1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Phan tich tai chinh vinamilk toi 2010 pps

36 192 1
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 36
Dung lượng 478,94 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong những năm tới thì nhu cầu tiêu dùng sữa và sản phẩm sữa trong nước sẽ ngày càng cao do dân số tăng, tốc độ đô thị hoá – công nghiệp hoá, thu nhập được cải thiện và nhận thức của ng

Trang 1

PHÂN TÍCH CÔNG TY VINAMILK

A TỔNG QUAN VỀ NGÀNH SỮA THẾ GIỚI.

Theo công bố của Tập đoàn sữa LTO Nederland (Hà Lan) thì giá trung bình tháng 1/2011 trên thị trường quốc tế đối với sữa tươi nguyên liệu theo tiêu chuẩn hoá được các công ty sữa thu mua cho các trang trại bò sữa là 32,85 Euro cho 100 kg sữa tiêu chuẩn hoá (quy định hàm lượng chất béo là 4,3%, protên thô là 3,4%, 500.000 kg/năm, tổn lượng vi khuẩn là 24,999 và số lượng tế bào soma là 249.999) Mức giá này cao hơn 14,5% so với tháng 1/2010 (tăng thêm 4.16 Euro) Giá sữa trung bình ở châu Âu tháng 1/2011 tăng 0,55 Euro so với tháng 12/2010 Với các nước khác nhau thì giá sữa tháng 1/2011 được thu mua ở mức 39,70 Euro/100 kg ở Ý, 33,89 Euro/100 kg ở New Zealand, 25,41 ở Hoa Kỳ… Những thay đổi trong giá sữa chủ yếu là do điều chỉnh theo mùa Chỉ

có một số công ty tăng hay giảm giá sữa của họ

Sản xuất sữa thế giới trong năm 2009 ước đạt 701 triệu tấn, tăng 1% so với năm trước Tốc độ tăng trưởng sản xuất ở các nước đang phát triển nhanh hơn các nước phát triển và rõ nét hơn vào năm 2010, với dự kiến là tăng trưởng ở các nước đang phát triển là 4% so với sản lượng không mấy thay đổi ở các nước phát triển.Sản xuất sữa năm 2010 tăng khoảng 2% lên 714 triệu tấn

Bảng 1: thị trường sữa thế giới.

Đầu vào cho ngành chế biến sữa bao gồm sữa tươi và sữa bột, trong đó thương mại giữa các nước về sữa bột chiếm chủ đạo Sữa bột nguyên liệu bao gồm sữa bột gầy và sữa bột nguyên kem, có những biến động mạnh từ 2007 trở lại đây Sự phục hồi của giá sữa thế giới từ giữa năm 2009 ban đầu được coi là hiện tượng ngắn hạn, song được củng cố khi giá sữa bột giữ mức trên 3.000 USD/ tấn FOB từ cảng châu Úc Xu thế tăng giá của sữa bột được dự doán sẽ tiếp tục do nhu cầu gia tăng, khi GDP các nước phát triển và đang phát triển có xu hướng tăng Bên cạnh cầu nhập khẩu nguyên liệu sữa tăng lên, các nguồn cung xuất khẩu dự báo sẽ bị hạn chế vì sản lượng nội địa của Mỹ và châu Âu giảm vào năm 2010 Đồng thời nguồn cung sẽ bị hạn chế vào thời điểm mùa khô ở New

Trang 2

Zealand, và do giá lương thực thế giới tăng mạnh làm gia tăng chí phí đầu vào cũng là nguyên nhân làm giảm nguồn cung sữa Giá sữa năm 2010 tăng khoảng 3600-3700

USD/tấn tức là tăng khoảng 20% so với năm 2009

B TỔNG QUAN VỀ NGÀNH SỮA VIỆT NAM.

Trong vòng 10 năm trở lại đây, ngành sữa Việt Nam đã có sự phát triển rất mạnh mẽ nhờ vào sự tăng trưởng của nền kinh tế Các doanh nghiệp sản xuất sữa tại Viêt Nam đã không ngừng nghiên cứu phát triển, nâng cao chất lượng sản phẩm, đồng thời cải tiến cơ

sở hạ tầng để tạo điều kiện cho sự gia tăng chung về tính đa dạng, và sản lượng sản phẩm sữa được sản xuất tại Việt Nam Thị trường sữa Việt Nam cũng đã tiếp nhận sự tràn vào của các công ty đa quốc gia

Theo Tổ chức Nông Lương Liên Hiệp Quốc thì tăng trưởng ngành sữa ở các nước đang phát triển là trên 4% và xu hướng này càng tăng nhanh so với các nước phát triển

Trang 3

Việt Nam cũng là một nước đang phát triển và ngành sữa là một trong những ngành đạt tốc độ tăng trưởng nhanh nhất trong ngành thực phẩm ở Việt Nam, với mức tăng trưởng doanh thu trung bình đạt 18% năm Trong những năm tới thì nhu cầu tiêu dùng sữa và sản phẩm sữa trong nước sẽ ngày càng cao do dân số tăng, tốc độ đô thị hoá – công nghiệp hoá, thu nhập được cải thiện và nhận thức của người tiêu dùng về giá trị dinh dưỡng của sữa, đặc biệt cho trẻ em.

1 Môi trường nhân khẩu học của nước ta:

Kết cấu dân số (số liệu của cục thống kê lúc0 giờ ngày 01 tháng 4 năm 2009)

• Tổng dân số: 85.789.573 người

• Số nữ giới: 43.307.024 người

• Tỷ số giới tính: 98,1 nam trên 100 nữ

• Tỷ lệ tăng dân số: 1,2% (2009)

• Số dân sống ở khu vực thành thị: 25.374.262 người (chiếm 29.6% dân số cả nước)

Cơ cấu độ tuổi:

• 0-14 tuổi: 29,4% (nam 12.524.098; nữ 11.807.763)

• 15-64 tuổi: 65% (nam 26.475.156; nữ 27.239.543)

• trên 65 tuổi: 5,6% (nam 1.928.568; nữ 2.714.390)

Qua cơ cấu dân số cho thấy với hơn 85 triệu dân, tỉ lệ tăng hàng năm vào khoảng 1.2% , mỗi năm có khoảng hơn 1 triệu trẻ em ra đời, trẻ em dưới 14 tuổi chiếm gần 30%, đây

Hơn nữa, mức tiêu thụ sữa bình quân đầu người tại Việt Nam chừng 14lít/người/năm, còn ở mức rất thấp so với các nước và vùng lãnh thổ khác trong khu vực và trên thế giới như Thuỵ Sỹ 140 lít/người/năm, Hà Lan 120 lít/người/năm, Úc 110 lít/người/năm, Đài Loan 40 lít/người/năm…

Sữa hiện nay được tiêu thụ chủ yếu tại các thành phố lớn, khu vực thành thị có kinh tế phát triển, còn tại các vùng nông thôn thì rất thấp Theo số liệu thống kê của Viện Dinh dưỡng thì người dân thành thị sử dụng lượng sữa bình quân hàng năm nhiều gấp 4 lần người dân nông thôn

Trang 4

Các vùng nông thôn càng nghèo, càng xa thì cơ hội được dùng các sản phẩm sữa càng

ít Ngay ở các vùng nông thôn thì mức tiêu thụ sữa của các xã nghèo chỉ bằng một phần năm mức tiêu thụ sữa ở xã không nghèo Trong tương lai khi mức thu nhập bình quân tăng lên thì mức tiêu thụ sữa cũng sẽ gia tăng cả ở khu vực thành thị và nông thôn

Cùng với sự phát triển của nền kinh tế, thu nhập người dân ngày càng tăng làm cho mức sống cũng tăng theo, do đó nhưu cầu sử dụng các sản phẩm làm từ sữ ngày càng gia tăng đáng kể

2 Chính sách về xuất nhập khẩu Sữa:

Theo số liệu ngày 01/10/2011 của Tổng cục Thống kê, tổng đàn bò sữa của cả nước tăng 11,31% so với năm 2009, từ 115.518 con lên 128.583 con, tăng thêm 13.065 con So với năm 2009, tổng sản lượng sữa tươi nguyên liệu sản xuất năm 2010 tăng

10.23%, tăng thêm 28.472 tấn từ 278.190 tấn năm 2009 lên 306.662 năm 2010 Lượng sữa tươi nguyên liệu này chỉ đáp ứng được khoảng 22% nhu cầu tiêu dùng sữa ở Việt Nam, phần còn lại Việt Nam phải nhập khẩu Theo số liệu của tổng cục hải quan, nhập khẩu sữa bột hàng năm ở mức 300 - 400 triệu USD

Nhìn chung khả năng cạnh tranh của các sản phẩm sữa Việt Nam không cao do phải phụ thuộc chủ yếu vào nguyên liệu và thiết bị nhập khẩu Tuy nhiên, tùy theo sản phẩm sữa mà tính cạnh tranh khác nhau Chẳng hạn như sản phẩm sữa đặc có đường, sữa nước và sữa chua được đánh giá là có khả năng cạnh tranh cao do tỷ lệ sữa tươi trong nước sản xuất ngày càng cao (hiện nay đáp ứng 22% nguyên liệu, dự kiến đến năm 2020, nguồn nguyên liệu sữa tươi đáp ứng từ 38- 40% cho sản xuất)

Các chính sách chăn nuôi bò đang được đẩy mạnh góp phần tăng cường nguồn nguyên liệu cho các công ty sản xuất sữa trong nước thay vì nhập khẩu, để tăng sức cạnh tranh.Bên cạnh đó, việc Việt Nam gia nhập WTO là một cơ hội lớn cho sữa Việt Nam gia nhập thị trường thế giới và học hỏi kinh nghiệm trong việc chế biến chăn nuôi và quản lý…để hoàn thiện hơn tạo ra những sản phẩm sữa chất lượng tốt và giá cả rẻ hơn

Qua đó chúng ta cũng thấy được mối đe dọa cho ngành sữa Việt Nam là việc hội nhập

tổ chức thương mại thế giới WTO sẽ khiến cho các nhà máy sản xuất sữa nhỏ tại Việt Nam sẽ không có sức cạnh tranh với các tập đoàn sữa lớn mạnh trên thế giới như Mead Johnson, Abbott… Thêm vào đó chúng ta lại chưa có một mô hình chăn nuôi quản lý một cách hiệu quả Nguồn nguyên liệu của chúng ta còn thiếu rất nhiều buộc chúng ta luôn phải nhập khẩu nguyên liệu từ nước ngoài làm cho giá của các loại sữa tăng cao, chính vì thế ngành sữa Việt Nam cần phải nổ lực rất lớn

PORTER.

1 Cạnh tranh nội bộ ngành.

Thị trường sữa Việt Nam có tới hơn 50 công ty sữa lớn nhỏ, tuy nhiên sự phân bố thị phần lại không đồng đều Trong đó tính thị phần theo giá trị thì Vinamilk và Dutch Lady (một liên doanh với Hà Lan có nhà máy đặt tại Bình Dương) hiện là 2 công ty sản xuất sữa lớn nhất cả nước, đang chiếm gần 60%, Sữa ngoại nhập từ các hãng như Mead

Trang 5

Johnson, Abbott, Nestle chiếm khoảng 22% thị phần, với các sản phẩm chủ yếu là sữa bột Còn lại 19% thị phần thuộc về khoảng trên 20 công ty sữa có quy mô nhỏ như Nutifood, Hanoi Milk, Ba Vì…

Sữa bột hiện đang là phân khúc cạnh tranh khốc liệt nhất giữa các sản phẩm trong nước và xuất khẩu, các loại sữa bột nhập khẩu chiếm khoảng 65% thị phần, Vinamilk và Dutch Lady hiện đang chiếm giữ thị phần lần lượt là 16% và 20%

Phân khúc thị trường sữa đặc và sữa nước chủ yếu do các công ty trong nước nắm giữ: Chỉ tính riêng Vinamilk và Dutchlady, 2 công ty này đã chiếm khoảng 72% thị phần trên thị trường sữa nước và gần 100% thị trường sữa đặc, phần còn lại chủ yếu do các công ty trong nước khác nắm giữ

Thị trường sữa trong nước được đánh giá là thị trường có nhiều tiềm năng tăng trưởng trong tương lai, và đây cũng là thị trường có biên lợi nhuận biên khá hấp dẫn Trong những năm trở lại đây, sữa là một trong những ngành đạt tốc độ tăng trưởng nhanh nhất trong ngành thực phẩm ở Việt Nam

2 Nhà cung cấp:

Xét về quy mô ngành chăn nuôi bò sữa, 95% số bò sữa được nuôi tại các hộ gia đình, chỉ 5% được nuôi tại các trại chuyên biệt với qui mô từ 100-200 con trở lên (VEN, 2009) Điều này cho thấy người dân nuôi bò tự phát, dẫn đến việc không đảm bảo số lượng và chất lượng và làm giảm khả năng thương lượng của các nhà cung cấp trong nước Do đó, các công ty sữa trong nước nắm thế chủ động trong việc thương lượng giá thu mua sữa trong nước

Ngành sữa Việt Nam vẫn chịu phụ thuộc nhiều vào nguồn nguyên liệu nước ngoài Hơn 70% đầu vào là nhập khẩu, giá sữa bột thế giới sẽ gây áp lực lên ngành sản xuất sữa Việt Nam Trong thời gian tới, giá sữa bột có xu hướng tăng Do đó, việc kiểm soát được các hợp đồng mua sữa bột, cả về số lượng và chất lượng là rất quan trọng đến năng lực cạnh tranh của các công ty Tuy nhiên, với diễn biến giá sữa khó nắm bắt như những năm gần đây, các nhà sản xuất trong nước vẫn ở trong thế bị động khi phản ứng với diễn biến giá cả nguồn nguyên liệu nhập khẩu

3 Áp lực từ người mua

Trang 6

Người tiêu dùng có khả năng gây áp lực lớn cho các công ty về chất lượng của sản phẩm Hiện tại các sản phẩm sữa rất đa dạng và có thể thay thế cho nhau, và yếu tố giá cả không phải là quan trọng nhất đối với người tiêu dùng khi lựa chọn các sản phẩm sữa Các công ty phải cạnh tranh với nhau bằng chất lượng, sự đa dạng của sản phẩm, sức mạnh thương hiệu… rồi mới đến cạnh tranh bằng giá cả.

Các khách hàng trực tiếp là các đại lý phân phối nhỏ lẻ, các trung tâm dinh dưỡng…có khả năng tác động đến quyết định mua hàng của người tiêu dùng Các công

ty sữa trong nước và các đại lý độc quyền của các hãng sữa nước ngoài phải cạnh tranh để

có được những điểm phân phối chiến lược, đặc biệt là các trung tâm dinh dưỡng, bệnh viện, nhà thuốc vì họ có thể tác động đến quyết định mua sản phẩm sữa nào của các khách hàng mua lẻ/ cuối cùng thông qua tư vấn, giới thiệu sản phẩm

4 Áp lực từ sản phẩm thay thế.

Áp lực về sản phẩm mới trong ngành này là không nhiều, do đặc thù của sữa là sản phẩm bổ sung dinh dưỡng thiết yếu Tuy nhiên, sẽ có sự cạnh tranh giữa các sản phẩm trong ngành về thị phần, ví dự như sữa đậu nành hay các sản phẩm đồ uống ngũ cốc, ca cao… có thể làm giảm thị phần của các sản phẩm sữa nước

5 Áp lực từ những đối thủ mới

Đặc điểm ngành sữa là tăng trưởng ổn định, lợi nhuận cao, thị phần đã tương đối

ổn định; để gia nhập ngành đòi hỏi các công ty mới phải có tiềm lực vốn lớn để vượt qua các hàng rào gia nhập như:

Đặc trưng hóa sản phẩm: Hiện nay, thị trường sữa Việt Nam hiện nay đã có mặt của hầu hết các hãng sữa lớn trên thế giới, và các hãng sữa lớn đã có một thị phần nhất định và

ít thay đổi trong thời gian qua Do đó, các đối thủ mới muốn gia nhập phải đầu tư mạnh mẽ

để thay đổi sự trung thành của các khách hàng hiện tại

Yêu cầu về vốn: phải đủ lớn để cho nhu cầu quảng cáo, nghiên cứu, phát triển Kênh phân phối: các kênh phân phối sản phẩm hiện tại của ngành sữa đã được các doanh nghiệp hiện có sử dụng Do đó, các đối thủ khi gia nhập phải thuyết phục các kênh phân phối này bằng cách chấp nhận chia sẻ nhiều hoa hồng cho các nhà phân phối, dẫn đến chi phí tăng cao hơn

- Do đó, có thể kết luận rằng áp lực từ những đối thủ mới là không đáng kể, mà cạnh tranh chủ yếu sẽ diễn ra trong nội bộ ngành hiện tại

Trang 7

Tóm lại mô phân tích các áp lực cạnh tranh của ngành cho chúng ta kết quả như sơ đồ dưới

C PHÂN TÍCH CÔNG TY VINAMILK.

1 Lịch sử hình thành và phát triển.

Ngành: hàng tiêu dùng→sản phẩm thực phẩm

Vốn điều lệ hiện tại: 1.752.756.700.000 (VND)

Lịch sử hình thành:

Công ty cổ phần Sữa Việt Nam (VNM) được thành lập dựa trên quyết định số

155/2003 QĐ-BCN ngày 01/10/2003 của Bộ Công nghiệp về việc chuyển Doanh nghiệp Nhà nước Công ty Sữa Việt Nam trực thuộc Bộ Công nghiệp thành công ty cổ phần Sữa Việt Nam

Tháng 04/2004: Công ty sáp nhập nhà máy sữa Sài Gòn (SAIGONMILK), nâng tổng vốn điều lệ của Công ty lên 1.590 tỷ đồng

Tháng 06/2005: Công ty mua lại phần vốn góp của đối tác trong Công ty Sữa Bình Định và sáp nhập vào Vinamilk

Cổ phiếu của công ty chính thức giao dịch trên trung tâm giao dịch chứng khoán thành phố Hồ Chí Minh vào ngày 19/01/2006 với khối lượng niêm yết là 159 triệu cổ phiếu.Hiện tại Công ty tập trung các hoạt động kinh doanh vào thị trường đang tăng trưởng mạnh tại Việt Nam Đa phần sản phẩm được sản xuất tại 9 nhà máy với tổng công suất khoảng 570.406 tấn sữa mỗi năm Công ty sở hữu một mạng lưới phân phối rộng lớn trên

cả nước, 10% doanh thu của VNM là thu được từ thị trường quốc tế còn lại 90% doanh thu của VNM là thu được từ thị trường nội địa Vinamilk chiếm 75% thị trường cả nước, mạng lưới phân phối rất mạnh với 1400 đại lý phủ đều trên 64/64 tỉnh thành Ngoài ra,

Trang 8

Vinamilk còn xuất khẩu các sản phẩm sang các nước Úc, Campuchia, Irắc, Philipines và Mỹ.

Nguồn nguyên vật liệu chính cho ngành chế biến sữa Việt Nam cũng như của Công ty Vinamilk được lấy từ hai nguồn chính: sữa bò tươi thu mua từ các hộ nông dân chăn nuôi

bò sữa trong nước và nguồn sữa bột ngoại nhập Hiện nay, sữa tươi thu mua từ các hộ dân cung cấp khoảng 25% nguyên liệu cho Công ty Nguồn cung cấp nguyên vật liệu chính khá ổn định trong tương lai, ngành sữa Việt Nam sẽ dần giảm tỷ trọng sữa nguyên liệu nhập khẩu, thay thế vào đó là nguồn nguyên liệu sữa bò tươi, đảm bảo chất lượng sản phẩm sữa cho người tiêu dùng và góp phần thúc đẩy các ngành hỗ trợ trong nước

Ngoài ra Vinamilk còn tham gia kinh doanh ở một số lĩnh vực khác:

- Kinh doanh thực phẩm công nghệ, thiết bị phụ tùng, vật tư, hoá chất và nguyên liệu

Trang 9

- Kinh doanh nhà, môi giới cho thuê bất động sản; Kinh doanh kho bãi, bến bãi; Kinh doanh vận tải hàng bằng ô tô; Bốc xếp hàng hoá;

- Sản xuất mua bán rượu, bia, đồ uống, thực phẩm chế biến, chè uống, café rang– xay– phin – hoà tan;

- Sản xuất và mua bán bao bì, in trên bao bì;

- Sản xuất, mua bán sản phẩm nhựa

- Phòng khám đa khoa

• Các dự án lớn đã khởi động như nhà máy sữa Mega Bình Dương, nhà máy Sữa bột Dielac 2 và nhà máy sữa Đà Nẵng

• Trong năm 2010, Công ty cũng đã đầu tư vào 1 dự án nhà máy sữa bột Miraka tại New Zealand với giá trị góp vốn tương đ ương 8.5 triệu USD và chiếm 19.3% vốn điều lệ của Công ty Miraka

• Công ty cũng đã nhận chuyển nhượng toàn bộ vốn cua Công ty TNHH F&N

(Việt Nam) tại Khu công nghiệp Việt Nam – Singapore (VSIP) Mục đích để lấy đất cho dự án nhà máy sữa Dielac 2 với công suất 54.000 tấn/năm

• Nhà máy cà phê Sài Gòn: đãhoàn tất việc nhượng bán nhà máy cà phê Sài Gòn cho Công ty Cổ phần Trung Nguyên để tập trung vào ngành sữa

• Trong năm 2010, Vinamilk cũng đã hoàn tất việc mua lại toàn bộ phần vốn của các

cổ đông khác trong Công ty Sữa Lam Sơn để chuyển thành Công ty TNHH Một thành viên Sữa Lam Sơn

• Nhà máy nước giải khát đã được đưa vào hoạt động vào tháng 6/2010 và tung ra thị trường các loại nước giải khát có lợi cho sức khỏe như trà xanh, trà sâm bí đao, trà artiso, nước ép trái cây các loại

6 Các danh hiệu đạt được:

1 Top 200 doanh nghiệp tốt nhất châu Á có doanh thu

dưới 1 tỷ USD

Tạp chí Forbes

2 Top 5 doanh nghiệp tư nhất lớn nhất Việt Nam 2010 Theo xếp hạng VNR 500

3 1 trong 50 Thương Hiệu Quốc Gia Bộ Công Thương

4 Top 10 Thương hiệu nổi tiếng nhất khu vực Superbrands

5 Hàng Việt Nam chất lượng cao năm 2010 Báo Sài Gòn Tiếp Thị

6 Thương hiệu mạnh Việt Nam năm 2010 Thời báo Kinh tế Việt Nam

7 Thương hiệu nổi tiếng Việt Nam năm 2010 Phòng Thương mại và Công

nghiệp Việt Nam

8 1 trong 15 thương hiệu ñược nhận giải “Tự hào

9 Top 50 DN nộp thuế cao nhất năm 2010 Tổng cục thuế

Trang 10

10 Thương hiệu chứng khoán uy tín năm 2010 Hiệp hội kinh doanh chứng

khoán, Trung tâm Thông tin Tín dụng của Ngân hàng Nhà nước (CIC) và một số cơ quan truyền thông bình chọn

11 1 trong 20 doanh nghiệp niêm yết tiêu biểu trên cả 2

sàn Hồ Chí Minh và Hà Nội

Trung tâm Thông tin Tín dụng của Ngân hàng Nhà nước (CIC)

1 Sự tăng trưởng.

Tốc độ tăng trưởng doanh thu và thu nhập của Vinamilk qua những năm gần đây:

Năm 2006 2007 2008 2009 2010 6 tháng đầu

năm 2011 Doanh thu 6.289 6.648 8.208 10.820 16.081 10.033

Trong những năm gần đây, do ảnh hưởng của khủng hoảng kinh tế toàn cầu, tình hình kinh tế ảm đảm, tuy nhiên tốc độ tăng trưởng doanh thu và thu nhập của Vinamilk khá ấn tượng Nhìn vào con số năm 2010, VNM đạt 16081tỷ đồng doanh thu và 3616 tỷ đồng lợi nhuận, tương ứng tăng 48,9% và 52,2% so với năm 2009 đây là một con số khá

ấn tượng

a Nguồn gốc của sự tăng trưởng lợi nhuận:

Đến từ nhiều nguyên nhân nhưng nguyên nhân chính vẫn là do sự tăng trưởng đáng kinh ngạc trong doanh số của Vinamilk Năm 2010 số điểm bán lẻ đạt 140.000 điểm bán lẻ Dự kiến năm 2011 số điểm bán lẻ của VNM sẽ tăng thêm 25.000 điểm Vinamilk không ngừng phân phối sản phẩm của mình đi khắp nơi ở thị trường trong nước lẫn nước

Trang 11

ngoài Kể từ khi áp dụng chiến lược phủ điểm bán lẻ, Vinamilk không còn bị lệ thuộc vào khuyến mãi nữa, và nhờ vậy tiết kiệm được nhiều chi phí cho mục đích này để đầu tư những việc khác cũng như sử dụng để kềm giữ giá bán sản phẩm đến tay người tiêu dùng Bên cạnh đó, việc sản xuất sữa ở Việt Nam từ nhiều năm trước đây vẫn chủ yếu phải nhập khẩu nguyên liệu vừa không chủ động mà giá thành cũng bấp bênh Vì vậy, ngay từ những năm đầu thập niên 90 của thế kỷ trước, Vinamilk đã mạnh dạn cho mở rộng quy

mô chuồng trại, con giống, cùng máy móc hiện đại để sản xuất sữa Nếu năm 1990 – 1991 Vinamilk chỉ có 3.000 con bò sữa thì tới năm 2010 đã tăng lên tới 128.583 con, cho sản lượng sữa 120 triệu lít/năm, chiếm 25% tổng nguyên liệu sản xuất của công ty Vì vậy chủ động hơn về nguồn nguyên liệu, Vinamilk đã giảm được chi phí đầu vào, từ đó không phải tăng mạnh giá bán, giữ được doanh số bán khá cao

Sản phẩm mới: trong năm 2010 Vinamilk đã tung ra 20 sản phẩm bao gồm sữa

chua ăn lợi khuẩn (bổ sung Probiotics), nước uống Artiso, trà xanh hương chanh, nước táo, nước cam, trà bí đao, sữa tiệt trùng bổ sung vi chất và các loại bột dinh dưỡng

Mặc dù trong năm 2010, giá bán sản phẩm sữa có tăng nhưng chỉ tăng nhẹ nên nguồn gốc của sự tăng trưởng lợi nhuận này đến từ việc tăng trưởng trong doanh số, đạt được điều này là nhờ Vinamilk áp dụng biện pháp cải tổ kinh doanh, sắp xếp lại thị trường Yếu tố quyết định cho thành công là chiến lược kinh doanh phủ đều và kiểm soát được điểm bán lẻ, bán được nhiều hàng hơn và doanh thu cao hơn

Kế hoạch 2010

Doanh thu thuần 15,752,866 10,614,82

Giá vốn hàng bán 10,579,208 6,736,215 57.0% Trong năm 2010, giá nguyên vật liệu

đã tăng đáng kể so với 2009, chẳng hạn như giá sữa tươi +10%, đường tăng 40%, sữa bột tăng15%,

Lợi nhuận gộp 5,173,658 3,878,609 33.4% Do đó, giá vốn hàng bán tăng nhanh

hơn mức tăng doanh thu làm cho tỷ suất LN gộp bị giảm trong 2010.

Tỷ suất LN gộp 32.8% 36.5% -10.1%

Thu nhập tài chính 448,530 439,936 2.0% Doanh thu tài chính chủ yếu đến từ lãi

Trang 12

tiền gởi (44%), lợi nhuận từ chênh lệch tỷ giá (28%), và phần còn lại đến

từ lãi của trái phiếu và cổ tức.

Chi phí tài chính 153,199 184,828 -17.1% Chi phí tài chính chủ yếu là lỗ tỷ giá

Lợi nhuận từ

HĐKD 3,642,656 2,595,479 40.3%

Thu nhập khác 982,987 147,641 565.8% Trong 2010, VNM đã có một khoản

lợi nhuận là 350 tỷ từ việc chuyển nhượng nhà máy cà phê và 200 tỷ từ chiết khấu của nhà cung cấp.

Tỷ suất LN trước

thuế

Lợi nhuận sau

thuế 3,616,186 2,375,992 52.2% 135.6% 2,666,000 Tỷ suất LN sau thuế tăng nhẹ từ 22.4% trong 2009 lên 23% trong 2010.

Tỷ suất LN sau

b Đánh giá chất lượng của tăng trưởng:

Với số liệu 5 năm trở lại đây, công ty luôn đạt tỷ lệ tăng trưởng ở mức cao, tuy nhiên tăng trưởng trong lợi nhuận luôn cao hơn tăng trưởng trong doanh số khiến chúng ta đặt câu hỏi liệu Vinamilk có sử dụng thủ thuật nào để gia tăng sự tăng trưởng lợi nhuận Để giải quyết sự nghi ngờ này ta tiến hành so sánh lợi nhuận với dòng tiền hoạt động của công ty Với đồ thị trên, có thể thấy dòng tiền hoạt đông của công ty tăng trưởng khá nhanh trong giai đoạn gần đây, tỷ lệ tăng ước đạt 26,4% (năm 2010) Với những phân tích như trên đồng thời với những số liệu cụ thể chứng minh sự tăng trưởng trong 5 năm trở lại đây ta có thể tin tưởng vào chất lượng tăng trưởng của Vinamilk

2 Khả năng sinh lợi

Bây giờ chúng ta đi vào phần thứ hai- và quan trọng nhất- của quá trình phân tích: một công ty đang tạo ra bao nhiêu lợi nhuận so với số tiền đầu tư vào công ty Đây là chìa khóa chính để tách một công ty lớn ra khỏi một công ty trung bình, bởi vì công việc của bất kỳ công ty nào cũng lấy tiền từ các nhà đầu tư bên ngoài và đầu tư nó để tạo ra lợi nhuận Lợi nhuận càng cao thì công ty càng hấp dẫn

Trang 13

Sơ đồ phân tích Dupont của VNM

Tỷ suất sinh lợi trên doanh thu (ROR): lợi nhuận ròng/doanh thu thuần

Tỷ suất sinh lợi trên tài sản (ROA):

Năm TSSL trên DT Vòng quay TS Tỷ số đòn bẩy ROA ROE

Trang 14

Với tính hình sử dụng tài sản của VNM hiện như đã phân tích ở trên và so sánh với trung bình ngành thì hiệu suất sử dụng tài sản của VNM là rất cao so với ngành hiện nay, điều này chứng tỏ chú ý đến sử dụng tài sản cố định ROA là khá cao và tăng liên tục qua các năm từ 2006-2010, đồng thời tỷ suất sinh lợi trên doanh thu cũng khá ấn tượng và tương đối so với ngành Nhưng VNM vẫn có khả năng tăng TSSL để tăng ROA vì chi phí hiện nay của VNM chủ yếu là giá vốn hàng bán, vì thế VNM có thể giảm giá vốn hàng bán bằng cách chủ động hơn trong nguồn nguyên liệu để giảm sự biền động giá nguyên liệu từ việc tăng giá của các nhà cung cấp và ảnh hưởng của tỷ giá hối đoái Sự tăng của ROA năm 2010 so với năm 2009 là do lợi nhuận từ hoạt động sản xuất kinh doanh tăng, doanh thu hoạt động tài chính cũng tăng, sự thực hiện kiểm soát chi phí hiệu quả làm cho lợi nhuận ròng tăng lên và đặc biệt việc bán đi nhà máy cà phê Sài Gòn đã làm giảm bớt

đi tài sản của công ty Nhưng nếu lọai trừ đi việc bán tài sản này thì ROA của Vinamilk vẫn cao

Tỷ suất sinh lợi trên vốn cổ phần (ROE):

Xét về hiệu quả kinh doanh Vinamilk đi ngược lại với thị trường chứng khoán, trong khi giá chứng khoán của các doanh nghiệp rơi vào tình trạng rớt giá trầm trọng thì Vinamilk vẫn phát triển mặc cho những khó khăn của thị trường, điều này được minh chứng qua chỉ số ROE của VNM tăng dần qua các năm từ năm 2009 và năm 2010 lần lượt là 36% và 45% Con số này cho thấy VNM đã có hiệu quả cao và phát triển vượt bậc kể từ năm 2008 trở đi Năm 2010 đã đánh dấu bước tiến mạnh của doanh nghiệp, giúp doanh nghiệp trở thành công ty làm ăn có hiệu quả vốn cao Nếu so sánh tỷ suất sinh lời nay với lãi suất thị trường cùng thời kỳ là 15,5% thì các nhà đầu tư sẽ sẵn sàng bỏ toàn bộ tài sản của mình để mua cổ phần của Vinamilk

ROE= ROA*Tỷ số đòn bẩy tài chính

Qua tính toán các tỷ số đòn bẩy chúng ta có thế thấy là VNM sử dụng đòn bẩy tài chính thấp, có xu hướng tăng trong các năm 2009-2010, điều này cũng góp phần làm tăng ROE trong các năm này.Vì thế mà VNM có thể tăng nợ trong các năm tới nếu muốn đẩy ROE tăng Qua phân tích trên ta có thể kết luận, ROE tăng do 2 nguyên nhân chủ yếu là:

Trang 15

Sự gia tăng trong tỷ suất sinh lợi chứng minh ở trên và sự gia tăng trong đòn bẩy tài chính.Chính sự gia tăng trong đòn bẩy tài chính này làm gia tăng thêm tỷ suất sinh lợi cho Vinamilk.

So sánh ROE của Vinamilk so với trung bình ngành ta có bằng nhau vào năm 2010 (45%), song các năm trước thì Vinamilk vượt trội hơn so với ngành Nguyên nhân từ đâu

có sự vượt trội này? Vinamilk có trung thực trong báo cáo này không? Điều này sẽ được kiểm chứng lại bằng dòng tiền tự do ở phần sau

Phần trăm gia tăng doanh thu và các khoản phải thu:

Qua phân tích ở trên ta thấy nguồn gốc tăng trưởng chính của VNM là do tăng doanh số, doanh thu liên tục tăng qua các năm Mà sản phẩm sữa hiện nay là nhu cầu thiết yếu của cuộc sống vì thế nó có độ co giãn với thu nhập thấp Hơn nữa, Việt Nam hiện nay

có kết cấu dân số trẻ nên nhu cầu sữa có xu hướng tăng như đã phân tích ở trên Vì thế mà

ta có thể tin rằng doanh thu của VNM sẽ có tốc độ tăng trưởng bền vững trong thời gian sắp đến

Dòng tiền tự do

Đo lường khả năng tạo ra tiền mặt của công ty hữu dụng ở chỗ nó không tính số tiền mà công ty để duy trì và mở rộng hoạt động kinh doanh Dòng tiền tự do được

tính=dòng tiền hoạt động-chi tiêu vốn

Cũng giống như ROE thật khó khăn để xác định dòng tiền tự do bao nhiêu là đủ, nhưng hợp lý để có thể nói rằng bất kỳ công ty nào có thể chuyển nhiều hơn 5% doanh số-bằng cách chia dòng tiền tự do cho doanh số để có được tỷ lệ phần trăm này- chắc chắn là đang tạo ra tiền mặt thặng dư

Vinamilk có một khối lượng lớn tiền mặt có thể làm được nhiều việc với số tiền đó- tiết kiệm tiền cho các cơ hộ đầu tư trong tương lai, hoặc dùng nó để mua lại công ty, mua lại cổ phiếu làm cổ phiếu quỹ và nhiều việc khác Dòng tiền tự do của công ty lớn tạo nên sự linh hoạt về tài chính bởi vì công ty không phụ thuộc vào thị trường vốn để tài trợ cho sự mở rộng của nó

Từ chỉ tiêu dòng tiền trên doanh thu ta có VNM điều chuyển nhiều hơn 5% doanh

số thành dòng tiền tự do điều này minh chứng cho việc VNM đang tạo ra được nhiều tiền mặt thặng dư

Trang 16

OCF 598.302,50 847.307,75 1.206.914,75 2.282.596,50 3.478.536,25

Chỉ tiêu ROIC qua các năm:

ROIC là một thước đo khả năng sinh lợi tốt hơn so với ROA và ROE vì nó loại nguồn tài trợ từ nợ và vốn cổ phần ra khỏi phương trình, là một thước đo đo lường lợi nhuận có được từ tất cả vốn đầu tư trong công ty mà không cần quan tâm đến nguồn gốc của vốn đó

ROIC= NOPAT/Vốn Đầu Tư =EBIT*(1-T)/Tổng Vốn

3 Sức khỏe tài chính.

a Khả năng thanh toán 2006 2007 2008 2009 2010 Ngành

Tỷ số thanh toán hiện hành

- Trong khoản mục tiền và các khoản tương đương tiền có sự sụt giảm đáng kể từ 426,135 xuống còn 263,472 triệu VND (gần 38%), các khoản đầu tư ngắn hạn và tài sản ngắn hạn khác cũng sụt giảm đáng kể.

- Lượng hàng tồn kho của VNM tăng từ 1,311,756 năm 2009 lên 2,351,354 triệu VND Lượng hàng tồn kho tăng lên là do VNM nhập thêm lượng nguyên vật liệu để sản xuất, tình hình này không có gì đáng lo ngại Bên cạnh đó các khoản phải thu ngắn hạn cũng tăng lên (khoảng 34%) do được hoàn lại

từ thuế nhập khẩu nguyên vật liệu và tiền lãi cho vay

Trang 17

có sự sụt giảm này là do VNM đã giảm bớt lượng tiền mặt nhàn rỗi để đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng, mua nguyên liệu sản xuất.

Vòng quay các khoản phải thu 12.19 10.14 12.69 14.20 14.00

từ 4.62 tới 6.7 điều này cho thấy hoạt đông sản xuât kinh doanh của vinamilk ngày càng hiệu quả, sản phẩm của công

Trang 18

ty được đông đảo người tiêu dùng đón nhận vì thế số ngày tồn kho giảm đáng kể.

 Qua phân tích các chỉ số hoạt động cho chúng ta thấy được rằng VNM sử dụng tài sản và VCP ngày càng có hiệu quả, bên cạnh đó việc quản trị tín dụng cũng ngày càng tốt hơn Tài sản cố định của VNM tăng dần qua các năm thể hiện ở việc VNM đã không ngừng mở rộng cơ sở sản xuất cải tiến máy móc thiết bị Đó là lý

do tại sao doanh thu của VNM liên tục tăng trong các năm qua

Ngày đăng: 08/08/2014, 09:21

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

2. Sơ đồ tổ chức bộ máy. - Phan tich tai chinh vinamilk toi 2010 pps
2. Sơ đồ tổ chức bộ máy (Trang 8)
Sơ đồ phân tích Dupont của VNM - Phan tich tai chinh vinamilk toi 2010 pps
Sơ đồ ph ân tích Dupont của VNM (Trang 13)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w