nhất làNhân, Lễ Tóm lại, theo Nho gia, con người phải xác định và làm tròn quan hệ củamình là Ngũ Luân (Vua - tôi, cha - con, anh - em, chồng - vợ, bạn hữu), trong đóVua - tôi, cha - con, chồng - vợ (Tam cương) là các quan hệ chính Trong Tamcương lại có hai quan hệ cơ bản là Vua - tôi, biểu hiện bằng đức Trung, cha - conbiểu hiện bằng đức Hiếu Con người phải thường xuyên trau dồi Ngũ thường(Nhân, Nghĩa, Lễ, Trí, Tín), đứng đầu Ngũ thường là Nhân, Nghĩa, trong đó Nhân
là chủ
+ Đạo gia coi bản tính của con người có khuynh hướng trở về cuộc sốngvới tự nhiên, do vậy phải trừ khử cái thái quá, nâng đỡ cái bất cập, sống thanh cao,gần giũ tự nhiên và tránh chạy theo cuộc sống vật chất Đạo Phật khuyên conngười sống hiền lành, không sát sinh, không làm hại người khác
e Tư tưởng về xã hội lý tưởng và con đường trị quốc
- Điển hình của tư tưởng này là xã hội đại đồng của Khổng Tử với đặctrưng cơ bản là xã hội thái bình, ổn định; có trật tự, kỷ cương; mọi người đượcchăm sóc bình đẳng và mọi cái đều là của chung; được đảm bảo đầy đủ về vật chất;quan hệ tốt đẹp giữa người với người; xã hội có giáo dục, mọi người đều được giáohoá Muốn vậy, phải có Vua đứng đầu, hiểu Đạo và hành Đạo là trên dưới thuậnhoà; Hiếu, Đễ làm gốc là mọi nhà nhân hậu, thiên hạ được yên
- Đường lối trị nước theo Thuyết Nhân trị và Thuyết Pháp trị
+ Nội dung cơ bản của Thuyết Nhân trị Thuyết Nhân trị chủ trương lấyđạo đức làm căn bản trong việc cai trị Những người cầm quyền quy định sự hưngthịnh, suy vong của đất nước; do vậy những người cầm quyền phải có khả năng vàđức hạnh Theo Thuyết Nhân trị, những người cầm quyền phải lấy đạo đức để giáohoá, dẫn dắt dân chúng mà không dùng cách cai trị cưỡng chế, trừng phạt Biện
Trang 15pháp cơ bản để thực hiện Nhân trị là Chính danh, Lễ, vai trò của những người cầmquyền và vai trò của dân chúng với tư cách là gốc, là nền tảng của chính trị.
+ Nội dung cơ bản của Thuyết Pháp trị Thuyết Pháp trị chủ trương lấypháp luật làm căn bản trong việc cai trị Do bản tính con người là yếu hèn, thấpkém, dễ mắc sai lầm nên phải dùng pháp luật áp dụng cho đồng đều, không thiên
vị, không phân biệt đẳng cấp xã hội Những người cầm quyền phải có khả năng đặt
ra pháp luật rõ ràng và ban bố cho mọi người cùng biết để thực hiện, do vậy xã hộicần có minh quân sáng suốt, am hiểu nguyên tắc pháp trị và chiụ khép mình theonguyên tắc đó
3 Đặc điểm cơ bản của triết học Trung Quốc cổ, trung đại
- Nhấn mạnh sự hài hoà giữa tự nhiên với con người, với xã hội
- Nhấn mạnh vấn đề chính trị đạo đức
- Các quan điểm, tư tưởng triết học Trung Quốc cổ, trung đại thường dùngchâm ngôn, ngụ ngôn, ẩn ngữ để diễn đạt tư tưởng của mình Cách diễn đạt đạt ýquên lời, ý ở ngoài lời mở ra sự suy ngẫm Châm ngôn, ngụ ngôn, ẩn ngữ khôngthể khúc chiết, mạch lạc nhưng bù lại, sức mạnh và tính chất sâu xa của tư tưởngtriết học ẩn náu trong đó là sự gợi ý thâm trầm, sâu rộng dường như vô biên củachúng
III LỊCH SỬ TƯ TƯỞNG TRIẾT HỌC VIỆT NAM
1 Điều kiện hình thành, phát triển và đặc điểm của tư tưởng triết học Việt Nam
a Điều kiện hình thành và phát triển của lịch sử tư tưởng triết học Việt Nam
- Điều kiện tự nhiên Nằm ở đông nam châu Á, vị trí tạo cơ sở tự nhiên cho
sự giao lưu văn hoá, thông thương thương nghiệp giữa Việt Nam với Trung Quốc,
b Những đặc điểm chủ yếu của lịch sử tư tưởng triết học Việt Nam
Trang 16- Đặc điểm của quá trình hình thành và phát triển tư tưởng triết học ViệtNam.
Quá trình hình thành và phát triển tư tưởng triết học Việt Nam trải qua hơnhai nghìn năm từ đầu công nguyên, đặc biệt là từ thế kỷ X đến nay, là quá trìnhcùng phát triển và hợp nhất giữa xu hướng tự thân với xu hướng tiếp nhận các tưtưởng triết học từ bên ngoài Trong quá trình hình thành và phát triển tư tưởng triếthọc Việt Nam, nhiều quan điểm của Nho gia từ Trung Quốc và Đạo Phật từ Ấn Độ
đã đóng góp vai trò đặc biệt quan trọng Từ thế kỷ XX, triết học Mác - Lênin nóiriêng và chủ nghĩa Mác - Lênin là các yếu tố chủ đạo trong tư tưởng triết học ViệtNam
- Đặc điểm về nội dung tư tưởng triết học Việt Nam Toàn bộ ý thức hệViệt Nam trong lịch sử đều xoay quanh nhu cầu cố kết cộng đồng dân cư làng xã,cộng đồng quốc gia dân tộc và nhu cầu học tập nước ngoài nhằm bảo vệ độc lậpdân tộc Do vậy, chủ nghĩa yêu nước với nội dung cơ bản là tư tưởng về cố kếtcộng đồng và chủ quyền quốc gia luôn được xác định ở vị trí trung tâm của lịch sử
tư tưởng và văn hoá Việt Nam
- Đặc điểm về hình thức thể hiện tư tưởng triết học Việt Nam Tư tưởngtriết học Việt Nam, ngoài sự thể hiện trong hình thức trước tác lý luận của các nhàtriết học như bất kỳ hệ thống triết học nào khác trên thế giới, còn thể hiện thôngqua nhiều hình thức khác, phong phú và đa dạng Những điều đó đòi hỏi khinghiên cứu lịch sử tư tưởng triết học Việt Nam, cần sử dụng phương pháp liênngành, trước hết là của khoa học xã hội và nhân văn
2 Những nội dung cơ bản của lịch sử tư tưởng triết học Việt Nam
a Những tư tưởng triết học chính trị, đạo đức và nhân văn trong lịch
sử tư tưởng triết học Việt Nam
- Tư tưởng yêu nước trong lịch sử tư tưởng triết học Việt Nam không chỉ là
tư tưởng chính trị, mà còn là tư tưởng đạo đức và nhân văn cao cả, trở thành chủnghĩa yêu nước và là một trong những nội dung của lịch sử tư tưởng Việt Nam
- Chủ nghĩa yêu nước Việt Nam là ý thức về dân tộc và độc lập dân tộc; vềmột quốc gia ngang hàng với phương Bắc và về nguồn gốc, động lực của côngcuộc cứu nước, giữ nước (Ý thức về dân tộc và độc lập dân tộc; về một quốc giangang hàng với phương Bắc được hình thành và dần được nâng cao trong các giaiđoạn lịch sử mới, mỗi khi dân tộc giành được quyền độc lập, tự chủ (Lý ThườngKiệt, Nguyễn Trãi v.v)
- Nguồn gốc, động lực của công cuộc cứu nước, giữ nước với tư tưởng trọngdân (Lý Công Uẩn, Lý Phật Mã, Trần Nhân Tông, Nguyễn Trãi, Hồ Chí Minh) Tưtưởng này là cơ sở của đường lối đề cao Nhân, Nghĩa và cho biện pháp nhằm hạnchế mâu thuẫn giai cấp trong xã hội)
Trang 17- Quan niệm về đạo làm người trong lịch sử tư tưởng triết học Việt Nam làvấn đề liên quan mật thiết với việc xác định cơ sở tư tưởng cho hành động chínhtrị, đạo đức và nhân sinh Tư tưởng về đạo làm người được hình thành nhờ tiếp thuĐạo Nho, Đạo Phật và Đạo Lão Trong từng giai đoạn lịch sử cụ thể, vai trò nổitrội của mỗi tư tưởng được thể hiện rõ nét Thời Lý - Trần, Đạo Phật và Đạo Lão
có xu hướng phát triển và nổi trội hơn Đạo Nho; ngược lại, thời Lê - Nguyễn ĐạoNho lại được tôn vinh hơn Mỗi nhà tư tưởng, khi phò Vua, giúp nước thường chịuảnh hưởng của Đạo Nho; khi về cáo lão hoặc khi đất nước thanh bình lại thườngchịu ảnh hưởng của Đạo Phật và Đạo Lão
b Một số tư tưởng triết học Đạo Phật trong lịch sử tư tưởng triết học Việt Nam
Dựa vào các tài liệu còn lại, có thể nói rằng quan niệm về thế giới và nhânsinh quan của Ấn Độ, do Trung Quốc truyền bá, là hai bộ phận tạo nên tư tưởngtriết học Đạo Phật Việt Nam, trong đó quan niệm về thế giới là nội dung cơ bảntrong tư tưởng triết học thời Lý - Trần
- Quan niệm về thế giới Các phạm trù triết học của phái Thiền tông là BảnThể Chân Như, Thực Tướng, các Pháp hoặc bản thể Như Lai, trong đó Bản ThểChân Như là nguyên lý thống nhất của thế giới Thế giới các sự vật, hiện tượng(Pháp Hữu Vi) luôn biến đổi không ngừng, nhưng tất cả chúng đều là sự thể hiệncủa Bản Thể Chân Như; do vậy, muốn nhận thức được Bản Thể Chân Như cầnphải vượt qua Pháp Hữu Vi và khi đó con người sẽ đạt tới sự Giác ngộ Muốn có
sự Giác ngộ thì phải trải qua con đường siêu việt qua Pháp Hữu Vi Đây là tưtưởng biện chứng về thế giới đa dạng của những khác biệt và mâu thuẫn, nhưngtheo bản chất thì chúng thống nhất với nhau
- Nhân sinh quan Triết học nhân sinh của Đạo Phật Việt Nam thể hiện quaphạm trù Từ Bi trong triết học Đại Thừa Nội dung cơ bản của Từ Bi là tinh thầnbao dung giữa con người với nhau cũng như với muôn loài vô tình hay hữu tình
Từ giác ngộ Từ Bi sinh ra hệ quả là tinh thần cứu độ chúng sinh, một tinh thầnthực tiễn của tư tưởng nhân văn Đạo Phật Với tư tưởng Từ Bi, triết học Đạo PhậtViệt Nam đã góp phần tạo dựng cơ sở lý luận cho tư tưởng Nhân ái Việt Nam, vốn
đã có cơ sở thực tiễn từ lịch sử cố kết cộng đồng làng xã, dân tộc
c Một số tư tưởng triết học Nho giáo trong lịch sử tư tưởng triết học Việt Nam
Triết học Nho gia bao gồm hai bộ phận cơ bản cấu thành là Hình nhithượng học và Hình nhi hạ học Hình nhi thượng học với khuynh hướng nghiêncứu triết lý sâu về thế giới và có ảnh hưởng quan trọng đến các nhà tư tưởng ViệtNam như Nguyễn Bỉnh Khiêm, Ngô Thời Nhậm v.v Hình nhi hạ học với khuynhhướng nghiên cứu triết lý sâu về chính trị và đạo đức nhằm xác lập ý thức cai trịphong kiến theo mô hình tập quyền cao độ Nhiều tư tưởng trong các quan điểm về
Trang 18chính trị, đạo đức của Nho gia như tư tưởng thương dân, trọng dân, coi dân là gốc;
tư tưởng nhân, nghĩa trong đời sống chính trị - xã hội; tư tưởng về mối quan hệchồng - vợ và các phạm trù đạo đức như Trung, Hiếu, Lễ, Nghĩa v.v được kế thừa
và cải biến, đôi khi thay đổi cả nội ham của chúng theo tinh thần thực tiễn của dântộc
d Sự đối lập giữa thế giới quan duy vật với thế giới quan duy tâm, giữa thế giới quan triết học với thế giới quan tôn giáo trong lịch sử tư tưởng triết học Việt Nam
Sự hình thành, phát triển của tư tưởng triết học diễn ra trong sự thống nhất,nhưng có sự đối lập và đấu tranh giữa thế giới quan duy vật với duy tâm; triết họcvới tôn giáo Tư tưởng triết học duy tâm kết hợp với các tư tưởng tôn giáo là thếgiới quan bao trùm; còn thế giới quan duy vật và chủ nghĩa vô thần chỉ thể hiệntrong phạm vi cụ thể Chủ nghĩa duy tâm và tôn giáo có luận lý sâu sắc và có tính
hệ thống cao, còn chủ nghĩa duy vật và vô thần chỉ là những yếu tố nhận thứcmang nặng tính kinh nghiệm, ngẫu nhiên Cuộc đấu tranh giữa các quan điểm duyvật với các quan điểm duy tâm thể hiện trong việc giải quyết mối quan hệ giữaTâm với Vật; giữa Linh hồn với Thể xác; giữa Lý với Khí v.v Trong lịch sử tưtưởng triết học Việt Nam, các phạm trù Mệnh Trời, Nghiệp, Kiếp, Linh hồn, Thểxác được sử dụng đan xen, giao thoa của các tư tưởng của Nho gia - Đạo Phật -Đạo Lão - Tín ngường dân gian
3 Vai trò của Hồ Chí Minh đối với sự phát triển của tư tưởng triết học Việt Nam
- Hồ Chí Minh đến với chủ nghĩa Mác - Lênin
Nhu cầu của dân tộc trong giai đoạn thực dân Pháp xâm lược và đô hộ ViệtNam là lý giải sự thất bại của triều đại phong kiến nhà Nguyễn và tìm đường cứunước, giải phóng dân tộc Trước sự thất bại của các tư tưởng và phương pháp ĐạoNho, Đạo Phật và Tư sản, Hồ Chí Minh ra nước ngoài tìm những lý luận, biệnpháp có khả năng thực tế để đáp ứng nhu cầu của dân tộc trong giai đoạn thực dânPháp xâm lược và đô hộ Việt Nam Hồ Chí Minh đánh giá về chủ nghĩa Mác -Lênin và đến với chủ nghĩa Mác - Lênin là một tất yếu lịch sử
- Hồ Chí Minh vận dụng s��ng tạo triết học Mác - Lênin vào cách mạngViệt Nam
Sử dụng thế giới quan duy vật biện chững và phép biện chứng duy vật để lýgiải đúng đắn và khoa học những vấn đề mà lịch sử Việt Nam cận đại đặt ra, màđỉnh cao của nó là hệ thống các quan điểm toàn diện và sâu sắc về những vấn đề cơbản của cách mạng Việt Nam như giải phóng giai cấp, giải phóng con người; vềđộc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội Với tư tưởng Hồ Chí Minh, lịch sử
tư tưởng triết học Việt Nam bước sang giai đoạn phát triển mới./
Trang 19CHƯƠNG III KHÁI LƯỢC LỊCH SỬ TRIẾT HỌC PHƯƠNG TÂY
PGS.TS Trần Văn Thuỵ, Trường Đại học Y Hà Nội,
TS Phạm Văn Sinh, Trường Đại học Kinh tế Quốc dân Hà Nội
-Người trình bày: Tiến sỹ Trần Đăng Sinh, Chủ nhiệm Bộ môn Triết học, Khoa Giáo dục Chính trị, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội Điện thoại 0912206853.
Đối tượng: Học viên cao học ngành Kinh tế, Sư phạm v.v.
Thời lượng: 8 tiết trên lớp, 2 tiết tự học (Giảng viên nêu những vấn đề
tự học).
Thời gian: 17g30 các tối thứ 6 (15/12/06) và Chủ nhật (17/12/06).
Địa điểm: Hội trường 8, Nhà B4, Trường Đại học Ngoại ngữ.
-I TRIẾT HỌC HY LẠP CỔ ĐẠI
1 Điều kiện ra đời và phát triển của triết học Hy Lạp cổ đại
- Điều kiện tự nhiên Hy Lạp cổ đại là một vùng đất rộng, bao gồm miềnNam bán đảo Bancăng, nhiều đảo trên biển Êgie và cả miền ven biển của bán đảoTiểu Á Điều kiện tự nhiên và khí hậu thuận lợi giúp các ngành nông nghiệp, thủcông nghiệp và thương nghiệp phát triển rất sớm Xã hội Hy Lạp cổ đại tồn tại vàphát triển trong sáu thế kỷ (từ thế kỷ VIII đến thế kỷ III tr.c.n), còn từ thế kỷ XVđến thế kỷ IX tr.c.n, chế độ cộng sản nguyên thuỷ tan rã và hình thành chế độchiếm hữu nô lệ Đây là thời kỳ xẩy ra nhiều biến động lớn về kinh tế và thể chế xãhội, những biến động này được ghi lại trong hai tập thơ Iliát và Ôđixê của Hôme
- Điều kiện kinh tế - xã hội và văn hoá Các thành thị của Hy Lạp cổ đại rađời và tồn tại với tư cách là những quốc gia độc lập (300 quốc gia) Đến thế kỷ VI
- IV tr.c.n xuất hiện hai trung tâm kinh tế - chính trị điển hình là thành bang Aten(miền trung Hy Lạp) và thành bang Spác (vùng bình nguyên Iacôni) Cuộc chiếntranh giành bá chủ Hy Lạp giữa hai thành bang này trong nhiều năm làm Hy Lạpsuy yếu Đến thế kỷ II tr.c.n, Hy Lạp bị La mã chinh phục Thời Hy Lạp cổ đại,toán học, thiên văn học, thuỷ văn học v.v bắt đầu phát triển Tri thức triết học và trithức khoa học hoà trộn vào nhau; các nhà triết học đồng thời là nhà toán học, vật
lý, thiên văn học v.v Triết học Hy Lạp ra đời gắn với nhu cầu thực tiễn và gắn liền
với khoa học và được gọi là khoa học của mọi khoa học Sự giao lưu giữa Hy Lạpvới các nước làm cho tư tưởng triết học Hy Lạp cổ đại chịu ảnh hưởng của nhiềunền văn minh Những quan niệm của các nhà triết học Ai Cập và Babilon đã có ảnhhưởng tích cực đến sự phát triển của triết học Hy Lạp cổ đại; có thể nói đó là mộttrong những tiền đề của triết học Hy Lạp cổ đại
Trang 20- Quá trình hình thành và phát triển của triết học Hy Lạp cổ đại Triết học
Hy Lạp cổ đại xuất hiện và phát triển cùng với cuộc đấu tranh giữa chủ nghĩa duyvật với chủ nghĩa duy tâm quanh vấn đề bản nguyên thế giới; phản ánh cuộc đấutranh giữa phái dân chủ của thành bang Aten với phái chủ nô của thành bang Spác
+ Triết học thời sơ khai thuộc giai đoạn cổ xưa của văn hoá Hy Lạp thế kỷVII - VI tr.c.n, gồm các trường phái và các đại biểu tiêu biểu như trường phái Milê(Talét, Anaximandrơ, Anaximen); trường phái Pitago (Pitago); trường phái Êphezơ(Hêraclít); trường phái Êlê (Xênôphan, Pácmênít, Dênôn)
+ Triết học thời cực thịnh thuộc giai đoạn cổ điển của văn hoá Hy Lạp thế
kỷ V - IV tr.c.n với các đại biểu tiêu biểu như Anaxago, Empeđôclơ, Đêmôcrít,Xôcrát, Platôn, Arítxtốt
+ Triết học thời kỳ Hy Lạp hoá thuộc giai đoạn Hela của văn hoá Hy Lạpthế kỷ IV - I tr.c.n với trường phái đáng kể nhất là trường phái triết học Êpiquya
2 Một số nội dung cơ bản của triết học Hy Lạp cổ đại
a Tư tưởng về bản nguyên thế giới
- Bản nguyên đầu tiên với tư cách là cái đơn nhất xuất hiện trong trườngphái Milê; Talét cho rằng đó là nước, Anaximandrơ là Apeirôn, Anaximen làkhông khí
- Bản nguyên đầu tiên với tư cách là cái đặc thù xuất hiện trong trường pháicác nhà triết học tự nhiên thế kỷ V tr.c.n; Anaxago cho rằng đó là những phần nhỏ
bé, siêu cảm giác không nhìn thấy được của nước, đất, khí, lửa gọi là mầm sống, làhạt giống của muôn vật Empeđôclơ lại cho rằng đó là đất, nước, lửa và không khíluôn vận động do nguyên nhân tình yêu và hận thù
- Bản nguyên đầu tiên với tư cách là cái phổ biến xuất hiện trong trườngphái nguyên tử luận thế kỷ V - IV tr.c.n Đêmôcrít cho rằng nguyên tử (tồn tại) vàchân không (không tồn tại) là những bản nguyên đầu tiên và chúng luôn đối lậpnhau, trong đó nguyên tử là yếu tố vật chất luôn vận động và sự vận động đó xẩy ratrong chân không, tuân theo quy luật khách quan và theo các hướng tan hợp, hợptan tạo nên vũ trụ sinh động và biến hoá
b Tư tưởng biện chứng
Cùng với các quan điểm khác nhau về bản nguyên thế giới, các quan điểmkhác nhau về bản tính của thế giới cũng là tâm điểm của cuộc đấu tranh giữa chủnghĩa duy vật với chủ nghĩa duy tâm trong triết học Hy Lạp cổ đại
- Tư tưởng biện chứng khẳng định của Hêraclít (520 - 460 tr.c.n) thể hiệntrong 1) quan niệm về sự vận động vĩnh viễn của vật chất và tính thống nhất củathế giới Theo đó, trong thế giới, không có sự vật, hiện tượng đứng im tuyệt đối; tất
cả đều trong trạng thái biến đổi và chuyển hoá thành cái khác và ngược lại, trong
đó lửa là nguyên nhân chính của sự vận động đó Vũ trụ thống nhất ở bản nguyênLửa 2) quan niệm về sự tồn tại phổ biến của các mâu thuẫn trong mọi sự vật, hiệntượng thể hiện trong những phỏng đoán của ông về vai trò của những mặt đối lập
Trang 21trong sự vận động của tự nhiên, về sự trao đổi của những mặt đối lập, về sự tồn tại
và thống nhất của các mặt đối lập 3) quan niệm về nguyên nhân của sự vận động,theo đó nguyên nhân của sự vận động là do logos (bản chất, quy luật khách quan)quy định Logos khách quan là trật tự khách quan của mọi sự vật đang diễn ratrong vũ trụ Logos chủ quan là từ ngữ, học thuyết, lời nói, suy nghĩ của con người.Logos chủ quan phải phù hợp với logos khách quan; người nào càng tiếp cận đượcnhiều logos khách quan bao nhiêu thì càng thông thái bấy nhiêu
- Tư tưởng biện chứng phủ định của Pácmênít (540 - 470 tr.c.n) và Dênôn(490 - 430 tr.c.n) đối lập với tư tưởng biện chứng khẳng định của Hêraclít Tưtưởng biện chứng của Pácmênít thể hiện ở ba quan niệm 1) vận động, biến đổi là
hư ảo, không có không gian rỗng thuần tuý 2) tồn tại và tư duy đồng nhất với nhauvừa như là quá trình, vừa như là kết quả 3) trong thế giới không có sự sinh thành,xuất hiện và diệt vong Tư tưởng biện chứng của Dênôn thể hiện ở quan niệm vềvạn vật đồng nhất thể và vạn vật bất biến Bằng phương pháp chứng lý và nghịch
lý, ông giải thích mối quan hệ giữa vận động với đứng im; giữa liên tục với giánđoạn; giữa hữu hạn với vô hạn Các nghịch lý (aporia) của Dênôn đã khuyến khíchcác cuộc tranh luận để đi tới chân lý
- Tư tưởng biện chứng của Xôcrát (469 - 399 tr.c.n) được thể hiện trongphương pháp bốn bước của ông 1) Mỉa mai là thủ pháp nêu các câu hỏi dồn ngườiđối thoại vào mâu thuẫn để thừa nhận chân lý 2) Đỡ đẻ với nghĩa là người dẫn dắtcuộc đối thoại chủ động nêu ra những vấn đề mới giúp người đối thoại, từ chỗ lúngtúng, đạt được chân lý 3) Quy nạp là quá trình đi từ phân tích những hành vi riêng
lẻ đến khái quát để nhận thức bản chất 4) Xác định hay định nghĩa là gọi đúng tên,nêu đúng bản chất của sự vật, hiện tượng; xác định chuẩn mực, hành vi đạo đức đểxây dựng khoa học về cái thiện, giúp con người có cuộc sống hạnh phúc, hợp lý trí
- Tư tưởng biện chứng của Platôn (472 - 347 tr.c.n) là tiếp tục phát triển tưtưởng biện chứng của Xôcrát từ góc độ duy tâm khách quan Muốn có tri thức thìphải hồi tưởng để đánh thức những tri thức đã bị lãng quên trong linh hồn, là tìmkiếm tri thức nơi mình Để hồi tưởng phải dùng phương pháp biện chứng; theo đóphải đàm thoại triết học, xây dựng các khái niệm, tìm hiểu khái niệm v.v Về thựcchất, đây chính là lôgíc học Tư tưởng biện chứng của Arítxtốt (384 - 322 tr.c.n)
- Là nhà triết học lớn nhất, bộ óc bách khoa của triết học Hy Lạp cổ đại,Arítxtốt có những nghiên cứu sâu về những vấn đề của phép biện chứng; tạo ramôn lôgíc học để nghiên cứu tư duy dựa trên cơ sở phân biệt dứt khoát giữa chân
lý với sai lầm Chân lý là sự phù hợp giữa tư tưởng với thực tế, còn sai lầm phátsinh khi trong tư tưởng nối liền cái mà trong thực tế là phân chia hoặc phân chiacái mà trong thực tế là nối liền Lôgíc học là lý luận về chứng minh, trong đó phânbiệt hai loại luận đoán từ cái riêng đến cái chung (quy nạp) và từ cái chung đến cáiriêng (diễn dịch) Ông cũng là người đầu tiên đưa ra ba quy luật cơ bản của lôgíchình thức với tư cách là các quy luật của tư duy Phép biện chứng của Arítxtốt,
Trang 22ngoài sự thể hiện trong các quan niệm về các vật thể tự nhiên và sự vân động củachúng, còn thể hiện trong việc giải thích cái riêng và cái chung; cái chung thốngnhất với cái riêng; nhận thức cái chung trong cái đơn lẻ là thực chất của nhận thứccảm tính.
c Tư tưởng về nhận thức
- Tư tưởng về nhận thức của Hêraclít mang tính duy vật biện chứng sơ khai.Nhận thức được bắt đầu từ cảm giác, không có cảm giác thì không có bất kỳ nhậnthức nào Ông không tuyệt đối giai đoạn nhận thức này vì cho rằng thị giác thường
bị lừa dối vì tự nhiên thích giấu mình nên khó nhận thức Nhận thức có tính tươngđối, tuỳ theo hoàn cảnh và điều kiện mà thiện - ác, xấu - tốt, lợi - hại chuyển hoácho nhau và nhiệm vụ của nhận thức là phải đạt tới nhận thức logos của sự vật
- Tư tưởng về nhận thức của trường phái Êlê thể hiện trong việc đối lập tưduy duy lý với trực quan cảm tính và ý kiến dựa vào trực quan về sự vật Pácmênít
đề cao vai trò của nhận thức lý tính; Dênôn cũng phủ nhận vai trò nhận thức cảmtính, đề cao nhận thức lý tính Đêmôcrít là người có công đưa lý luận nhận thứcduy vật lên một bước mới Ông chia nhận thức thành hai dạng 1) dạng mờ tối lànhận thức cảm tính, do các giác quan đưa lại, theo dư luận chung (những cảm giácnhư mùi vị, màu sắc, âm thanh v.v là những cảm giác phổ biến mà mọi người đềucảm nhận được dễ dàng); nhận thức này là chân thực nhưng còn mờ tối vì chưanhận thức được cái bên trong, cái sâu kín của sự vật 2) dạng chân lý thông quanhững phán đoán lôgíc nên đã nhận thức được bản chất của sự vật, vì chỉ đã rađược nguyên tử là khởi nguyên của thế giới, chỉ ra được tính đa dạng của thế giới
là do sự sắp xếp khác nhau của các nguyên tử Hình tượng cảm tính (còn gọi làIđôlơ) bắt nguồn từ vật thể rồi thâm nhập vào các giác quan và được ước lệ thànhhình tượng của khách thể; Iđôlơ là tiền đề để lý tính nhận thức chân lý
- Tư tưởng về nhận thức của Platôn có tính duy tâm, theo đó nhận thức cảmtính có sau nhận thức lý tính vì linh hồn đã có sẵn các tri thức; do vậy, nhận thức làquá trình hồi tưởng lại những cái đã lãng quyên trong quá khứ Dựa trên cơ sở trênđây, Platôn chia tri thức thành hai loại 1) tri thức hoàn toàn đúng đắn, tin cậy là trithức ý niệm, tri thức của linh hồn trước khi nhập vào thể xác và có được nhờ sự hồitưởng lại 2) tri thức mờ nhạt là tri thức lẫn lộn đúng sai; có được nhờ nhận thứccảm tính nên không phải là chân lý
- Tư tưởng về nhận thức của Arítxtốt đóng vai trò quan trọng trong lịch sửtriết học Hy Lạp cổ đại; trong lý luận nhận thức của mình, ông cho rằng tự nhiên làtính thứ nhất, tri thức là tính thứ hai; thế giới khách quan là đối tượng của nhậnthức, là nguồn gốc của kinh nghiệm và cảm giác Cảm giác là điểm khởi đầu trêncon đường hình thành tư duy khoa học theo quá trình cảm giác - biểu tượng - kinhnghiệm - nghệ thuật - khoa học Các giai đoạn của quá trình nhận thức đượcArítxtốt chia thành các giai đoạn 1) giai đoạn cảm tính là giai đoạn nhận thức mangtính trực quan (sự quan sát nhật thực, nguyệt thực bằng mắt thường v.v) 2) nhận
Trang 23thức lý tính lă giai đoạn đòi hỏi khâi quât hoâ, trừu tượng hoâ để rút ra tính tất yếucủa hiện tượng Như vậy, quâ trình nhận thức diễn ra theo trình tự cơ thể - tâc độngbín ngoăi - cảm giâc - tưởng tượng - tư duy Mỗi khđu trong quâ trình năy đềuquan hệ mật thiết với nhau, khđu sau không thể thiếu khđu trước.
d Tư tưởng về đạo đức vă chính trị
- Với ý đồ chính trị muốn những nhă cầm quyền phải có tri thức, hiểu biết,Xôcrât coi đạo đức vă sự hi��u biết quy định lẫn nhau, có đạo đức lă nhờ cóhiểu biết, do vậy đạo đức có sau hiểu biết
- Đímôcrít lại xuất phât từ bản chất con người để định nghĩa đạo đức, theo
đó sự hăi lòng vă không hăi lòng lă động lực của mọi hănh vi; do vậy, đạo đức phảigiải quyết vấn đề hănh vi con người vă thâi độ của nó đối với chính bản thđn mình.Hạt nhđn trung tđm của đạo đức lă lương tđm, lă sự lănh mạnh về tinh thần củatừng câ nhđn, mỗi người phải sống đúng mực, ôn hoă, không vô độ mă gđy hại chongười khâc, không quâ giău có, không thỉm lợi nhuận bất lương gđy hại cho ngườilương thiện Trong quan niệm về chính trị - xê hội, Đímôcrít chống lại chủ nô quýtộc để bảo vệ chế độ chủ nô dđn chủ mă quyền lợi gắn liền với sự phât triển củathương mại vă nghề thủ công, ca ngợi tình thđn âi, tính ôn hoă, ca ngợi quyền lợichung của công dđn tự do Nhă nước cộng hoă dđn cử lă nền tảng của chế độ dđnchủ chủ nô, đóng vai trò duy trì trật tự, điều hănh mọi hoạt động trong xê hội,trừng phạt những vi phạm phâp luật hay câc chuẩn mực đạo đức
- Đối lập với tư tưởng của Đímôcrít lă tư tưởng của Platôn Ông phí phân cả
ba hình thức nhă nước lă nhă nước của Vua Chúa xđy dựng trín khât vọng giău có
vă danh vọng dẫn tới sự cướp đoạt; nhă nước quđn phiệt của số ít kẻ giău có âp bức
số đông, đối lập giữa giău vă nghỉo đưa tới câi âc; nhă nước dđn chủ, quyền lựcthuộc về số đông, sự đối lập giău nghỉo trong nhă nước năy hết sức gay gắt chonín đó lă nhă nước tồi tệ Platôn đưa ra mẫu hình nhă nước lý tưởng, trong đó có
ba lớp người lăm câc công việc khâc nhau Sự tồn tại vă phât triển của nhă nước lýtưởng dựa văo sự phât triển sản xuất vật chất; phđn công hăi hoă câc ngănh nghề
vă giải quyết mđu thuẫn câc nhu cầu xê hội
- Arítxtốt lại cho rằng đạo đức lă khoa học đứng sau triết học vă đặc biệtquan tđm đến phẩm hạnh bởi đó lă câi tốt đẹp nhất, lă lợi ích tối cao mă mọi côngdđn phải có Nội dung của phẩm hạnh lă biết định hướng, biết lăm việc, biết tìm tòi
vă phẩm hạnh con người thể hiện trong quan niệm về hạnh phúc Hạnh phúc phải
lă câi gắn kết với hoạt động nhận thức, với ước vọng lăm điều thiện Lă người đầutiín phđn tích hình thâi giâ trị, cho rằng cơ sở bình đẳng vă công bằng trong xê hội
lă sự công bằng trong trao đổi sản phẩm Sự công bằng không có được nếu không
có sự bằng nhau, sự bằng nhau không có được nếu không thể đo chung được, tức lẵng đê tìm ra được nguồn gốc của quan hệ bình đẳng Arítxtốt coi bản chất của nhănước lă hình thức giao tiếp cao nhất giữa con người với nhau vă nhă nước chỉ xuấthiện khi có sự giao tiếp về lợi ích giữa nhiều gia đình vă họ hăng về cuộc sống đầy
Trang 24đủ và hoàn thiện Nhà nước được xem xét trong ba phương diện là lập pháp, hànhchính và phân xử và có nhiệm vụ bảo đảm cho mọi công dân (trừ nô lệ) đầy đủ vềvật chất, bảo đảm công bằng về công lý Mức độ phúc lợi do nhà nước đem lại chocông dân là tiêu chuẩn để đánh giá nhà nước Gia đình và cá nhân là thiên chất tựnhiên của nhà nước, vì vậy con người phải thuộc về nhà nước và nếu vượt qua nhànước sẽ là con người không phát triển về đạo đức, hoặc là động vật hoặc là ThượngĐế.
- Êpiquya cho rằng những yêu cầu, khát vọng của con người phản ánh bảnchất con người Do vậy, đạo đức học phải dạy cho con người biết lựa chọn nhữngyêu cầu, khát vọng thiết yếu, tránh những mong ước vô nghĩa và phản tự nhiên
3 Đặc điểm cơ bản của triết học Hy Lạp cổ đại
- Các nhà triết học duy vật Hy Lạp cổ đại đã đã đặt ra và giải quyết hầu hếtcác vấn đề về bản thể luận và nhận thức luận; các nhà sáng lập chủ nghĩa Mác -Lênin đánh giá từ các hình thức muôn hình muôn vẻ của triết học Hy Lạp đã cómầm mống và đang nảy nở hầu hết tất cả các loại thế giới quan sau này từng bướcgiải quyết theo thời đại mình
- Nội dung cơ bản của triết học Hy Lạp cổ đại là cuộc đấu tranh giữa cáctrường phái triết học duy vật với duy tâm, biện chứng với siêu hình, vô thần vớitôn giáo mà điển hình là cuộc đấu tranh giữa hai đường lối triết học duy vật củaĐêmôcrít, Êpiquya với triết học duy tâm của Xôcrát, Platôn
- Triết học Hy Lạp cổ đại, nói chung còn ở trình độ trực quan, chất phác- đặcbiệt đối với các hệ thống triết học duy vật và biện chứng, nhưng đã gắn bó vớikhoa học Tuy có những ý kiến khác nhau, nhưng đã đề cập tới vấn đề con người,coi con người là tinh hoa của tạo hoá và con người cần chinh phục thiên nhiên đểphục vụ mình
II TRIẾT HỌC TÂY ÂU THỜI TRUNG CỔ
1 Điều kiện ra đời và phát triển của triết học tây Âu thời Trung cổ
a Điều kiện kinh tế - xã hội và văn hoá
- Xã hội tây Âu thế kỷ II đến thế kỷ V là xã hội đánh dấu sự tan rã của chế
độ chiếm hữu nô lệ và sự ra đời của chế độ phong kiến Vào thế kỷ thứ V, nhữngcuộc nổi dậy của nô lệ bên trong cùng với sự tiến công của những bộ tộc bên ngoài
đã dẫn đến sự sụp đổ của đế quốc La Mã (đã tồn tại từ thế kỷ II tr.c.n đến thế kỷV) Sự kiện đó dẫn đến kết quả chấm dứt hình thái xã hội chiếm hữu nô lệ và chế
độ phong kiến tây Âu ra đời Trong xã hội đó, nền kinh tế tự nhiên, tự túc tự cấpthống trị Điều hành sản xuất xã hội là những tiểu nông lệ thuộc vào địa chủ phongkiến Vì vậy, trong thời kỳ đầu của thời đại phong kiến tây Âu đã diễn ra sự suyđồi không chỉ về kinh tế, mà còn về toàn bộ các mặt của đời sống xã hội
- Xuất hiện tổ chức giáo hội nhà thờ Thiên Chúa giáo và ảnh hưởng của nótới toàn bộ đời sống vật chất và tinh thần của xã hội thời kỳ này Về mặt tinh thần,thời Trung cổ ở tây Âu lúc đầu Cơ đốc giáo, về sau là Thiên Chúa giáo là hệ tư
Trang 25tưởng thống trị Những giáo lý tôn giáo trở thành những nguyên lý về chính trị;Kinh thánh là luật lệ trong xét xử; Giáo hội độc quyền trong lĩnh vực văn hoá, nhàtrường hoàn toàn nằm trong tay thầy tu, triết học chỉ phục vụ cho tôn giáo và Giáohội Có thể nói tín điều nhà thờ là điểm xuất phát của mọi tư duy; thế giới quan tôngiáo bao trùm lên triết học, luật học và chính trị.
b Quá trình hình thành và phát triển của triết học tây Âu thời Trung cổ
- Từ thế kỷ II - IV là thời kỳ quá độ giữa triết học Hy Lạp với triết học tây
Âu Trung cổ Hệ tư tưởng xã hội là Cơ Đốc giáo với các đại biểu Téctuliêng (160 230), Ôguýtxtanh (354 - 430)
- Từ thế kỷ V - VIII là thời kỳ hình thành chủ nghĩa Kinh viện
- Từ thế kỷ IX - XV là thời kỳ phát triển của chủ nghĩa Kinh viện
+ Chủ nghĩa Kinh viện sơ kỳ từ thế kỷ IX - XII với các đại biểu Ơrigenơ(810 - 877), Abơla (1079 - 1142)
+ Chủ nghĩa Kinh viện cực thịnh thế kỷ XIII với các đại biểu Lơgrăng(1207 - 1280), Đacanh (1225 - 1274), Đun Xcốt (1265 - 1308)
+ Chủ nghĩa Kinh viện suy thoái thế kỷ XIV - XV với các đại biểu Bêcơn(1214 - 1294), Ốccam (1300 - 1349)
2 Một số nội dung cơ bản của triết học tây Âu thời Trung cổ
a Mối quan hệ giữa tri thức với niềm tin tôn giáo
Các nhà triết học thời Trung cổ coi niềm tin tôn giáo giữ vị trí hàng đầutrong mối quan hệ với lý trí
- Ôguýtxtanh (354 - 430, Bắc Phi, Angiêri hiện nay) là đại biểu lớn nhất củatriết học Cơ đốc giáo thời kỳ tiền Trung cổ; triết học của ông trở thành cơ sở lýluận cho Cơ đốc giáo và cả Thiên Chúa giáo sau này Tư tưởng cơ bản trong họcthuyết của Ôguýt- xtanh là toàn bộ thế giới do Thượng Đế sinh ra và được nhậnthức bởi Thượng Đế Tuy nhiên, Thượng Đế chỉ sáng tạo ra thế giới tự nhiên, sau
đó giới tự nhiên vận động theo các quy luật của mình mà không có sự can thiệpcủa Thượng Đế Thượng Đế không tồn tại trong sự vật cảm biết nhưng có sứcmạnh vạn năng, có quyền lực tuyệt đối Ý chí của con người là tự do, nhưng chỉtrong giới hạn tiền định của Thượng Đế, quá trình nhận thức của con người là quátrình nhận thức Thượng Đế- chân lý tối cao Nhận thức đó chỉ đạt được nhờ lòngtin, bởi lòng tin tôn giáo Nhận thức Thượng Đế có ba mức độ 1) Thông qua cảmgiác bên ngoài, những cảm giác nói chung là chân thật 2) Nhận thức thông quacảm giác bên trong bàn bạc lại những cảm giác bên ngoài 3) Nhận thức lý trí, đánhgiá những phán đoán của cảm giác bên trong Tiêu chuẩn của chân lý là sự tự ýthức, trong tâm hồn mỗi người đã chứa đựng chân lý tối cao Thượng Đế là chân lýtối cao, từ chân lý tối cao này nảy sinh mọi chân lý
- Chủ nghĩa Kinh viện, phái Duy thực và phái Duy danh tiếp nối giữa thời
kỳ Cơ đốc giáo với thời kỳ Trung cổ tây Âu
Trang 26+ Kinh viện (theo tiếng Latinh- Schola- trường học), chủ nghĩa Kinhviện chủ yếu bàn đến những vấn đề tách rời cuộc sống hiện thực Về thực chất, chủnghĩa Kinh viện là nghệ thuật tranh luận, lập luận mà không quan tâm đến nộidung của cuộc tranh luận đó Đầu tiên, triết học Kinh viện được giảng trong cáctrường trung học và từ giữa thế kỷ XII, được giảng trong các trường đại học Trongthời kỳ này đã diễn ra cuộc đấu tranh quyết liệt và kéo dài nhiều thế kỷ giữa haikhuynh hướng triết học đặc trưng là phái Duy thực và phái duy Danh với nhiều đạibiểu nổi tiếng.
+ Phái Duy thực lấy triết học Platôn làm cơ sở lý luận, khẳng định cái chung(khi ấy gọi là cái phổ biến) hay khái niệm chung là tồn tại thực, là một thực thểtinh thần có trước sự vật đơn nhất Phái Duy danh lại khẳng định, chỉ có sự vật đơnnhất, cá biệt là có thực, còn những cái chung chỉ là những tên gọi mà con ngườigắn cho các hiện tượng riêng lẻ Cuộc tranh cãi giữa phái Duy danh với phái Duythực, về căn bản là một vấn đề nghiêm túc Đằng sau cái vỏ thần học là vấn đề triếthọc thể hiện ở chỗ, phái này coi sự vật tồn tại khách quan, có thể tri giác đượcbằng cảm giác, tư tưởng là cái có sau (Duy danh), phái kia ngược lại, coi tư tưởng
có trước sự vật (phái Duy thực) Như vậy, sự nhận thức của con người vận động từcảm giác đến khái niệm (duy danh) hay từ khái niệm đến sự vật (duy thực) là bảnchất triết học của cuộc tranh cãi đó Thiên Chúa giáo chính thống có xu hướngnghiêng về phái Duy thực
- Một số đại biểu nổi bật của các phái Duy danh, Duy thực
+ Tômát Đacanh (1225-1274, duy thực, Italia, nhà thần học Thiên Chúagiáo, nhà triết học kinh viện nổi tiếng, nhà nghiên cứu những vấn đề pháp quyền,đạo đức, chế độ nhà nước và kinh tế Các tác phẩm của ông là bộ bách khoa toànthư về hệ thống tư tưởng thống trị thời Trung cổ; học thuyết của ông được côngnhận là triết học chân chính duy nhất của Giáo hội Thiên Chúa Trong lĩnh vựctriết học, Tômát Đacanh muốn làm cho triết học Arítxtốt thích hợp với Giáo lý ĐạoThiên Chúa Bởi vậy, ông cho rằng đối tượng của triết học là nghiên cứu chân lýcủa lý trí, còn đối tượng của thần học là nghiên cứu chân lý của lòng tin tôn giáo.Thượng Đế là khách thể để triết học, thần học cùng nghiên cứu và là nguồn gốccủa của mọi chân lý Do vậy, triết học không đối lập với thần học về căn bản, màtriết học phải thấp hơn thần học, là tôi tớ của thần học, phụ thuộc vào thần họctương tự như lý trí của con người phải thấp hơn lý trí của thần Ông cho rằng, Trờitạo ra giới tự nhiên là do từ hư vô và mọi trật tự, sự phong phú và hoàn thiện củagiới tự nhiên đều do Trời quyết định theo các bậc thang tôn tri, trật tự bắt đầu từcác sự vật không có linh hồn, tới con người, đến các Thần thánh và cao hơn cả làChúa Trời Do vậy, Chúa Trời, Thượng Đế là mục đích tối cao, là quy luật vĩnhcửu đứng trên mọi cái, thống trị mọi cái, là nguyên nhân cuối cùng tác động lên thếgiới Để chứng minh Chúa Trời, Thượng Đế là động lực, nguyên nhân, cái tấtnhiên ban đầu, sự hoàn thiện tuyệt đối và là nguyên nhân tạo ra sự hợp lý của giới
Trang 27tự nhiên, Tômát Đacanh nêu ra những lý lẽ 1) Thế giới không vận động vĩnh cửu,cần phải có động lực ban đầu 2) Nguyên nhân tác động không phải là vô tận, cần
có nguyên nhân đầu tiên 3) Mọi sự vật của thế giới là ngẫu nhiên, cần có cái tấtnhiên tuyệt đối 4) Sự hoàn thiện của các sự vật có các giai đoạn khác nhau, cầnphải có một thực thể hoàn thiện tuyệt đối 5) Tính hợp lý của giới tự nhiên khôngthể giải thích bằng nguyên nhân tự nhiên, cần phải tồn tại một thực thể lý trí siêu tựnhiên để điều chỉnh thế giới Về cái chung, Tômát Đacanh cho rằng, cái chung tồntại trên ba phương diện 1) Cái chung tồn tại trước sự vật trong trí tuệ của ChúaTrời như là mẫu mực lý tưởng của các sự vật riêng lẻ 2) Cái chung được tìm thấytrong các sự vật và nó chỉ tồn tại khách quan khi nó chứa đựng các sự vật riêng lẻ.3) Cái chung được tạo ra bằng con đường trừu tượng hoá của trí tuệ con người từcác sự vật riêng lẻ
+ Đun Xcốt (1265 - 1308, Anh, nhà duy danh lớn nhất của thế kỷ XIII) Mối
quan hệ giữa triết học với thần là vấn đề chủ yếu, ông coi Thượng đế là đối tượngnghiên cứu của thần học, còn đối tượng nghiên cứu của triết học là tồn tại Ông vẫn
đề cao vai trò của lòng tin nhưng không hạ thấp vai trò của lý tính bởi Thượng Đế
là một tồn tại bất tận, có thể chứng minh được, nhưng dựa vào lý trí để nhận thứcThượng Đế thì bị hạn chế, do vậy phải chủ yếu dựa vào lòng tin Lý trí thấp hơnniềm tin tôn giáo, nó không nhận thức được bản chất của Thượng Đế, bởi đó làhình thức thuần tuý phi vật chất, trong khi lý trí chỉ nhận thức được những gì thuộccảm tính Chính vì vậy, con người không thể có được khái niệm về cái phi vật chấtnhư Chúa Trời, Thượng Đế Về quan hệ giữa cái chung với cái riêng, Đun Xcốtgiải thích cái chung vừa tồn tại trong các sự vật (như là bản chất của các sự vật),vừa tồn tại sau các sự vật (như là sự khái quát hoá, trừu tượng hoá khỏi các sự vậtriêng lẻ), nghĩa là cái chung không chỉ là sản phẩm của lý trí mà nó còn có cơ sởtrong bản thân các sự vật; nó vừa tồn tại trong sự vật với tính cách là bản chất củachúng, vừa tồn tại sau sự vật với tính cách là những khái niệm được lý trí conngười trừu tượng hoá khỏi bản chất của sự vật
b Tư tưởng về xã hội và đạo đức
- Các quan điểm xã hội của Ôguýtxtanh được ông trình bày trong tác phẩmThành Đô của Thượng Đế Theo đó, xã hội loài người được chia thành hai vươngquốc là vương quốc của điều ác là nhà nước trần thế và vương quốc của Thượng
Đế trên trái Đất là nhà thờ Sự bất bình đẳng trong xã hội là điều tự nhiên; hiệntượng giàu, nghèo tồn tại vĩnh viễn Cuộc sống trên trần thế chỉ là cuộc sống tạmthời, hạnh phúc vĩnh cửu là ở thế giới bên kia
- Đacanh cũng ra sức tuyên truyền tư tưởng về vai trò thống trị của Nhà thờđối với xã hội công dân; chống lại sự bình đẳng xã hội Ông cho rằng con người là
do Thượng Đế tạo nên theo hình dáng của mình, sống trên trái Đất- trung tâm của
vũ trụ Mọi cái trong tự nhiên thích ứng như thế nào với con người đều do Chúatrời quy định, Mặt Trời chiếu sáng để sưởi ấm, mưa rơi để đất đai có nước; động
Trang 28đất và bão lụt là do Chúa trừng phạt tội lỗi của con người Đẳng cấp của con ngườitrong xã hội là do Chúa sắp đặt Chính quyền nhà Vua là do ý trời, thân xác conngười phải phục tùng nhà vua, còn quyền lực tối cao thuộc về Giáo hội.
3 Đặc điểm cơ bản của triết học tây Âu thời Trung cổ
- Sự phát triển của chủ nghĩa Kinh viện là thể hiện sự tìm kiếm cơ sở lý luậncho thế giới quan tôn giáo
- Quan hệ giữa niềm tin tôn giáo với lý trí cũng là vấn đề trung tâm của triếthọc Cuộc đấu tranh giữa phái Duy thực với phái duy Danh quanh việc giải quyếtnhững vấn đề trung tâm của triết học là biểu hiện đặc thù cuộc đấu tranh giữa chủnghĩa duy tâm với chủ nghĩa duy vật
- Sau thời suy thoái, xã hội tây Âu đã có sự phát triển về cả vật chất và tinhthần Những cuộc Thập tự chinh về phía Đông đã giúp cho phương Tây tiếp thuđược nhiều điều của nền văn hoá phương Đông Thiên văn học, toán học, cơ học,hoá học, vật lý học hình thành và phát triển khá mạnh vào thế kỷ XIII
III TRIẾT HỌC TÂY ÂU THỜI PHỤC HƯNG VÀ CẬN ĐẠI
Giai đoạn lịch sử từ thế kỷ XV đến thế kỷ XVIII được gọi là thời kỳ Phụchưng và Cận đại của tây Âu
1 Triết học tây Âu thời Phục hưng
a Điều kiện ra đời của triết học tây Âu thời Phục hưng
- Thời Phục hưng ở tây Âu gồm hai thế kỷ XV - XVI; phương thức sảnxuất tư bản chủ nghĩa bắt đầu hình thành; phân hoá giai cấp ngày càng rõ; vai tròkinh tế, xã hội của các giai cấp khác nhau đã tạo nên mâu thuẫn giai cấp
- Những phát kiến địa lý (Côlông, Magienlăng) tạo điều kiện cho kinh tếthương mại phát triển; các phát minh khoa học của Côpécníc, Brunô, Galilê đemlại vị trí, vai trò mới của con người
b Một số nội dung triết học tây Âu thời Phục hưng
- Tư tưởng triết học về tự nhiên
+ Sự khôi phục di sản triết học Hy Lạp cổ đại, sự ra đời của chủ nghĩa nhânđạo và những thành tựu của khoa học tự nhiên làm nên nội dung triết học tây Âuthời Phục hưng
+ Tư tưởng triết học về tự nhiên của một số nhà triết học tiêu biểu
Nicôlai Cuđan (1401-1464, người Đức, Hồng y Giáo chủ của Giáo hội La
Mã, người đầu tiên phê phán mạnh mẽ các giáo lý Trung cổ, mở đầu thời kỳ triếthọc thời Phục hưng) Ông coi trái Đất cũng chỉ là vì sao chuyển động như mọi ngôisao khác mà không phải là trung tâm của vũ trụ
Côpécníc (1473-1543, nhà khoa học tự nhiên, nhà triết học người Ba Lan,đại diện tiêu biểu, có ảnh hưởng lớn đến sự phát triển của triết học và khoa học tựnhiên thời Phục hưng) Toàn bộ khoa học của Côpécníc chủ yếunhằm chứng minhtrung tâm của Hệ mặt trời không phải là Trái Đất mà là Mặt Trời, Trái Đất hàng
Trang 29ngày quay quanh trục của nó và hàng năm xoay quanh Mặt Trời Thuyết Nhật tâmcủa Côpécníc có ý nghĩa rất lớn đối với triết học và khoa học thời kỳ này 1) Bác
bỏ giả thuyết của Ptôlêmê (Hy Lạp thế kỷ II) cho rằng Trái Đất là trung tâm; MặtTrời và các hành tinh xoay quanh Trái Đất 2) Bác bỏ điều quan trọng nhất củathần học về thế giới 3) Cách mạng hoá toàn bộ khoa học tự nhiên bằng cách giảiphóng chúng ra khỏi thần học và tôn giáo Lịch sử triết học và khoa học đã đánhgiá cao những cống hiến lớn lao của ông và coi ông là một nhà bác học vĩ đại, mộtnhà duy vật dũng cảm
Tômát Morơ (1478 - 1535, nhà nhân đạo nổi tiếng người Anh; một trongnhững nhà sáng lập ra chủ nghĩa cộng sản không tưởng; là người phê phán mạnh
mẽ chế độ bất công và tệ nạn xã hội ở Anh thời đó và ví đó là chế độ xã hội cừu ănthịt người) Theo ông, nguyên nhân của mọi bất công và tệ nạn xã hội là do sựthống trị của chế độ xã hội dựa trên nền tảng sở hữu tư nhân về tư liệu sản xuất; ởđâu có tư bản thì ở đó tiền là thước đo tất cả Morơ khẳng định tư hữu làm chongười ta ích kỷ và viết tác phảm Utôpia, trong đó đưa ra mô hình xã hội lý tưởng
Xã hội đó được xây dựng trên nền tảng công hữu về tư liệu sản xuất; mọi sản phẩmlàm ra được phân phối đều trong xã hội; thời gian lao động chỉ là sáu giờ trongngày, thời gian còn lại dùng để mọi thành viên của xã hội phát triển nhân cách toàndiện; mọi người đều bình đẳng, không còn tiền tệ, không có sở hữu tư nhân; ngườilãnh đạo xã hội đó định ra chuẩn mực về đạo đức, chính trị xã hội, mọi sự tốt xấucủa xã hội đều xuất phát từ người lãnh đạo Trong xã hội vẫn cần nô lệ để họ làmcác việc nặng nhọc; tôn giáo là cần thiết đối với xã hội, những người theo quanđiểm vô thần bị coi là người vô đạo đức
Brunô (1548-1600, nhà triết học người Italia, người kế tục và phát triển họcthuyết của Côpécníc) Triết học phiếm thần duy vật của ông là đỉnh cao của sự pháttriển tư tưởng duy vật thời Phục hưng Tiếp thu thuyết Nhật tâm và kế thừa những
tư tưởng duy vât, vô thần khi xây dựng quan niệm về vũ trụ của các nhà duy vật cổđại, Brunô nêu ra phạm trù cái duy nhất Theo đó, cái duy nhất chính là Thượng Đếtồn tại dưới dạng giới tự nhiên- một thế giới độc lập, không do một ai sáng tạo ra.Tuy nhiên, Thượng Đế chỉ còn là danh nghĩa khi ông coi mọi sự vật chỉ là biểuhiện của cái duy nhất đó và sự vật biến đổi không ngừng, nhưng cái duy nhất thìbất biến Từ đây, Brunô đưa ra quan niệm về tính thống nhất vật chất của vũ trụ
Vũ trụ là vô tận, ngoài hệ Mặt Trời còn có vô số thế giới tồn tại, không có hànhtinh nào thật sự là trung tâm của vũ trụ Sự sống không chỉ có ở trên Trái Đất mà
có thể có ở các hành tinh khác của vũ trụ mà không có Chúa Trời nào thống trị cả.Như vậy, Brunô đã bổ sung vào quan điểm của Côpécníc một loạt những luận điểmđúng đắn và những phỏng đoán thiên tài mà khoa học ngày nay đã chứng thực vàđang tìm kiếm Brunô đã bị Giáo hội thiêu sống vì những tư tưởng duy vật củamình đã chống lại triết học Kinh viện và Giáo hội
Trang 30Cămpanenla (1568 - 1639, là nhà khoa học tự nhiên, nhà cộng sản khôngtưởng người Italia) Phát triển các tư tưởng nhân đạo của Môrơ, ông đưa ra môhình xã hội lý tưởng trong tác phẩm Thành phố mặt Trời, cho rằng nguyên nhân cơbản của mọi bất công trong xã hội là do tồn tại chế độ tư hữu, cái sinh ra kẻ giàungười nghèo và những bất công khác trong xã hội Ông còn cho rằng chính tính ích
kỷ của con người là nguyên nhân của mọi điều ác Sự bình đẳng cộng đồng là cầnthiết và nó phù hợp với sự có mặt của Thượng Đế ở khắp nơi Cămpanenla chorằng việc xoá bỏ nhà nước phải đi đôi với xoá bỏ gia đình vì việc xuất hiện giađình đã dẫn đến sở hữu tư nhân, xã hội tương lai phải dựa trên chế độ quần hôn.Trong Thành phố Mặt Trời tất cả mọi người đều lao động với số giờ lao động trongmỗi ngày chỉ còn bốn giờ để tạo điều kiện cho công dân có thời gian nghỉ ngơi vàphát triển toàn diện nhân cách Thủ lĩnh của Thành phố Mặt Trời là người đứngđầu xã hội, uyên bác về nhiều mặt và là một vị linh mục, đặc biệt thông thái vềkinh tế và chính trị Trong Thành phố Mặt Trời, khoa học và tôn giáo đều được coitrọng; chính quyền gắn chặt với tôn giáo và khoa học
- Tư tưởng triết học về con người
Các nhà sử học gọi thời Phục hưng là thời phát hiện ra con người trong thếgiới và cả một thế giới trong con người Trong thời kỳ này xuất hiện các học thuyếttriết học về con người và lịch sử của nó, về chủ nghĩa nhân đạo, về giải phóng conngười khỏi các tín điều, khỏi đẳng cấp và tuyên bố quyền bình đẳng của con người + Chủ nghĩa nhân đạo là cuộc vận động tư tưởng; đặc trưng cho tư tưởng tưsản, có quan hệ chặt chẽ với những quan điểm duy vật, chống chế độ phong kiếnthông qua cuộc đấu tranh chống lại các quan điểm thần học Những nội dung chínhcủa chủ nghĩa nhân đạo là tự do cá nhân, con người có quyền hưởng lạc và thoảmãn những nhu cầu trần thế; phản đối chủ nghĩa khổ hạnh Đại diện chính của chủnghĩa này là Đơ Vanhxi, Brunô, Côpécníc, Sếchxpia v.v
+ Chủ nghĩa cá nhân trong thời hình thành quan hệ sản xuất tư bản chủnghĩa đã đóng vai trò tích cực trong cuộc giải phóng cá nhân khỏi chủ nghĩa phongkiến và Giáo hội Trong thời Phục hưng, chủ nghĩa cá nhân đã tham gia đấu tranh
tư tưởng với chế độ đẳng cấp của xã hội, tổ chức cấp bậc của Nhà thờ Thiên Chúagiáo; cùng với đó, chủ nghĩa cá nhân có tính đạo đức để từ đó sinh ra lòng nhiệttình, dũng cảm- một tư cách đạo đức của cá nhân
- Tư tưởng triết học về chính trị và xã hội
+ Từ chủ nghĩa cá nhân, thời Phục hưng coi xã hội là tổng số cá nhân riêngrẽ
+ Thí nghiệm xây dựng nhà nước không phụ thuộc vào Nhà thờ
+ Xuất hiện những học thuyết tổ chức xã hội cộng sản không tưởng, dựavào Kinh thánh để yêu cầu xã hội hoá tài sản (Morơ, Campanenla v.v)
c Đặc điểm cơ bản của triết học tây Âu thời Phục hưng
Trang 31- Trên cơ sở thực tiễn của sản xuất vật chất và những biến động xã hội,những tư tưởng triết học và các ngành khoa học tự nhiên lại bắt đầu phát triển Chủnghĩa duy vật được khôi phục và biến đổi theo những biến đổi của khoa học tựnhiên, các nhà triết học thường đồng thời là nhà khoa học tự nhiên (Brunô, Galilê,Đềcáctơ, Lépnít v.v); do ảnh hưởng của sản xuất cơ khí máy móc và công trườngthủ công, phương pháp thực nghiệm trong khoa học và trong triết học, phươngpháp tư duy siêu hình xuất hiện và tăng lên khi được áp dụng vào triết học ở cuốithời Phục hưng; xuất hiện phương pháp nhận thức thực nghiệm.
- Tôn giáo không còn độc quyền chi phối xã hội Luận điểm con người làthước đo tất thảy mọi vật được coi là phương châm tư tưởng của thời kỳ này
và trung tâm của các vấn đề triết học Các giá trị văn hoá, nhất là các giá trị nghệthuật đặc biệt được đề cao
- Nhiều học thuyết triết học đã phục hồi phép biện chứng cổ đại và khái quátnhững thành tựu của khoa học tự nhiên Nhưng theo Ph.Ăngghen, chỉ có khoa học
tự nhiên là cái duy nhất có thể coi là khoa học, bắt đầu phát triển từ thời kỳ này là
có tính chất cách mạng triệt để, chung vai sát cánh với triết học mới đang ra đời
2 Triết học tây Âu thời Cận đại
a Điều kiện ra đời của triết học tây Âu thời Cận đại
- Thời Cận đại ở tây Âu gồm hai thế kỷ XVII - XVIII; giai cấp tư sản đãgiành được thắng lợi chính trị (Hà Lan 1560 - 1570, Anh 1642 - 1648, Pháp 1789 -
1794 v.v) tạo nên các dân tộc, quốc gia tư sản Phương thức sản xuất tư bản chủnghĩa đã trở thành phương thức sản xuất thống trị
- Khoa học tự nhiên đã trở thành các môn khoa học độc lập với đặc trưng làkhoa học thực nghiệm; phương pháp tư duy siêu hình được áp dụng vào triết học
b Một số nội dung triết học tây Âu thời Cận đại
- Tư tưởng về bản thể
+ Nghiên cứu giới tự nhiên từ góc độ tác động qua lại của lực hấp dẫn vàlực đẩy giữa các phần tử vật thể Các phần tử này luôn bất biến, chỉ thay đổi trạngthái không gian và tập hợp; lượng là cái dùng để phân biệt các vật thể; mọi vậnđộng đều được quy vào sự di chuyển vị trí trong không gian Từ cơ sở đó, xuấthiện quan điểm đồng nhất vật chất với khối lượng; chỉ có hình thức vận động cơhọc với nguyên nhân từ bên ngoài Nguyên tử là cái nhỏ nhất, không phân chiađược và không vận động
+ Tư tưởng về bản thể của một số nhà triết học tiêu biểu
Phranxi Bêcơn (1561 - 1621[2], người sáng lập triết học duy vật
Anh), ông coi thế giới vật chất tồn tại khách quan và cho rằng, con người cần phảithống trị, làm chủ tự nhiên với sức mạnh tri thức; coi nhiệm vụ của triết học lànhận thức tự nhiên với các mối liên hệ phức tạp của nó và phê phán chủ nghĩaKinh viện xa rời cuộc sống, chỉ dựa vào những lập luận tuỳ tiện
Trang 32Hốpxơ (1588 - 1679, đại biểu nổi tiếng của chủ nghĩa duy vật Anh) là người
chia triết học thành triết học tự nhiên, nghiên cứu các vật thể thiên nhiên và triếthọc thông thường, nghiên cứu những vật thể nhân tạo (xã hội loài người) Giới tựnhiên là tổng số các vật có quảng tính với những khác biệt về kích thước, hìnhdáng, vị trí và vận động; trong đó, vận động là sự thay đổi vị trí của vật thể vớinguồn gốc là sự tác động của vật thể này lên vật thể khác qua va chạm đầu tiên
Đềcáctơ (1596 - 1650, nhà toán học và khoa học tự nhiên Pháp, một trong
những người sáng lập triết học Cận đại) lại cho rằng có hai loại sự vật được sinh ra
từ hai thực thể khác nhau là thực thể tinh thần gồm các ý niệm, tư tưởng, các ý thức
cá nhân con người và thực thể vật chất gồm các sự vật trong không gian, thời gian.Con người là một sự vật đặc biệt được tạo ra từ hai thực thể là vật chất (cơ thể) và ýthức (linh hồn) Cả thực thể vật chất và thực thể tinh thần đều do thực thể thứ ba làThượng Đế sinh ra
Xpinôda (1632 - 1677, nhà triết học duy vật xuất sắc Hà Lan) cho rằng, giới
tự nhiên là Thượng Đế, tự sinh ra có đặc tính tồn tại, có nguồn gốc từ thực thể duynhất dù thực thể đó là sự vật vật chất hay hiện tượng tinh thần; giữa thực thể vớicác sự vật có mối quan hệ hữu cơ là tính thống nhất với tính nhiều vẻ của của giới
tự nhiên Thực thể là vô cùng tận về không gian và vĩnh hằng về thời gian; sự vậtluôn vận động, biến đổi có sinh ra và mất đi; trong sự tồn tại đã chứa đựng tất yếusuy vong
Béccly (1685 - 1753, nhà triết học người Anh, đại biểu điển hình của chủnghĩa duy tâm chủ quan) cho rằng, chúng ta có thể nhận thức được sự vật, vì chúngtương đồng với con người Sự vật có nguồn gốc chủ quan, là hiện thân của cảmtính con người; giới tự nhiên được Béccơly coi là tổ hợp cảm giác của con người.Với luận điểm tồn tại nghĩa là được cảm giác, ông phê phán mọi quan niệm duyvật và cho rằng, tất cả mọi sự vật tạo nên vũ trụ không tồn tại ngoài tinh thần củacon người
sự chuẩn xác về khoa học ngôn ngữ dẫn tới ủng hộ quan điểm giáo điều; ngẫutượng nhà hát- đề cập tới ảnh hưởng có hại của nhiều học thuyết, quan niệm làmcản trở nhận thức chân lý Do vậy, Bêcơn coi phương pháp thực nghiệm là công cụchủ yếu nhận thức khoa học và khoa học cần nhận thức giới tự nhiên, chứ khôngcần những giáo lý của thần học
Trang 33+ Nghi ngờ là xuất phát điểm của triết học Đềcáctơ, ông phê phán tư tưởngcủa Giáo hội và chủ nghĩa Kinh viện coi toàn bộ các tri thức của con người đã đạtđược từ trước tới giờ là hoàn toàn đúng, mà cho rằng phải coi trí tuệ con người làtoà án thẩm định lại các tri thức Nghi ngờ là xuất phát của mọi nhận thức, nghingờ để kiểm tra lại, nhận thức lại tri thức để có cơ sở tin tưởng, bởi vậy nghi ngờcũng là tư duy, suy nghĩ Luận điểm tôi tư duy vậy là tôi tồn tại của ông chống lại
tư tưởng giáo điều, chống giáo lý của Nhà thờ; đề cao vai trò trí tuệ của con người
+ Xpinôda lại đề cao vai trò của kinh nghiệm bởi cho rằng, kinh nghiệm đemlại sự cảm thụ tính sinh động và đa dạng của các sự vật, đem lại hiểu biết về sự vậtđơn lẻ Ông đánh giá cao vai trò của trực giác bởi nó giúp con người nhận thứcđược bản chất đích thực của thực thể và coi trực giác là cái khả năng khám pháchân lý và là tiêu chuẩn của nhận thức Quá trình nhận thức giúp con người khámphá và tuân theo các quy luật của tự nhiên và con người nhờ đó, ngày càng tự do
+ Béccly coi thế giới là tổ hợp các cảm giác của con người Sự tồn tại củalinh hồn là sự cảm nhận và linh hồn chỉ tồn tại khi nó cảm nhận các sự vật khác.Quá đề cao cảm giác, ông đã đồng nhất toàn bộ các ý niệm của con người với cảmgiác; còn chân lý là sự phù hợp của suy diễn về sự vật
+ Hium cho rằng quá trình nhận thức không phải là nhận thức thế giới, mà lànhận thức những quá trình tâm lý xảy ra trong con người mà ông gọi là những cảmxúc Nghi ngờ sự tồn tại của thế giới bên ngoài, ông phê phán quan niệm coi vậtchất là thực thể của mọi vật mà cho rằng bản thân vật chất, thực thể v.v là tổng thểcác ý niệm đơn giản liên kết lại với nhau nhờ sự tưởng tượng Thực thể, sự vậtkhông tồn tại khách quan, chúng tồn tại trong hư cấu của con người và khoa học là
sự mô tả cảm xúc và trạng thái tâm lý của con người
- Tư tưởng về con người và bản tính con người
Tiếp tục phát triển tư tưởng nhân đạo thời Phục hưng, các nhà triết học Khaisáng lấy việc truyền bá tri thức tốt đẹp rộng rãi cho mọi người làm nhiệm vụ chínhcủa mình
+ Đềcáctơ đề cao vai trò của triết học đối với đời sống con người Theo ông,trình độ phát triển tư duy triết học là tiêu chuẩn quan trọng nhất để đánh giá mức
độ văn minh của con người và sự ưu việt của dân tộc này đối với dân tộc khác.Ông cho rằng triết học theo nghĩa rộng là tổng thể tri thức của con người về nhiềulĩnh vực; theo nghĩa hẹp là siêu hình học được coi như nền tảng của hệ thống thếgiới quan Triết học có hai nhiệm vụ 1) Xây dựng những nguyên lý, phương phápluận cơ bản làm cơ sở cho các khoa học khám phá ra chân lý và 2) Giúp con ngườilàm chủ và thống trị giới tự nhiên trên cơ sở nhận thức các quy luật của nó
+ Xpinôda cho rằng con người là một dạng thức bao gồm hai thuộc tính thểxác (quảng tính) linh hồn (ý thức) Con người là một dạng thức của thực thể, là sảnphẩm của tự nhiên, mọi hoạt động của con người phải tuân theo quy luật của giới
tự nhiên Linh hồn và thể xác là hai hình thức thể hiện của một thực thể, là hai cách
Trang 34thể hiện nội dung của một thể thống nhất; mọi quan niệm tách rời linh hồn khỏi thểxác và coi linh hồn có nguồn gốc siêu nhiên là sai lầm, là duy tâm.
+ Beccơly cho rằng con người là kết quả kết hợp giữa linh hồn với thể xác.Thể xác thuộc về tự nhiên và tồn tại là nhờ linh hồn cảm nhận; coi sự hoàn thiệntối cao của bản chất con người ở chỗ nhận thức và thực hiện các giáo lý Béccơly
là đại biểu điển hình của chủ nghĩa duy tâm chủ quan thời Cận đại có đóng góp lớntrong phê phán sự hạn chế và bất lực của triết học và khoa học cuối thế kỷ XVIIđầu XVIII ở tây Âu
+ Hium phê phán các quan niệm coi linh hồn con người là một thực thể màcoi con người là sự liên kết hay một chùm các giá trị khác nhau, cái này kế tiếp cáikia nằm trong quá trình biến đổi Hium nghi ngờ mọi cái mà nhân loại đã đạt được,không tin vào các chuẩn mực đạo đức, truyền thống và nhấn mạnh phải giữ gìntính hoài nghi luận của mình trong mọi trường hợp của cuộc sống
- Tư tưởng về đạo đức
+ Đặc điểm chung của tư tưởng về đạo đức thời Cận đại là dường như quaylại với tư tưởng về đạo đức trong triết học Hy Lạp cổ đại Các nhà triết học thờiCận đại mong muốn xây dựng mô hình tư tưởng, trong đó liên hiệp và hệ thốnghoá những tư tưởng về đạo đức đã có từ thời Cổ đại và Trung cổ
+ Tư tưởng về đạo đức của một số nhà triết học tiêu biểu
Hốpxơ gắn đạo đức học với đạo đức về nhà nước và pháp quyền, theo đócon người phải chuyển từ trạng thái tự nhiên sang trạng thái xã hội hay trạng tháinhà nước với lý do là sự ích kỷ và đấu tranh lẫn nhau là là những đặc điểm phổbiến của bản chất con người Xpinôda coi nhiệm vụ của đạo đức là giúp con ngườithắng được những lỗi lầm do ham muốn và sùng bái tôn giáo gây ra, theo đó nhiệm
vụ của đạo đức là khắc phục được sự nô lệ (những ham muốn), làm chủ được tìnhcảm, điều khiển được ham muốn để phát triển lành mạnh và có hạnh phúc chânchính
Các nhà duy vật Pháp thế kỷ XVIII (còn được gọi là phái Bách khoa toànthư) chống lại đạo đức tôn giáo và cho rằng, đạo đức không sinh ra cùng với conngười mà sinh ra do sự tác động của môi trường xã hội, mà trước hết là môi trườngchính trị và pháp luật; do vậy nếu con người muốn đạt đến đạo đức cao cả thì cầnthay đổi điều kiện xã hội Điđrô (1713 - 1784) coi sự thiết tha muốn sống đạo đức
là nguyên tắc đạo đức của con người; gắn đạo đức với khoa học tự nhiên, đối lậpđạo đức với tôn giáo; lợi ích cá nhân phải được kết hợp hợp lý với lợi ích xã hội.Henvêtiúyt (1715 - 1771) đề xướng thuyết đạo đức trần thế, theo đó hạnh phúcchung là nguồn gốc của đức hạnh, là mục tiêu của luật lệ, phong tục, tập quán;hạnh phúc cá nhân phải kết hợp với hạnh phúc chung Hônbách (1723 - 1789)khẳng định con người sinh ra vốn không thiện, không ác; mọi lỗi lầm của conngười đều do điều kiện xung quanh, chủ yếu là điều kiện chính trị gây nên; sự hiểubiết đúng đắn về lợi ích cá nhân dẫn tới đức hạnh; nhiệm vụ của đạo đức là chỉ ra
Trang 35những điều kiện, trong đó lợi ích cá nhân là cơ sở tất yếu để dung hoà với lợi ích
xã hội
c Đặc điểm cơ bản của triết học tây Âu thời Cận đại
- Triết học tây Âu thời Cận đại được coi là thế giới quan của giai cấp tư sảnđang còn cách mạng, tiến bộ Nhiều luận điểm triết học duy vật được chứng minhbằng các thành tựu của khoa học thực nghiệm (chuyên ngành) tạo nên vị thế củaphương pháp siêu hình- là phương pháp chủ yếu trong nhận thức luận triết học thờibấy giờ
- Triết học tây Âu thời Cận đại đi sâu nghiên cứu vấn đề con người và đãnghiên cứu trong cả mối quan hệ với tự nhiên và cả với chính mình
IV TRIẾT HỌC CỔ ĐIỂN ĐỨC
1 Điều kiện ra đời và phát triển của triết học cổ điển Đức
Triết học cổ điển Đức ra đời cuối thế kỷ XVIII đến giữa thế kỷ XIX trongmột liên bang phong kiến cát cứ có 360 quốc gia, lạc hậu về kinh tế và chính trị với
sự phản kháng của giai cấp tư sản Đức và muốn làm cách mạng tư sản như Hà Lan,Anh, Pháp Nhưng do nhỏ bé về số lượng, yếu kém về kinh tế và chính trị nên giaicấp tư sản Đức vừa muốn làm cách mạng vừa muốn thoả hiệp với tầng lớp phongkiến nên có lập trường cải lương
2 Một số nội dung triết học cổ điển Đức
a Tư tưởng về nguồn gốc thế giới
Tư tưởng về nguồn gốc thế giới trong triết học cổ điển Đức đầy mâu thuẫnthể hiện ở tính duy tâm, duy vật và nhị nguyên của các nhà triết học tiêu biểu
- Trong triết học nhị nguyên của Cantơ (1724 - 1804), thế giới được tạo nên
từ vật tự nó tồn tại khách quan và tác động lên các giác quan con người, nhưng các
sự vật mà con người nhận thấy được chỉ là các hiện tượng phù hợp với các cảmgiác và tri giác do lý tính con người tạo ra, không liên quan tới vật tự nó
- Trong triết học duy tâm khách quan của Hêghen (1770 - 1831), ý niệmtuyệt đối là nguồn gốc của mọi sự vật, hiện tượng tự nhiên và xã hội
- Trong triết học duy vật nhân bản của Phoiơbắc (1804 - 1872), thế giới làthế giới vật chất, tồn tại độc lập và không phụ thuộc vào bất kỳ học thuyết triết họcnào, do vậy cơ sở tồn tại của giới tự nhiên nằm trong giới tự nhiên
b Tư tưởng biện chứng
Ra đời vào cuối thế kỷ XVIII, đầu thế kỷ XIX, khởi đầu từ Cantơ quaPhíctơ, Sêlinh và phát triển đến đỉnh cao ở Hêghen, đây là hình thức thứ hai củaphép biện chứng, hình thức quen thuộc nhất với các nhà khoa học tự nhiên Đức, làtriết học cổ điển Đức
- Là người sáng lập phép biện chứng cổ điển Đức, những quan điểm biệnchứng của Cantơ thể hiện rõ nét ngay từ thời kỳ tiền phê phán (1746 - 1770), theo
đó phát triển không những chỉ là trạng thái tự nhiên, mà còn là nguyên lý quan
Trang 36trọng để nhận thức tự nhiên và nguyên lý này phải được vận dụng trong mọi khoahọc chuyên ngành.
- Trái lại, phép biện chứng duy tâm của Hêghen thể hiện trong quan điểmcủa ông về mâu thuẫn; về quy luật lượng - chất; về các phạm trù riêng - chung, bảnchất - hiện tượng, nguyên nhân - kết quả v.v Đặc biệt là quan niệm về sự pháttriển, theo đó phát triển được coi là sự tự phát triển của ý niệm tuyệt đối, từ tồn tạiđến bản chất, từ bản chất đến khái niệm, trong đó khái niệm vừa là chủ thể, vừa làkhách thể, đồng thời là ý niệm tuyệt đối Hêghen coi phát triển là nguyên lý cơ bảnnhất của phép biện chứng với phạm tr�� trung tâm là tha hoá và khẳng định thahoá diễn ra ở mọi nơi, mọi lúc trong cả tự nhiên, xã hội và tinh thần
c Tư tưởng về con người
Trong triết học cổ điển Đức, con người vừa là chủ thể, vừa là kết quả củaquá trình hoạt động của mình và có bản chất xã hội
- Tư tưởng về con người trong triết học Cantơ bắt đầu tư tưởng về sự thốngnhất của loài người Sự phát triển của loài người dược ông phân chia thành bốnbước 1) chuyển từ trạng thái động vật sang trạng thái có tính người; từ lệ thuộc vàobản năng sang sự chỉ đạo của lý trí 2) khi lý trí đã đóng vai trò chủ yếu- mối quan
hệ giữa các cá nhân trong xã hội đã do lý trí chỉ đạo; ở con người đã xuất hiện nhucầu giáo dục 3) hãy sống cho thế hệ mai sau, tức là sự phát triển hướng tới tươnglai 4) bước phát triển được thực hiện bằng lý trí và từ đây, con người vượt lên convật Bản chất hoạt động của con người được thể hiện trong triết học thực tiễn, theo
đó con người trong triết học th��c tiễn chính là con người đã được bàn tới trongtriết học lý luận, bây giờ được nghiên cứu trong trong hoạt động thực tiễn (nghĩahẹp là hoạt động đạo đức, nghĩa rộng là hoạt động chính trị, lịch sử, pháp luật, vănhoá v.v)
- Hêghen lại coi thế giới vật chất là con người vô cơ, ở giai đoạn chưa hìnhthành; còn con người bằng xương, bằng thịt là con người đã phát triển đầy đủ, làcon người đã trở về với bản thân mình với tất cả những đặc tính vốn có Con ngườivừa là chủ thể, vừa là kết quả của quá trình hoạt động của chính mình; tư duy, trítuệ con người được hình thành và phát triển khi con người nhận thức và cải biếnthế giới đối lập với mình thành thế giới của mình; hoạt động càng phát triển thì ýthức càng mang bản chất xã hội
- Tư tưởng về con người trong triết học nhân bản của Phoiơbắc được bắt đầu
từ quan điểm coi con người là sản phẩm cao nhất của giới tự nhiên và nhận thứccon người là nền tảng để nhận thức thế giới và giải quyết vấn đề cơ bản của triếthọc Con người là sự thống nhất giữa vật chất và tinh thần; con người sáng tạo raThượng Đế; thần thánh là bản chất con người được tinh chế, khách quan hoá, táchrời con người hiện thực, tôn giáo là bản chất con người đã bị tha hoá Phoiơbắc chorằng bản chất tự nhiên của con người là hướng tới cái chân, cái thiện, hướng tới cái
gì đẹp nhất trong một hình tượng đẹp nhất về con người; những điều kiện , môi
Trang 37trường và hoàn cảnh sốngcó tác động to lớn đối với tư duy và ý thức con người ởtrong cung điện người ta suy nghĩ khác trong túp lều tranh; các thời đại khác nhau
là do sự khác nhau của các tôn giáo, muốn thay đổi xã hội cũ bằng một xã hội mớichỉ cần thay đổi tôn giáo cũ bằng tôn giáo mới
d Tư tưởng về đạo đức
Bước phát triển mới của đạo đức học được thể hiện trong học thuyết đạođức của các nhà triết học cổ điển Đức
- Cantơ coi lý tính là nguồn gốc duy nhất sinh ra các nguyên lý, chuẩn mựcđạo đức; còn các khát vọng cảm tính đưa con người đến hưởng thụ cá nhân, ích kỷ,phi đạo đức Nguyên tắc cơ bản của đạo đức là tuân theo mệnh lệnh tuyệt đối vàchỉ khi hành động phù hợp với mệnh lệnh tuyệt đối thì mới được coi là có đạo đức;theo đó mệnh lệnh tuyệt đối là quy định đạo đức chung mà mọi người đều phảithực hiện để tôn trọng mình, tôn trọng người, tôn trọng lẽ phải, tôn trọng sự thật vàtiêu chuẩn đánh giá giá trị đạo đức là có lợi cho công dân và xã hội Phạm trù trungtâm của đạo đức Cantơ là tự do với quan niệm ý chí tự do và ý chí tuân theo cácquy luật đạo đức là như nhau
- Tư tưởng về đạo đức của Hêghen gắn liền với tư tưởng về pháp quyền, đạođức, gia đình, xã hội công dân và nhà nước trong sự tha hoá của tinh thần đạo đứckhách quan Trong đạo đức học của Hêghen, phạm trù cái thiện và cái ác tồn tạitrong những mâu thuẫn nội tại và sự chuyển hoá lẫn nhau giữa chúng trong nhữngđiều kiện cụ thể của quá trình lịch sử Hai phạm trù ấy thể hiện trọn vẹn ý chí củacon người đối với cái toàn năng, thể hiện sự thống nhất giữa đạo đức cá nhân vớicác quyền lợi chung; nghĩa vụ của đạo đức cao cả là yêu nước, phục tùng nhànước
- Tư tưởng về đạo đức của Phơibắc thể hiện trong việc xác định được sự hàihoà giữa nghĩa vụ với hạnh phúc, với các lợi ích của con người Nguyên tắc cơ bảncủa đạo đức là sự yêu thương lẫn nhau giữa con người và nguyện vọng tự nhiênmuốn có hạnh phúc của nó, trong đó tình yêu có thể khắc phục được bất công xãhội, đau khổ của con người
3 Đặc điểm cơ bản của triết học cổ điển Đức
- Triết học cổ điển Đức có nội dung cách mạng trong hình thức duy tâm,bảo thủ; đề cao vai trò tích cực của tư duy con người; coi con người là th���cthể hoạt động và là nền tảng, điểm xuất phát của mọi vấn đề triết học
- Phép biện chứng trong triết học cổ điển Đức trở thành phương pháp đốilập với phương pháp siêu hình trong việc nghiên cứu các sự vật, hiện tượng tựnhiên và xã hội
V MỘT SỐ TRÀO LƯU TRIẾT HỌC PHƯƠNG TÂY HIỆN ĐẠI
1 Điều kiện ra đời và phát triển của triết học phương Tây hiện đại
- Triết học phương Tây hiện đại là các học trường phái triết học xuất hiện từgiữa thế kỷ XIX đến đầu thế kỷ XX Ba khuynh hướng chủ yếu là chủ nghĩa duy
Trang 38khoa học, chủ nghĩa nhân bản phi lý tính và triết học tôn giáo mà chủ nghĩa Tômátmới là tiêu biểu.
- Triết học phương Tây hiện đại có xu hướng điều hoà mâu thuẫn giữa khoahọc với tôn giáo; điều hoà sự tách biệt đối lập giữa chủ nghĩa duy lý với chủ nghĩanhân bản
2 Một số nội dung triết học phương Tây hiện đại
a Triết học duy khoa học
Người sáng lập là Côngtơ, triết học duy khoa học ra đời từ thế kỷ XIX, vàođầu thế kỷ XX Triết học duy khoa học tồn tại trong hai hình thức là chủ nghĩathực chứng, hậu thực chứng và chủ nghĩa thực chứng mới
b Triết học nhân bản phi lý tính
Người sáng lập là Sôpenhauơ Triết học nhân bản tồn tại trong ba hình thức
là triết học cuộc sống, triết học hiện sinh và triết học Phơrớt
c Triết học tôn giáo
Điển hình của triết học tôn giáo là chủ nghĩa Tômát mới
3 Đặc điểm của triết học phương Tây hiện đại
- Hoà nhập với triết học tôn giáo
- Thâm nhập hoặc hoà nhập lẫn nhau giữa các trường phái
- Thâm nhập vào triết học Mác nói riêng và chủ nghĩa Mác nói chung./
Trang 39CHƯƠNG IV KHÁI LƯỢC LỊCH SỬ TRIẾT HỌC MÁC - LÊNIN
PGS.TS Đoàn Đức Hiếu, Đại học Huế
-Người trình bày: Tiến sỹ Nguyễn Thái Sơn, Đại học Quốc gia Hà Nội Điện thoại 0913541171.
Đối tượng: Học viên cao học ngành Kinh tế, Sư phạm v.v.
Thời lượng: 8 tiết trên lớp, 4 tiết tự học (Giảng viên nêu những vấn đề
tự học).
Thời gian: 17g30 các tối 18/12/06, 21/12/06 & 19/12/06, 22/12/06.
Địa điểm: Hội trường 8, Nhà B4, Trường Đại học Ngoại ngữ.
-I ĐIỀU KIỆN RA ĐỜI CỦA TRIẾT HỌC MÁC
1 Điều kiện kinh tế - xã hội
- Sự phát triển mạnh mẽ của lực lượng sản xuất do tác động của cuộc cáchmạng khoa học kỹ thuật làm cho phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa thể hiệntính hơn hẳn so với phương thức sản xuất phong kiến Đồng thời với sự phát triển
đó, mâu thuẫn vốn có, nội tại nằm trong phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩangày càng trở nên sâu sắc và gay gắt hơn Đó là mâu thuẫn giữa tính xã hộicủa quá trình sản xuất và trình độ phát triển ngày càng cao của lực lượng sảnxuất với hình thức sở hữu tư liệu sản xuất tư nhân; tổ chức, quản lý, phân công laođộng và hưởng thụ sản phẩm lao động xã hội bất bình đẳng Sản phẩm xã hội tănglên nhưng lý tưởng về tự do, bình đẳng, bác ái không được thực hiện Bất công xãhội tăng, đối kháng xã hội thêm sâu sắc Giai cấp tư sản không còn đóng vai trò làgiai cấp cách mạng trong xã hội
- Mâu thuẫn giữa vô sản với tư sản, vốn mang tính đối kháng, đã biểu hiệnthành đấu tranh giai cấp Khởi nguồn là cuộc khởi nghĩa của thợ dệt Lyông (1831
và 1834) "đã vạch ra một điều bí mật quan trọng- đó là cuộc đấu tranh bên trong,diễn ra trong xã hội, giữa giai cấp những người có của và giai cấp những kẻ không
có gì hết; phong trào Hiến chương ở Anh (1830-1840) là phong trào cách mạng vôsản to lớn đầu tiên, thật sự có tính chất quần chúng và có hình thức chính trị Giaicấp vô sản xuất hiện với tư cách là một lực lượng chính trị - xã hội với sứ mệnhtiên phong, đã ý thức được những lợi ích cơ bản của mình và tiến hành đấu tranh tựgiác chống giai cấp tư sản
- Thực tiễn cách mạng vô sản nảy sinh nhu cầu khách quan là những vấn đề
mà thời đại đặt ra cần phải được soi sáng bằng lý luận khoa học trên lập trường củagiai cấp vô sản để giải đáp những vấn đề thực tiễn của thời đại đặt ra Chủ nghĩaMác xuất hiện với tính cách là hệ tư tưởng khoa học của giai cấp công nhân, đưa
Trang 40phong trào công nhân từ tự phát lên tự giác vì có lý luận khoa học của mình dẫnđường.
2 Tiền đề lý luận
Toàn bộ thiên tài của Mác chính là ở chỗ ông đã giải đáp được những vấn đề
mà mà tư tưởng tiên tiến của nhân loại đã nêu ra Học thuyết của ông ra đời là sựthừa kế thẳng và trực tiếp những học thuyết của các đại biểu xuất sắc nhất trongtriết học, trong kinh tế chính trị học và trong chủ nghĩa xã hội
- Phép biện chứng duy tâm của Hêghen là sự phát triển cao với hình thức vànội dung phong phú Về hình thức, phép biện chứng đó bao quát cả ba lĩnh vực, bắtđầu từ các phạm trù lôgíc thuần tuý đến lĩnh vực tự nhiên, tinh thần và kết thúcbằng biện chứng của toàn bộ quá trình lịch sử Về nội dung, phép biện chứng đóđược chia thành tồn tại, bản chất và khái niệm Trong đó, Hêghen coi phát triển lànguyên lý cơ bản nhất của phép biện chứng với phạm trù trung tâm là tha hoá vàkhẳng định tha hoá được diễn ra ở mọi nơi, mọi lúc trong cả tự nhiên, xã hội vàtinh thần
- Phoiơbắc là một trong những nhà duy vật lớn, ông đã chứng minh thế giới
là thế giới vật chất; cơ sở tồn tại của giới tự nhiên chính là giới tự nhiên không do
ai sáng tạo ra và tồn tại độc lập với ý thức Tư duy, ý thức con người là sự phảnánh của dạng vật chất tổ chức cao về thế giới Khi phát triển lý luận nhận thức duyvật, Phoiơbắc đã dựa vào thực tiễn để xem xét mọi hiện tượng thuộc về con người
và xã hội Con người trong quan niệm của Phoiơbắc là con người trừu tượng, philịch sử, mang những thuộc tính sinh học bẩm sinh nên chứa đựng nhiều yếu tố củachủ nghĩa duy tâm
- C.Mác và Ph.Ăngghen đã kế thừa bằng cách cải tạo, lột bỏ cái vỏ thần bí
để xây dựng nên phép biện chứng duy vật Giải thoát chủ nghĩa duy vật khỏi tínhsiêu hình, các ông đã làm cho nó trở nên hoàn bị và mở rộng học thuyết ấy từ chỗnhận thức giới tự nhiên đến chỗ nhận thức xã hội loài người, chủ nghĩa duy vật lịch
sử của Mác là thành tựu vĩ đại nhất của tư tưởng nhân loại
3 Tiền đề khoa học tự nhiên
Trong những thập kỷ đầu thế kỷ XIX, khoa học tự nhiên phát triển mạnh vớinhiều phát minh quan trọng và với những phát minh đó, khoa học đã cung cấp cơ
sở tri thức khoa học để tư duy biện chứng vượt lên tính tự phát của phép biệnchứng cổ đại, thoát khỏi tính thần bí của phép biện chứng duy tâm và trởthành khoa học
- Định luật bảo toàn và chuyển hoá năng lượng của các nhà khoa học tự
nhiên chứng tỏ lực cơ học, nhiệt, ánh sáng, điện tử, các quá trình hoá học khôngtách rời nhau, mà liên hệ với nhau và hơn thế nữa, trong những điều kiện nhấtđịnh, chúng chuyển hoá cho nhau mà không mất đi, chỉ có sự chuyển hoá khôngngừng của năng lượng từ dạng này sang dạng khác Định luật đã dẫn đến kết luận